17.1.25

Nhớ lại ngày đầu mắc dây trần ở Trường Sơn

Đại tá Trần Hữu Đạo - nguyên Trưởng ban Hữu tuyến điện, Phòng Thông tin Đoàn 559

Vào cuối năm 1966 đầu năm 1967, ở miền Nam, quân và dân ta liên tiếp mở các cuộc tiến công đánh bại "chiến tranh cục bộ" của Mỹ - ngụy. Yêu cầu chi viện sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc với chiến trường ngày càng lớn. Trong thời gian này, tuyến đường chi viện chiến lược Trường Sơn đã lật cánh hoàn toàn sang Tây Trường Sơn, trên đất bạn Lào. Để hoàn thành nhiệm vụ trước tình hình mới, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 đã xác định phương thức vận tải phải chuyển hẳn sang lấy vận tải cơ giới là chính, tư tưởng phòng tránh đơn thuần phải được đẩy lùi, chiến lược vận tải quân sự binh chủng hợp thành bắt đầu được xây dựng.

Nhưng trong tổ chức thực hiện toàn Đoàn gặp không ít khó khăn, hiệu quả vận tải thấp, ta phải chịu nhiều tổn thất do địch gây ra về xe, hàng và người. Một trong những nguyên nhân được Bộ Tư lệnh xác định là do trên tuyến chưa tổ chức được mạng thông tin liên lạc phục vụ đáp ứng yêu cầu chỉ đạo và chỉ huy trực tiếp hàng ngày. Thời điểm này, phương tiện thông tin bảo đảm chỉ huy từ Bộ Tư lệnh Đoàn 559 đến các đơn vị trực thuộc duy nhất là vô tuyến điện báo mã dịch1. Nắm tình hình và xử lý đều qua điện theo hẹn giờ, vừa chậm, vừa ít thông tin cần thiết.

Để sớm khắc phục tồn tại trên, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 giao nhiệm vụ cho thông tin Trường Sơn phải nhanh chóng tổ chức mắc đường dây trần tải ba trên tuyến để liên lạc trực tuyến hàng ngày với các đơn vị. Ngay trong mùa khô có đường dây liên lạc đến Binh trạm 1 và Binh trạm 2, hai đơn vị tiếp giáp nhận hàng của 2 cửa khẩu trọng yếu đường 12 và đường 20 và đảm nhiệm vùng kho chiến lược từ đường 9 trở ra.

Do sớm nắm bắt được quyết tâm của Bộ Tư lệnh Đoàn 559, từ cuối mùa khô năm trước - tháng 4 năm 1966 – Phòng Thông tin Bộ Tham mưu 559 đã tổ chức một tổ 5 người đi khảo sát thực địa, tìm hướng mắc dây đến 2 binh trạm. Tôi được giao làm tổ trưởng, liên tục trong 15 ngày anh em vai khoác ba lô, chân trần luồn rừng leo đèo, lội suối, bơi qua sông, vượt qua những dãy núi đá tai mèo sắc nhọn, qua những vùng trọng điểm máy bay địch đánh phá ác liệt, tới bản nào tối thì nghỉ lại, ngủ trong nhà dân. Đồng bào Lào thiếu ăn, thiếu mặc, sống sơ tán trong các nhà tạm bợ, nhưng ai cũng sẵn lòng giúp Bộ đội Việt Nam. Có nhiều đoạn địa hình phức tạp, chúng tôi được trưởng bản cử người dẫn đường giúp. Nhờ vậy tổ đã xác định được tuyến mắc dây và tham mưu tư vấn với trên về quyết tâm ở Trường Sơn có thể mắc đường dây trần tải ba được.

Cuối tháng 10 năm 1966, cán bộ, nhân viên khảo sát thiết kế và vật tư trang bị đồng bộ trên 30 tấn hàng được Cục Thông tin liên lạc Bộ Quốc phòng giải quyết đã tập kết đủ ở khu vực đầu đường 12 (Quảng Bình). Đường khó, vật tư theo xe nhập tuyến được chuyển tải đến các điểm trên đường trục 128 có người chờ tiếp nhận. Người hành quân bộ theo đường giao liên qua đèo Mụ Giạ vào Lùm Bùm gần Binh trạm 1.

Khi đến nơi, sau 1 ngày khảo sát, lực lượng ta triển khai thiết kế ngay. Ba ngày đầu suôn sẻ, đến giữa đêm thứ 4 một tốp máy bay địch đến thả bom tọa độ gần nơi anh em ngủ, đồng chí Nho đang ngủ trên võng bị một mảnh bom trúng bụng; máu chảy đầm đìa, ruột lòi ra đau đớn. Anh em đã kịp băng bó và thay nhau cáng đưa nhanh về bệnh xá Binh trạm để cứu chữa. Song vì đường rừng trong đêm tối khó đi, bệnh xá lại ở xa nên giữa đường, đồng chí Nho đã tắt thở. Một mất mát đau thương với đơn vị ngay trong những ngày đầu ra quân, nhưng không ai nhụt chí. Anh em động viên nhau phải làm việc tốt hơn để trả thù cho đồng chí mình.

Ngày 26 tháng 12 năm 1966, khi tiếng gà rừng gáy sớm, cả đại đội (đại đội dây trần đầu tiên của tuyến)2 đã dậy chuẩn bị cho ngày đầu mắc dây. Trời sáng rõ, dưới tán rừng của đại ngàn Trường Sơn, trước hàng ngũ chỉnh tề, đồng chí Nguyễn Văn Vy - chính trị viên nhắc nhở: "Sau một thời gian chuẩn bị tích cực, hôm nay chúng ta được lệnh thi công, các đồng chí phải quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ!". Cả đại đội nhất loạt hô vang: "Quyết tâm! Quyết tâm! Quyết tâm!".

Mỗi người một việc, đồng loạt hành động, người phát tuyến chặt cây, khoan bắt sứ, người gùi vác rải dây, trên mũ tai bèo ai cũng có khẩu hiệu: "Vì miền Nam quyết tâm hoàn thành đường dây vượt kế hoạch!".

Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên rất quan tâm đến việc triển khai đường dây. Kết hợp chuyến đi kiểm tra Binh trạm 1, trưa ngày 25 tháng 1 năm 1967, đồng chí và cán bộ cùng đi đã đến ngay hiện trường thông tin đang thi công thăm hỏi và động viên bộ đội. Đồng chí nói, đại ý: Việc mắc đường dây trần tải ba của các đồng chí rất cần cho chỉ đạo và chỉ huy của Đoàn. Thông dây sớm sẽ góp phần đưa được nhiều hàng, nhiều quân vào các chiến trường trong mùa khô này. Tôi tin tưởng và chờ đợi chiến công đầu của các đồng chí.

Như được tiếp thêm nguồn lực mới, cả đại đội ai nấy đều lao động hết mình để sớm thông dây. Sau hơn một tháng thi công, 10 giờ ngày 22 tháng 2 năm 1967, đoạn dây trần đầu tiên trên tuyến đường Trường Sơn từ Sở chỉ huy Đoàn đến Binh trạm 1 dài 40km với 2 sợi dây đồng, một sợi dây sắt đã hoàn thành. Tôi ở giữa đường dây, qua điện thoại báo cáo về Phòng Thông tin. Sau đó tổng đài liên tục tiếp chuyển các cuộc đàm thoại giữa thủ trưởng Bộ Tư lệnh Đoàn với Binh trạm và giữa trực ban Đoàn với trực ban Binh trạm kéo dài cho đến chiều tối.

Do có đường dây liên lạc trực tiếp nên trong buổi giao ban sáng ngày 23 tháng 2 năm 1967 ở Sở chỉ huy Đoàn 559 do Tư lệnh chủ trì, tình hình hoạt động mọi mặt của Binh trạm 1 trong ngày và đêm hôm trước về tác chiến Phòng không, bảo đảm cầu đường, các đoàn xe vận chuyển, quân ra, quân vào các trạm giao liên Bộ và các nhiệm vụ quan khác đều được trực ban báo cáo đầy đủ. Điều trọng nhất là số lượng xe chở hàng vượt trọng điểm Cốc Mạc - Văng Mu vào kho đường 9 trong đêm được trực ban vận chuyển báo cáo cụ thể đến từng đầu xe. Việc gay cấn từ lâu, nay bước đầu đã được tháo gỡ làm cho cuộc giao ban của Bộ Tư lệnh Đoàn 559 trở nên sôi nổi khác hẳn mọi lần trước đó.

Từ thành công ở hướng Binh trạm 1, ngày 25 tháng 2 năm 1967, Bộ Tham mưu Đoàn giao nhiệm vụ cho Đại đội 2 (đại đội dây trần thứ 2) và 1 trung đội của Đại đội 1 khẩn trương thi công tiếp đường dây đến Binh trạm 2 để kịp thời phục vụ 2 tháng mùa khô còn lại.

Thời điểm này đang là giữa mùa khô ở Lào, tuyến mắc dây qua những địa hình là những quả đồi bát úp rậm rạp tre, vầu, le, nứa. Cột mắc dây phải đi chặt xa hàng cây số vác về. Thi công cuốn chiếu nên cứ khoảng ba, bốn ngày lại phải di chuyển chỗ ở. Anh em phải thường xuyên đề phòng với loại máy bay trinh sát L19, OV10 phát hiện, chỉ điểm cho máy bay cường kích đánh phá. Hàng ngày, bộ đội dậy sớm, lót dạ bằng lương khô, ăn trưa tại hiện trường tối về ăn xong thu lá cây khô làm đệm, rải tăng võng lên nằm. Mùa khô ở Tây Trường Sơn, cơ cực nhất là thiếu nước sinh hoạt. Có khi cả tuần mới được tắm rửa một lần. Có lúc phải chia nhau từng ngụm nước uống. Bù lại là cơ động, ngủ về đêm dễ dàng. Gian khó là vậy nhưng không ai kêu ca, nản chí. Khi căng, kéo, hãm dây hò nhau vang dậy cả núi rừng. Trong thời gian mắc dây, 4 đầu máy tải ba loại 1 đường TCT (2 máy TCT1 và 2 máy TCT2) của Hung-ga-ri viện trợ do Cục Thông tin liên lạc cấp đã chuyển đến Đoàn bộ và 2 binh trạm. Đây là loại máy tải ba dã chiến công suất nhỏ. Ở thời điểm đó, đây là loại trang bị hiếm. Cứ xây dựng xong đường dây, lắp máy vào là các binh trạm và Đoàn đã có 2 kênh đàm thoại trực tiếp to, rõ, không bị xuyên nhiễu và giữ được bí mật.

Sau 8 năm, tuyến chi viện chiến lược hoạt động (1959-1967), ngoài đường ô tô, đường giao liên, nay đã xuất hiện một loại đường mới: Đường dây trần tải ba dùng để đảm bảo thông tin liên lạc chỉ đạo và chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh Đoàn với các đơn vị trực thuộc, trước mắt là các binh trạm 1 và 2.

Tại Sở chỉ huy Đoàn, khi chưa có đường dây trần tải ba, người trực rất ít. Nay, Tư lệnh yêu cầu 8 đầu mối3 cơ quan binh chủng đều có trực ban. Bộ Tư lệnh và cơ quan tham mưu các cấp cùng tham gia nắm tình hình, xử lý công việc kịp thời mọi nơi, mọi lúc liên tục 24/24 giờ trong ngày.

Các binh trạm 1 và 2 được đảm nhiệm các vị trí được coi như yết hầu và then chốt của toàn tuyến. Ở đây vận hành tốt có tác dụng quyết định đến hoàn thành nhiệm vụ của cả tuyến. Thông tin đã lấy đường dây tải ba làm chủ yếu, kết hợp với các loại phương tiện thông tin khác như vô tuyến điện sóng ngắn, sóng cực ngắn và đường dây bọc của binh trạm để phục vụ cho liên lạc chỉ đạo và chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh Đoàn; đồng thời, bảo đảm chỉ huy chiến đấu binh chủng hợp thành của pháo cao xạ, công binh và xe vận tải trên các cung vận chuyển và trọng điểm, chống lại sự đánh phá ngăn chặn bằng máy bay của địch. Thông tin đã thực sự góp phần vào việc hoàn thành kế hoạch vận chuyển các tháng đầu năm và phục vụ thực hiện đợt "tổng công kích, tăng đầu xe, chạy vượt cung tăng chuyến, hoàn thành dứt điểm kế hoạch chi viện tháng 4 và kết thúc thắng lợi kế hoạch chi viện cho các chiến trường của toàn tuyến 559 trong mùa khô năm 1966-1967"4.

Trang thiết bị thông tin liên lạc của Quân đội ta ở thập kỷ 60 của thế kỷ XX còn rất lạc hậu. Muốn liên lạc thoại trực tiếp ở cự ly từ 30km trở lên phải dùng đường dây trần. Khi bàn mắc dây trần ở Trường Sơn phục vụ nhiệm vụ chi viện, đã có những ý kiến cho rằng ta không đủ sức mắc và cũng không đủ sức giữ. Nhưng với quyết tâm của Bộ Tư lệnh, được sự giúp đỡ tận tình của Cục Thông tin liên lạc, Thông tin Trường Sơn đã dũng cảm, lao động sáng tạo, hết lòng vì miền Nam ruột thịt, đã xây dựng thành công đường dây trần và phục vụ có hiệu quả cho chi viện chiến trường và chiến đấu thắng lợi mà bắt đầu là từ mùa khô 1966-1967.

Từ kết quả thành công trên, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 đã xây dựng quyết tâm và đề nghị với Bộ giao cho Thông tin Trường Sơn nhanh chóng tổ chức triển khai mạng đường dây trần tải ba có quy mô rộng khắp trên toàn tuyến, cả ở Tây và Đông Trường Sơn vào các năm sau đó.

Thông tin Trường Sơn đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, từng bước trưởng thành, góp phần xứng đáng vào chiến công chung thực hiện chủ trương chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, đấu tranh thống nhất nước nhà.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

--------------------------------------------

1 Vô tuyến điện báo mã dịch là loại vô tuyến điện báo moóc, cơ yếu mã dịch. Phương tiện dùng chủ yếu là máy 15W-102E do Trung Quốc sản xuất.

2 Đại đội được tuyên dương Đơn vị Anh hùng LLVTND ngày 25-8-1970.

3 Các trực ban tại Sở chỉ huy Đoàn năm 1967: Tổng trực ban Tác chiến, Cầu đường, Vận chuyển, Hành quân, Xăng dầu, Quân y, Chính trị và Thông tin.

4 Dẫn theo: Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, Đường xuyên Trường Sơn (Hồi ký), Duy Tường và Kỳ Vân thể hiện, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội - 1999, tr. 101-102. 

Nhớ Trường Sơn*

Phạm Văn Thứ

Đã từng xẻ dọc Trường Sơn

Bước chân nát đá, tóc vờn mây bay

Mưa bom bão đạn những ngày

Bê năm hai với pháo bầy xá chi

 

Giặc cứ đánh, ta cứ đi

Góp công thắng Mỹ có gì vui hơn...

Giờ đây nhớ lại Trường Sơn

Nhớ măng le, nhớ những cơn sốt rừng

Nhớ khi bom đạn mịt mùng

Hành quân vượt trạm... chân phồng, toạc vai

Nhớ Pu Hắc, nhớ Cổng Trời

Nhớ ngầm đường Chín, qua đồi chữ A

Nhớ đường qua bản Ba Nhà

Nhớ dòng sông Bạc, vượt qua hiểm nghèo

Dốc Ông Thanh, đá cheo leo

Đèo Bà Định, quãng đường đèo gớm ghê...

Nhớ Trường Sơn khi đêm về

Ầm ầm rung chuyển nào xe, nào người

Điệp trùng quân trẩy ngược xuôi

Người đi câu hát, tiếng cười bay theo

Nhớ Trường Sơn lúc hiểm nghèo

Bạn tôi nằm đó không theo tôi về

Trường Sơn mưa... mưa dầm dề

Trường Sơn nắng... nắng đã về khó mưa

Trường Sơn mưa, nắng theo mùa

Đường ra trận, mặc nắng mưa không ngừng

Trường Sơn ác liệt, oai hùng

Vui sao năm tháng ta cùng Trường Sơn... !

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

------------------------------------------

* Đ/c Lương Toán - nguyên Tổng trạm trưởng Tổng trạm Thông tin Quân khu Tả Ngạn và Hải quân Đông Bắc ghi chú: Bài thơ "Nhớ Trường Sơn” này của đồng chí Phạm Văn Thứ, nguyên Đại úy, Chính trị viên đại đội thuộc Trung đoàn Thông tin 132 tặng đồng chí Nguyễn Duy Phiên và Lương Toán, bạn cùng công tác ở Tổng trạm Thông tin Quân khu Đông Bắc trong một lần đến thăm. Đồng chí Phạm Văn Thứ đã từ trần ngày 22 tháng 11 năm 2010 tại quê Thụy Liên, Thụy Anh, Thái Bình. Đ/c Lương Toán đã đọc bài thơ này trong buổi lễ truy điệu đồng chí Thứ tại quê nhà. Để tưởng nhớ và lưu lại kỷ niệm của đồng chí Thứ với Binh chủng Thông tin, với đồng đội. Đ/c Lương Toán đã xin phép Ban biên soạn và gia đình, giới thiệu bài thơ "Nhớ Trường Sơn" của tác giả Phạm Văn Thứ với các đồng chí và bạn đọc. 

Bộ đội Thông tin trên tuyến Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh những năm đánh Mỹ

Đại tá Phạm Đình Phong - nguyên Lữ đoàn phó Chính trị Lữ đoàn 596

Núi rừng Trường Sơn hùng vĩ, từ xưa đã được coi là thế tựa của muôn đời! "Trường Sơn nhất đái vạn đại dung thân".

Đường Hồ Chí Minh chạy dọc dãy Trường Sơn là một mắt xích hết sức trọng yếu trong toàn bộ hệ thống chi viện chiến lược của mặt trận chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của ba nước Đông Dương.

Suốt 16 năm ròng, lớp lớp những người con của dân tộc khắp miền Tổ quốc đã sống và chiến đấu trên tuyến đường mang tên Bác Hồ vĩ đại.

Khi Hiệp định Giơ-ne-vơ bị Mỹ - Diệm phá hoại toàn diện, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc ta đã đứng lên quyết chấp nhận một cuộc đọ sức mới cực kỳ nghiêm trọng.

Ngày 19 tháng 5 năm 1959, tuyến vận tải quân sự chiến lược đường Hồ Chí Minh được thành lập với nhiệm vụ đảm bảo cơ động lực lượng và đưa đón cán bộ vào, ra cả ba chiến trường mà đường Hồ Chí Minh cũng là một chiến trường lớn!

Do vị trí hết sức lợi hại của tuyến đường nên đế quốc Mỹ và bọn tay sai cả ba nước (Việt - Lào - Cam-pu-chia) đã tìm trăm phương, ngàn kế để đánh phá ngăn chặn.

Cuộc chiến đấu giữa ngăn chặn và chống ngăn chặn trên đường Hồ Chí Minh đã diễn ra ngày càng quyết liệt: không quân đủ loại, bộ binh đủ quy mô, thủ đoạn đầy nham hiểm, với 4 triệu tấn bom đạn đã trút xuống tuyến đường, núi rừng Trường Sơn ngày đêm rung chuyển, đất đá bị cày xới, cỏ cây bị thiêu trụi. Đế quốc Mỹ tưởng rằng sẽ chặn đứng được sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam và các chiến trường nước bạn, nhưng kết quả đã không theo ý tưởng: phía chống ngăn chặn đã đè bẹp kẻ đi ngăn chặn và chiến thắng lẫy lừng!

Với chân lý sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một", "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" cả nước đã đứng lên "Tất cả cho chiến trường, tất cả để chiến thắng" với khí thế hào hùng như trào dâng thác đổ, quyết đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Từ trong sức mạnh đó, tuyến vận tải quân sự chiến lược đường Hồ Chí Minh với 500 chiến sĩ ban đầu, tiến vào Trường Sơn mở đường, lập trạm, quân đi tính từng ngày, hàng chuyển tính từng cân, đã từng bước phát triển lớn mạnh, thực sự trở thành một chiến trường tổng hợp, hiệp đồng binh chủng trên quy mô lớn, đánh địch mà đi, mở đường mà tiến, luôn luôn chủ động đáp ứng sự phát triển mạnh của các hướng chiến trường.

Trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ địch, cán bộ, chiến sĩ trên đường Hồ Chí Minh nói chung và bộ đội thông tin nói riêng luôn luôn nắm vững tư tưởng cách mạng tiến công, nắm vững phương châm: bám tuyến, bám đường, chủ động, sáng tạo, mưu trí, dũng cảm, không hề chùn bước trước khó khăn ác liệt nào, người trước ngã xuống, người sau tiến lên, cả Trường Sơn sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Binh chủng nào, đơn vị nào cũng lập nên sự tích anh hùng, con đường nào, trọng điểm nào cũng là những mảnh đất thiêng liêng rực lửa.

Lực lượng thông tin liên lạc trên tuyến đường 559 cũng đã có mặt ngay từ ngày đầu thành lập Đoàn với những đài vô tuyến điện báo độc lập, phục vụ cho Tiểu đoàn 301, giao liên rồi Trung đoàn 70, 71 vận tải gửi thư liên lạc. Đến cuối năm 1964, toàn tuyến mới có: 12 bộ đài 15W, 37 bộ đài 2W, 2 tổng đài 10 số, 43 máy điện thoại với hơn 40km dây bọc.

Tháng 4 năm 1965, theo chủ trương của ta mới bắt đầu mở rộng tuyến vận chuyển từ thô sơ lên cơ giới, lực lượng thông tin cũng từ đây bắt đầu phát triển mạnh. Để đáp ứng kịp với yêu cầu vận chuyển cơ giới, mùa khô 1966-1967 lực lượng thông tin triển khai đường trục dây trần tải ba đến Binh trạm 1, Binh trạm 2 và Đường 9 - Nam Lào.

Cũng từ đây trên tuyến vận tải cơ giới đã hình thành những trọng điểm đánh phá của không quân địch. Lực lượng thông tin gặp muôn vàn khó khăn, ác liệt để xây dựng và bảo vệ tuyến đường dây dài theo đường vận chuyển cơ giới.

Đã triển khai xây dựng đường trục hữu tuyến tải ba dài 1.250km (tổng chiều dài các năm sau này lên đến 4.241km trong đó gồm: 2.961km dây CS (lưỡng kim); 1.550km dây sắt; 386km cáp (cao tần).

Nằm trên 153 trạm canh dây và 20 trạm cơ vụ với 68 đầu tải ba 1 kênh, 22 đầu tải ba 12 kênh và 4 đầu tải ba 6 kênh.

Tất cả tuyến dây, trạm canh dây và 20 trạm cơ vụ đều phải bám lấy trục vận chuyển cơ giới, các kho tàng để phục vụ đắc lực cho chỉ huy các cấp vì vậy phải qua các trọng điểm đánh phá vô cùng ác liệt của không quân địch ngày đêm không ngớt như:

- Trọng điểm ATP cửa khẩu đường 20.

- Trọng điểm ngã ba Lằng Khằng, Pha Nốp, Seng Phan, cửa khẩu đường 12.

- Trọng điểm ngã ba Lùm Bùm, đèo Văng Mu.

- Trọng điểm đèo Tha Mé, dốc Ông Tời.

- Trọng điểm đèo Lục Tùng Bế, đèo Sông Bạc.

- Trọng điểm đèo Cô Tiên, dốc Con Mèo đường 45, v.v... là những trọng điểm đã đi vào lịch sử của tuyến đường.

Tại các trọng điểm, lực lượng thông tin đã chốt đường dây với trạm canh dây, trạm cơ vụ ngay từ ngày đầu xây dựng, từ khi rừng còn xanh, suối còn trong vắt. Đến khi rừng trút hết lá vì chất độc da cam; suối đục đổi dòng vì bom đạn địch, lực lượng thông tin vẫn kiên cường bám trụ giữ vững thông tin cho cả chiến trường.

Để kịp thời bảo đảm cho trận mở màn đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột (Xuân 1975) chỉ trong một tháng một bộ phận lực lượng của Trung đoàn dây trần 596 và Trung đoàn 49 đã xây dựng xong 200km dây trần và dây cáp từ Plây Khốc đến tuyến sông Xêrêpốc kịp ngày nổ súng, phục vụ đắc lực cho giải phóng Tây Nguyên.

Sau 16 năm bảo đảm thông tin trên tuyến đường mang tên Bác Hồ, lực lượng thông tin đã được Nhà nước tuyên dương 3 đơn vị danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đó là:

- Tiểu đoàn 133 (thông tin dây trần) Trung đoàn 596.

- Đại đội 1 Tiểu đoàn 36 Trung đoàn 596.

- Đại đội 3 Tiểu đoàn 326 Trung đoàn 49.

Một cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đó là đồng chí Hồ Đức Tự - Trung đội phó thông tin thuộc Đại đội 5 Tiểu đoàn 133 Trung đoàn 596.

Đến nay, chiến tranh đã qua đi hơn 30 năm nhưng những đóng góp vô cùng to lớn của Bộ đội Trường Sơn vào công cuộc chi viện cho các chiến trường sẽ mãi mãi ghi vào trang sử oanh liệt của dân tộc ta, của quân đội ta như một thiên anh hùng ca bất diệt! Lực lượng thông tin trên tuyến đường Hồ Chí Minh rất tự hào đã góp phần giữ vững và phát huy truyền thống của Binh chủng Thông tin Anh hùng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

15.1.25

Sự hình thành và hoạt động ban đầu của ngành Vô tuyến điện tiếp sức

Đại tá Nguyễn Ngọc Châu - nguyên Phó Tham mưu trưởng Binh chủng Thông tin liên lạc

1. Đại đội 22 - Đơn vị tiền thân.

Được sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc, ngày 2 tháng 8 năm 1959 Cục Thông tin liên lạc nhận 8 xe máy vô tuyến điện tiếp sức (P401) của Liên Xô. Mặc dù số lượng còn ít, trình độ công nghệ chưa cao, nhưng các đồng chí lãnh đạo và các cơ quan của Cục Thông tin vô cùng phấn khởi, đã tổ chức tiếp nhận và điều động một số cán bộ được đào tạo và có trình độ kỹ thuật tốt, từ trường của Cục về nghiên cứu biên dịch tài liệu, tổ chức huấn luyện, khai thác loại khí tài mới này.

Các đồng chí Tô Minh Nhật, Ngô Xuân Trinh, Trần Ngọc Thát... được giao nhiệm vụ nghiên cứu tính năng kỹ thuật và tổ chức huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ Đại đội 22 thuộc Trung đoàn 205.

Lúc này ta chưa có kỹ sư điện tử - toàn bộ tài liệu và thứ tự trên mặt máy đều in bằng tiếng Nga, phiên dịch không có nhưng quyết không chịu bó tay. Nhờ có chút vốn tiếng Pháp và lòng nhiệt tình say mê, cùng những kiến thức cơ bản vững vàng đã được học tại trường, đồng chí Nhật cùng hai đồng chí Trịnh, Thát trong thời gian ngắn nhất đã nắm được toàn bộ tính năng kỹ, chiến thuật và phương pháp tổ chức khai thác các loại xe máy P401.

Toàn bộ sơ đồ kỹ thuật và sơ đồ hướng dẫn đã được dịch ra tiếng Việt, làm cơ sở tốt cho công tác huấn luyện, bảo dưỡng, sửa chữa và khai thác loại khí tài mới này.

Năm 1960 Trung Quốc cử đồng chí Tô Kiến Đạt, tiểu đoàn phó tiểu đoàn Thông tin tiếp sức của Trung Quốc và Liên Xô cử đại tá Ghi chuyên gia sang giúp đỡ về sử dụng, khai thác và tổ chức diễn tập Tổng trạm Thông tin của Bộ Tổng tham mưu với các quân khu, quân chủng.

Ngày 19 tháng 8 năm 1959, tại doanh trại của Trung đoàn ở Xuân Mai, đồng chí Cục phó Cục Thông tin liên lạc Hoàng Xuân Vượng đọc quyết định thành lập Đại đội 22 thông tin tiếp sức - trực thuộc Trung đoàn 205. Quân số gồm 69 người do đồng chí Tô Minh Nhật làm đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Khước - chính trị viên, Lê Thành Ý - đại đội phó và 8 trạm vô tuyến điện tiếp sức, mỗi trạm 7 người.

Tại buổi lễ, đồng chí Cục phó đã đọc lệnh của Cục trưởng: "Lệnh cho Đại đội 22, triển khai đường trục tuyến điện tiếp sức, từ Bộ Tổng tham mưu đến Bộ Tư lệnh Quân khu Tây Bắc, để bảo vệ biên giới phía Tây của Tổ quốc". Đồng chí chúc đại đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và phải quyết tâm "đánh thắng trận đầu". Nhận nhiệm vụ của Cục giao cho, Đại đội trưởng Tô Minh Nhật vô cùng phấn khởi, song không khỏi lo lắng vì khí tài mới, triển khai trên địa bàn rừng núi hiểm trở, lại phải hành quân xa, việc bảo đảm an toàn cho người và xe máy có nhiều khó khăn. Khí tài tiếp sức mới được nghiên cứu và tổ chức huấn luyện chưa nhiều. Từ lý thuyết đến thực tế còn một khoảng cách không nhỏ. Theo tài liệu cự ly liên lạc giữa 2 trạm 45-50km (theo đường chim bay và không có vật cản che khuất tầm phát sóng). Nếu đặt ở đỉnh núi cao, cự ly liên lạc có thể lên tới 100km, vậy đường trục tiếp sức 300km phải triển khai bao nhiêu trạm? Chọn cự ly và hướng phát sóng thích hợp, bảo đảm đường truyền tín hiệu có chất lượng tốt nhất! Biết bao nhiêu câu hỏi và những giải pháp được đặt ra. Giải pháp cuối cùng được đặt là:

Tháo dỡ toàn bộ thiết bị, khí tài ra khỏi xe. Dùng sức người gùi tất cả máy móc, trang bị kỹ thuật, xăng dầu, lương thực, thực phẩm lên đỉnh núi cao, đặt trạm thông tin tiếp sức. Anh em nói với nhau là "thông tin kiệt sức". Được sự cổ vũ, động viên kịp thời, mọi khó khăn gian khổ đều vượt qua. Tính chủ động, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ được phát huy. Nhờ vậy việc triển khai trạm theo kế hoạch của trên được thực hiện theo đúng tiến độ.

Đúng 6 giờ ngày 26 tháng 8 năm 1959, tuyến thông tin tiếp sức đầu tiên từ Bộ Tổng tham mưu đến Bộ Tư lệnh Quân khu Tây Bắc gồm 6 trạm Hà Nội, Xuân Mai, Pheo, Hòa Bình, Chợ Bờ, bản Tà Ný (ngã ba Mộc Châu - điểm cao 335) liên lạc đã được thông suốt.

Cán bộ, chiến sĩ toàn đại đội hết sức phấn khởi trước thành công ban đầu, mở ra triển vọng tốt đẹp cho thông tin vô tuyến điện tiếp sức trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sau cuộc thử nghiệm đầu tiên đạt kết quả tốt, ngày 4 tháng 10 năm 1959 đơn vị lại nhận nhiệm vụ triển khai tuyến đường trục thứ hai từ Bộ Tổng tham mưu đến Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Trên cơ sở kinh nghiệm của tuyến đường trục Tây Bắc, Đại đội trưởng Tô Minh Nhật đã nghiên cứu, thiết lập đường trục mới, đặt ở Hà Nội, núi Gôi, núi Nưa, Hoàng Mai, Cầu Giát, Vinh. Tất cả gồm 6 trạm, sau 3 ngày hành quân và tháo dỡ, mang vác khí tài lên các điểm cao nhất đã được xác định. Việc triển khai trạm máy rất đồng bộ và khẩn trương, nhờ có kinh nghiệm đợt trước nay lại ở đồng bằng và trung du có nhiều thuận lợi. Do vậy ngày 18 tháng 10 năm 1959 tuyến thông tin tiếp sức Hà Nội - Quân khu 4 đã liên lạc thông suốt.

Nhiệm vụ được giao chúng tôi đã hoàn thành đúng như mong muốn của đồng chí Cục phó Hoàng Xuân Vượng. Dù vạn sự khởi đầu nan, thử thách, song với ý chí và quyết tâm: dám nghĩ, dám làm, toàn đại đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Với những thành tích nói trên, Đại đội 22 đã được tuyên dương là đơn vị Ba nhất, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

2. Những cuộc thử nghiệm trên thực địa.

Để bảo đảm thông tin liên lạc theo kế hoạch phòng thủ miền Bắc sẵn sàng đánh trả cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, Cục Thông tin liên lạc chủ trương tiến hành kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, với các phương án diễn tập có quy mô ngày càng lớn, bằng các loại khí tài và phương tiện thông tin mới được trang bị.

Đối với loại khí tài vô tuyến điện tiếp sức, cần phải tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm ở các cự ly và địa bàn khác nhau nhằm giảm bớt các trạm trung gian, tăng cự ly liên lạc, bảo đảm tín hiệu đường truyền thật ổn định và kết nối với các phương tiện thông tin khác. Căn cứ vào ý định trên, tôi được giao nhiệm vụ lập kế hoạch thử nghiệm khả năng liên lạc trên cự ly xa của thiết bị vô tuyến điện tiếp sức và sóng cực ngắn trên phạm vi toàn miền Bắc.

Trên cơ sở kết quả triển khai hai tuyến đường Hà Nội Tây Bắc và Hà Nội - Quân khu 4 và những kết quả trong huấn luyện của Đại đội 22 theo kế hoạch này, các trạm giữa được bỏ bớt, nhưng phải tăng độ cao của các điểm đặt trạm. Làm được như vậy sẽ tạo những biến đổi lớn về lực lượng và chất lượng thông tin. Giảm bớt khí tài, quân số, kéo theo đó là giảm bớt sự tiêu hao vật chất, kỹ thuật, nhiên liệu và công tác bảo đảm hậu cần, đời sống. Giảm bớt tiếng tạp âm trên sóng vô tuyến điện đường trục. Cự ly liên lạc được tăng thêm và chất lượng đường truyền tín hiệu tốt hơn, ổn định hơn.

Nhưng đời sống và công tác hàng ngày của bộ đội sẽ khó khăn, gian khổ tăng thêm nhiều lần. Song vì ý nghĩa to lớn và quan trọng của tuyến thông tin tiếp sức. Vì vậy cán bộ, chiến sĩ, có quyết tâm rất cao, sẵn sàng vượt qua tất cả, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Sau khi Cục trưởng Nguyễn Anh Bảo thông qua kế hoạch thử nghiệm, Đại đội 22 dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Hồ Đức Ngạn, chính trị viên Đỗ Minh Đính và chính trị viên phó Bùi Hữu Do cùng một trung đội vô tuyến điện sóng cực ngắn, quân số 110 - có hai kỹ sư thông tin của Cục Thông tin liên lạc là Trần Thúc Vân, Huỳnh Xuân Mai và bốn cán bộ trung cấp kỹ thuật thông tin tiến hành đợt thử nghiệm đầu tiên1.

6 giờ sáng ngày 10 tháng 3, toàn đại đội xuất phát, hành quân trên nhiều hướng, triển khai trên nhiều địa phương, trên 22 cao điểm. Từ Tây Bắc, Đông Bắc, các hải đảo vào tới Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Trên các đỉnh núi cao như Tam Đảo 1.600m, Ba Vì 1.287m, Viên Nam: 1.100m, Yên Tử: trên một ngàn mét, núi Am Váp gần 1.200m, Bù Cho: 1.563m, Đèo Ngang 1.023m. Các đảo: Trà Cổ, Tuần Châu, Cát Bà, Bạch Long Vĩ...

Đợt thử nghiệm này, được sự giúp đỡ của các cơ quan dân - chính - Đảng và Phòng Thông tin các quân khu, quân chủng. Tuy vậy cũng vô vàn khó khăn, gian khổ. Chúng tôi phải liên tục động viên bộ đội quyết tâm khắc phục để hoàn thành nhiệm vụ.

Những trạm triển khai trên các đảo thuộc Quân khu Đông Bắc, theo kế hoạch, Bộ Tư lệnh sẽ dùng tàu của Hải quân để chở bộ đội và khí tài ra đảo. Nhưng tới ngày lên đường thì không có tàu, anh em phải đi bằng thuyền gỗ của dân. Lần đầu ra biến, thuyền nhỏ, sóng to gió lớn, mọi người chao đảo, bồng bềnh, ai cũng nôn mửa, người phờ phạc mệt lử..

Khi tới đảo, mặc dù sức khoẻ giảm sút, bước đi lảo đảo, thẫn thờ nhưng mọi người vẫn cố gắng mang vác khí tài tới các vị trí đã quy định, núi Am Váp với độ cao trên 1.000m, được Huyện đội Hoành Bồ cử người dẫn đường. Nhưng là một vùng núi nguyên thủy, cây cối rậm rạp, dốc cao vực thẳm, nhiều chỗ chưa có dấu chân người đi tới. Nơi đây còn là căn cứ của bọn thổ phỉ do Lục Văn Thống và Bàn Đức Thắng cầm đầu. Chúng lén lút ở lại, sau khi ta tiếp quản khu 300 ngày. Tìm mọi cách thu gom lực lượng, lợi dụng rừng núi hiểm trở để ẩn náu và tiến hành các hoạt động phá hoại cuộc sống của nhân dân vùng Đông Bắc nước ta.

Hai người dẫn đường đi cùng chúng tôi suốt một ngày, tới gần tối mà chưa tới cao điểm. Vì sợ bọn phỉ phục kích, nên cả hai người viện nhiều lý do xin quay trở lại, thật đúng là cảnh "đem con bỏ chợ". Chúng tôi đành chấp nhận cho họ ra về. Còn chúng tôi tiếp tục leo núi, tìm nơi dừng chân nấu bữa tối, cử người canh gác cẩn thận. Anh em mỗi người chọn một chỗ thích hợp căng bạt, treo võng ngủ qua đêm. Sáng hôm sau chúng tôi tìm đường đi tiếp, đến 10 giờ trưa lên đến đỉnh núi! Đứng trên đỉnh cao, ngắm nhìn toàn bộ vùng biển, đảo vùng Đông Bắc của Tổ quốc. Đây đúng là một cao điểm lý tưởng! Là một chóp thông tin có thể liên lạc bao quát cho cả Quân khu Đông Bắc và Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Suốt gần một tháng thử nghiệm, đoàn đã bảo đảm an toàn và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thu hồi khí tài và hành quân về đơn vị, chúng tôi chuẩn bị một đợt thử nghiệm mới trong điều kiện khó khăn phức tạp hơn.

Từ những bài học kinh nghiệm, qua các đợt triển khai thử nghiệm, Cục Thông tin chủ trương xây dựng tuyến đường trục vô tuyến điện tiếp sức Hà Nội - Vinh, với một trạm giữa đặt tại cao điểm 1560 Bù Cho - Thanh Hoá.

Nhận nhiệm vụ trên giao, tôi cùng anh Hồ Đức Ngạn và một số cán bộ, chiến sĩ trinh sát, tìm đường lên đỉnh Bù Cho. Từ nơi đỗ ô tô lên tới đỉnh núi phải mất hai ngày trèo đèo lội suối vô cùng vất vả. Chúng tôi vào huyện đội Thường Xuân xin người dẫn đường. May mắn có đồng chí xã đội phó xã Nà Khao đang làm việc ở huyện đội. Đồng chí rất nhiệt tình dẫn đường cho chúng tôi. Lần đầu tiên được ngồi ô tô về bản, xã đội phó rất vui. Đến nơi, xe để lại bên bờ sông Khao, chúng tôi lên mảng qua sông về bản. Tối hôm ấy chúng tôi nghỉ lại nhà đồng chí xã đội phó.

Sáng hôm sau chúng tôi lên núi, đây là một khu rừng nguyên sinh rất rậm rạp, nhiều cây to, cao, lá xum xuê. Suối sâu, dốc đứng, nhiều thú dữ, rất nhiều muỗi, vắt. Chỉ cần dừng chân chốc lát là chúng bám đầy chân và bò lên người. Mọi người mải miết luồn rừng, leo dốc, đi vào những nơi chưa hề có dấu chân người qua lại. Trời đã sẩm tối, đồng chí xã đội phó xin quay về bản, vì gia đình còn mẹ già, con nhỏ. Sau khi cảm ơn và chia tay xã đội phó, chúng tôi lại cắt rừng đi thêm một đoạn nữa. Ai cũng thấm mệt, chúng tôi dừng lại nấu ăn và mỗi người tìm một cây cao để mắc võng ngủ qua đêm, đề phòng thú dữ đe dọa.

Sáng hôm sau đi theo bản đồ, chúng tôi tiếp tục leo lên đỉnh núi, gần 11 giờ trưa thì tới đỉnh Bù Cho. Tuy rất mệt, nhưng mọi người đều phấn khởi, quên cả đói khát. Đứng trên cao, gió thổi lồng lộng, không khí trong lành, bầu trời như thấp xuống, từng đám mây trắng bay qua, mọi người cảm thấy mỏi mệt đều tan biến. Qua trao đổi với anh Ngạn, tôi quyết định chọn cao điểm này làm chóp thông tin. Làm cầu nối thông tin liên lạc giữa Bộ Tổng tham mưu với Quân khu 3, Quân khu 4 và Đặc khu Quảng Ninh. Làm cơ sở cho đường trục tiếp sức, khi phát triển sâu vào phía Nam và cả chiến trường Lào nữa. Cảm xúc trước thiên nhiên tươi đẹp, núi rừng hùng vĩ và khí hậu khắc nghiệt, bạn Đặng Đức Đông đã ghi lại mấy vần thơ chiến sĩ:

"Mùa khô bỏng rát gió Lào

Mùa đông gió Bắc, điểm cao sương mù

Mùa mưa kéo tận sang thu

Thông tin, thông suốt, mặc dù gian lao...".

Gần một tháng thử nghiệm suốt 24/24 giờ, hai kỹ sư: Trần Thúc Vân, Huỳnh Xuân Mai và 4 cán bộ kỹ thuật của Cục Thông tin đã theo dõi, ghi chép rất tỉ mỉ thông số kỹ thuật. Đối chiếu giữa lý thuyết và thực tế, chất lượng các đường truyền dẫn, cự ly liên lạc giữa các trạm đã tăng từ 2 đến 4 lần. Kết thúc đợt thử nghiệm, trong buổi báo cáo tổng kết, đồng chí Cục trưởng Nguyễn Anh Bảo đã nhận xét: "... Đây là đợt thử nghiệm lớn nhất, kết quả thật bất ngờ. Khí tài tiếp sức phục vụ ở cấp chiến thuật - Ta đã có thể tổ chức thông tin cho cấp chiến dịch. Dựa vào các cao điểm của dãy Trường Sơn, chúng ta đã xây dựng, phát triển đường trục vô tuyến điện tiếp sức Bắc - Nam phục vụ cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc".

Từ những kết quả trên, Cục đã chỉ thị xây dựng tuyến vô tuyến điện tiếp sức đường trục từ Bộ Tổng tham mưu đến Quân khu 4 gồm 3 trạm (JK1 - Bù Cho - Núi Quyết), từ Bộ Tổng tham mưu đến khu Đông Bắc gồm 3 trạm (JK - Yên Tử - Bãi Cháy) và từ Bộ Tổng tham mưu đến Quân chủng Hải quân (JK1 - núi Am Váp - Hải Phòng).

Với phương thức như vậy chúng ta đã tạo ra một lực lượng đáng kể về quân số, khí tài... chuẩn bị cho các nhiệm vụ tiếp theo.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

---------------------------------------------

1 Đồng chí Trần Thúc Vân sau là Thiếu tướng, Viện trưởng Viện Kỹ thuật quân sự Bộ Quốc phòng. Đồng chí Huỳnh Xuân Mai sau này là Đại tá, Phó Tiến sĩ ở Cục Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng.

Thông tin Bến Tre tự lực lắp ráp, cải tiến và sửa chữa máy vô tuyến điện AN/PRC-25 của Mỹ để phục vụ thông tin liên lạc

Thiếu tá Trần Việt Hùng - nguyên Chủ nhiệm Thông tin Tỉnh đội Bến Tre

Bến Tre là tỉnh hình thành bởi ba cù lao: cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh. Nó bị chia cắt bởi bốn nhánh sông Cửu Long: sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên. Mỗi cù lao có nhiều sông, rạch, kinh lớn nhỏ chằng chịt chia cắt địa hình rất phức tạp. Ở Bến Tre, sử dụng phương tiện thông tin liên lạc vô tuyến điện là phù hợp với địa hình chia cắt, phù hợp với chiến tranh du kích. Đó là sự lựa chọn ưu tiên của Bến Tre.

Ở Nam Bộ, thời kỳ chống Pháp, các tỉnh Nam Bộ đều sử dụng đài "vô tuyến điện báo" liên lạc hàng ngày về các cơ quan lãnh đạo ở Nam Bộ. Thời kỳ đó, máy vô tuyến điện dùng đèn điện tử: máy thu dùng đèn 3Q4-1T4, máy phát dùng đèn 6V6-6L6, v.v... Đến thập niên 60, kỹ thuật đèn transistor đã phát triển rộng rãi ở miền Nam nước ta. Vì vậy Bến Tre quyết tâm chuyển đổi máy thu từ đèn điện tử sang dùng đèn transistor tiện lợi hơn, tiết kiệm năng lượng, rẻ tiền, v.v..., chỉ cần 1,5V và 9V là đủ cho máy thu. Còn đèn bắt sóng, dùng đèn điện tử 3A4, giảm điện thế xuống còn 9V cho phù hợp với điện thế phân cực đèn transistor và đốt tim 1,5V nhưng vẫn thu tín hiệu "morse" tốt. Pin 9V dùng 2 viên pin dẹt (4,5) và pin đốt tim, dùng 2 viên pin tròn, tất cả pin để gọn trong thùng máy. Máy thu và máy phát ráp gọn trong "thùng đạn đại liên".

"Thùng đạn đại liên" của Mỹ chống ẩm ướt rất tốt và chắc chắn gọn gàng, nhẹ nhàng trong khi hành quân và khi cần cất giấu khẩn cấp, ta nhận (dìm) nó xuống sông rạch hoặc ao hồ vẫn bảo đảm an toàn.

Sườn máy thu - phát, dùng nhôm "ống trái sáng", nhẹ, mềm, dễ gò - và không phải sơn. Phụ tùng lắp ráp máy lấy từ máy vô tuyến điện chiến lợi phẩm. Tùy thuộc vào vật tư, phụ tùng mình thu được để lắp ráp. Đèn điện tử máy phát gồm các loại: Đèn 3A4-3Q4 (loại phổ biến ở thị trường miền Nam). Đèn 5A6 (lấy trong máy siêu tần số TR20 của Mỹ). Đèn 2DF4 (lấy trong máy PRC25 của Mỹ). Dùng dây điện đánh "mìn Clâymo" (chiến lợi phẩm thu được của địch), làm ăng-ten rất tốt.

“Maníp” đánh "morse": tự làm "maníp" kiêm luôn chức năng "rơle", để tự động cắt mạch - đóng mạch khi phát thu, để báo vụ làm việc "Chế độ BK" như máy Mỹ (vừa phát vừa nghe đài bạn chặn maníp). Tai nghe, dùng tai nghe máy điện thoại Mỹ (chọn loại phù hợp với công suất transistor) hoặc dùng tai nghe của radio.

"Mỏ hàn" tự chế nhiều loại: lớn, vừa và thật nhỏ để phù hợp với việc lắp ráp transistor, v.v...

Máy phát, dùng đèn điện tử: 1 đèn "pilote" (tạo sóng phát) và 4 đèn 3A4 lắp song hành làm tầng khuếch đại công suất. Điện thế sử dụng: 1,5V và 150V-180V. Đài trung tâm chỉ huy: lắp ráp đèn điện tử: loại đèn 5A6, dùng bình ắcquy để đốt tim và chạy bộ phận đổi điện bằng transistor loại công suất lớn của máy siêu tần số - TR20 của Mỹ, không dùng pin đỡ tốn kém.

Đài vô tuyến điện tiểu đoàn: Máy phát lắp ráp đèn điện tử 2DF4 và bộ phận đổi điện "A1" của máy PRC25. Đèn 2DF4 công suất khỏe, tiêu thụ năng lượng ít (2 viên pin tròn đốt tim 3V và 10 viên pin tròn 15V để chạy bộ phận đổi điện "A1") để gọn trong thùng đạn đại liên.

Đài 7 Huyện đội và các chốt hậu cần, vận tải: lắp ráp máy phát: 4 đèn công suất "3A4" song hành. Điện sử dụng: 1,5V-120V-180V.

Cán bộ chuyên môn: tuyển chọn thanh niên 17-18 tuổi, có năng khiếu, đào tạo tại chỗ (4 tháng).

Tự lực sửa chữa máy truyền tin PRC-25 của Mỹ.

Năm 1968, Mỹ-ngụy chuyển sang dùng mạng lưới truyền tin bằng loại máy PRC-25. Lực lượng ta thu được để Bến Tre tự lực nghiên cứu sửa chữa, từ sửa thông thường đến sửa chữa phức tạp, như: tháo máy PRC25 để sửa chữa chứng bệnh "tuột sóng", hỏng bộ "nhông", lệch tần số lẻ, v.v... Những máy hư hỏng nặng phải tốn nhiều thời gian, công sức lần mò tìm "bệnh" để trị, để có đủ máy sử dụng.

Từ năm 1970 đến tháng 4 năm 1975 Mỹ - ngụy đánh phá vùng Bến Tre vô cùng ác liệt, đường dây giao bưu – quân bưu không đi được. Vì vậy Tỉnh đội chỉ đạo cho thông tin phải bố trí đóng chốt các tổ máy PRC-25 dọc theo đường giao bưu - quân bưu chiến lược, để đảm bảo cho yêu cầu đưa đón cán bộ và vận tải "hàng" theo chỉ đạo của tỉnh. Các đội săn tàu trên sông Giồng Trôm và các đội săn "Hạm đội nhỏ" trên các nhánh sông đều phải trang bị máy thông tin PRC-25 để thông báo kịp thời chặn đánh các tàu địch chạy vào sông Giồng Trôm.

Các phân đội thông tin ở 5 tiểu đoàn bộ binh, Trung đoàn "Đồng khởi", đại đội thông tin Tỉnh đội và các phân đội đi tác chiến độc lập phải trang bị máy thông tin PRC-25 để chỉ huy, kịp thời cơ đánh địch,v.v.

Các tiểu đoàn bộ binh và Trung đoàn Đồng khởi còn trang bị một đài "vô tuyến điện báo" để liên lạc về Tỉnh đội, Tỉnh ủy, v.v...

Các huyện đội đều có trang bị một đài "vô tuyến điện báo" để báo cáo về Tỉnh đội - Tỉnh ủy.

Mạng lưới thông tin phải bố trí đều khắp theo yêu cầu của Tỉnh đội, Tỉnh ủy để lãnh đạo chỉ huy kịp thời đánh địch.

Trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cường độ chiến tranh tăng tốc như "phi mã" khó lường. Ta có mạng lưới thông tin bố trí đều khắp, hợp đồng chặt chẽ. Đến giờ "G" lịch sử, ta sử dụng quả đấm "Thép" nện trên đầu thù - giành thắng lợi trọn vẹn.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Bảo đảm thông tin tại Tổng trạm của Bộ trong những năm chống Mỹ, cứu nước

Đại tá Bùi Mạnh Hồng - nguyên Phó Tham mưu trưởng Binh chủng Thông tin liên lạc

Đầu năm 1966, sau khi kết thúc lớp đào tạo cán bộ sơ cấp chỉ huy thông tin tại Trường Sĩ quan Thông tin, với quân hàm chuẩn úy, tôi nhận quyết định về làm trợ lý tham mưu, phụ trách theo dõi hữu tuyến điện tại Tiểu đoàn 77 Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc, giữa lúc quân và dân miền Nam Việt Nam đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh quyết liệt; đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh leo thang dùng không quân đánh phá miền Bắc.

Thời kỳ đó, Tiểu đoàn 77 có nhiệm vụ bảo đảm toàn bộ thông tin liên lạc tại Tổng trạm của Bộ, phục vụ cho Bộ Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh điều hành toàn diện cuộc kháng chiến. Tiểu đoàn 77 lúc đó biên chế gồm: 6 cán bộ tiểu đoàn, 1 trung tâm sửa chữa, 1 trạm kiểm soát vô tuyến điện và 8 đại đội, là Đại đội 3 vô tuyến điện, Đại đội 4 hữu tuyến điện, Đại đội 5 vô tuyến điện, Đại đội 6 hữu tuyến điện, Đại đội 7 cơ động, Đại đội 8 xe máy lớn, Đại đội 9 huấn luyện, Đại đội 13 tiếp sức. Quân số trung bình từ 800 đến 900 cán bộ, chiến sĩ.

- Về tổ chức mạng thông tin hữu tuyến điện: Đại đội 4 đảm nhiệm thông tin liên lạc khu vực nội thành Hà Nội, Đại đội 6 đảm nhiệm thông tin liên lạc khu vực ngoại thành Hà Nội.

- Về trang bị hữu tuyến điện: Gồm 5 tổng đài điện chung (do Trung Quốc viện trợ, sau đó được thay thế bằng 5 tổng đài P-198 của Liên Xô, đặt tại khu A trong thành Hoàng Diệu). Riêng tổng đài 5 chuyên phục vụ các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, các tổng đài khác phục vụ cho các Tổng cục và các cơ quan của Bộ Quốc phòng, trên dưới 1.000 máy lẻ loại CMA,CZ2.

Để bảo đảm tính bí mật và kịp thời, tại trực ban tác chiến Bộ Tổng tham mưu có tổ chức các đường trực tuyến đến nơi làm việc của Bác Hồ, các đồng chí trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Ngoài ra còn tổ chức đường trực tuyến đến trực ban các sở chỉ huy phòng không, không quân, Bộ chỉ huy phòng không Hà Nội, Ban phòng chống lụt bão Trung ương để kịp thời thông báo, báo động khi có máy bay của Mỹ xâm phạm vùng trời miền Bắc và Hà Nội, để kịp thông báo trên Đài truyền thanh Hà Nội và kéo còi báo động cho toàn dân biết.

Để bảo đảm cho hệ thống máy điện thoại và các đường thông tin trực tuyến, Đại đội 4 và Đại đội 6 phải quản lý, sửa chữa tới gần 300km cáp các loại, hàng ngàn kilômét dây bọc, bao gồm cáp ngầm có một số ít mới phát triển, còn lại hầu hết là cáp do Pháp để lại, quá cũ nên chất lượng thông tin liên lạc không được tốt lắm. Ngoài ra còn có một đường cáp 112 đôi nối từ trong thành đến vòm RV1 Cửa Nam để nhận các tín hiệu từ Bưu điện Bờ Hồ.

Các máy lẻ chủ yếu dùng máy do Trung Quốc sản xuất, đến cuối năm 1967, đầu năm 1968 mới được thay bằng tổng đài của Liên Xô sản xuất và một số ít máy lẻ từ thạch TA-57 là loại máy từ thạch tốt nhất lúc bấy giờ.

Về thiết bị điện báo: có tổ chức khai thác giữa Tổng trạm Bộ với các quân khu phía Bắc và Hải quân, qua mạch ảo hữu tuyến điện. Thiết bị đầu cuối thời gian đầu là máy chạy bằng tín hiệu Moóc, sau năm 1960 là T51, T55.

Để giải quyết việc giao nhận điện mã giữa thông tin và cơ yếu, Tiểu đoàn có tổ chức một trạm trung gian và trạm thu phát điện báo (trực thuộc tiểu đoàn).

Việc bảo đảm thông tin đường dài tới các quân khu, quân đoàn thời đó chủ yếu bằng tải ba dây trần. Máy tải ba chủ yếu của Trung Quốc (3ZD, ZM321). Sau này có được thay thế bằng các máy tải ba của Hung-ga-ri (BO-3, VBO-3, VBO-12). Do đặc điểm lúc đó, các tuyến dây trần thường bị máy bay Mỹ ném bom làm hư hỏng nên cán bộ, chiến sĩ phải khôi phục sửa chữa rất vất vả, mỗi khi có các tuyến cáp hoặc đường dây bị hư hỏng phải thức thâu đêm để nối thông liên lạc bảo đảm cho chỉ huy chiến đấu.

Về vô tuyến điện: tại Trung tâm thu, vô tuyến điện máy thu thời kỳ đó chủ yếu được trang bị loại 7512 (Trung Quốc) và P-250 (Liên Xô). Tại trung tâm phát dùng máy phát 91Z có công suất 150W để bảo đảm liên lạc bằng vô tuyến điện với các chiến trường. Đại đội thông tin cơ động (Đại đội 7) gồm 7 xe UAZ được trang bị máy vô tuyến điện 15W chuyên dùng phục vụ các chuyến đi công tác của Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng và để đưa đón các đoàn khách nước ngoài đến thăm.

Tôi nhớ nhất lần gặp Bác Hồ vào dịp kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 năm 1969, tôi cùng với một số đồng chí cán bộ trực máy thông tin tại Hội trường Ba Đình. Dự mít tinh xong, Bác Hồ ra về. Khi ra đến hành lang phía sau Hội trường, gặp mấy chị văn công của Tổng cục Chính trị đến biểu diễn, Bác hỏi: Các cháu làm gì vậy? Các chị đồng thanh trả lời: Thưa Bác, chúng cháu chuẩn bị biểu diễn ạ! Người gật đầu và nói: Các cháu hãy hát cho thật hay nhé! Rồi Người đi ra phía sau của Hội trường, tôi đứng lặng, nhìn theo bóng Bác. Hình ảnh Người không bao giờ phai nhạt trong tâm trí của tôi.

Từ ngày 5 tháng 8 năm 1964 khi đế quốc Mỹ bắt đầu leo thang chiến tranh phá hoại bằng máy bay ra miền Bắc đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, việc bảo đảm thông tin liên lạc từ Tổng trạm của Bộ đến các chiến trường thật là khó khăn vất vả, khối lượng công việc ngày một tăng. Trung bình một ngày tại Tổng trạm thông tin phải chuyển nhận trên 1.000 bức điện. Các chiến sĩ tổng đài dưới hầm sâu phải tiếp chuyển hàng ngàn cuộc đàm thoại. Có lần, giặc Mỹ bắn tên lửa trúng vào vị trí đóng quân của Đại đội 4 làm 3 đồng chí hy sinh và một số đồng chí khác bị thương. Với tinh thần quyết tâm cao độ, toàn thể cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 77 đã khắc phục khó khăn với khẩu hiệu "Miền Nam gọi miền Bắc trả lời, tất cả vì miền Nam ruột thịt" đã không quản hy sinh luôn giữ cho mạch máu thông tin liên lạc thông suốt bảo đảm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, lãnh đạo chỉ huy quân và dân cả nước tiến lên giành thắng lợi, góp phần chuẩn bị cho giai đoạn giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Giờ đây đất nước đã hoàn toàn thống nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Nhớ lại những năm tháng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tôi rất tự hào là một cán bộ đã làm việc tại Tiểu đoàn 77 trong giai đoạn khó khăn nhất của cuộc kháng chiến, góp phần rất nhỏ bé cùng đồng chí đồng đội bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ cho chỉ huy chiến đấu. Năm tháng đã qua đi, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 77 giờ đây có đồng chí đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác; có những đồng chí đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, tất cả đã góp sức mình làm nên chiến thắng. Hôm nay, nhân kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống của tiểu đoàn, tôi ghi lại mấy dòng suy nghĩ về thời gian đã qua, mong rằng lớp lớp cán bộ, chiến sĩ hôm nay của tiểu đoàn hãy phát huy truyền thống vẻ vang của Tiểu đoàn 77 Anh hùng trong thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hãy đem hết sức lực của mình hoàn thành tốt nhiệm vụ để không ngừng tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Tiểu đoàn, góp phần xây dựng Lữ đoàn 205 Binh chủng Thông tin ngày càng lớn mạnh.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

13.1.25

Lớp cơ công vô tuyến điện đầu tiên*

Nguyễn Diệp - nguyên giáo viên

Tháng 12 năm 1945, Phòng Thông tin - Bộ Tổng Tham mưu mở lớp đào tạo báo vụ viên đầu tiên ở Hà Nội. Năm 1947 mở lớp thứ 2 ở An toàn khu Định Hóa Thái Nguyên.

Sau khi Phòng Thông tin được phát triển thành Cục Thông tin liên lạc (tháng 7-1949), trước nhu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật trẻ do cách mạng đào tạo, Cục đã mở lớp cán sự vô tuyến điện có trình độ trung cấp (lúc đó gọi là phó kỹ sư), nhưng do điều kiện thiếu giáo viên và sự chỉ đạo của Bộ nên Cục chuyển học viên sang học lớp trưởng đài ở Trường Lục quân khóa 7. Để kịp thời bổ sung cán bộ kỹ thuật cho Xưởng và Trạm sửa chữa thông tin các đơn vị, Cục Thông tin giao Xưởng CRL tổ chức đào tạo lớp cơ công sơ cấp cả về lý thuyết và thực hành, đảm bảo khi tốt nghiệp có tay nghề nhất định, có thể sửa chữa các máy vô tuyến điện, điện thoại, máy phát điện..., kiểu dùng phổ biến ở các đơn vị trong thời kỳ đó, có thể lắp ráp các điện đài kiểu giản đơn.

Đầu tháng 4 năm 1950, học viên ở các cơ quan của Bộ Quốc phòng, các chiến khu, các đơn vị chủ lực trực thuộc Bộ và một số học sinh mới nhập ngũ lần lượt tập trung về Xưởng CRL (lúc đó ở Bản Piềng, xã Thanh Định trong An toàn khu huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên) học tập.

Xưởng tổ chức cho anh em xây dựng hội trường, nhà ở; đến cuối tháng 4 năm 1950 đã chuẩn bị xong cơ sở vật chất bảo đảm huấn luyện. Lúc này đã tập trung được hơn 30 học viên (có 2 nữ), phần lớn có trình độ trung học cơ sở, có 1 học viên đã tốt nghiệp tú tài, một số ít mới học xong tiểu học.

Về chuyên môn, đa số ở các ngành khác, một số ít đã là trưởng đài hoặc báo vụ viên như đồng chí Lưu Minh Đức học ở Liễu Châu từ năm 1942, đã là Trưởng đài, nay được Trung ương cử đến; đồng chí Trần Văn Phúc đã là Trưởng đài vô tuyến điện Khu Việt Bắc; đồng chí Nguyễn Sĩ Nga đã là báo vụ từ năm 1948 ở Đội vô tuyến điện 59...

Đầu tháng 5 năm 1950, lớp học bắt đầu. Vì cả nước đang dấy lên phong trào "chuẩn bị tổng phản công" nên lớp học mang tên "Khoá chiến thắng".

Chương trình huấn luyện gồm các môn học sau:

1. Cơ sở lý thuyết và thực hành gò hàn, cưa sắt, giũa mặt phẳng, giũa phôi có sẵn để thành kìm vạn năng...

2. Cơ điện gồm có cơ sở điện kỹ thuật, các loại nguồn điện và máy nổ, có thực hành làm pin nước, nạp ắc quy, quấn biến áp, sửa chữa máy nổ 2 tầm, 4 tầm.

3. Nguyên lý vô tuyến điện, các loại máy thu phát thông dụng trong quân đội thời kỳ đó (MKII, SST, Schnell, Mesny, Hartley...), có thực hành sửa chữa máy điện thoại, lắp máy phát 1 đèn kiểu SST, máy thu 3 đèn kiểu Schnell.

Đội ngũ giáo viên là lớp cán bộ, nhân viên của Xưởng vừa dạy lý thuyết, vừa hướng dẫn thực hành. Giáo viên cơ khí có bác Nguyễn Đình Hồng, Lê Thành Liên, cụ Thọ, cụ Sếnh. Giáo viên máy nổ, máy phát điện có bác Mão, bác Thành, bác Huyên. Trợ lý hướng dẫn bảo quản, sửa chữa các động cơ điện, hộp đổi điện và quấn biến thế có đồng chí Trần Ngọc Duyện. Giáo viên lý thuyết điện, vô tuyến điện có đồng chí Nguyễn Diệp, Lê Kim Khánh, Lê Dung. Hướng dẫn lắp máy có Lê Kim Khánh, Lê Bá Lộc, Nguyễn Thắng. Đồng chí Lê Dung - Xưởng trưởng phụ trách chung. Giữa tháng 7 năm 1950, đồng chí Diệp được điều động đi tham gia chiến dịch Biên Giới không dự bế mạc lớp.

Về phương pháp giảng dạy:

Do trình độ học viên không đồng đều, thời gian huấn luyện có hạn (lúc đầu dự kiến 6 tháng, thực tế chỉ học hơn 3 tháng), yêu cầu khi tốt nghiệp phải làm được việc ngay, nên tư tưởng chỉ đạo là dạy lý thuyết đủ làm cơ sở, còn lấy thực hành làm chính. Về nguyên lý vô tuyến điện, giáo viên soạn bài giảng dựa theo cuốn "La radio mais c'est très simple " (vô tuyến điện - thật rất đơn giản) dùng các hiện tượng vật lý, các ví dụ dễ hiểu nên học viên kém cũng tiếp thu được.

Về thực hành, vì lớp học tổ chức tại Xưởng có đủ dụng cụ, vật liệu nên học viên ra trường đã có tay nghề nhất định, có thể sửa chữa, lắp ráp các máy điện thoại, vô tuyến điện đơn giản kể cả làm bệ máy, hộp máy.

Sau khi tốt nghiệp, học viên được phân công về các đơn vị trực thuộc Cục và các sư đoàn 308, 316, 351, Khu 10, Khu Việt Bắc... kịp thời góp phần bảo đảm kỹ thuật thông tin phục vụ các chiến dịch trong thời kỳ chống Pháp.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, một số được dự các lớp trung cấp kỹ thuật ở phố Lý Thường Kiệt hoặc dự các khoá học tại chức ở Đại học Bách khoa nên trừ một số chuyển đi phục vụ các ngành khác, phần lớn còn lại tiếp tục công tác trở thành những cán bộ nòng cốt của cơ quan kỹ thuật Binh chủng, Nhà máy M1, của xưởng, trạm các quân khu, quân chủng, binh chủng hoặc nhà trường, viện kỹ thuật thông tin.

Ví dụ:

- Đồng chí Đỗ Mạnh Lộc đã là Viện trưởng Viện Kỹ thuật và chủ nhiệm cơ quan Kỹ thuật của Binh chủng.

- Đồng như Nguyễn Trọng Khoát là Hiệu trưởng, đồng chí Phùng Văn An là Hiệu phó Trường Trung cấp kỹ thuật Thông tin.

- Đồng chí Trương Ngọc Vĩnh là Viện trưởng Viện Điện tử thuộc Viện Kỹ thuật Bộ Quốc phòng, đã được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh (tháng 8-1997) về công trình chống phá bom từ trường của Mỹ sử dụng trong chiến tranh phá hoại.

- Đồng chí Phạm Quốc Khánh đã làm trạm trưởng trạm tải ba đầu tiên, giáo viên lớp Trung cấp kỹ thuật.

- Đồng chí Trần Văn Phúc làm Xưởng trưởng Quân khu Việt Bắc và tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 26 đào tạo Sĩ quan thông tin hệ 3 năm.

- Đồng chí Vũ Hùng làm giáo viên ở Trường Kỹ thuật Thông tin 17 năm và là cán bộ kỹ thuật đầu ngành sửa chữa máy điện báo truyền chữ.

- Đồng chí Vũ Lương là thợ giỏi của M1 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

- Đồng chí Nguyễn Đức Minh đã công tác ở Khu 10, Sư đoàn 316 Trung đoàn 98 bị thương nặng ở Điện Biên Phủ sau làm giáo viên ở Sư đoàn 367 Quân chủng Phòng không - Không quân.

Một số đồng chí sau kháng chiến chống Pháp chuyển sang các ngành khác cũng phấn đấu học tập trở thành kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ. Ví dụ:

- Đồng chí Nguyễn Sĩ Nga tốt nghiệp dược sĩ cao cấp, làm Quản đốc và Chủ tịch Công đoàn Xí nghiệp dược phẩm Trung ương 1.

- Đồng chí Vũ Quang Toản và Nguyễn Khắc Chính công tác ở Hãng phim Trung ương 14 năm.

- Đồng chí Đặng Kỳ Lộc sau khi tốt nghiệp lớp Trung cấp về công tác ở Kho thông tin.

Tóm lại, thời gian học tập tại Xưởng CRL tuy ngắn (hơn 3 tháng), nhưng nhờ xác định nội dung và phương pháp học tập hợp lý, nhờ tinh thần ham học tập, nghiên cứu của học viên, nên sau khi tốt nghiệp đã góp phần bảo đảm kỹ thuật trong kháng chiến chống Pháp. Đặc biệt với tinh thần phấn đấu vừa làm, vừa học nên hầu hết đã tốt nghiệp Đại học và trở thành cán bộ kỹ thuật nòng cốt trong các ngành và góp phần đào tạo nhiều lớp cán bộ kỹ thuật kế cận, có nhiều sáng kiến có giá trị.

Nhờ kinh nghiệm huấn luyện ngắn ngày nên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Binh chủng đã đào tạo được nhiều lớp cán bộ kỹ thuật bổ sung cho chiến trường và các đơn vị, điển hình là lớp cán bộ kỹ thuật Trung cấp 12 tháng bổ sung cho Khu 5 và Đông Nam Bộ năm 1967 (Đoàn 239).

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

--------------------------------------

* Viết nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày khai giảng lớp cơ công đầu tiên (tháng 5/1950 - tháng 5/2000). 

Mái lán giữa rừng

Quang Chuyền

Nơi chắt chiu từng tia nắng mặt trời

Nơi gạn lọc từng dòng nước nhỏ

Nơi hun hút bốn bề rừng gió

Tiếng tắc kè thành tiếng nói thời gian.

 

Giá bao giờ em đến được cùng anh

Thăm những chiều mây ghé vào mái lán

Lá lọc trăng khuya soi kỷ niệm

Dày trang nhật ký màu xanh.

 

Hoa sứ trước sân mặt trời soi gương

Soi sáng những tâm hồn ca hát

Soi bếp lửa cơm thơm, nhớ cánh đồng đang gặt

Tiếng gà khuya xao xuyến ước mơ.

 

Nơi quen thân chẳng biết tự bao giờ

Thuộc lối hẻm, cành cây, mỏm đá

Nơi hôm nay nhìn lại mình bỗng lạ

Năm tháng dài cần mẫn tựa bầy ong.

 

Đêm mưa rừng, sét nổ xé tầng không

Điện giật nhói tim vẫn ngồi đỉnh cột

Ngày bom giội cháy từng mảng tóc

Không lo tóc mình, lo liên lạc chưa thông.

 

Nghe trống trận sông Bồ, thành Huế xung phong

Hồi chuông đổ, canh dài thao thức

Nghe lúa Quảng Bình reo vui náo nức

Hương mùa thơm theo lời Bác ra đi.


Nếu đến nơi đây, em sẽ nghĩ gì?

Em sẽ nghĩ như anh khi nhìn mái lán

Nơi khao khát từng dòng thơ ánh sáng

Lại bắt nguồn cho ánh sáng, dòng thơ...

 

Ơi mái lán giữa Trường Sơn đơn sơ

Mái lán hiểu những ngày im lặng

Đây cuộc sống góp phần làm chiến thắng

Đây là tầm thu nhỏ của quê hương.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Chiếc máy vô tuyến điện nhiều tên

Lại Văn Danh

Do yêu cầu chiến đấu ngày càng phát triển, ngoài việc đào tạo cán bộ, chiến sĩ các khóa thông tin liên lạc, Phòng Thông tin Miền còn phải bảo đảm phương tiện máy, khí tài cho các đơn vị làm nhiệm vụ từ sửa chữa, bảo dưỡng đến nghiên cứu lắp ráp sản xuất hàng loạt máy vô tuyến điện thu phát tín hiệu cỡ nhỏ. X35 đã cho ra đời chiếc máy mang tên khai sinh là "Sinen", "Ấp Bắc" và "Võ Thị Sáu". Các linh kiện của máy được gắn trên một miếng nhôm gồm các tụ, kháng, các bóng đèn thu và phát... Mặt máy cũng là một miếng nhôm gồm có công tắc mở, tắt máy, núm chọn tần số (làn sóng) thu và phát, núm lọc điều chỉnh tín hiệu "moóc" và 2 lỗ cắm maníp, tai nghe, 2 miếng nhôm nối thành bệ máy, được đưa nằm gọn trong một thùng đạn đại liên bộ binh của Mỹ, đậy nắp thùng đạn lại máy rất an toàn, chịu được chấn động, chịu ẩm ướt tốt. Máy rất gọn nhẹ, nguồn pin điện cho phát 150V, cho thu 90V. Cự ly liên lạc giữa hai máy cùng loại khoảng 40-50km (tùy theo địa hình thời tiết). Nếu được liên lạc với máy hiện đại loại trung 15W như máy 81 của Trung Quốc, máy GRC-9 của Mỹ và được sự hỗ trợ về công suất thì cự ly liên lạc đạt khoảng 80-100km (tùy theo địa hình, thời tiết).

Do tính năng kỹ thuật chiến thuật, của máy, đài trưởng, báo vụ viên được học thêm kỹ thuật đấu pin, sửa chữa, thay thế hư hỏng thông thường. Máy và người được bổ sung cho các đơn vị nhỏ thọc sâu trong lòng địch đáp ứng tốt cho trinh sát, quân báo.

Trở lại những cái tên, tên "Sinen" (phiên âm của kiểu máy Schnell) do cán bộ, công nhân X35 - người khai sinh ra đặt cho nó. Tên "Ấp Bắc" là một địa danh và cũng là tên một trận đánh của quân dân xã Tân Phú, Cai Lậy, Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Đây là, trận đánh đã góp phần làm thất bại chiến thuật "trực thăng vận", "thiết xa vận", bủa lưới phóng lao, hợp vây đánh điểm của quân Mỹ - ngụy. Sự ra đời của máy "Ấp Bắc" mang ý nghĩa cung cấp kịp thời cho bộ đội thông tin trong kháng chiến chống Mỹ. Nó giải quyết sự thiếu máy vô tuyến điện báo cỡ nhỏ để phục vụ cho chỉ huy, chỉ đạo trong điều kiện chi viện của hậu phương lớn không kịp đáp ứng.

Tên "Võ Thị Sáu" được đặt cho máy có thể vì nó gọn nhẹ, xinh đẹp mà tính năng, hiệu quả của nó có vị trí quan trọng góp phần làm nên nhiều chiến tích như tên người nữ liệt sĩ anh hùng.

Khi một loại máy được phát huy tốt tính năng kỹ thuật, chiến thuật, trong giới báo vụ, đài trưởng chúng tôi từng nhận máy bổ sung đi làm nhiệm vụ lại đặt thêm tên gọi cho máy như máy AB là gọi tắt của hai từ Ấp Bắc hoặc máy VTS gọi tắt của tên Võ Thị Sáu hoặc máy X35 vì nó ra đời từ X35 hoặc máy đại liên vì nó được nằm gọn trong thùng đựng đạn đại liên.

Chiếc máy được mang nhiều tên gọi ấy một thời đã góp phần cùng các loại máy vô tuyến điện khác đưa làn sóng điện lên không trung, bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ huy chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Lớp đào tạo báo vụ vô tuyến điện 15W tại Đầm Sen - Tháp Mười

Tôn Văn Đe (tức Mười Đe)

Tháng 2 năm 1961, tôi lên đường trở về miền Nam chiến đấu. Vượt qua biết bao gian khó tôi đã về tới miền Nam. Lúc đầu tôi ở miền Đông. Nhưng sau đó tôi được Phòng Thông tin giao nhiệm vụ phụ trách huấn luyện lớp vô tuyến điện 15W đầu tiên của Quân giải phóng miền Nam là Lý Tự Trọng 2 (đây là Trường Vô tuyến điện của Xứ ủy, sau là Trung ương Cục miền Nam bàn giao; Lý Tự Trọng 1 đã ra đời, Lý Tự Trọng 2 đang tập thu phát báo do anh Hai Tiến phụ trách và giao lại).

Trong tình hình miền Nam bị chia cắt, giặc đóng như bủa lưới tứ quanh mà Xứ ủy vẫn mở được trường vô tuyến điện.

Đầu năm 1962, lớp học được mở thành công tốt đẹp, 24 gương mặt trẻ tương lai của bộ đội thông tin Quân giải phóng miền Nam hăng hái lên đường làm nhiệm vụ.

Đến năm 1964, Phòng Thông tin R đưa tôi về Quân khu (T2) để mở Trường Vô tuyến điện 15W tại Đầm Sen – nơi mà kẻ thù vây ráp quanh.

Không nhớ rõ lúc ấy là tháng mấy, tôi cùng với đồng chí Răng lội bộ đến sông Vàm Cỏ Đông, sau đó giao liên đưa chúng tôi xuôi dòng đến Vàm Cỏ Tây rồi đi bằng xuồng đến Cái Bè - nơi đây giặc tát hết dân chỉ còn làng trống, nhà không người. Giao liên đưa tôi vượt sông Cửu Long bằng ghe tam bản đặt máy Cole. Trên sông này xuồng ghe tấp nập và là nơi tàu binh Mỹ nối đuôi nhau đi tuần tra thường xuyên liên tục. Lúc này, tôi thấy bên kia sông có xuồng câu tôm đốt đèn đỏ dăng dăng dài theo mé sông, ghe của tôi chạy lại gần xuồng câu tôm. Sao lạ quá? Tôi tự đặt câu hỏi, chẳng lẽ... mắt tôi chăm chăm theo dõi, đầu óc chuẩn bị cách đối phó. Tôi đang chờ đợi xem việc gì xảy ra. Rồi thuyền tam bản của giao liên cặp sát xuồng câu tôm, bên xuồng câu tôm có tiếng nói nho nhỏ "lính nằm đường". Tôi thấy đồng chí giao liên cho máy đảo thật lẹ, quay trở lại phá tan mối nghi ngờ trong lòng tôi. Thật "qua sông bạc đầu, qua cầu giảm kỹ". Hai tuần lễ sau tôi mới qua được sông và sau đó qua lộ đi xuồng qua đồng cỏ Long An đến Đầm Sen - Tháp Mười. Tôi về ở trong một ngôi nhà sàn nhỏ cạnh con kênh nhỏ cặp kênh Hòa Bình. Ở đó, tôi gặp lại anh Khách, anh Năm trợ giáo, lúc tôi huấn luyện lớp vô tuyến điện 15W vượt Trường Sơn năm 1960 ở miền Bắc.

Ba ngày sau Ban thông tin đưa tôi đến ở chung với anh Hải trong một ngôi nhà sàn lớn cất xen kẽ với nhà dân nằm theo tuyến kênh này, ở chung còn có đồng chí Hữu đã học lớp tôi dạy năm 1962 ở miền Đông, một đồng chí bảo vệ và một nữ cứu thương.

Nhận nhiệm vụ, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm lo mở trường huấn luyện đào tạo lớp vô tuyến điện 15W với 36 học viên. Ban thông tin chỉ giao nhiệm vụ như vậy chứ không cụ thể gì về nội dung, kế hoạch, phương hướng, thời gian kể cả tài liệu học tập nữa. Tôi phải chuẩn bị mọi thứ trước khi khai giảng lớp học. Xác định nhiệm vụkhá nặng nề nên tôi tập trung mọi khả năng trí tuệ vào việc chuẩn bị. Một câu hỏi luôn thường trực trong đầu của tôi: làm thế nào để mở lớp vô tuyến điện giữa Đầm Sen - mà tránh được sự kiểm soát khống chế của kẻ thù để lớp học được bảo toàn? Tôi bắt tay vào công việc chuẩn bị cho lớp học vì khâu này rất quan trọng, nó quyết định sự thành bại của lớp học. Lúc này, lớp học có trên 10 học viên, được cấp 3 cái xuồng bè 10 thước. Chúng tôi chuẩn bị cất nhà (chỉ là những cái chòi). Đến nơi được mấy ngày, cấp trên đưa anh Xê - Chính trị viên đại đội bộ binh về phụ trách Bí thư Chi bộ và Chính trị nhưng anh hoàn toàn không biết gì về thông tin mà còn bị bệnh lao nên thường ở nhà.

Công việc bắt đầu là xây cất nhà cho học viên. Nhà được dựng theo lùm và gốc me keo mà bìm bìm bò phủ kín với vật liệu xây cất lá chằm cặp nẹp tre đóng thành hai miếng rèm rồi bưng lùm lên cặm cây gác rèm thành nhà ở. Nhà này có tính chất cơ động khi cần thì xếp rèm lại. Mỗi nhà ở một tổ, nhà nào rộng thì ở 2 tổ, ngủ trên sạp tre. Hội trường cất giữa đám me keo ngoài đồng trống (hình như gò này trước có một nhà dân ở lâu lắm rồi, họ trồng me ke giáp chung quanh có tán lớn) bìm bìm bò kín khó lộ. Hội trường làm 6 bàn mỗi bàn 6 chỗ gắn 6 cái maníp (để đánh tín hiệu morse) và đấu mạng dây để tập liên lạc.

Vật liệu, dụng cụ học tập do Ban đưa đến. Việc chuẩn bị huấn luyện và cơ sở vật chất đã căn bản hoàn thành. Vì vậy Ban quyết định khai giảng lớp học.

Tôi được giao phụ trách đại đội, phó bí thư chi bộ; anh Chín Hà làm cán bộ Trung đội quản sinh. Sau đó, mới có một cuộc họp chi bộ đầu tiên ra nghị quyết lãnh đạo toàn diện của trường. Học viên phấn khởi học tập rất tốt. Để đạt kết quả học tập cao, tôi tổ chức bồi dưỡng khả năng chỉ huy lãnh đạo cho cán bộ tiểu đội và xác định trách nhiệm; bố trí học viên giỏi giúp đỡ học viên yếu và tổ chức bồi dưỡng học viên yếu ngay từ đầu. Anh em học rất say mê, có đồng chí bị ghẻ ngứa đầy mình nhưng vẫn ngồi tập thu, lỗ tai nghe, tay viết, tay gãi ghẻ ngứa mà vẫn học giỏi. Hết năm 1964, trường ăn Tết tại đây.

Qua Tết, cảnh vật xơ xác, đồng ruộng ao mương khô nẻ. Còn giặc thì tăng cường càn quét dồn dân. Vì vậy, trường chuẩn bị rút theo hướng tập trung ra mé sông giáp Cam-pu-chia, nếu giặc có càn vào thì vượt sông qua đất bạn.

Hết thời gian thực tập trên máy, học viên trở về hội trường ôn luyện chuẩn bị cho kiểm tra cuối khóa. Lúc này nước đầy đồng, mỗi học viên lòng đầy phấn khởi bước vào giai đoạn quyết định của việc học tập nhiều tháng qua. Trường đang sôi nổi bước vào giai đoạn chót thì Mỹ - ngụy mở trận càn theo sông Tân Binh (sông giáp biên giới) chặn bên đất Cam-pu-chia; trên trời máy bay khống chế, dưới đất bộ binh tràn vào. Bọn chúng đã bắt được anh Tương.

Địch kết thúc trận càn, rút quân thì lớp học lại tiếp tục. Đến giai đoạn kiểm tra kết quả cuối khóa, học viên đều đạt từ khá đến giỏi. Sau đó trường làm thủ tục bế giảng Anh Tiến, cán bộ trung đội được Ban giao nhiệm vụ gấp rút điều toàn bộ học viên trở về đơn vị nhận nhiệm vụ. Khi còn học ở trường anh Tiến có ước mong là khi mãn khóa học thì xin phép trở về làm lễ thành hôn với người yêu đang chờ ở quê. Thế nhưng khi anh đưa đoàn học viên vượt đồng hoang trống trải đến một cái gò lớn gần sát biên giới Cam-pu-chia trú ẩn thì trực thăng đến. Anh điều động đoàn học viên nhanh chóng tản hết ra xa gò nhưng anh bị trúng đạn từ trực thăng bắn xuống và đã hy sinh. Anh không thể thực hiện được nguyện vọng của mình và để cho người vợ sắp cưới biền biệt trông đợi!

Đến đây tôi nhớ lại những ngày đầu nhận nhiệm vụ mở lớp huấn luyện vô tuyến điện 15W tại Đầm Sen – Tháp Mười. Dưới sự lãnh đạo của Ban thông tin T2, nhà trường cùng với học viên nỗ lực phi thường, ra sức khắc phục mọi khó khăn, vượt qua nhiều gian lao nguy hiểm, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Mùa sen 1965 nở hoa cũng là lúc lớp vô tuyến điện 15W kết thúc thắng lợi mà kẻ thù không ngờ tới.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)