Hiển thị các bài đăng có nhãn Tấm gương điển hình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tấm gương điển hình. Hiển thị tất cả bài đăng

12.6.25

Một nhà giáo ưu tú

Lê Văn Chung

Sáu mươi tuổi đời, 42 tuổi quân, hơn ba mươi năm gắn bó với các nhà trường quân đội, Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ (PGS, TS) Nguyễn Chính Trung, Chủ nhiệm Khoa Thông tin - Điện tử (nay là Khoa Binh chủng), Học viện Quân sự Cấp cao đã nêu một tấm gương sáng về lòng kiên trì say mê trong học tập và giảng dạy.

Với trình độ văn hóa lớp 7 trước khi xa quê hương Trường Yên, Chương Mỹ, Hà Tây, bằng sự phấn đấu học tập không mệt mỏi, đến nay anh đã có học vị Tiến sĩ và là Phó Giáo sư.

Năm 1950 anh nhập ngũ, sau thời gian huấn luyện chiến sĩ, anh được đi học Trường Sĩ quan Lục quân, chuyên ngành Thông tin.

Tốt nghiệp Lục quân, anh về tham gia Chiến dịch Thượng Lào, rồi đánh đồn Him Lam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sau hòa bình, anh Trung về làm giáo viên Thông tin tại Trường Sĩ quan Lục quân. Với lòng ham học cầu tiến bộ, sau mỗi ngày lên lớp căng thẳng anh "đánh trận với những bài toán, bài văn, bài vật lý - không bao lâu, anh đã thi tốt nghiệp chương trình văn hóa cấp 3. Đồng chí Chính ủy Nhà trường lúc đó phát hiện được sự ham học của anh đã gửi anh đi học Khoa Vô tuyến, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội vào loại giỏi, Nhà trường có ý định giữ anh lại làm cán bộ giảng dạy, nhưng anh vẫn tiếp tục trở về công tác trong quân đội. Anh làm giáo viên rồi Trưởng bộ môn Vô tuyến điện Trường Sĩ quan Thông tin, sau đó "đi B". Ở hoàn cảnh môi trường sống chết chỉ trong khoảnh khắc nhưng anh vẫn tranh thủ lúc rảnh rỗi giữa hai mùa chiến dịch, hai mùa mưa nắng để học tập, tự đặt chương trình nghiên cứu. Quá trình tham gia Chiến dịch Tây Nguyên - Chiến dịch Hồ Chí Minh cũng như sau này tham gia chiến đấu ở Mặt trận Vị Xuyên với tư cách là Phó Chủ nhiệm Thông tin Quân khu, anh đã tích cực vận dụng những kiến thức lý thuyết vào trong thực tế chiến đấu. Đồng thời cũng từ thực tế rút ra những vấn đề cần đi sâu nghiên cứu, hoàn thiện. Anh tâm sự: "Học trong sách vở, học ở nhà trường và học ở chiến trường là sợi chỉ đỏ xuyên suốt phương châm học tập của tôi".

Trở về làm giáo viên ở Học viện Quân sự Cấp cao, anh bắt tay vào nghiên cứu đề tài: "Tính toán chiến dịch của Bộ đội Thông tin". Và một thời cơ đã đến với anh, anh được trên gửi đi thực tập sinh tại Viện Tự động hóa chỉ huy (IMAT) của một nước bạn.

Tại đây anh cùng các chuyên gia của bạn đi sâu vào nghiên cứu đề tài: "Tính toán phân bổ tần số tối ưu cho hệ thống vô tuyến toàn quân". Viện IMAT đã đánh giá công trình đạt mức xuất sắc. Về nước anh theo học bổ túc tại Học viện Quân sự Cấp cao và đã hoàn thành khóa học vào loại xuất sắc.

Tháng 9 năm 1987 Học viện tạo điều kiện để anh tập trung hoàn thiện các đề tài và bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ trong nước. Lúc này anh có 3 đề tài cùng có thể bảo vệ học vị Phó Tiến sĩ, nhưng vốn là người say mê với nghề dạy học, anh đã chọn đề tài thứ 3 mặc dù đề tài này anh mới bắt tay vào nghiên cứu, còn 2 đề tài trên cơ bản đã hoàn thành.

Tháng 3 năm 1988 anh bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ "Dùng phương pháp sơ đồ hóa (grap) lập trình tối ưu và dạy học môn thông tin chiến dịch" và công trình được chọn báo cáo tại Hội nghị khoa học giáo dục toàn quốc.

Trong học tập, nghiên cứu anh say mê bao nhiêu thì với cương vị là một nhà giáo anh cũng say mê nhiệt tình bấy nhiêu. Hơn 30 năm đứng trên bục giảng, dù là giáo viên ở các trường sĩ quan hay cán bộ giảng dạy ở Học viện Quân sự Cấp cao, anh luôn luôn suy nghĩ, trăn trở, nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy sao cho học viên chóng hiểu, dễ nhớ, truyền cho họ niềm say mê trong học tập và nghiên cứu.

Anh đã có đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo, xây dựng hệ thống tài liệu giảng dạy về kỹ thuật, chiến thuật thông tin điện tử, để huấn luyện cho cán bộ chỉ huy binh chủng hợp thành ở Học viện Quân sự Cấp cao và cho cán bộ Binh chủng Thông tin trong toàn quân.

Anh luôn quan tâm bồi dưỡng đồng nghiệp về nội dung phương pháp dạy học và phương pháp nghiên cứu khoa học. Với cương vị là Phó rồi Chủ nhiệm Khoa Thông tin Điện tử, với đức tính khiêm tốn, giản dị, đoàn kết gắn bó với đồng nghiệp anh đã góp phần xây dựng Khoa 6 năm liền là đơn vị quyết thắng; bản thân anh nhiều năm được bầu là Chiến sĩ quyết thắng, Chiến sĩ thi đua.

Hiện nay cùng với các đồng chí cán bộ, giáo viên chủ chốt của Học viện, anh tham gia giảng dạy cho lớp đào tạo cao hơn và hướng dẫn trực tiếp ba nghiên cứu sinh làm luận án Phó Tiến sĩ.

Nếu như trong lĩnh vực học tập anh luôn đạt kết quả xuất sắc thì trong lĩnh vực dạy học anh cũng luôn được công nhận là giáo viên dạy giỏi. Chỉ riêng thời gian ở Học viện Quân sự Cấp cao anh đã bốn lần được công nhận là giáo viên dạy giỏi.

Ghi nhận phẩm chất, tài năng, công lao học tập, rèn luyện và đóng góp của anh trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, anh đã được Nhà nước phong hàm Phó Giáo sư và danh hiệu Nhà giáo ưu tú.

Đại tá Nguyễn Chính Trung đã nêu một tấm gương sáng về một nhà giáo quân đội.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

28.5.25

Một quản đốc năng động

Đại tá Nguyễn Đức Hoạt - nguyên Giám đốc Nhà máy M1

Ngày 15 tháng 12 năm 1989 Bộ Quốc phòng quyết định chuyển Nhà máy M1 về khu vực An Khánh, với nhiệm vụ sửa chữa lớn, sản xuất các thiết bị thông tin và nguồn điện. Chân ướt chân ráo, chuyển từ Phú Thọ về cần nhanh chóng ổn định nơi ăn ở để triển khai nhiệm vụ kế hoạch trong năm của Bộ giao. Việc khó khăn nhất lúc bấy giờ là giải quyết công ăn việc làm cho trên 500 cán bộ, công nhân viên của hai nhà máy kết hợp lại với quân số định biên của Bộ chỉ đảm bảo công việc cho 300 công nhân, quân số dôi dư là 200 người, bằng nhiều biện pháp như: Những cán bộ, công nhân đủ niên hạn thì giải quyết chế độ, chuyển công tác theo nguyện vọng để dần dần đạt được quân số theo định biên. Trong lúc khó khăn, lãnh đạo, chỉ huy đang băn khoăn lo lắng giải quyết công ăn việc làm cho số người dôi dư thì đồng chí Nguyễn Tiến Dũng, một kỹ sư cơ khí tình nguyện nhận một số công nhân thành lập tổ kinh tế tự lo công việc và đời sống cho anh em. Lúc đầu chỉ có 8 người và xin Nhà máy sử dụng một số thiết bị thô sơ như máy cắt, máy hàn, máy khoan, bệ lò rèn... Tổ sẽ hạch toán độc lập, tự lo lương và trả khấu hao thiết bị cho Nhà máy.

Với ý nghĩ này, tư duy lúc bấy giờ chưa được mọi người đồng tình ủng hộ, trong cơ chế bao cấp, chỉ muốn tập trung một đầu mối. Tổ kinh tế phải dưới sự quản lý tập trung của Phòng Kế hoạch Nhà máy điều hành. Bước đầu trình độ khả năng quản lý có hạn nên gặp nhiều khó khăn, kém hiệu quả, không thực hiện được. Thấy trước vấn đề đó, Giám đốc đồng tình ủng hộ thành lập tổ kinh tế trực thuộc Giám đốc giao cho đồng chí Nguyễn Tiến Dũng chỉ huy, điều hành. Với một ý nghĩ đơn giản là: hoạt động của tổ kinh tế phải đạt được 3 lợi ích, có doanh thu và đưa lại lợi nhuận cho Nhà máy; tổ phải phát triển lớn mạnh; công nhân cán bộ phải có thu nhập, cuộc sống ổn định. Cùng với hai kỹ sư là đồng chí Cao Sơn và đồng chí Phan Anh, người tổ trưởng năng động Nguyễn Tiến Dũng đã lo tìm việc làm cho anh em, có thu nhập, dần dần từ tổ kinh tế tự lo lương, quân số tăng lên 20 rồi 30 công nhân, doanh thu năm 1992 đạt 400 triệu đồng, rồi 500, 1 tỷ, rồi 1,5 tỷ đồng, năm 2000 doanh thu đạt đến 4 tỷ đồng. Từ tổ kinh tế nay đã phát triển thành phân xưởng.

Trong thời kỳ đổi mới, phân xưởng đã có tới trên 50 cán bộ, công nhân với ban quản lý gọn nhẹ làm việc có khoa học và hiệu suất cao. Phân xưởng chuyên nhận các công trình lớn như xây lắp các cột ăngten viba, tháp truyền hình, cột ăngten điện thoại di động cho Viettel trên khắp mọi miền Tổ quốc, từ đồng bằng đến núi cao, vùng sâu, vùng núi non hiểm trở, hải đảo và vượt xa sang cả nước bạn Lào.

Tay nghề công nhân ngày càng được nâng cao, sản phẩm đạt chất lượng ISO-2000, có sản phẩm ngang tầm quốc tế. Có tín nhiệm với nhiều bạn hàng, doanh thu đạt hàng chục tỷ đồng, chiếm 50% doanh thu hàng kinh tế của Nhà máy. Điều quan trọng là đã thu hút thêm nhiều lực lượng trẻ và cán bộ kỹ thuật có trình độ công nghệ cao, đã gây một phong trào làm kinh tế cải thiện đời sống ở các phân xưởng trong Nhà máy. Phân xưởng đã mở ra mối quan hệ đối ngoại rộng khắp, công nghệ mới được áp dụng, góp phần đáp ứng cho việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

Được như ngày nay phải nói đến công sức và lòng nhiệt tình của đồng chí Quản đốc Nguyễn Tiến Dũng và Phó Quản đốc Phan Anh, những con người sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vì Nhà máy, vì đồng đội.

Thật đáng khâm phục. Điều ấn tượng sâu sắc, tâm đắc của người chỉ huy lãnh đạo, tôi không bao giờ quên.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

16.5.25

Nhớ mãi một người thầy

Thượng tá Lã Công Trận - Chính trị viên Tiểu đoàn 18 Trường Sĩ quan Thông tin

Tháng 8 năm 1981, tôi về học tại Trường Sĩ quan Chỉ huy-Kỹ thuật Thông tin. Với 117 học viên vào nhập học, chúng tôi được biên chế vào Đại đội 1 Tiểu đoàn 20; sau này tách ra thành Tiểu đoàn 34 - tiểu đoàn đào tạo sĩ quan chính trị cấp phân đội của nhà trường. Trong quá trình học tập tại trường khóa học 1981-1984, có rất nhiều thầy giáo đã để lại trong chúng tôi những tình cảm sâu nặng; người thầy mà tôi không bao giờ quên đó là thầy Biện Hữu Lý, đại tá, Chủ nhiệm Khoa Khoa học xã hội.

Dù 30 năm đã trôi qua, trong tôi vẫn nhớ như in nội dung buổi nói chuyện và từng cử chỉ, giọng nói của thầy. Đó là một buổi chiều mùa thu, thầy bước vào hội trường của tiểu đoàn trong bộ quân phục đã bạc màu, mái tóc pha sương; ông nhanh nhẹn bước lên bục, giơ tay ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống. Ông mỉm cười khen chúng tôi đã tích cực phấn đấu, tu dưỡng, được đơn vị tuyển chọn đi đào tạo cán bộ; về trường tiếp tục được Nhà trường chọn vào học khóa 1 đào tạo sĩ quan chính trị, khi ra trường sẽ về công tác ở các đơn vị Thông tin trong toàn quân. Ông gọi đại đội chúng tôi là "Đại đội đỏ", bởi đại đội đã có hơn 90% học viên đã là đảng viên khi vào học. Ông thông báo khái quát về tình hình thế giới, tình hình trong nước. Ông nói về Đảng, Nhà nước, nhân dân, về Bác Hồ, về quân đội ta. Chúng tôi ngồi chăm chú nghe. Mỗi lời nói của ông thấm sâu vào tâm trí của chúng tôi. Nhất là khi ông nói về thực tiễn quân đội, đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ hiện nay rất khó khăn, gian khổ. Ông nhắc lại câu nói của một đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng khi đến kiểm tra thực tế bữa ăn của bộ đội "nước mắm đại dương, bát canh toàn quốc". Ông nói về những thiệt thòi, hy sinh của người lính không chăm sóc được cha mẹ già, luôn xa nhà, xa vợ, không có điều kiện gần gũi, nuôi dưỡng dạy bảo con.

Ông khái quát cho chúng tôi hiểu công tác chính trị là mọi hoạt động tinh thần nhằm giáo dục, tuyên truyền, tổ chức quần chúng, hướng dẫn quần chúng hoạt động đúng hướng. Làm công tác chính trị là tiếp cận, cảm hóa con người, hướng họ hoạt động có mục đích rõ ràng. Ông phân tích lời dạy của Bác đối với người chính trị viên: "Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công minh như một người anh". Chữ thân thiết chính là cái tâm, công minh chính là cái đức, như vậy người cán bộ chính trị trong quân đội phải đem cái tâm, cái đức để hòa hợp với mọi người, cảm hóa con người. Ống hướng dẫn chúng tôi cách học tập các môn học của Khoa Khoa học xã hội nói chung và môn công tác đảng, công tác chính trị nói riêng. Ông căn dặn mỗi học viên phải xác định rõ nhiệm vụ, có động cơ học tập đúng đắn, rèn luyện ngay từ đầu. Ở ông, luôn toát ra cốt cách dung dị, rất đời thường mà hóm hỉnh lãng mạn, tinh anh cuốn hút kỳ lạ.

Trong suốt 3 năm học tập ở trường, chúng tôi còn được tiếp xúc, nghe ông giảng, trò chuyện nhiều lần. Tôi nhớ nhất một lần ông xuống đơn vị xem tôi thực hành đóng vai bí thư chi bộ tổ chức lễ kết nạp đảng viên. Đến bước bí thư giao nhiệm vụ cho đảng viên mới, ông đã sửa cho tôi từng từ, từng động tác. Câu nói đầu tiên khi giao nhiệm vụ cho đảng viên mới, ông làm mẫu cho tôi là: "Kể từ giờ phút này đồng chí... đã là đảng viên của Đảng; vì vậy mọi lời nói và việc làm phải tuân theo nghị quyết, chỉ thị của Đảng". Sau khi tốt nghiệp ra trường, trên cương vị là cán bộ ở Ban Tổ chức Phòng Chính trị hay là giảng viên bộ môn Công tác đảng, công tác chính trị, tôi đều cố gắng truyền đạt tốt nhất những kiến thức đã học được ở trường, học được ở ông cho cấp dưới và học viên.

Nhân dịp ngày Nhà giáo Việt Nam (20-11), ngày truyền thống của Trường (11-11), xin thay mặt những học viên Đại đội 1 Tiểu đoàn 34 khóa 1981-1984 (hay nói theo tên gọi của ông "Đại đội đỏ") được gửi những tình cảm thành kính và sâu nặng nhất tới ông - một người thầy hết lòng vì sự nghiệp "trồng người" trong quân đội - người đã dạy chúng tôi "học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" ngay từ thập niên 80 của thế kỷ XX và dạy chúng tôi "đạo làm người" một cách nhân văn, sâu sắc, trọn vẹn nhất.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

24.10.23

Họa sĩ Đặng Trường Lưu - Nhà phê bình mỹ thuật

Đặng Trường Lưu nguyên là cán bộ cơ quan Chính trị Binh chủng Thông tin; Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam.

Anh Lưu sinh năm 1946 tại Nam Định, năm 1952 gia đình tản cư vào Cầu Giát, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Anh tham gia lực lượng vũ trang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc.

Thật là phấn khởi và trân trọng đối với tôi, vào một sáng giữa thu tiết trời còn oi nóng, Đặng Trường Lưu và vợ là chị Đỗ Minh Thu đã đến tận nhà tôi tặng cuốn sách “Mỹ thuật Việt Nam hôm nay, nhìn từ góc hẹp” do Nhà xuất bản Mỹ thuật ấn hành tháng 6/2023. Anh bảo: "tôi muốn gặp ông bạn đồng niên (là anh Soạn chồng tôi cũng sinh 1946, cùng họ Đặng) để uống chén rượu hàn huyên bạn già" và anh cho biết vì kinh phí xuất bản tự lo nên lần này chỉ dám in 200 cuốn để tặng bạn bè, người thân. Ngay Thư viện Binh chủng Thông tin anh chỉ tặng 2 cuốn để làm tư liệu sau này.

Cầm cuốn sách đẹp hơn 400 trang trên tay tôi chỉ dám hứa sẽ cố gắng đọc nghiêm túc chứ với tôi "Nhà báo bất đắc dĩ" của Binh chủng Thông tin vào những năm cuối của Thế kỷ XX, tôi không có kiến thức về hội họa mà chỉ đọc và cảm nhận những trang viết gan ruột của anh với nền mỹ thuật nước nhà.

Cuốn sách gồm 2 phần. Phần I chính là đầu đề của cuốn sách bao gồm 5 bài tham luận tại các hội thảo khoa học như: "Chặng đường 50 năm của một đề tài lớn" nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Mỹ thuật Việt Nam (1957-2007); "Cuộc hội quân của một đề tài lớn những vấn đề còn lại" là tham luận tại hội thảo khoa học "Mỹ thuật về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lương vũ trang nhân"... Và 16 bài phê bình, nhận xét, đóng góp ý kiến cho các mảng hội hoạ hay cảm nhận về "Một phòng tranh tươi tắn và ngẫm ngợi", "Lời giới thiệu triển lãm mỹ thuật Bộ đội Thông tin”, rồi hiến kế "Treo tranh ảnh trong nhà thế nào cho đẹp"...

Phần II anh tập trung giới thiệu: "Chân dung và lời bình từ những cuộc chơi bè bạn" của hơn 80 hoạ sỹ trong cả nước mà anh từng có dịp tiếp xúc, thân thiết. Các hoạ sỹ Nguyễn Cương, Phạm Ngọc Liệu, Xuân Hạnh, Lê Thân và nhiều hoạ sỹ khác của Binh chủng Thông tin là những người đã gắn bó chung lưng đấu cật cùng anh nhiều năm để sáng tác ra nhiều bức tranh đẹp trưng bày tại Bảo tàng Thông tin và các trung, lữ đoàn trong Binh chủng. Tác phẩm sơn mài khổ 1,5 m x 3,8 m "Những cô gái Thông tin" của Nguyễn Cương; "Trường Sơn năm ấy" của Phạm Ngọc Liệu... góp phần không nhỏ nâng vị thế số 1 của Binh chủng Thông tin so với các binh chủng bạn trong toàn quân.


Tác phẩm "Mỹ thuật Việt Nam hôm nay, nhìn từ góc hẹp" của tác giả Đặng Trường Lưu

Tuy không nhắc đến bản thân, song tôi biết anh Lưu có rất nhiều bức tranh, ký họa có giá trị được trưng bày, triển lãm, hội thảo tại bảo tàng và nhà truyền thống các đơn vị; các bức tranh sơn dầu: "A sầu năm 1967"; "Tháng ba năm ấy"... của anh đã được trưng bày tại các triển lãm mỹ thuật lớn.

Tác phẩm thơ, văn tuyển chọn "Dặm đường mưa nắng" của tác giả Đặng Trường Lưu

Khác với các hoạ sỹ cùng thời, cùng đi học trung cấp mỹ thuật tại Trường Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội; anh Lưu còn có năng khiếu "bẩm sinh" là làm thơ và viết văn. Sau những năm tháng phục vụ chiến đấu tại Trung đoàn Thông tin 132, anh được điều động về công tác tại Cơ quan Chính trị Binh chủng. Vừa công tác anh vẫn xin được đi đại học tại chức Khoa Văn thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội) nhằm không ngừng nâng cao trình độ kiến thức phục vụ quân đội.

Còn nhớ, một trưa hè năm 2021, giữa lúc cả nước và Thủ đô Hà Nội đang gồng mình chống dịch COVID-19, các “vùng xanh” mọc lên như nấm trên các tuyến phố của Thủ đô; thế mà anh vẫn thuê xe ôm từ nhà anh đến nhà tôi quãng đường trên 20 km để tặng tôi cuốn sách "Dặm đường mưa nắng" dày gần 800 trang gồm các bài thơ, văn xuôi do anh tuyển chọn. Đáp lại, tôi đã giành nhiều thời gian đọc hết 94 bài thơ, trường ca và 41 bài văn bao gồm bút ký, truyện ký, ký sự...

Đọc thơ và văn của anh tôi cảm nhận vừa giản dị gần gũi thân thương, vừa hào hùng hừng hực khí thế của những người lính cụ Hồ trên đường ra trận; những tình cảm sâu nặng với Nghệ An quê Bác và là quê hương thứ hai của anh; hoặc những cảm hứng đời thường như "Lời ru của bố" nó lãng mạn mà đầy chất thơ...

Cảm ơn anh đã giúp tôi được sống lại với những tháng năm vui vẻ cùng nhau làm báo Binh chủng giữa thập niên 80 của Thế kỷ XX.

Đến nay, Đặng Trường Lưu đã trình làng và xuất bản 4 tập thơ: "Trời hửng", "Tiếng hát người ra đi", "Những cuộc hành quân", "Chim gù đất lạ". Truyện ký: "Chuyện ở bên sông"; tiểu thuyết "Huyền thoại bây giờ"; tiểu luận: "Xu hướng thoát thực của hội hoạ Việt Nam thế kỷ XX", "Mỹ thuật Việt Nam hôm nay nhìn từ góc độ hẹp".

Đã gần 80 tuổi, rời Binh chủng gần 40 năm, anh Lưu vẫn say sưa miệt mài với những trang viết, những bức vẽ sơn dầu được trang trí rất đẹp mắt tại tư gia và thường xuyên liên lạc với Cơ quan Tuyên huấn để đóng góp ý kiến cho các hoạ sĩ trẻ lớp sau. Tôi thầm cảm phục sức làm việc quên mình không ngừng nghỉ của anh. Trân trọng cảm ơn anh và chị Thu.

Nguyễn Thanh Hải - Chi hội Truyền thống Phòng KHQS

Đăng bởi Quang Hưng

1.8.23

Bền bỉ đóng góp cho cộng đồng

Người dân ở tổ dân phố số 26 (phường Láng Thượng, quận Đống Đa) đều biết Anh hùng Lực lượng vũ trang Đặng Đức Song - người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, nay tuổi cao nhưng vẫn rất tích cực tham gia công tác xây dựng địa phương. Dù ở cương vị nào, ông Song cũng luôn gương mẫu, phát huy tốt truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, là tấm gương sáng, luôn bền bỉ đóng góp cho cộng đồng ở địa phương.

Ông Đặng Đức Song (ngoài cùng bên phải) trò chuyện với cán bộ phường Láng Thượng (quận Đống Đa)

Nghỉ hưu nhưng không nghỉ việc

Nhớ về những ngày tháng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Đặng Đức Song kể, ông đã cùng đồng đội đánh chiếm lô cốt Cột Cờ trên Đồi C1 ngày 31-3-1954 và giữ vững trận địa trong suốt 1 tháng. Tiếp đó, ông tham gia chiến đấu và đánh chiếm Đồi C2 vào ngày 6-5-1954. Ngày 7-5-1956, với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, ông được nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba (khi đó ông mới 21 tuổi). Sau ngày giải phóng Điện Biên, ông được cấp trên cử đi học. Tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội loại giỏi, ông được điều về Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc công tác và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Ông Đặng Đức Song về nghỉ hưu tại địa phương năm 1990, đúng lúc có chủ trương thành lập Hội Cựu chiến binh ở cơ sở, nên ông bắt tay ngay vào việc tham gia thành lập Chi hội Cựu chiến binh ở khu tập thể Thông tin - một trong những chi hội được thành lập đầu tiên thuộc Hội Cựu chiến binh phường Láng Thượng. Ban đầu, chi hội chỉ có hơn chục hội viên, đa phần là các đồng chí tham gia kháng chiến chống Pháp nghỉ hưu ở khu tập thể. Từ chỗ kinh phí không có, hội viên chưa nhiều nhưng sự nỗ lực của ông và một số hội viên khác đã góp phần xây dựng chi hội thành một tập thể đoàn kết, vững mạnh, hoạt động hiệu quả và có sức lan tỏa. Từ đó, lôi cuốn được nhiều người xin gia nhập hội.

Bí thư Chi bộ số 14 (tổ dân phố 26, phường Láng Thượng) Lại Quang Thảo nhận định, ông Song rất tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, đi đầu trong việc đóng góp, ủng hộ quỹ của Chi hội Cựu chiến binh và các quỹ do cấp trên phát động. Ngoài ra, hằng năm, ông còn ủng hộ xây dựng quỹ nạn nhân chất độc da cam, dioxin của phường, ủng hộ xây dựng Nhà khách Điện Biên và nhiều chương trình thiện nguyện khác. Vào các dịp lễ, Tết, ông thường tổ chức thăm và tặng quà cho trẻ em, bệnh nhân và những hộ có hoàn cảnh khó khăn.

Nỗ lực “truyền lửa” cho thế hệ trẻ

Gần 90 tuổi đời, gần 70 năm tuổi Đảng, ông Đặng Đức Song vẫn bền bỉ đóng góp cho cộng đồng nhiều giá trị tốt đẹp. Ông không những là nòng cốt của Câu lạc bộ thơ Tùng Lâm tại phường Láng Thượng từ năm 1997 mà còn tham gia rất nhiều chương trình nói chuyện lịch sử về Điện Biên Phủ cho các thế hệ thanh, thiếu niên trên địa bàn phường và các trường học trên địa bàn quận. Đáng kính nữa là với tình yêu đất nước, ông vẫn dành tâm sức viết về Chiến thắng Điện Biên Phủ. Tác phẩm “Ký ức Điện Biên” của ông Song kể về tinh thần kháng chiến của ông cùng đồng đội tràn đầy xúc động và đáng tự hào.

Ông Đinh Đắc Viện, hội viên Cựu chiến binh phường Láng Thượng khẳng định: "Là chiến sĩ Điện Biên dũng cảm, có nhiều chiến công vẻ vang, “chất liệu” đó khiến cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mãi mãi không phai nhòa trong trái tim Đại tá Đặng Đức Song. Trong cuộc sống đời thường, ông là người khiêm nhường, giản dị, hòa đồng và luôn luôn tâm nguyện “truyền lửa” cho thế hệ sau.

Còn hội viên Cựu chiến binh phường Láng Thượng Võ Văn Tiến đánh giá: "Tấm gương của ông Song luôn là động lực giúp lớp thế hệ sau không ngừng học tập. Và ông cũng là người đã có công dìu dắt rất nhiều cán bộ, thanh niên tiêu biểu ở địa phương trưởng thành trong công việc, tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị. Thông qua tất cả các buổi sinh hoạt chi bộ, các cuộc họp, hội nghị của tổ chức Cựu chiến binh, tổ dân phố, của các tổ chức đoàn thể, ông Song đều tham gia đầy đủ. Ở đâu, ông cũng dốc lòng nhiệt huyết chia sẻ quá trình rèn luyện, phấn đấu của cá nhân và khơi dậy mạnh mẽ tinh thần vì công việc chung cho các tầng lớp cán bộ, thanh niên, học sinh ở địa phương".

Phó Chủ tịch UBND phường Láng Thượng Nguyễn Quang Đông chia sẻ: "Bản thân tôi được nhận sự dạy dỗ, chỉ bảo, giáo dục, rèn luyện từ ông Song ngay từ khi còn là Bí thư Đoàn thanh niên cơ sở. Nhờ có ông “truyền lửa” mà tôi trưởng thành, luôn vững vàng trong sự nghiệp và đời sống. Ông là một tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo".

Với gia đình, ông Đặng Đức Song là người chồng, người cha, người ông, người cụ mẫu mực cho con, cháu, chắt noi gương. Gia đình ông có 12 người (kể cả dâu, rể) đã và đang phục vụ trong quân ngũ, trong đó 7 người là sĩ quan cao cấp. Noi gương ông, các con, cháu đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Mỗi khi nhắc đến gia đình ông Đặng Đức Song, mọi người đều trân trọng gọi ông là chiến sĩ Điện Biên, là Anh hùng của nhân dân.

Linh Nhi (báo Hà Nội Mới)

Đăng bởi Quang Hưng

13.7.23

Người viết sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh!

Sáng 11/7/2023, tôi nhận được điện thoại ra cửa nhận hàng do shipper chuyển đến.

Cầm gói quà trên tay lòng tôi dâng trào cảm xúc và cảm động khi nhìn tên người gửi Nguyễn Văn Khoan. Ôi Nhà báo, nhà Sử học Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan năm nay đã 96 tuổi đời mà sao anh còn say sưa viết nhiều như chạy đua với quỹ thời gian ít ỏi, nặng lòng với lịch sử, với Bác Hồ và các đàn em "ngây thơ, bé bỏng" đã bước vào ngưỡng cửa U80 chúng tôi.

Với 15 ấn phẩm anh gửi bao gồm sách khổ 13x19, những bài báo được phôtô khổ A4 do anh viết về Bác Hồ, các cuộc hội thảo, phỏng vấn và các đồng nghiệp viết về sự lao động cần cù đầy trách nhiệm của anh. Tôi thầm cảm phục và kính nể, coi anh như một người thày vô cùng kính mến.

Anh bảo gửi Hải và Soạn những ấn phẩm mới của anh để tham khảo và cho nhận xét. Tôi chỉ cố gắng đọc với lòng cảm phục biết ơn, chứ ở độ tuổi U80 tôi biết viết gì đây khi đã có nhiều chuyên gia viết những lời nhận xét "có cánh"về anh và những tác phẩm anh đã "trình làng". Tôi mạn phép xin tâm sự một vài cảm nghĩ giản đơn - lời cảm ơn sâu sắc gửi tới anh.






Một số ấn phẩm của đ/c Nguyễn Văn Khoan

Anh Khoan sinh năm Đinh Mão (1927) tại Thừa Thiên-Huế, nhưng trong hồ sơ lý lịch ghi anh sinh năm 1929. Anh nhập ngũ năm 1949, là học viên khoá 5 Trường Sĩ quan Lục Quân Trần Quốc Tuấn. Tốt nghiệp làm cán bộ chính trị tại Bộ Tổng Tham mưu rồi chuyển về công tác tại Binh chủng Thông tin làm công tác Tuyên huấn và Bảo tàng.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của cuộc sống, với vốn tiếng Pháp, tiếng Nga thông thạo, tuy tuổi cao nhưng anh vẫn quyết tâm hoàn thành luận án Tiến sĩ Sử học về đề tài Bác Hồ. Đến nay anh đã có hơn 30 đầu sách, sưu tầm được hơn 300 câu chuyện về Bác. Đặc biệt anh đã tìm ra được một câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác TTLL: "Việc liên lạc là việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mệnh, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi".

Nhập ngũ vào Binh chủng Thông tin từ những năm cuối của thập niên 60 thế kỷ XX, những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ hào hùng của dân tộc. Tôi và đồng đội đã gặp anh với chức danh trợ lý tuyên huấn tuyên truyền và là Tổng biên tập đầu tiên của tờ báo Thông tin liên lạc. Anh đã dành nhiều công sức đào tạo, bồi dưỡng lớp chiến sĩ mới chúng tôi từng bước nâng cao trình độ nhận thức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Và chúng tôi đều đã trưởng thành.

Vốn yêu thích tờ báo nội bộ, dần dà tôi tập viết tin, bài, gương người tốt việc tốt của đơn vị gửi Báo Thông tin được anh Khoan và anh em Ban biên tập sửa chữa và đăng báo.

Tôi thường xuyên được anh Khoan động viên, tạo điều kiện tham gia các lớp bồi dưỡng viết báo, viết truyện ký, kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội.

Tôi đã trở thành cộng tác viên, sau là phóng viên, biên tập viên, thư ký toà soạn Báo Binh chủng từ năm 1976 - 1989.

Điều đáng quý nhất ở anh Khoan là tấm lòng độ lượng, bao dung hết lòng giúp đỡ đồng chí đồng đội. Sản phẩm anh làm ra nhiều và chất lượng, nhưng anh rất khiêm tốn vô tư và cầu thị, ngay cả với những đồng chí, đồng đội có thành kiến hiểu lầm hoặc có những nhận xét không đúng với bản chất thật của anh.

Đôi lời cảm xúc khi nhận được món quà tinh thần quý giá do anh Khoan gửi tặng.

Nguyễn Thanh Hải (Chi hội Phòng Khoa học Quân sự)

Đăng bởi Nguyễn Quang Hưng 

2.7.22

Khúc tráng ca A69 Lèn Hà - Niềm tự hào của Bộ đội Thông tin liên lạc

Trải qua chặng đường hơn 76 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Bộ đội Thông tin liên lạc đã vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đoàn kết, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc “Kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn”, phục vụ Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, làm tròn nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại diện lãnh đạo Binh chủng Thông tin liên lạc cùng các đại biểu trồng cây lưu niệm tại Khu di tích lịch sử quốc gia hang Lèn Hà, xã Thanh Hóa (huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình).

Quá trình lịch sử đó luôn gắn liền với những giai đoạn lịch sử hào hùng, oanh liệt của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trong đó, công lao cống hiến to lớn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phải kể đến sự hy sinh anh dũng của 13 cán bộ, chiến sĩ Thông tin Trạm Thông tin A69.

Trạm Thông tin A69 được thành lập ngày 7/1/1967, thuộc Đại đội 9, Trung đoàn 134 (nay là Lữ đoàn 134), đóng quân tại hang Lèn Hà, xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, sát biên giới Việt Nam-Lào, cách đường mòn Hồ Chí Minh khoảng 3km về phía tây; là trạm trung gian chuyển tiếp trên trục thông tin quân sự bắc-nam, đồng thời bảo đảm thông tin liên lạc cho các đơn vị toàn quân trên địa bàn. Đường dây của trạm nối liền với mạng thông tin của Bộ Tư lệnh 559, chạy dọc đường 12 (phía tây Quảng Bình), đi qua nhiều trọng điểm địch đánh phá ác liệt, địa hình hiểm trở như: Khe Nét, Thanh Lạng, Đò Vàng…, đồng thời cũng là nơi đặt kho dự trữ chiến lược trang bị khí tài thông tin của Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc.

Với tinh thần “Tất cả cho chỉ huy chiến đấu giành thắng lợi”, cán bộ, chiến sĩ Trạm Thông tin A69 luôn thắp sáng ngọn lửa chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bền bỉ, kiên cường, bám dây, bám máy, gắn bó máu thịt với nhân dân, phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng thông tin của các quân chủng, binh chủng, các lực lượng, tạo nên một mạng lưới thông tin liên lạc dọc ngang dải đất miền trung, nối liền hậu phương với tiền tuyến. Bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, vững chắc phục vụ Bộ Quốc phòng chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị chiến đấu, tiêu biểu là Chiến dịch Đường 9-Nam Lào; Chiến dịch Cánh đồng Chum năm 1971; Chiến dịch giải phóng Quảng Trị năm 1972.

Vào khoảng 13 giờ 5 phút, ngày 2/7/1972, đế quốc Mỹ mở đợt tập kích bằng không quân vào Trạm Thông tin A69, gây tổn thất vô cùng nặng nề, 13 cán bộ, chiến sĩ Thông tin của trạm, trong đó có 10 chiến sĩ nữ tuổi đời từ 16 đến 20 đã anh dũng hy sinh. Tấm gương anh dũng hy sinh của các anh, các chị mãi mãi là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Đoàn Nam Liên anh hùng, của Bộ đội Thông tin liên lạc anh hùng.

Trân trọng biết ơn và tri ân công lao cống hiến hy sinh của 13 cán bộ, chiến sĩ Thông tin Trạm Thông tin A69; thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị, những năm qua Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc đã chủ động, phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng hoàn thiện hồ sơ đề nghị và được Đảng, Nhà nước phong tặng Danh hiệu “Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” cho Trạm Thông tin A69 (tháng 4/2009); UBND tỉnh Quảng Bình đề nghị và được Nhà nước công nhận Khu di tích hang Lèn Hà là “Di tích lịch sử cấp Quốc gia” (tháng 5/2009).

Ngày 5/5/2017, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình ra quyết định về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu di tích lịch sử Quốc gia hang Lèn Hà. Khu Di tích có diện tích 12ha, được quy hoạch thành sáu khu chức năng chính, với ba phân khu; ngày 15/12/2017, Nhà Dâng hương đã được khởi công, với diện tích khuôn viên 1.000m2. Sau chín tháng xây dựng, ngày 16/9/2018, công trình đã hoàn thành đúng tiến độ, trở thành nơi thờ tự 13 liệt sĩ trang nghiêm tại khu di tích.

Năm 2022, kỷ niệm 50 năm Ngày hy sinh của 13 cán bộ, chiến sĩ Trạm Thông tin A69, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình triển khai mở rộng con đường từ đường Hồ Chí Minh vào hang Lèn Hà (chiều dài 2,6km, chiều rộng 10,5m). Binh chủng Thông tin liên lạc phối hợp Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội tiến hành số hóa 3D các hạng mục trong khu di tích (giai đoạn 1 làm phim 3D giới thiệu, giai đoạn 2 tiến hành số hóa toàn bộ khu di tích); thi công gắn bia đá, cắm mốc khuôn viên và làm đường nội bộ liên kết 11 hạng mục nơi ăn, nghỉ, sinh hoạt, học tập, công tác của cán bộ, chiến sĩ Trạm Thông tin A69. Khu Di tích lịch sử hang Lèn Hà tiếp tục được củng cố, tu sửa ngày càng khang trang, xứng tầm với các di tích khác trên quê hương Quảng Bình, trên tuyến đường Hồ Chí Minh lịch sử, đáp ứng nguyện vọng thăm viếng, tưởng niệm liệt sĩ của đồng bào, chiến sĩ cả nước.

Năm tháng qua đi, cuộc sống đã và đang hồi sinh trở lại trên mảnh đất đầy đạn bom, khói lửa, dần xóa đi những dấu vết khốc liệt của một thời chiến tranh, nhưng những chiến công và sự hy sinh anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Trạm Thông tin A69 còn đọng mãi trong tâm khảm của cấp ủy, chính quyền và nhân dân xã Thanh Hóa. Sự hy sinh anh dũng của 13 cán bộ, chiến sĩ Trạm Thông tin A69 vẫn luôn là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần yêu nước nồng nàn, sự giác ngộ cách mạng cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, với quyết tâm tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tất cả vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; là niềm tự hào của Bộ đội Thông tin liên lạc nói riêng, của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và đồng bào cả nước nói chung.

Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Thông tin hôm nay luôn trân trọng, tự hào, ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân; góp phần xây dựng Binh chủng Thông tin liên lạc tiến thẳng lên hiện đại, thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

Thiếu tướng Trần Minh Tâm, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn báo Nhân Dân)

A69 - Lèn Hà, niềm tự hào thôi thúc!

Trải qua chặng đường hơn 76 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, bộ đội Thông tin liên lạc (TTLL) vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, đoàn kết, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm TTLL “Kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn”, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, làm tròn nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Góp phần vào thành quả chung của bộ đội TTLL phải kể đến sự hy sinh anh dũng của 13 cán bộ, chiến sĩ Trạm Thông tin A69, Đại đội 9, Trung đoàn 134 (nay là Lữ đoàn 134, Binh chủng TTLL) cách đây 50 năm.

Khoảng 13 giờ 5 phút ngày 2-7-1972, đế quốc Mỹ mở đợt tập kích bằng không quân vào Trạm Thông tin A69, gây tổn thất hết sức nặng nề. Khi đó, 13 cán bộ, chiến sĩ của trạm, trong đó có 10 chiến sĩ nữ tuổi đời từ mười sáu đến đôi mươi đã anh dũng hy sinh. Tấm gương hy sinh của các anh, các chị mãi là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của bộ đội TTLL anh hùng.

Trạm Thông tin A69 đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân năm 2009. Ảnh: Trung Hiếu 

Ghi tạc công lao to lớn của 13 cán bộ, chiến sĩ Trạm Thông tin A69, thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị, Bộ tư lệnh TTLL đã chủ động phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng hoàn thiện hồ sơ đề nghị và được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu “Đơn vị anh hùng LLVT nhân dân” đối với Trạm Thông tin A69 (tháng 4-2009); UBND tỉnh Quảng Bình đề nghị và được Nhà nước công nhận khu di tích hang Lèn Hà là “Di tích lịch sử cấp quốc gia” (tháng 5-2009). Khu di tích lịch sử hang Lèn Hà từng bước được củng cố, tu sửa ngày càng xứng tầm với các di tích khác trên quê hương Quảng Bình; đáp ứng nguyện vọng thăm viếng, tưởng niệm liệt sĩ của đồng bào, chiến sĩ cả nước; là niềm tự hào của bộ đội TTLL nói riêng, Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung.

Trong suốt 50 năm qua, với quyết tâm kế tục xứng đáng truyền thống anh hùng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ bộ đội TTLL luôn ra sức thi đua học tập, rèn luyện, đẩy mạnh học tập, noi gương tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Trạm Thông tin A69. Đồng thời, các cơ quan, đơn vị trực thuộc thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng; xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao sức mạnh tổng hợp.

Chú trọng tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ về truyền thống, nhiệm vụ cách mạng, quân đội, binh chủng, những chiến công oanh liệt và sự hy sinh anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Trạm Thông tin A69. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới; các nghị quyết, kết luận của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới"; chủ động đấu tranh phòng, chống, ngăn ngừa các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Từng tổ chức, cơ quan, đơn vị, cá nhân đề cao trách nhiệm, tích cực thông tin, tuyên truyền về Trạm Thông tin A69 anh hùng-Di tích lịch sử cấp quốc gia trên phạm vi cả nước. Thông qua nhiều hình thức tuyên truyền linh hoạt, sáng tạo, giúp cán bộ, chiến sĩ và người dân biết đến, hiểu thêm về những chiến công thầm lặng và tấm gương hy sinh anh dũng của 13 cán bộ, chiến sĩ Trạm Thông tin A69. Quảng bá, giới thiệu về Khu di tích lịch sử quốc gia hang Lèn Hà, để nơi đây thực sự trở thành “địa chỉ đỏ”, là điểm đến tham quan, du lịch văn hóa lịch sử đầy ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Trong nội bộ Binh chủng TTLL, mọi tổ chức, mọi cá nhân thống nhất nhận thức, ý chí và hành động; quyết biến những giá trị cống hiến, hy sinh ở A69 trở thành nguồn lực, động lực thôi thúc mạnh mẽ, cổ vũ sự nỗ lực, phấn đấu không ngừng, góp phần vào sự trưởng thành, lớn mạnh của binh chủng và lực lượng.

Cán bộ, chiến sĩ Trạm Thông tin A69 năm 1972. Ảnh tư liệu  

Để làm được điều đó, toàn Binh chủng TTLL và bộ đội TTLL tiếp tục đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, vươn lên làm chủ trang bị kỹ thuật hiện đại, thực hiện các mục tiêu, yêu cầu của Chiến lược phát triển hệ thống TTLL quân sự giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Để tiếp tục nâng cao chất lượng phần việc này, từng cấp ủy, chỉ huy làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, xây dựng động cơ, trách nhiệm đúng đắn cho cán bộ, chiến sĩ về tự học tập, tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ.

Mỗi cán bộ, chiến sĩ cần xây dựng, rèn luyện ý chí quyết tâm phấn đấu vươn lên trong tự học tập, tự bồi dưỡng, coi đây là yếu tố nội lực bên trong, giữ vai trò quyết định trực tiếp đến khả năng tiến bộ, phát triển của mỗi người. Việc tự học phải hướng vào nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhất là trong bảo đảm TTLL, hướng tới thực sự “giỏi về thông tin truyền thống, tinh nhuệ về thông tin cơ động, làm chủ khí tài thông tin công nghệ cao”. Cùng với đó, toàn binh chủng đẩy mạnh học tập ngoại ngữ, công nghệ thông tin; rèn luyện phương pháp, tác phong công tác khoa học, sâu sát, cụ thể, tỉ mỉ, có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Trong điều kiện mới, bộ đội TTLL cần đặc biệt quan tâm xây dựng, củng cố mối đoàn kết thống nhất trong toàn đảng bộ, chi bộ và đơn vị. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có tác phong làm việc sâu sát cơ sở, gần gũi, tôn trọng, thương yêu cấp dưới; tinh thần khắc phục khó khăn, sẵn sàng nhận nhiệm vụ, đoàn kết, thương yêu, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong công việc và cuộc sống. Phát huy tốt dân chủ trên các mặt công tác; bảo đảm công khai, công bằng trong mọi hoạt động; thực hiện hiệu quả chế độ đối thoại dân chủ, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong từng cơ quan, đơn vị.

Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp tiến hành hiệu quả công tác dân vận, xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh, gắn với thực hiện tốt công tác thông tin nhân dân. Tích cực hưởng ứng Phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, “Ngày vì người nghèo” bằng những việc làm thiết thực, góp phần gìn giữ, tô thắm hình ảnh “Người chiến sĩ thông tin ưu tú”...

Thiếu tướng Trần Minh Tâm - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn báo QĐND)

Có những tuổi hai mươi bất tử

Một ngày hè trung tuần tháng 5, chúng tôi tìm về hang Lèn Hà, vùng đất nằm ở bản Hà, xã Thanh Hóa (Tuyên Hóa), được nghe kể những câu chuyện lịch sử về những người lính thông tin Trạm thông tin A69, Đại đội 9, Trung đoàn 134 (nay là Lữ đoàn 134)-Binh chủng Thông tin liên lạc đã từng sống, chiến đấu và hy sinh anh dũng cho nền độc lập, tự do của dân tộc.

Thanh xuân xông pha nơi tuyến lửa

Từ đường Hồ Chí Minh, đoạn đi qua thôn Bắc Sơn, xã Thanh Hóa, chúng tôi tiếp tục đi thêm 3 km theo hướng vào bản Hà với một cung đường khá dốc và khúc khuỷu mới đến được hang Lèn Hà. Theo người dân địa phương nơi đây cho biết, trong thời kỳ chiến tranh, khu vực này nằm sâu trong khu rừng già thuộc địa phận xã Thanh Hóa. Hang Lèn Hà có đỉnh cao nhất khoảng 320 m, lưng chừng núi có một hang đá rộng khoảng 420 m2. Xung quanh hang là rừng rậm với địa thế hiểm trở, là nơi “dễ thủ, khó công” thuận tiện để làm căn cứ địa trong chiến tranh.

Vào năm 1967, Trạm Thông tin A69 đã chọn hang Lèn Hà làm nơi đứng chân trong thời kỳ đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh đánh phá miền Bắc. Đây là trạm thông tin quan trọng nhằm tiếp chuyển thông tin, mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng vào chiến trường miền Nam và sang nước bạn Lào làm nghĩa vụ quốc tế. Đồng thời, hang là kho dự trữ vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm phục vụ cho chiến trường miền Nam.

Quân số ban đầu của trạm là 19 đồng chí, sau tăng lên 33 đồng chí, được biên chế thành 3 tiểu đội: Tiểu đội tải ba tổng đài, tiểu đội nguồn điện, tiểu đội đường dây và bộ phận hậu cần. Biên chế của trạm hầu hết là các thanh niên trẻ ở các tỉnh phía Bắc, như: Hòa Bình, Cao Bằng, Phú Thọ, Hưng Yên, Thái Bình… tình nguyện lên đường“xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

Để hiểu hơn về những ngày tháng sống và chiến đấu kiên cường của cán bộ, chiến sĩ (CB, CS) Trạm thông tin A69, chúng tôi tìm đến nhà của ông Cao Xuân Thung, ở Thôn 3-Thanh Lạng, xã Thanh Hóa, nguyên là Trung đội trưởng Trung đội dân quân Thanh Lạng thời kỳ chống Mỹ.

Chuyện trò bên ấm nước chè xanh đặc quánh, ông Thung bồi hồi nhớ lại: “Những năm Trạm thông tin A69 về đóng tại hang Lèn Hà là những năm chiến tranh rất ác liệt, máy bay Mỹ ngày đêm gầm rú, thả bom xuống địa bàn xã, tôi vừa là Trung đội trưởng, vừa là Phó Bí thư Chi đoàn (Chi đoàn hợp nhất 3 thôn Thanh Lạng, Bắc Sơn, Hợp Hóa trực thuộc Đoàn xã) thường xuyên vào giao lưu cùng các chiến sĩ của trạm. Hồi đó chiến tranh gian khổ, đối diện với nguy hiểm hàng ngày, hàng giờ nhưng các anh, các chị vui vẻ, yêu đời lắm. Ngoài làm nhiệm vụ, CB, CS của trạm còn giúp dân tăng gia sản xuất, đào hầm tránh bom đạn giặc Mỹ. Nhân dân chúng tôi rất quý, có củ khoai, củ sắn cũng mang vào san sẻ”.

“Đứt dây như đứt ruột, gãy cột như gãy xương”

Trạm thông tin A69 có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn tuyến đường dây liên lạc từ Bắc vào Nam, là điểm tiếp nối thông tin quan trọng của Bộ Quốc phòng đến các đơn vị chiến đấu trên chiến trường, nhất là đối với Bộ Tư lệnh Trường Sơn.

Với lời thề “Tim còn đập, mạch máu thông tin còn thông suốt”, mỗi CB, CS của Trạm thông tin A69 luôn xem “Trạm máy là chiến trường, dây máy là vũ khí”, “Đứt dây như đứt ruột, gãy cột như gãy xương”… quyết tâm bảo vệ mạch máu giao thông trước sự đánh phá ác liệt của kẻ thù.

Trạm ngày đêm tiếp chuyển hàng triệu phiên liên lạc kịp thời tới các mặt trận trên khắp các chiến trường, góp phần vào chiến thắng của quân đội ta ở nhiều chiến dịch quan trọng, tiêu biểu như chiến dịch Đường 9 Nam Lào, chiến dịch Cánh đồng Chum, chiến dịch 81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị.

Đồng chí Bí thư Huyện ủy Tuyên Hóa Nguyễn Hoài Nam thắp hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ tại Khu di tích lịch sử hang Lèn Hà.

Biết được tầm quan trọng của Trạm thông tin A69, nên cùng với các điểm trọng yếu ở Quảng Bình như bến phà Long Đại, hang Tám TNXP, Ka Tang-Cha Lo-Cổng Trời… hang Lèn Hà trở thành một “tọa độ lửa” địch ngày đêm đánh phá.

Vào lúc 13 giờ 25 phút ngày 2/7/1972, khi cả trạm đang chuẩn bị giờ làm việc buổi chiều, máy bay Mỹ bất ngờ gầm rú trên bầu trời, ném pháo khói vào khu vực nhà ăn, chỉ điểm cho máy bay F4 và F105 ném bom xuống giữa nhà hội trường. Chưa hết, máy bay Mỹ tiếp tục trút một loạt bom bi, bom nổ chậm và bom napan xuống khu vực hang Lèn Hà. Dứt tiếng bom, cả khu vực trạm bốc cháy dữ dội, trạm máy trên hang đá bị ảnh hưởng hư hỏng nặng, hơn 150m dây nhập đài bị thiêu cháy, 13 CB, CS của trạm đã anh dũng hy sinh.

Vẫn nhớ như in buổi chiều hôm đó, bà Phan Thị Thành, thôn 2 Bắc Sơn, xã Thanh Hóa xúc động kể lại: “Thời điểm đó, sau khi nghe hiệu lệnh của xã, biết chuyện chẳng lành, toàn bộ Trung đội dân quân Bắc Sơn chúng tôi lao nhanh về phía hang Lèn Hà. Khi đến nơi thì rừng cây đổ nghiêng ngả, bốc cháy dữ dội, nhiều CB, CS của trạm đã hy sinh. Thời điểm đó, anh Vinh, Trung đội trưởng (ông Nguyễn Tiến Vinh) chỉ đạo mọi người ở lại di chuyển các chiến sĩ đã hy sinh, rồi cùng tôi chạy lên phía hang nơi đặt trạm tải ba tổng đài để tìm kiếm người bị thương. Chúng tôi thấy chị Lung (liệt sỹ Bùi Thị Lung) còn thở nên nhanh chóng băng rừng đưa về trạm xá trong đêm. Tuy nhiên, khoảng 3 giờ sáng hôm sau, chị cũng hy sinh”.

Là người trực tiếp khâm liệm cho các liệt sỹ, bà Ngô Thị Long, thuộc Trung đội dân quân Thanh Lạng thời điểm ấy xúc động cho biết: “Chúng tôi ở xa hơn nên chạy vào sau Trung đội dân quân Bắc Sơn. Nhiệm vụ của chúng tôi là khâm liệm và chôn cất các liệt sỹ. Tôi vẫn nhớ như in nhiều liệt sỹ bị cháy hết tóc, còn một liệt sỹ nữ tóc dài còn nguyên, tôi cẩn thận vén tóc, vòng vào cổ cho chị ấy gọn gàng rồi mới chôn cất. Nhìn cảnh tượng hôm đó thực sự quá đau thương”.

Gạt nước mắt đau thương, các chiến sĩ còn lại của Trạm thông tin A69 đã cùng với lực lượng dân quân tự vệ, công an, thanh niên và nhân dân xã Thanh Hóa khắc phục tổn thất, nối lại đường dây sau gần 1 giờ đồng hồ đứt liên lạc.

“Khúc tráng ca” bất tử

Mái nhà sập lửa rừng rực cháy/Lá gồi khô mới lợp hai ngày/Chằng buộc kỹ chẳng thể nào bay mái/Sập xuống trùm lên kín cửa hầm. Ngày hè đỏ lửa năm ấy đã cướp đi 13 CB, CS thông tin kiên trung, trong đó có 10 cô gái tuổi mười sáu, đôi mươi vừa kết thúc ca trực “khi gối còn thêu dỡ, cơm chiều chưa ăn”.

Biến đau thương thành hành động, CB, CS Trạm thông tin A69 tiếp tục bám trụ trên trận địa, bảo đảm thông tin liên lạc được thông suốt trước bom đạn của kẻ thù, góp phần giúp quân đội ta đi đến những thắng lợi cuối cùng.

Trước những chiến công và sự hy sinh anh dũng của các anh hùng liệt sỹ, ngày 28/4/2009, Trạm thông tin A69 đã được phong tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hang Lèn Hà được nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia vào ngày 7/5/2009.

Hiện nay, Khu di tích lịch sử hang Lèn Hà được Lữ đoàn 134-Binh chủng Thông tin liên lạc cùng chính quyền các cấp huyện Tuyên Hóa tích cực bảo vệ, tôn tạo, xứng tầm khu di tích lịch sử cấp quốc gia, thu hút nhiều du khách thập phương đến thăm viếng. Nơi đây cũng trở thành một “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống cách mạng, giúp thế hệ trẻ có nhận thức đúng đắn về lịch sử, góp phần hun đúc thêm tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc.

Tuấn Anh (Đài TT-TH Tuyên Hóa)

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn báo Quảng Bình)

4.9.18

Dấu ấn không quên của vị tướng thông tin liên lạc


“Năm 1945 không chỉ là thời điểm mở ra trang mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam mà còn là dấu mốc thay đổi cuộc đời tôi”. Đó là tâm sự của Thiếu tướng Nguyễn Diệp, nguyên Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc, khi ông trò chuyện với chúng tôi vào một buổi chiều thu.

22.7.17

Huyền thoại 13 chiến sĩ giữ mạch máu liên lạc chiến dịch giải phóng miền Nam



Lời BBT: Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, BBT xin đăng lại videoclip do truyền hình Vietnamnet xây dựng kể về các chiến sỹ thông tin huyền thoại của Trạm thông tin A69 Trung đoàn 134 trong kháng chiến chống Mỹ.

21.7.17

Hang Lèn Hà - Nơi cái chết hóa thành bất tử



Hang Lèn Hà (bản Hà, xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình) ghi dấu sự hy sinh anh dũng của 13 cán bộ chiến sĩ Trạm cơ vụ A69, Lữ đoàn 134 Binh chủng Thông tin liên lạc trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước ác liệt.

20.7.17

Bức thư có một không hai gửi lại người đang sống

Lời BBT: Nhân kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh Liệt sĩ, BBT xin đăng lại bức thư của 3 chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam đã hy sinh trong một tâm thế “ung dung thư thái” như lời của các anh.

16.8.16

Rèn luyện sức khỏe để làm việc tốt

BBT : Trong cuộc họp mặt truyền thống chi hội 101-c5 VTĐ ngày 14-8-2016, hội nghị chúc mừng bác Nguyễn Duy Thịnh là hội viên cao tuổi nhất ( 96 tuổi ). Để lý giải nguyên nhân trường thọ, bác Thịnh đã đọc lại bài báo của Tác giả Trần Thị Tuyết, đăng trên báo Cựu Chiến Binh Thủ Đô ngày 15-9-2011. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

28.6.16

Họp báo tổ chức lễ tưởng niệm, tri ân các cán bộ, chiến sỹ hy sinh tại hang Lèn Hà năm 1972


 (QBĐT) - Ngày 21-6-2016, Sở Thông tin và Truyền thông Quảng Bình đã tổ chức buổi họp báo về lễ tưởng niệm, tri ân các cán bộ, chiến sỹ hy sinh tại hang Lèn Hà (xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa) năm 1972.

15.1.16

Gương sáng đời thường




                                                  Nhịp cầu nối những bờ vui                                                                                                                  
                                                         Nguyễn Trần Hiếu                                                       Chi hội Thông Tin 559

        Sinh ra từ miền đất Hưng Hà trên quê hương “chị hai 5 tấn” Thái Bình, lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa trong những năm tháng sục sôi của thời kỳ đất nước đang còn chiến tranh.

4.8.15

Vị tướng CCB làm giàu giữa núi rừng


Tình cờ tìm đến trang Hiệp hội doanh nhân cựu chiến binh Việt nam tôi được đọc bài viết của Đào văn Sử về những việc làm của Thiếu tướng Lê Đình Hùng, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Thông tin sau khi nghỉ hưu. Tôi hết sức vui mừng và cảm phục trước tấm lòng của Anh đối với quê hương, trước ý chí, nghị lực và tài năng của Anh trong môi trường mới, môi trường kinh doanh lao động sản xuất. Xin giới thiệu nguyên văn bài viết này với toàn thể bạn đọc.