28.2.25

Một cuộc điện đàm lịch sử

Hà Duy Cường

Sau khi chiếm lĩnh toàn bộ chi khu Phú Khương, theo sát các mũi tiến công của các đơn vị, Ban chỉ huy chiến dịch giải phóng tỉnh Tây Ninh đặt sở chỉ huy tại trụ sở Hội đồng xã Long Thành, Long Hoa (huyện Phú Khương) cách thị xã Tây Ninh 3km. Lúc đó khoảng 8 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Sào huyệt cuối cùng của địch trong thị xã Tây Ninh đã bị 5 cánh quân của 5 tiểu đoàn bộ đội giải phóng Tây Ninh bao vây từ 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Hơn 90% các đơn vị bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự đã tan rã hoặc đầu hàng. Trung đoàn 46 sư đoàn 25 chủ lực ngụy, tiểu đoàn biệt kích 81, liên đoàn biệt động quân ngụy trên đường rút chạy về Sài Gòn đã bị các cánh quân ta khóa chặt, tiêu diệt và đánh tan rã tại chỗ trên quốc lộ 22 vào chiều ngày 29 tháng 4. Quân và dân các huyện đến sáng ngày 30 tháng 4 đã làm chủ các chi khu, yếu khu. Thị xã Tây Ninh còn lại 3 tiểu đoàn bảo an cùng các sắc lính địa phương khác, đang trong tình thế bị cô lập.

Lúc đó, tại sở chỉ huy chiến dịch giải phóng, đồng chí Nguyễn Thanh Dương - Chỉ huy trưởng đã hội ý thống nhất với Ban chỉ huy: "Địch trong tình thế nguy cấp, chúng đã hoang mang cực độ. Đánh vào thị xã tất yếu sẽ gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản của dân, hơn nữa trong giờ phút cận kề chiến thắng này, tôi muốn tìm cách giảm thiểu tối đa máu xương của cán bộ, chiến sĩ. Vì vậy, tôi muốn thay đổi phương thức tiến công địch bằng cách thông qua phương tiện thông tin liên lạc, đấu tranh trực diện với tỉnh trưởng ngụy, khống chế tư tưởng buộc y phải đầu hàng và ra lệnh cho cấp dưới của y buông súng đầu hàng. Tôi tin là chúng ta có thể thực hiện được. Ta ra lệnh cho các cánh quân siết chặt thế bao vây, uy hiếp thị xã buộc chúng phải đầu hàng. Các đồng chí thấy thế nào?".

Ban chỉ huy chiến dịch đã hoàn toàn nhất trí với phương thức tiến công của đồng chí chỉ huy trưởng.

Mệnh lệnh ngay sau đó được thực hiện. Trung đội thông tin trong đội hình sở chỉ huy đã sẵn sàng. Chỉ huy phó Nguyễn Thành Nghĩa ra lệnh: "Trung đội thông tin mở máy bộ đàm PRC-25 bắt liên lạc với tòa hành chính, tìm sóng điện đài của tỉnh trưởng ngụy".

Bằng những động tác chính xác, thành thạo của chiến sĩ thông tin, tần số điện đài của tỉnh trưởng ngụy đã được mở.

Khoảng 5 phút sau, đầu máy bên kia có người lên tiếng:

- A lô, liên lạc hành dinh của đại tá tỉnh trưởng nghe đây.

Ở đầu máy bên này, chỉ huy phó Nguyễn Thành Nghĩa dõng dạc:

- Ban chỉ huy chiến dịch cần nói chuyện với đại tá Tài.

- Ông đại tá đang bận, ông cần gì?

- Anh là ai?

Máy bộ đàm im khoảng 1 phút, bên kia một giọng nói run run:

- Tôi - trung tá Tạ Kim Lời - tham mưu phó phụ trách hành quân.

Chỉ huy phó Nguyễn Thành Nghĩa:

- Ông Tài đâu?

- Đang bận chỉ huy chiến đấu.

Đầu máy bên này đồng chí Năm Nghĩa xẵng giọng:

- Các anh còn gì nữa mà chiến đấu, đại quân chúng tôi đang bao vây khắp nơi, chúng tôi đang đứng ngay trên cổ các anh rồi. Sài Gòn sắp thất thủ, các chi khu, yếu khu đã bị quân giải phóng đánh chiếm, bọn chủ lực ngụy hết đường tháo chạy đã đầu hàng và tan rã, quốc lộ 22 chúng tôi đã khóa chặt, bọn lính bảo an, dân vệ của các anh đã bị đánh tan tác, còn ai để mà các anh chỉ huy. Hãy gọi ngay ông Tài bảo tôi Năm Nghĩa - Tiểu đoàn trưởng 14 cần gặp.

Đầu dây bên kia im lặng.

Sau khi ra lệnh cho đồng chí phụ trách bộ đàm không tắt máy, giữ liên lạc với các cánh quân hướng Châu Thành, thị xã Tân Biên. Tiểu đoàn 14 đồng loạt nổ súng tiến công vào các mục tiêu trong thị xã, liên lạc các cụm pháo đặt trên núi Bà tiếp tục bắn áp chế thành San Đá, dinh tỉnh trưởng.

Máy bộ đàm tiếp tục liên lạc với tiểu khu, khoảng 20 phút sau phía bên kia tiếng vẫn giọng rè rè khi nãy:

- A lô, đại tá tỉnh trưởng muốn nói chuyện với Ban chỉ huy phía Quân giải phóng.

Bên này, vẫn giọng nói rắn rỏi của đồng chí Năm Nghĩa:

- Tôi nghe, anh nói đi.

Đầu máy bên kia một giọng nói khác:

- Tôi đại tá Bùi Đức Tài - tỉnh trưởng muốn nói chuyện với chỉ huy các ông.

Bên này, đồng chí Năm Nghĩa trao máy cho đồng chí Hai Dương:

- Tôi chỉ huy trưởng Quân giải phóng Tây Ninh. Hai Dương nghe đây, anh có phải là đại tá Tài không?

- Dạ phải, xin ông ra lệnh cho pháo ngưng bắn, lực lượng giải phóng dừng tại chỗ, chúng tôi sẽ làm theo yêu cầu của các ông.

- Anh nghe đây: Nhân danh chỉ huy trưởng Quân giải phóng Tây Ninh, tôi ra lệnh cho anh:

1. Thứ nhất, anh phải lệnh cho thuộc hạ của anh ở các đơn vị, các chi khu, yếu khu buông súng đầu hàng.

2. Thứ hai, bản thân anh, toàn bộ các trưởng ty, ban chỉ huy tiểu khu, các tiểu đoàn trưởng bảo an đầu hàng không một điều kiện nào cả, nếu các anh muốn sống về với vợ con.

3. Thứ ba, nên nhớ các anh chỉ có hai con đường, một là muốn được an toàn trở về với gia đình được cách mạng bảo đảm mạng sống lâu dài thì phải đầu hàng ngay, hai là các anh sẽ tức khắc bị tiêu diệt nếu ngoan cố chống cự. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về mạng sống của các anh.

4. Điều cuối cùng, tôi ra lệnh anh dẫn toàn bộ cấp dưới theo quy định đúng 10 giờ 30 phút phải có mặt tại trụ sở xã Long Thành để nhận lệnh của Ban chỉ huy Quân giải phóng. Cho phép các anh dùng xe để đến đây, nên nhớ các cánh quân giải phóng đã áp sát sào huyệt của các anh, mọi hành vi trái với lệnh này các anh tức khắc sẽ bị tiêu diệt. Anh rõ chưa?

Khoảng 3 phút sau, đầu máy bên kia lên tiếng:

- Tôi chấp nhận yêu cầu của các ông.

Phía bên này giọng đồng chí Hai Dương rắn rỏi:

- Anh đầu hàng ngay lập tức và thực hiện các mệnh lệnh của chúng tôi.

Đầu máy bên kia im lặng, 5 phút sau giọng nói của Bùi Đức Tài vang lên:

- Tôi xin chấp nhận.

Đồng chí Nguyễn Thành Dương:

- Anh nói rõ: Tôi, đại tá Bùi Đức Tài - tỉnh trưởng ngụy quyền Tây Ninh tuyên bố đầu hàng Quân giải phóng vô điều kiện, nói to lên.

Đầu máy bên kia vẫn tiếp tục im lặng. Máy bộ đàm vẫn mở, đồng chí Hai Dương ra hiệu cho đồng chí Năm Nghĩa theo ý định đã được thống nhất trước. Chỉ huy phó Nguyễn Thành Nghĩa dõng dạc:

- Điện đài chú ý, truyền ngay lệnh của Ban chỉ huy các cánh quân theo vị trí đã phân công, lập tức đánh chiếm tòa hành chính, tiểu khu Tây Ninh. Điện các cụm pháo chuẩn bị chờ lệnh.

Kế hoạch của Ban chỉ huy chiến dịch đã được thống nhất với các huyện, thị, các tiểu đoàn là: sau khi chiếm lĩnh các vị trí được giao, tiếp tục cho bộ đội tiến vào thị xã, chỉ nổ súng khi gặp những ổ đề kháng của địch trên đường tiến quân, còn lại chủ yếu là thị uy, khống chế buộc địch phải tự tan rã, khi có lệnh của Sở chỉ huy các cánh quân đồng loạt nổ súng nhưng tuyệt đối không gây thương vong cho dân thường. Đồng thời tạo sức ép để Ban chỉ huy chiến dịch dùng chính trị, binh vận đấu tranh buộc tỉnh trưởng ngụy phải đầu hàng. Đến 9 giờ 30 phút ở phía Bắc, lực lượng vũ trang huyện Tân Biên đã chiếm lĩnh toàn bộ núi Bà Đen và khu vực chung quanh tiến về hướng cầu Lâm Vồ. Ở phía Bắc lực lượng thị xã đã làm chủ Bình Minh, Giồng Cà, phát triển về hướng dốc cây Me; hướng Tây Nam, lực lượng huyện Châu Thành đã làm chủ Thanh Điền, Thái Hiệp Thạnh. Hướng Đông, Tiểu đoàn 26 đã vượt qua khu Thương Binh đang phát triển lên Trảng Dài. Phía Đông Nam, các tiểu đoàn 14, 16, 20, 22, 24 đã chiếm lĩnh toàn bộ huyện Phú Khương, khống chế quốc lộ 22 đoạn ngã ba Giang Tân - Mít Một, đang áp sát thị xã.

Theo lệnh của Sở chỉ huy, các cánh quân đã đồng loạt nổ súng, uy hiếp địch.

Hai mươi phút trôi qua, từ phía tiểu khu địch có tín hiệu Bùi Đức Tài xin gặp chỉ huy Quân giải phóng.

Bên này là đồng chí Năm Nghĩa:

- Thế nào, nói đi, tôi cho anh hay đến nước này anh chỉ có một con đường, nếu không muốn bị cách mạng trừng trị.

Bên kia - giọng Bùi Đức Tài:

- Thưa ông, tôi Bùi Đức Tài - đại tá, tỉnh trưởng đã hạ lệnh cho các chi khu, yếu khu, các tiểu đoàn, đại đội bảo an, lực lượng nghĩa quân, nhân dân tự vệ bỏ súng đầu hàng. Nhân danh tỉnh trưởng tôi tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

- Tốt, nhắc lại: lệnh cho anh 10 giờ 30 phút, anh và các cộng sự phải đến trình diện tại địa điểm như đã quy định.

- Dạ, thưa ông.

Đột nhiên không ai bảo ai, các đồng chí trong Ban chỉ huy chiến dịch đồng loạt đưa tay xem đồng hồ.

Lúc đó là 10 giờ 20 phút.

Chỉ huy trưởng chiến dịch Nguyễn Thanh Dương bước vội đến ôm choàng các chiến sĩ thông tin. Ông ôm hôn thắm thiết đồng chí chiến sĩ thông tin điều khiển máy bộ đàm PRC-25 và nói với mọi người:

- Đây là một kết cục quá tốt, đúng ý định lãnh đạo, chỉ huy, đỡ tổn thất cho nhân dân và bộ đội ta. Cảm ơn các đồng chí thông tin, thật tuyệt vời, các đồng chí đã lập công xuất sắc.

Sự việc diễn ra sau đó là phái đoàn của Tòa hành chính ngụy quyền Tây Ninh do Bùi Đức Tài dẫn đầu trình diện trước Ban chỉ huy chiến dịch giải phóng tỉnh tại trụ sở Long Thành diễn ra đúng 10 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975 như lịch sử đã ghi nhận.

Thời khắc lịch sử hào hùng của quân dân Tây Ninh được quyết định từ cuộc điện đàm lịch sử - một cuộc điện đàm mà các chiến sĩ thông tin liên lạc Tỉnh đội Tây Ninh đã phục vụ đắc lực trên thế của người chiến thắng. Bộ đội thông tin Tây Ninh xứng đáng nhận lời khen của Chỉ huy tỉnh trưởng. Lịch sử ghi nhận chiến công của các đồng chí.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

27.2.25

Lính thông tin tiếp sức

Đại tá Trần Ngọc Cứ - nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 596

Vào bộ đội thông tin qua thời gian huấn luyện ngắn ngày được bổ sung về đơn vị thông tin tiếp sức. Mới nghe bốn chữ "Thông tin tiếp sức" chưa hiểu gì cả, vì lâu nay mới nghe có chạy tiếp sức, bây giờ có loại thông tin tiếp sức, chắc chắn là đơn vị được trang bị mới làm nhiệm vụ thông tin đặc biệt lắm đây. Từ chỗ tự tìm hiểu và được học tập nên dần dần thấy và hiểu rõ trang thiết bị, nhiệm vụ của một đơn vị thông tin tiếp sức, khi triển khai làm nhiệm vụ giống như chạy tiếp sức vậy. Vì cự ly liên lạc xa phải qua nhiều trạm giống như chạy tiếp sức, mỗi người phụ trách một đoạn để chạy về đến đích.

Nhưng chạy tiếp sức khoảng cách từ 100 - 500m, còn thông tin tiếp sức mỗi đoạn từ 40 - 50km, muốn dài hơn nữa thì phải tìm những điểm cao để khắc phục điểm che khuất và hạn chế sóng truyền thẳng tiêu hao. Vì vậy mà những điểm cao ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam đều được cơ quan tổ chức chỉ huy tiếp sức nghiên cứu, khảo sát và xác định vị trí có thể đặt trạm, lắp đặt thiết bị, tổ chức khai thác phục vụ chỉ huy chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, góp phần giành thắng lợi chung trong cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.

Nhiệm vụ gian khổ, hy sinh nhưng rất vinh quang.

Muốn phát huy được thông tin tiếp sức phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu phải trải qua nhiều khâu sau đây:

- Khảo sát thiết kế tổ chức mạng thông tin liên lạc phục chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.

- Xây dựng công trình cố định hoặc dã chiến để bảo đảm các thiết bị làm việc ổn định 24/24 giờ.

- Tổ chức vận chuyển bảo đảm cung cấp xăng, dầu, lương thực, thực phẩm và nước uống từ chân núi lên đến đỉnh núi, thường vận chuyển có điểm từ nửa ngày, một ngày, đặc biệt có điểm phải mất 2 ngày mới lên đến nơi.

Trải qua nhiều khó khăn, gian khổ và hy sinh, nhưng những người lính thông tin tiếp sức đã vượt qua, quyết tâm bảo đảm thông tin chỉ huy thông suốt trong mọi tình huống, góp phần vào thắng lợi chung của quân đội ta trong công cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất Tổ quốc. Ngày nay đang xây dựng đất nước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, những người lính thông tin tiếp sức suy ngẫm lại rất tự hào và càng tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta. Những người lính thông tin tiếp sức đã rời quân ngũ về hưu, nay đã có điều kiện đi tham quan đất nước đang trên đà đổi mới phát triển, tận mắt thấy, tai nghe cuộc sống của nhân dân ta đang từng ngày được cải thiện. Cũng nhờ có cuộc tham quan du lịch này mới có điều kiện đi đến những cao điểm trước đây những người lính thông tin tiếp sức đặt trạm như: Tam Đảo, Yên Tử, Khao Kiên, Bạch Mã, núi Bà Đen, Lang Biang, v.v... Đặc biệt những điểm cao như: Tam Đảo, Yên Tử, núi Bà Đen và Lang Biang bây giờ thành những điểm tham quan du lịch rất quen thuộc. Đặt chân đến các điểm du lịch này càng nhớ lại những ngày gian khổ trước đây, từ mở đường lên đỉnh núi do lính thông tin tiếp sức làm, những nơi có điều kiện thì lấy lực lượng dân công giúp đỡ; bây giờ đến các điểm trên, một số điểm đã có đường cáp treo, phục vụ hàng nghìn khách tham quan lên xuống hàng ngày.

Những người lính thông tin tiếp sức rất tự hào vì mình đã góp phần nhỏ bé vào thắng lợi trong cuộc chiến đấu trước đây và trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay và không bao giờ quên những đồng đội đã anh dũng hy sinh để bảo vệ những cao điểm, để ngày nay trở thành công trình văn hóa mà nhân dân ta được tận hưởng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Thông tin trong Chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" (12-1972)

Văn Mạc

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta kéo dài suốt 21 năm (1954-1975) có thể nói là cực kỳ ác liệt và năm 1972 là năm quân đội Mỹ phải rút thì lại là năm ác liệt nhất ở chiến trường miền Nam cũng như các địa bàn trên miền Bắc.

Bộ đội Phòng không - Không quân là một quân chủng khoa học kỹ thuật hiện đại lại phải đối đầu với đế quốc Mỹ là kẻ thù hung bạo nhất thế kỷ, có tiềm lực khoa học kỹ thuật và giàu nhất hành tinh thời kỳ đó.

Muốn thắng được đế quốc Mỹ thì chúng ta phải có quyết tâm nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, ra sức học tập, có tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu cao.

Với tầm nhìn sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong năm 1968-1969 khi gặp gỡ cán bộ, chiến sĩ bộ đội Phòng không - Không quân, Người đã nói: Chúng ta chỉ có thể giành thắng lợi cuối cùng của cuộc chiến tranh này ngay trên bầu trời Hà Nội.

Mặc dù bị thất bại liên tiếp trên các chiến trường và chịu ngồi vào bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri, tuyên bố đánh phá từ vĩ tuyến 18 trở vào, song chúng vẫn ngang nhiên bội ước đánh phá trở lại Hải Phòng, Hà Nội vào tháng 4 năm 1972. Bộ đội Thông tin Phòng không Không quân đã phục vụ kịp thời, vững chắc cho Quân chủng bắn rơi hàng trăm máy bay của giặc Mỹ, buộc chúng phải ngừng đánh phá miền Bắc vào tháng 4 năm 1972. Do đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố chưa chấp nhận điều kiện tiên quyết của ta ở Hội nghị Pa-ri là: Đất nước Việt Nam là một, quân đội hai bên (ta và ngụy Sài Gòn) theo thế da báo giữ nguyên vị trí đóng quân, Mỹ bỏ hội nghị ra về. Hội nghị bế tắc.

Do đánh giá đúng tình hình và âm mưu của địch; theo sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, của Quân chủng và Phòng Thông tin Quân chủng từ đầu và giữa năm 1972, Trung đoàn Thông tin 26 và các đơn vị thông tin thuộc các sư đoàn không quân, cao xạ, tên lửa, ra-đa đã ra sức học tập, soát xét, củng cố hoàn thiện các phương án tác chiến sẵn sàng đánh trả cuộc tập kích chiến lược lớn trên không của địch.

Từ tháng 6 năm 1972 theo chỉ thị của Quân chủng, Trung đoàn Thông tin đã cử cán bộ kỹ thuật, cán bộ tác huấn đi chuẩn bị 3 sở chỉ huy dự bị cho Sở chỉ huy 18 tại Bạch Mai.

Từ tháng 8 năm 1972 Trung đoàn được lệnh của Quân chủng tổ chức một phiên ban giỏi lên trực sẵn sàng tại Sở chỉ huy dự bị 1 tại K12.

Từ tháng 10 năm 1972 toàn bộ Trung đoàn Thông tin và Sở chỉ huy của Quân chủng chuyển lên Sở chỉ huy dự bị; K12 thành Sở chỉ huy cơ bản sẵn sàng trong tư thế chỉ huy đánh B-52 với quyết tâm bảo vệ bầu trời Hà Nội.

Trong giai đoạn làm công tác chuẩn bị đánh B-52, ngành thông tin đã khẩn trương làm các việc sau:

- Quán triệt tình hình nhiệm vụ, xây dựng ý chí quyết tâm, chuẩn bị mọi mặt để bước vào một cuộc đọ sức "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".

- Tổ chức soát xét, hoàn thiện các phương án tác chiến theo sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Thông tin, Phòng Thông tin Quân chủng về các biện pháp bảo đảm thông tin trong mọi tình huống chiến đấu đánh B-52.

- Thay thế các phương tiện theo các tình huống đánh phá và gây nhiễu của kẻ địch. Tổ chức bảo đảm vu hồi các phương tiện một cách linh hoạt và chặt chẽ.

- Tổ chức các mạng thông tin dự bị, các kênh liên lạc của Bộ Quốc phòng và của Nhà nước để lúc tác chiến quyết liệt có thể tận dụng.

- Tổ chức sửa chữa phục hồi các loại khí tài để trong chiến đấu có được lực lượng dồi dào.

- Tăng cường các biện pháp ngụy trang khu vực Sở chỉ huy và các cụm điện đài, giáo dục ý thức bí mật trên sóng.

- Phối hợp, hiệp đồng với cơ quan tác chiến của Quân chủng, Binh chủng Ra-đa. Luyện tập theo phương án tác chiến, kíp trực ban từ Sở chỉ huy Quân chủng đến các đơn vị chiến đấu thuộc Bộ đội Phòng không - Không quân và các cơ quan quân sự địa phương.

Do chủ động và có các phương án tác chiến chu đáo thông tin đã bảo đảm vững chắc trong suốt 12 ngày đêm B-52 đánh phá ác liệt, giúp cho Quân chủng chỉ huy đánh thắng B-52 trên bầu trời miền Bắc, chủ yếu trên bầu trời Hà Nội.

10 giờ 30 phút ngày 17 tháng 12 năm 1972 qua hệ thống thông tin vô tuyến điện, hữu tuyến điện, tiếp sức, Bộ Tư lệnh Quân chủng ra lệnh cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu cao nhất. 17 giờ 30 phút ngày 18 tháng 12 năm 1972 tất cả các cán bộ, chiến sĩ của phiên ban 17 giờ - 21 giờ đã có mặt đầy đủ tại Sở chỉ huy, bước vào phục vụ chiến đấu với tư thế nghiêm chỉnh nhất. Từ 19 giờ 10 phút, Bộ Tư lệnh xác định đối tượng tác chiến của không quân địch là B-52; Qua hệ thống thông tin nhanh chóng ra lệnh cho toàn Quân chủng bước vào chiến đấu theo phương án đã định. Mặc dù cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt, mỗi đêm địch dùng từ 300-400 lần chiếc máy bay các loại trong đó khoảng gần 100 lần/chiếc máy bay B-52 đánh 3 đợt vào các sân bay Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hòa Lạc, Yên Bái và các khu vực Hà Nội, Hải Phòng vào các trận địa tên lửa, cao xạ của ta.

Sự quyết tâm của các cán bộ và chiến sĩ thông tin thể hiện từ Sở chỉ huy Quân chủng tới các Sở chỉ huy cấp sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn không quân, cao xạ, tên lửa trong khói lửa mịt mù vẫn bảo đảm vững chắc không có phương tiện nào để ảnh hưởng tới chỉ huy. Hữu tuyến điện bị địch đánh phá hỏng. Trong lúc đang khắc phục hướng này đã có hướng kia vu hồi; lại có vô tuyến điện, tiếp sức thay thế. Tiếp sức sóng mét bị B-52 phá nhiễu, đã kịp thời chuyển sang khối decimét thay thế. Cán bộ thông tin trực ban tại Sở chỉ huy luôn nắm chắc nhiệm vụ, xử trí kịp thời các tình huống. Nếu trường hợp nào khó xử lý thì cơ quan tác chiến của tham mưu Trung đoàn Sở chỉ huy hướng dẫn kịp thời. Như lúc 15 giờ 00 ngày 19 tháng 12 năm 1972 Sở chỉ huy của Sư đoàn 361 xin cắt liên lạc để di chuyển lên Sở chỉ huy dự bị, 1 đồng chí tham mưu phó Quân chủng trực ban chỉ huy tại Sở chỉ huy Quân chủng đã đồng ý, song đồng chí Trưởng tiểu ban tác huấn của Trung đoàn 26 đã kịp thời can thiệp, đề xuất ý kiến: Để đảm bảo chỉ huy tác chiến liên tục chỉ cho phép cắt liên lạc khi tất cả các mạng trên Sở chỉ huy dự bị của sư đoàn đã liên lạc tốt với Sở chỉ huy của Quân chủng.

Để Bộ Tư lệnh Quân chủng và cán bộ sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội của bộ đội cao xạ, tên lửa, không quân, ra-đa nắm chắc địch, hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của mình trên phạm vi toàn quốc và khu vực trung tâm của chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ thông tin đã không quản hy sinh, mệt nhọc phục vụ kịp thời vững chắc suốt trong chiến dịch 12 ngày đêm bảo đảm cho cán bộ các cấp trong Quân chủng chỉ đạo, chỉ huy chiến đấu. Xin nêu một số tình huống điển hình như sau:

Do nhận định tình hình và âm mưu địch, 10 giờ 30 phút ngày 17 tháng 12 năm 1972 Bộ Tư lệnh Quân chủng đã chỉ thị cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu cao nhất.

Ngày 18 tháng 12 năm 1972 tất cả các nhân viên thông tin các loại đã vào vị trí sẵn sàng chiến đấu.

Vào 19 giờ 10 phút chiến sĩ báo vụ tiêu đồ Nguyễn Quốc Hân ở tổng trạm ra-đa đánh dấu lên bảng tiêu đồ tốp máy bay B-52 đầu tiên do C45 của Trung đoàn ra-đa 291 (E291) ở Nghệ An báo về là chúng đang bay vào bầu trời Tây Bắc nước ta.

Ngay sau khi xác định đúng là B-52, Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân đã kịp thời ra lệnh cho các đơn vị đánh địch theo phương án tác chiến đã định. Cũng từ giờ phút đó các chiến sĩ thông tin của tất cả các đơn vị trong Quân chủng tập trung cao độ, truyền đạt mọi mệnh lệnh của cấp trên xuống các đơn vị bảo đảm cho mọi binh lực của Quân chủng bước vào chiến đấu.

19 giờ 44 phút Tiểu đoàn 78 của Trung đoàn tên lửa 257 phóng 2 quả đạn đầu tiên đánh B-52.

20 giờ 13 phút Tiểu đoàn 59 của Trung đoàn tên lửa 257 phóng 2 quả đạn bắn rơi 2 chiếc B-52 đầu tiên tại Đông Anh.

Được tin vui, các chiến sĩ thông tin của toàn quân chủng vô cùng phấn khởi, tập trung toàn lực phục vụ cho Quân chủng chỉ huy đánh trả quyết liệt các đợt tấn công của địch trong từng đêm và cả đợt 12 ngày đêm.

Có thể nói chiến công của Quân chủng Phòng không - Không quân trong 12 ngày đêm đánh thắng không quân Mỹ trên bầu trời Hà Nội, trên bầu trời miền Bắc là một chiến thắng vĩ đại. Chúng ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại trong đó có 34 chiếc máy bay B-52 (có 16 chiếc B-52 rơi tại chỗ).

Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, cam kết rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Trong chiến thắng to lớn đó, bộ đội thông tin của Quân chủng Phòng không - Không quân đã góp phần xứng đáng.

40 năm đã trôi qua, mỗi lần ôn lại chiến thắng không quân Mỹ trên bầu trời Hà Nội, cán bộ, chiến sĩ thông tin của Phòng không - Không quân chúng tôi dù đã về hậu phương hay đang công tác tại chức đều rất lấy làm vinh dự, tự hào.

Nhân kỷ niệm 65 năm thành lập Binh chủng Thông tin Anh hùng (9/9/1945 – 9/9/2010), cán bộ, chiến sĩ thông tin Quân chủng Phòng không - Không quân nguyện phấn đấu không ngừng để xây dựng quân đội tiến lên chính quy hiện đại, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, góp phần xây dựng đất nước ta ngày càng to đẹp hơn, đàng hoàng hơn như Bác Hồ từng mong đợi!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

26.2.25

Quê hương và đường Trường Sơn trong ký ức của tôi ngày 30 tháng 4 năm 1975

Trần Hữu Đạo

Chiều và đêm 30 tháng 4 cả thành phố Nha Trang như một ngày hội lớn. Cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ xanh của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam tung bay rợp trời trên các nhà cao tầng và mọi phố phường. Nhân dân hân hoan chào mừng ngày cách mạng toàn thắng.

Tôi và một số anh em cơ quan được may mắn hòa trong không khí chiến thắng cùng dòng người đông như nêm trên dọc các đường phố chính vừa đi vừa reo hò, ca hát vang động cả đất trời. Nhiều người tự phát hộ các khẩu hiệu "Cách mạng muôn năm, muôn năm! Hoan hô quân giải phóng!"... cứ thế kéo dài cho đến đêm khuya.

Vào bưu điện thành phố, tôi gửi lá thư ngắn về quê báo tin cho gia đình biết. Ít lâu sau về thăm gia đình tôi được nghe kể lại: Nhận được thư của tôi cả nhà mừng lắm, bố, mẹ, vợ, con tôi vui sướng quá ai cũng òa lên khóc, khóc mừng vì đất nước được hòa bình, con mình còn sống sẽ trở về. Đúng là nước mắt dành cho ngày chiến thắng, dành cho ngày vui đoàn tụ sau hàng chục năm khắc khoải đợi chờ!

Cuối năm 1965 tôi chia tay gia đình vào tuyến, khi đó vợ tôi đang mang thai đứa con đầu lòng. Biết đi Nam chiến đấu là vào nơi gian khổ ác liệt, trực tiếp đối mặt với quân thù, ra đi ít có hy vọng trở về. Sáng sớm hôm tiễn tôi lên đường ra ga Từ Sơn đi tàu Hà Nội để nhập đoàn vào miền Nam, vợ tôi xách chiếc đèn bão đưa tôi đến cổng làng, bịn rịn phút chia ly không ai nói nên lời. Tôi đi xa hàng cây số, nhìn về vẫn thấy ánh đèn còn đó, có lẽ chờ cho khi khuất bóng vợ tôi mới trở về nhà.

Hình ảnh quê hương, những người thân yêu cùng bao nhiêu những kỷ niệm vui buồn, sống chết trong suốt 10 năm liền ở Trường Sơn cứ đan xen trong tâm trí tôi theo từng bước chân đi sống động bùi ngùi trong ngày lịch sử trọng đại đáng ghi nhớ này.

"Ngày mà cả đời người mới có một lần, thậm chí cả nhiều đời mới có một lần" như lời đồng chí Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh đã nói sau giờ phút toàn thắng với các đồng chí cán bộ, chiến sĩ trong Bộ Tư lệnh chiến dịch mà Đài tiếng nói Việt Nam, vô tuyến truyền hình, báo chí đã dẫn và nói nhiều lần mỗi khi vào dịp kỷ niệm ngày 30 tháng 4!

Đêm 30 tháng 4 năm 1975 ở Đồng Đế ít ai ngủ được, mọi người như đều mong trời chóng sáng để được chia sẻ cùng nhau niềm hân hoan chiến thắng.

Trong sự im lặng của bầu trời thanh bình đầy sao và sóng biển rì rào của thành phố biển Nha Trang, tôi bồi hồi nghĩ về Trường Sơn.

Hình ảnh những ngày đầu được theo đơn vị đặt chân đến Trường Sơn, ngỡ ngàng trước núi rừng trùng điệp hoang sơ. Rồi những năm tháng cùng đồng đội lặn lội men theo các tuyến đường ô tô vận tải, vượt đèo lội suối băng sông để khảo sát và mắc dây thông tin, đặt máy liên lạc, cảnh mưa ngàn, suối lũ, nắng hạ, đói cơm, nhạt muối, sốt rét, bom rơi, đạn nổ, hy sinh tổn thất và thông tin thông suốt... cứ diễn ra liên tục nối tiếp nhau trong từng ngày, cả tháng, suốt năm tưởng như không

chấm dứt.

Sâu sắc và lắng đọng hơn cả là những ngày đầu bỡ ngỡ mắc dây trần, những ngày tôi được giao nhiệm vụ đi tổ chức bảo đảm thông tin ở trọng điểm Cốc Mạc - Văng Mu, Cua Chữ A, ngầm Tà Lê - đèo Phu La Nhích, ở Mặt trận tây Trị Thiên, A Sầu - A Lưới, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào... Đó là những nơi đã diễn ra giao tranh ác liệt giữa chiến tranh ngăn chặn và chống ngăn chặn. Bom đạn địch giội xuống hòng phá đường, phá kho liên tục suốt đêm ngày. Mặt đất có lúc chao đảo như đưa võng, núi rừng bị cày xới, đào lên lấp xuống tưởng như sự sống con người không thể nào tồn tại được. Nhưng cũng chính nơi đây bộ đội thông tin Trường Sơn cùng các binh chủng bạn đã làm nên sự tích anh hùng, người này mất, người khác thay thế bám trụ đến cùng giữ vững thông tin liên lạc bảo đảm chỉ huy hiệp đồng chiến đấu chiến thắng quân địch, khơi thông trọng điểm cho nườm nượp đoàn xe ra trận!

Hình ảnh đồng chí Nho, chiến sĩ khảo sát bị trúng mảnh bom lòi ruột ở rừng trong đêm tối, đồng chí Trương Công Bào bị bom cướp đi mất một chân khi đang chỉ huy bộ đội mắc dây, cơ vụ B16 cùng một lúc 13 người bị bom xé nát xương thịt không ai còn nguyên vẹn. Chiến sĩ gái tổng đài 3000 Lương Thị Chúc trên đường khôi phục dây bị trúng bom hy sinh vào lúc tuổi đẹp nhất của cuộc đời. Cả Ban thông tin và tổng đài Sư đoàn 473 bị máy bay B-52 cướp đi sự sống trong lúc đang làm nhiệm vụ. Rồi trường hợp phũ phàng, trên đường ra Hà Nội xe bị rệ đổ, chết vì ngạt bùn nước của đồng chí Vũ Duy Chính và 2 đồng chí cùng đi... Và hàng trăm các tấm gương hy sinh kiên cường, anh dũng khác tôi được chứng kiến còn thấm đậm trong tâm trí tôi.

Ngay trong những năm cuối của chiến tranh, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã tổ chức xây dựng nghĩa trang Trường Sơn. Với hơn một vạn mộ liệt sĩ được quy tập về lần đầu trong đó có hàng trăm liệt sĩ thông tin. Còn hàng vạn đồng chí, đồng đội khác vẫn còn nằm đâu đó, mà thời gian cứ trôi qua, có thể đã không còn mà đưa họ về quê hương đất mẹ. Máu xương của họ hòa tan vào cỏ cây, đất đá, sông suối, mây trời của Tổ quốc là điều khôn nguôi của những người còn sống.

Núi rừng Trường Sơn tôi đã sống, chiến đấu và công tác hàng chục năm gian khổ, ác liệt, đã có biết bao kỷ niệm không thể nào quên. Mọi việc sẽ theo năm tháng lùi sâu vào dĩ vãng, cuộc sống đang từng ngày đổi thay, nhưng Trường Sơn ngày ấy và đồng đội của tôi nằm lại ở đó là thiêng liêng và bất tử.

Nhà báo Mỹ quốc Jacquees C. Despuech đã thường trú ở Việt Nam suốt thời gian chiến tranh viết:

"Đường Hồ Chí Minh ấy - mạng đường ra trận dày đặc, dài hàng chục ngàn cây số, luôn luôn bị trọng pháo và bom phá, tạo thành những túi lửa khổng lồ suốt đêm ngày.

Vậy mà nó vẫn cứ như mạng nhện muôn ngả, thật sự thành công cụ trọng yếu duy nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam".

"Nếu đem các con đường từng coi là huyền thoại trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, như con đường voi đi vượt qua dãy núi Anpơ (Alps) của danh tướng Hannibal Barca, hay con đường chuyển trọng pháo qua đèo Grand-Saint-Bernard của Hoàng đế Napoléon, đặt bên đường Hồ Chí Minh thì chúng đều kém cỏi quá xa.

"Vì đường Hồ Chí Minh không chỉ là vật thể mà còn là con đường tâm linh, con đường dân tộc... nên nó có sức sống thật vô cùng kỳ diệu".

Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh vĩnh viễn đọng lại trong lịch sử như "Một trong những thành công kiệt xuất của đường lối chính trị và quân sự của Đảng ta" như "một chiến công chói lọi trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ của dân tộc" như một thiên anh hùng ca bất tử của nhân dân ta, tiếp thêm sức mạnh cho mọi thế hệ bảo vệ và xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa với mục tiêu như Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra là: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

25.2.25

Đào tạo cơ công sơ cấp tại chiến trường

Võ Thành Tạo

Trường Thông tin Miền có nhiệm vụ đào tạo nhân viên kỹ thuật cho chiến trường B2. Huấn luyện trong điều kiện không có tài liệu, không có mô hình học cụ và phương tiện, giáo viên thiếu. Vì vậy, việc đào tạo báo vụ đã là khó khăn thì việc đào tạo cơ công sơ cấp lại càng khó khăn gấp bội.

Với yêu cầu trong thời gian 6 tháng phải đào tạo cơ công sơ cấp có tay nghề sửa chữa độc lập được các máy vô tuyến điện, hữu tuyến điện... của các nước xã hội chủ nghĩa và chiến lợi phẩm thu được của quân đội Mỹ. Trong lúc đó đội ngũ giáo viên của Nhà trường kiêm nhiệm, Ban chỉ huy Đại đội kiêm giảng dạy. Lúc đầu chỉ có các đồng chí Lê Sĩ Tuấn, Hồ Hành, sau bổ sung thêm đồng chí Võ Thành Tạo đều là cơ công trung cấp, đào tạo ra cơ công sơ cấp.

Do yêu cầu xây dựng lực lượng, Nhà trường đã khắc phục khó khăn, đề cao tinh thần tự lực, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm trong giảng dạy, không ngồi chờ, ỷ lại vào cấp trên. Nhà trường từng bước vừa chuẩn bị giáo án giảng dạy lý thuyết, vừa làm mô hình học cụ.

Để không dạy lý thuyết suông, giáo viên mày mò nghiên cứu tận dụng những dụng cụ, linh kiện khí tài hiện có, để làm ra các mô hình, dụng cụ thí nghiệm để giảng dạy.

Khi dạy về điện tử, để nhận biết từ trường do dòng điện tạo ra, không có kim nam châm thì dùng kim la bàn để nhận biết, hoặc dùng thí nghiệm đặt hai dây dẫn điện gần nhau, và cho hai dòng điện chạy qua sẽ xuất hiện lực hút hay đẩy lên hai dây dẫn điện. Như vậy xung quanh hai dây dẫn mang dòng điện có tồn tại một dạng năng lượng gọi là từ trường. Hoặc khi học, lực tác dụng của từ trường lên dây dẫn có dòng điện mà không có nam châm hình chữ U, giáo viên dùng nam châm của khung đồng hồ đo điện để thay thế. Khi học về tụ điện và sự phóng nạp của tụ điện phụ thuộc vào trị số lớn nhỏ của điện dung nạp rồi cho phóng qua ôm-kế có trị số lớn qua bóng đèn thấy sáng hoặc cho nẹt lửa qua chập mạch. Khi học về cảm ứng từ và ứng dụng của nó cho máy phát điện, động cơ điện thì dùng bộ phận phát điện quay tay của máy điện thoại hoặc mô-tơ trong máy cát-sét. Khi học về mạch cộng hưởng, mạch ghép thì ráp mạch điện trên táp-lô, dùng năng lượng đầu ra của máy phát điện vô tuyến điện đang làm việc làm nguồn cung cấp. Khi thay đổi trị số của tụ điện và cuộn dây của mạch, thì bóng đèn báo sáng có độ sáng thay đổi, nếu sáng nhất thì mạch đã cộng hưởng và ngược lại...

Sau khi học xong lý thuyết về điện, nguyên lý vô tuyến điện, nguyên lý cấu tạo của các loại máy thông tin thực hành sửa chữa trên máy. Công tác bảo đảm khí tài, phương tiện, máy thực tập hết sức quan trọng có tính quyết định. Nhưng số máy dùng để thực tập cũng không đủ, phải xin những máy hư hỏng từ các đơn vị về để vừa học vừa sửa chữa, vừa phục hồi cho các máy hư.

Hầu hết các chủng loại máy không có sơ đồ nguyên lý, giáo viên phải dò mạch, lập hồ sơ và vẽ to để học viên học. Số lượng từng loại máy rất ít không đủ để thực tập cùng một lúc. Nên sau khi lên lớp xong phần nguyên lý cấu tạo máy, học viên được chia ra thành nhiều tổ cho từng loại máy để thực tập. Như vậy số học viên thực tập trên một máy cũng giảm xuống, thời gian sửa chữa cho học viên tăng lên. Nhưng giáo viên phải đảm trách cùng một lúc nhiều loại máy nên khá vất vả: vừa theo dõi hướng dẫn, vừa tạo ra hư hỏng trên máy để học viên tập sửa chữa máy, học viên không được sửa mò có tính chất may rủi. Mà phải lập đề cương sửa chữa, ghi lại hiện tượng mình phát hiện được bằng quan sát, tai nghe, bằng các trị số như: ôm, vôn, dòng điện... rồi vận dụng lý thuyết học được để phán đoán tìm ra hư hỏng.

Với tinh thần sáng tạo trong huấn luyện của giáo viên, với tinh thần tích cực miệt mài say sưa trong học tập của học viên, kết quả mỗi khóa đào tạo được từ 50-60 cơ công sơ cấp. Quá trình đào tạo của Nhà trường đã đào tạo được 1.205 cơ công sơ cấp, cung cấp kịp thời cho các đơn vị, góp phần vào việc bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ huy chỉ đạo thông suốt.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Đào tạo báo vụ cho bạn Campuchia

Lê Hoàng Anh

Khoảng đầu tháng 7 năm 1972, Trường Thông tin Miền được chuyển sang sóc Ô Cà Mon thuộc tỉnh Công Pông Chàm. Khu vực đóng quân nằm sâu trong bìa rừng. Trước yêu cầu của Ban, Nhà trường giao cho đồng chí Lê Hoàng Anh phụ trách đào tạo giúp bạn một phân đội báo vụ với quân số 31 học viên. Người Campuchia trình độ văn hóa thấp lại không biết tiếng Việt. Thầy giáo mới bập bẹ một số từ ăn, uống, sinh hoạt hàng ngày trong đời sống của bạn Campuchia, vừa đảm trách khung kiêm giáo viên huấn luyện cho học viên người Campuchia để trở thành những chiến sĩ báo vụ phục vụ chỉ huy cho bạn.

Trước mọi khó khăn, nhất là ngôn ngữ bất đồng, tôi báo cáo với nhà trường xin một sĩ quan của bạn, là thiếu úy Xà Rươn đã tốt nghiệp khóa đào tạo sĩ quan bộ binh ở Hà Nội, về cùng phụ trách phân đội và làm phiên dịch. Nhưng ngặt một nỗi Xà Rươn thạo tiếng Việt và Cam-pu-chia nhưng không biết chữ và từ ngữ chuyên môn như "tịch", "tà" là gì (tịch là chấm; tà là gạch dài). Thế là tôi phải nghiên cứu ngày đêm nhờ Xà Rươn phiên âm lại các từ chuyên môn. Bắt đầu huấn luyện đầu tháng 6 năm 1972.

Nhờ quyết tâm và nêu cao trách nhiệm, vừa nghiên cứu vừa rút kinh nghiệm, vừa học tập tiếng vừa huấn luyện từng bước. Quá trình huấn luyện các từ và ngôn ngữ của bạn đã ứng dụng vào việc giảng dạy, lý thuyết và thực hành, động tác của người báo vụ tại hội trường. Cứ hàng đêm một sĩ quan Campuchia và một sĩ quan Việt Nam, hai chiếc võng cạnh nhau, và cũng là lúc tiếng mẹ đẻ và tiếng Campuchia được trao đổi qua lại. Sau hơn hai tháng vừa học tập vừa huấn luyện, cho đến ngày thông báo cự ly dài. Kết thúc ra trường vào cuối tháng 8 năm 1972. Kết quả: giỏi 7/31, khá 17/31, đạt 7/31.

Hơn 2 tháng làm đào tạo báo vụ cho bạn trên đất Campuchia đã lưu lại những kỷ niệm khó quên. Một hôm lên hội trường, anh em ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh chào thầy giảng bài. Tôi tự tin bước lên bục, sau một loạt tiếng Campuchia như: "Chào các bạn!", "Chào các đồng chí!"... tôi lại nói: "chấp cà-pa" (nghĩa là bắt cái đầu), lý ra phải nói: "chấp-pà-đam-ring-sốt" (nghĩa là bắt đầu học tập). Thế là được mấy phút cười vỡ bụng giữa thầy và trò tại khu rừng Ô Cà Mon, mang theo nhiều kỷ niệm.

Kết thúc khóa học, chúng tôi tiễn bạn lên đường. Bạn tặng lại cho nhà trường một radio Hitachi và 5 chiếc xà rông.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Một trận đánh lẫy lừng của Phòng Thông tin B2

Đại tá Lưu Anh Tuấn (ghi theo lời kể của đồng chí Trần Văn Phúc)

Năm1967 đế quốc Mỹ mở trận càn Gianxơn Xity (Junction City) nhằm mục đích tiêu diệt cơ quan đầu não của ta và chặn đường liên lạc của Trung ương Cục miền Nam sang Campuchia. Từ 22 tháng 2 năm 1967, lữ đoàn dù 173 Mỹ đổ quân xuống Bắc Cà Tum, dọc lộ biên giới Việt Nam - Campuchia, dùng máy bay C130, máy bay lên thẳng chở quân, súng đạn, lương thực đổ xuống nơi này.

Phía ta, vì là các cơ quan Trung ương Cục nên lực lượng trực tiếp chiến đấu rất mỏng, chỉ có các loại vũ khí cầm tay, do đó tất cả các cơ quan, đơn vị binh chủng cũng đều phải tổ chức các phương án tác chiến. Cơ quan thông tin gồm có 19 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Trần Phác chỉ huy, đồng chí Nguyễn Trọng Liễu làm chính trị viên. Phác bố trí đơn vị thành 3 tiểu đội, phục kích trên con đường địch có thể tấn công vào cơ quan thông tin. Mìn định hướng được đặt sẵn ở các vị trí đón đường. Biết rằng địch có lực lượng rất đông và hỏa lực gồm cả phi pháo rất mạnh, nên Phác chọn phương án tác chiến đánh thật gần, chờ khi địch vào trong khu vực hiệu quả của trận địa mìn định hướng, chỉ cách ta vài chục mét mới được nổ súng. Chiến sĩ cảnh giới phụ trách trận địa mìn định hướng và đơn vị lấy tiếng mìn nổ làm hiệu lệnh chiến đấu.

Khoảng 11 giờ trưa ngày 3 tháng 3 năm 1967, một đại đội thuộc lữ dù 173 Mỹ được biệt kích dẫn đường từ trảng Tà Péc tiến vào trận địa phục kích của ta. Hai chiến sĩ cảnh giới là Trung và Mười đợi địch vào đúng như dự kiến, cho mìn định hướng nổ tiêu diệt tốp lính Mỹ đi đầu. Nghe tiếng mìn hiệu lệnh, cả đơn vị nhanh chóng vào vị trí chiến đấu.

Tiểu đội 1 do đồng chí Hùng và Đạt phụ trách, Tiểu đội 2 do đồng chí Quý và Tạo phụ trách, hai tiểu đội này chịu trách nhiệm phía trước. Tiểu đội 3 do đồng chí Trung và Hòa phụ trách làm đội dự bị và bảo vệ hai bên sườn. Trong vài phút, các tiểu đội đã chiếm lĩnh vị trí chiến đấu. Tiếng AK vang lên quyết liệt. Trận quyết chiến giữa 1 đại đội lính dù Mỹ với 19 chiến sĩ thông tin bắt đầu.

Địch ỷ có hỏa lực mạnh, la ó xua quân lên rất đông. Chiến sĩ ta lợi dụng gò mối, gốc cây chặn đánh địch quyết liệt. Trận đánh diễn ra chừng 5 phút, bên ta chưa có ai bị thương, địch mới chỉ chết khoảng vài chục tên. Phác nhận ra rằng: do chiến sĩ ta không phải là bộ binh nên hiệu quả xạ kích chưa cao. Phác quyết định đưa đội hình chiến đấu của đơn vị sát địch hơn nữa, cách địch chừng 10m. Với khoảng cách này, chiến sĩ ta chỉ cần kẹp nách súng AK mà quạt cũng trúng đích, hỏa lực của ta được phát huy tối đa, áp đảo tinh thần quân địch, khiến chúng khiếp vía kinh hồn.

Đội hình phía trước có các đồng chí Đạt, Hùng, Tạo Sanh, Quý... do chính trị viên Liễu chỉ huy, bám đuổi sát ngay chân địch, không cần dựa vào chướng ngại vật, các anh cứ vươn thẳng người mà điểm xạ, diệt hết tên này đến tên khác, xác địch đổ xuống ngổn ngang, bọn còn sống sót cuống quýt dẫm đạp lên nhau mà không chạy nổi...

Chợt Phác phát hiện có một tên mang bộ đàm ngay trước mặt, cách độ 8m và mấy tên địch lố nhố, một ý nghĩ lóe lên rất nhanh: "Bọn chỉ huy đây rồi", lập tức Phác dùng lựu đạn tiêu diệt gọn bọn này. Chỉ huy và lính thông tin địch bị tiêu diệt, tin ấy động viên đơn vị phấn chấn hẳn lên. Là chiến sĩ thông tin ai cũng thấy sự quan trọng của phương tiện thông tin nên gần như mọi người cùng reo lên một lúc: "chiếm máy!", "chiếm máy!". Nhưng không đơn giản, địch cũng tức khắc nhận ra nguy cơ của việc mất thông tin, nên chỉ trong vòng ít phút, chúng đã tổ chức phản công tới 2-3 lần, cố sống, cố chết lấy lại chiếc máy đó. Hai bên giành giật quyết liệt; qua nửa giờ chiến đấu, lính ta đã quen nên hỏa lực súng trường, tiểu liên, trung liên bắn rất tập trung, hiệu quả sát thương địch rất lớn, ghìm địch xuống, làm cho chúng không thể xông lên được. Tuy vậy địch chưa từ bỏ ý định chiếm lại máy, chúng chấn chỉnh đội hình và tiếp tục tổ chức tấn công đợt mới.

"Phải làm tan rã đội hình địch, làm cho chúng không thể tổ chức tấn công được". Muốn thế phải tổ chức lực lượng đánh vào phía sau lưng địch, tạo ra một yếu tố bất ngờ. Sau khi hạ quyết tâm chiến đấu, Phác lệnh cho các đồng chí Tài và Đạt, hai xạ thủ giỏi của đơn vị làm nhiệm vụ này. Không phụ lòng tin cậy, hai đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, khéo léo bí mật vòng ra phía sau lưng địch nhả đạn. Bị bất ngờ, hơn hai chục tên địch ngã gục trước họng súng của hai anh. Bị đánh phía trước, bị đánh phía sau, đội hình tấn công của địch vỡ hẳn, số sống sót tháo chạy vào rừng. Trên trận địa súng bộ binh tạm thời im tiếng. Pháo địch cùng các loại máy bay tập trung oanh tạc dữ dội vào trận địa của ta.

Một lát sau khi ngừng hỏa lực, địch tổ chức lại lực lượng, mở đợt tấn công mới, lần này chúng tăng cường cả đại liên và M79, nhưng khẩu đại liên vừa "nho nhe" được ít phút đã bị ta tiêu diệt ngay. Tấn công thất bại, không còn cách nào khác, những tên sống sót đã ném lựu đạn màu phân tuyến rồi rút về phía sau.

Không để chúng phân tuyến, các chiến sĩ ta tràn lên truy kích. Với cách đánh quyết liệt, truy kích địch đến cùng như vậy, tinh thần địch tan vỡ hẳn, số sống sót không dám chống đỡ, lẩn trốn vào rừng. Sau hai giờ, đợt chiến đấu thứ nhất kết thúc, ta có hai đồng chí bị thương nhẹ, kiểm soát hoàn toàn trận địa, tiêu diệt gần 100 tên Mỹ, thu được máy thông tin PRC-25, đại liên, M79, cùng nhiều vũ khí, quân trang quân dụng khác. Ở hầm chỉ huy, trong lúc y tá Hành băng bó cho thương binh, tập thể chỉ huy sơ bộ đánh giá kết quả trận đánh, nhận định về khả năng, hành động tiếp theo của địch, bàn về các biện pháp đối phó và công tác bảo đảm cho cuộc chiến đấu tiếp theo.

Khoảng 15 giờ, sau nhiều lần dùng phi pháo trút bom đạn xuống trận địa nhỏ bé chưa đầy một kilômét vuông của ta, địch tưởng quân ta hoặc bị tiêu diệt hoặc phải rút lui nên chúng dùng máy bay lên thẳng đổ một đại đội lính Mỹ khác xuống trận địa. Hướng tấn công chủ yếu của địch nhằm vào trận địa của Tiểu đội 1 và một phần trận địa của Tiểu đội 3 (dự bị). Các chiến sĩ Tiểu đội 1 đã trải qua chiến đấu đợt 1 khá mệt mỏi và đạn cũng đã cạn, nhưng với tinh thần dũng cảm tuyệt vời, mưu trí linh hoạt, chiến sĩ ta dựa vào công sự vững chắc, đánh lui tất cả các đợt tấn công của địch.

Tấn công theo đội hình hàng ngang không được, địch thay đổi chiến thuật tập trung binh hỏa lực thành mũi nhọn hòng chọc thủng trận địa của ta. Nhưng đội hình tập trung của địch lại là miếng mồi ngon cho B40; đồng chí xạ thủ B40 của đơn vị đã bắn một quả vào đúng đội hình của địch, làm hàng chục tên tan xác, bọn sống sót đang kinh hồn bạt vía, khói B40 ta chưa tan hết thì pháo binh của Mỹ lại trùm lên sau đội hình của chúng. Hàng loạt pháo bắn "nhầm" này của địch đã góp phần đập tan hoàn toàn ý chí tấn công của địch, lực lượng còn lại tháo chạy về phía sau, để lại 30 xác lính Mỹ của đại đội lính dù Mỹ thứ hai, chấm dứt hoàn toàn các đợt tấn công của chúng. Khoảng 17 giờ 30 phút, theo lệnh trên, đơn vị của Phác rút ra khỏi khu vực tác chiến một cách an toàn.

Kết quả trận đánh, 19 cán bộ, chiến sĩ thông tin đã diệt gọn một đại đội lính dù Mỹ và đánh tan một đại đội khác thuộc lữ đoàn 173 của Mỹ, giết chết 153 tên Mỹ, vũ khí thu được: 1 máy vô tuyến điện PRC-25, 1 đại liên, 1 M79 và nhiều tiểu liên AR-15.

Về phía ta, 2 đồng chí hy sinh, 6 đồng chí bị thương - trong số bị thương có Phác. Trận chiến đấu này, đơn vị được tặng 8 Huân chương Chiến công (trong đó có 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất cho đơn vị, 2 Huân chương Chiến công hạng Hai, 5 Huân chương Chiến công hạng Ba) và nhiều bằng khen, giấy khen cho cá nhân.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

24.2.25

Kỷ niệm thời kỳ vào B2

Thiếu tướng Nguyễn Diệp - nguyên Trưởng ban Khoa học quân sự Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc

Đầu tháng 8 năm 1971, sau khi tổng kết kinh nghiệm tổ chức và đảm bảo thông tin liên lạc trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, tôi được Bộ Tư lệnh Thông tin cử vào chiến trường B2 để phổ biến kinh nghiệm về tổ chức và sử dụng phương tiện thông tin trong các chiến dịch quy mô lớn và các trận đánh hiệp đồng quân binh chủng.

Cùng đi với tôi có đồng chí Phạm Mạnh Tường - cán bộ Trung đoàn 205 thông tin, một cán bộ trưởng thành từ báo vụ viên nên có kinh nghiệm về tổ chức khai thác phương tiện vô tuyến điện. Chúng tôi đem theo gần 20kg tài liệu để phổ biến cho các đơn vị nên được Bộ Tư lệnh cử một chiến sĩ (anh Lôi) mang tài liệu vì ba lô đựng tư trang, thuốc men, lương thực dự trữ của từng người đã nặng hơn 20kg, chưa kể còn đeo bao gạo 3 - 5kg ở thắt lưng...

Từ Hà Nội, chúng tôi được xe quân bưu đưa vào Quảng Bình, đến trạm giao liên "cửa rừng" để vượt Trường Sơn bằng đường bộ tuy vất vả nhưng an toàn hơn đi đường giao liên cơ giới.

Với quyết tâm phải đến B2 trước khi ta mở đợt tiến công chiến lược Xuân 1972 để kịp mở lớp tập huấn cho cán bộ thông tin B2 nên mỗi ngày chúng tôi cố đi một chặng khoảng 25km đường đèo dốc, có lúc còn "vượt chặng" nếu đường đi ít dốc cao và trời còn sớm.

Sau khi vượt qua Đường 9 bắt đầu gặp khó khăn về lương thực vì các kho dự trữ bị sử dụng gần hết trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào nên mỗi ngày chỉ được cấp 300g gạo, phải kiếm măng và rau rừng luộc ăn cho đầy dạ dày! Vì ăn uống thiếu thốn nên sức khỏe của mấy anh em đều giảm sút, tôi lại bị rắn độc cắn vào mắt cá chân, may mà kịp thời làm ga-rô và đến Trạm được tiêm, uống thuốc giải độc nên tiếp tục hành quân tuy chân sưng tấy. Khi đến đoạn đường rẽ vào B3 (Tây Nguyên), chúng tôi lần lượt bị sốt rét, đầu tiên là cậu Lôi nên chúng tôi phải chia nhau đeo thêm tài liệu. Sau cậu Lôi, đến lượt tôi cũng bị sốt rét nên đoàn phải vừa hành quân vừa nghỉ sau một vài chặng để chờ tôi1.

Vì sốt ruột, sợ mất liên lạc với nhau, không vào B2 đúng kế hoạch nên ở trạm xá được một tuần tôi xin đi tiếp tuy vẫn còn sốt. Khi gần đến ngã ba Biên Giới, chúng tôi gặp lại nhau và sau khi qua Krachiê (Campuchia) chúng tôi được cấp xe đạp đi cho đỡ mệt. Một hôm vì đang sốt hoa mắt và tay lái không vững nên khi lao dốc không kịp phanh, tôi bị ngã xây xát cả người. Cuối cùng, sau 100 ngày vượt Trường Sơn bằng đường bộ, chúng tôi cũng đến đích vào cuối tháng 11 năm 1971, kịp thời tổ chức lớp tập huấn cho cán bộ thông tin từ cấp đại đội trưởng trở lên trước khi mở Chiến dịch Nguyễn Huệ.

Trong đợt tập huấn, ngoài việc phổ biến kinh nghiệm tổ chức và bảo đảm thông tin trong các chiến dịch và trận đánh ở chiến trường Khe Sanh và Lào, chúng tôi còn huấn luyện hai nội dung kỹ thuật để anh em áp dụng trong chiến dịch sắp tới.

Một là sử dụng loại ăngten và tổ chức trạm trung gian chuyển tiếp để có thể sử dụng máy PRC-25 tổ chức mạng sóng cực ngắn từ sở chỉ huy chiến dịch đến các sư đoàn và vượt cấp đến trung đoàn (trước đợt tập huấn các đơn vị chỉ dùng PRC-25 để liên lạc trong phạm vi chiến thuật từ sư đoàn đến trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội vì chỉ dùng ăngten cần).

Hai là tổ chức đường trục hữu tuyến của chiến dịch bằng dây bọc và loại tải ba một đường TCT-1, TCT-2. Trước đợt tập huấn ở B2 chỉ dùng máy tăng âm 2 chiều do kỹ sư Trung (một cán bộ từ Nhà máy M1 cử vào) thiết kế tận dụng linh kiện từ các máy PRC-25 nhưng cự ly liên lạc còn hạn chế. Phòng Thông tin đã nhận được nhiều máy TCT nhưng vì không có bản hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Việt nên máy vẫn xếp trong kho chưa dùng được.

May mà tôi biết tiếng Pháp và đã tổng kết kinh nghiệm sử dụng loại tải ba này trong Chiến dịch 139 ở Lào, bảo đảm liên lạc ở cự ly gần 200km qua một số trạm chuyển tiếp nên khi mở chiến dịch B2 cũng sử dụng có hiệu quả loại máy này bảo đảm liên lạc từ sở chỉ huy cơ bản B2 đến Sở chỉ huy Chiến dịch Nguyễn Huệ xa hơn 100km.

Sau lớp tập huấn, tôi cùng đồng chí Lê Khôi - trợ lý vô tuyến điện đưa trung đội sóng cực ngắn ra vùng Mimốt huấn luyện trên thực địa về cách sử dụng các loại ăngten, cách lợi dụng địa hình địa vật, cách tổ chức trạm trung gian, cách dùng mật ngữ... Đồng chí Tường thâm nhập các tiểu đoàn trực thuộc Phòng Thông tin giúp đỡ và thu thập kinh nghiệm làm công sự của các đơn vị trong điều kiện thường xuyên bị B-52 rải thảm...

Trước khi mở chiến dịch, chúng tôi còn xuống thăm Trường Thông tin B2, trao đổi kinh nghiệm đào tạo báo vụ, cơ công sơ cấp.

Bước vào đợt tiến công chiến lược Xuân 1972, Sở chỉ huy B2 chuyển từ Campuchia về Việt Nam để chỉ đạo, chỉ huy Chiến dịch Nguyễn Huệ và các hoạt động ở địa phương. Tôi được cử làm Phó ban Thông tin chiến dịch giúp đồng chí Năm Nhượng, còn đồng chí Tường là phái viên xuống giúp các tiểu đoàn thông tin.

Trong đợt 1, vì được chuẩn bị chu đáo, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ nên Sư đoàn 5 đánh chiếm thị trấn Lộc Ninh nhanh gọn, tiêu diệt 1 trung đoàn địch. Ta thu được nhiều chiến lợi phẩm thông tin, đặc biệt thu nguyên vẹn chiếc xe thông tin GRC-122 là xe sóng ngắn đơn biên có khả năng bảo đảm liên lạc báo - thoại - truyền chữ ở cự ly hàng ngàn kilômét.

Trong đợt tiến công này, các phương tiện thông tin đều bảo đảm liên lạc tốt, đặc biệt phân đội hữu tuyến điện của chiến dịch đã bảo đảm triển khai kịp thời đến Sư đoàn 5, giữ được bí mật trong điều kiện địch thường xuyên tung biệt kích nhằm phát hiện lực lượng ta.

Sau chiến thắng Lộc Ninh, Sư đoàn 9 tiến xuống bao vây Bình Long, cửa ngõ để tiến về Thủ Dầu Một. Vì trời mưa, đường lầy, việc cơ động pháo bị chậm nên không thể tranh thủ yếu tố bất ngờ tiến công ngay trong khi địch còn hoang mang. Tuy vậy, khi tiến công Bình Long, lần đầu tiên ta dùng xe tăng T-54 hiệp đồng với bộ binh, pháo binh nên khi thấy xe tăng ta xuất hiện ở trong trung tâm thị xã, địch hoảng loạn, lẻ tẻ đã xuất hiện cờ trắng và có hiện tượng địch chuẩn bị rút chạy. Đáng tiếc lúc này Sư đoàn lại ra lệnh pháo ngừng bắn, cùng lúc địch cho 1 lữ đoàn dù nhảy xuống phía Bắc chi viện và thả bom chặn đường rút quân trong thị xã nên chúng lại chống cự quyết liệt, ta không dứt điểm được và một số xe tăng đã thọc sâu không rút ra được.

Trong đợt tiến công này, thông tin chiến dịch bảo đảm thông suốt cả bằng đường dây bọc có sử dụng tải ba TCT và mạng sóng cực ngắn PRC-25. Tôi ở trạm trung gian giúp anh em khai thác nên nhớ hai sự kiện sau:

Một lần anh em đang canh thì có một đài địch gọi xen vào hỏi ta hướng dẫn cách ra hàng Quân giải phóng. Tôi báo cáo về Sở chỉ huy, được trả lời và điện lại cho đài địch, sau này được biết có một trung đội địch ra hàng theo cách ta chỉ dẫn... vậy là thông tin cùng lập công diệt địch.

Một lần khác có đài địch xen vào nhưng nói bậy và hỏi có tướng Giáp ở đấy không mời ra nói chuyện... Tất nhiên chúng tôi không trả lời.

Qua hai sự kiện trên thấy sự cần thiết phải dùng mật ngữ vì khi đàm thoại qua mạng sóng cực ngắn PRC-25 ta và địch dùng kiểu máy giống nhau nên tìm mạng của nhau rất dễ để nghe trộm hoặc gây nhiễu.

Sau đợt tiến công thứ nhất không thành công ta còn tiến công một đợt nữa nhưng cũng không dứt điểm được nên Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định chuyển hướng, đưa Sư đoàn 5 cơ động về hướng Mỏ Vẹt hoạt động, để lại 1 trung đoàn bao vây Bình Long, 1 trung đoàn chốt chặn ở ngã ba Tầu Ô, không cho địch ở Thủ Dầu Một lên cứu viện, giải vây.

Trong thời điểm này, Phòng Thông tin cử tôi và anh Ba Động thâm nhập trung đoàn bao vây Bình Long và các đơn vị pháo binh, xe tăng thu thập kinh nghiệm để viết tổng kết. Anh Tường làm phái viên đi cùng Sư đoàn 5...

Sau gần một tháng Chiến dịch Xuân 1972 kết thúc ở cả 3 hướng Quảng Trị, Tây Nguyên và Nam Bộ trong lúc ta và Mỹ đàm phán ở Pa-ri và có tin Mỹ buộc phải chấp nhận rút quân khỏi miền Nam.

Phòng Thông tin B2 tổ chức hội nghị tổng kết Chiến dịch Nguyễn Huệ, rút được nhiều kinh nghiệm về kỹ thuật, chiến thuật, biện pháp bảo đảm thông tin liên lạc trong tác chiến hiệp đồng quân binh chủng.

Lúc này có tin ta và Mỹ chuẩn bị ký Hiệp định Pa-ri, Bộ Tư lệnh Thông tin có điện đề nghị B2 cho chúng tôi ra Bắc báo cáo tình hình để có cơ sở giải quyết các yêu cầu của thông tin B22 sau khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam.

Trên đường ra Bắc, để tranh thủ thời gian, chúng tôi đề nghị được đi đường giao liên cơ giới nên sau khi đi đường bộ đến Krachiê, chúng tôi được đi bằng canô trên sông Sêrêpôk - xuất phát từ buổi chiếu, canô chạy suốt đêm để tránh phi cơ địch bắn phá. Tuy đi đêm nhưng khi nghe tiếng máy bay, canô vẫn phải dạt vào bờ dưới lùm cây, tắt máy và phủ bao tải ẩm lên máy để địch không phát hiện được tia hồng ngoại tỏa ra từ máy canô.

Sau hai đêm đi đường sông, chúng tôi được theo các đoàn xe đi ra Quảng Bình. Hành trình gần một tháng theo đường giao liên cơ giới quả là ác liệt vì nhiều lúc đoàn xe ra gặp đoàn xe vào, đường mới bị bom đang sửa nên bị ùn tắc hàng giờ trong khi máy bay địch vẫn hoạt động bắn pháo sáng, thả bom, cây cối ven đường còn cháy dở. Những lúc này phó mặc cho số phận và lấy gương các chiến sĩ lái xe, các thanh niên xung phong đã chiến đấu ngày đêm từ năm này qua năm khác để tự động viên.

Vì kết hợp đi bằng nhiều phương tiện nên sau 2 tháng chúng tôi đã ra đến Hà Nội, rút ngắn được hơn một tháng nếu đi giao liên bộ.

Chúng tôi đinh ninh là trong khi hành quân ra Bắc thì Hiệp định Pa-ri được ký kết, không ngờ vừa ra được một ngày, chưa kịp báo cáo tình hình thì đế quốc Mỹ dùng B-52 đánh phá 12 ngày đêm và chỉ sau trận "Điện Biên Phủ trên không" này địch mới chịu thua và ký hiệp định, chấp nhận điều kiện rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam...

Đến nay, nhân dịp kỷ niệm 34 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam và 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, nhớ lại thời gian làm phái viên được cử vào chiến trường B2 xa xôi nhắc tôi lại nhớ đến các thủ trưởng Phòng Thông tin miền Nam (anh Hai Thăng, anh Tư Đào, anh Năm Nhượng) và các cán bộ thông tin Miền đã cùng chúng tôi chuẩn bị và phục vụ có kết quả trong Chiến dịch Nguyễn Huệ (anh Tư Điệp, Tư Thỏa, Hai Vinh, Hai "LaVi", Ba Động... và nhiều đồng chí khác), đã giúp chúng tôi thu thập được nhiều kinh nghiệm để biên soạn tài liệu huấn luyện và đến năm 1975, sau ngày miền Nam giải phóng tôi được cử vào tiếp quản và tổ chức khai thác hệ thống viễn thông liên kết của Mỹ - ngụy lại được các đồng chí cộng tác và giúp đỡ nhiều.

Nhớ lại những kỷ niệm không thể nào quên về thời kỳ biệt phái vào B2, xin chân thành cảm ơn các đồng chí đã cộng tác và giúp đỡ chúng tôi và xin thắp nén nhang tưởng nhớ các đồng chí ra đi sau ngày miền Nam giải phóng (anh Hai Thăng, Năm Nhượng, Hai Vinh...).

Hà Nội, 7-5-2009

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

-------------------------------------

1 Vì thiếu lương thực nên ai khỏe vẫn phải đi, không được ở lại chờ người ốm.

2 Vì lúc này, B2 đã cử anh Ba Kiệt ra đề nghị Bộ Tư lệnh Thông tin bổ sung trang thiết bị để phát triển lực lượng. 

Cung đàn ca ngợi

Đặng Trường Lưu

Điệp khúc sớm chiều ca ngợi mùa xuân

Ơi cung đàn đường dây đất nước

Mặt trời đỏ hôn lên chùm sứ bạc

Mỗi chùm hoa là một mặt người.

 

Mỗi chùm hoa là một mặt trời

Bình minh chảy suốt chiều bán đảo

Để một thời chúng ta chiến đấu

Còn nở hồng trên nấm mộ các anh.

 

Để đất đai này là đất đai xanh

Ta đã qua bao cánh rừng tuổi trẻ

Bỗng một ngày như dòng sông gặp bể

Ta gặp lại ta một thuở ban đầu.

 

Một thuở vô tư, một thuở gian lao

Ta tạc mình trên từng thân cột

Bẻ nửa nắm cơm, chụm chung mồi thuốc

Lòng bỗng dưng như sợi dây rung.

 

Lòng ta mắc võng lại cánh rừng

Ngày sum họp vẫn cùng nhau hát

Tên bè bạn cứ sóng về khao khát

Điệp khúc này chuông điện thoại dư âm.

 

Những đường dây trên đỉnh núi dòng sông

Chảy dọc cùng lịch sử

Mỗi khoảng cột mấy khoảng đời chiến sĩ

Sợi đồng, sợi thép mãi ngân vang.

 

Sẽ kể về các anh người lính dây trần

Vai gùi nặng chân đạp qua chia cắt

Nối nhớ, nối thương, nối Nam, nối Bắc.

Điệp khúc này trầm bổng giữa mênh mông

Điệp khúc này anh có thấy không?

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Dùng người cũ, thiết bị cũ phục vụ chính quyền cách mạng

Trần Việt Hùng

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, toàn tỉnh Bến Tre chấp hành triệt để mệnh lệnh: xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh bằng ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận); buộc quân ngụy đầu hàng vô điều kiện.

Sáng 1 tháng 5 năm 1975, cụm điện đài Tỉnh ủy và Tỉnh đội chúng tôi từ chợ Mỹ Lòng (huyện Giồng Trôm) rầm rập tiến về thị xã. Đi ngược dòng người chiến thắng là quân ngụy đã vứt bỏ đồ lính, súng đạn, đầu để trần, chân không mang giày bước từng bước nặng nề trở về quê nhà. Về đến thị xã, chúng tôi trông thấy cờ giải phóng tung bay trên nóc nhà hành chính tỉnh, người dân vừa đi tìm người thân vừa vui mừng, reo hò chào đoàn quân chiến thắng. Lúc đó, tôi và đồng đội đều rơi nước mắt. Chúng tôi đã hát thật to, hét thật to... cho ngày chiến thắng, cho ngày gặp mặt mà ai cũng chờ đợi suốt bao năm qua.

Tiếp quản trung tâm truyền tin của Mỹ, trung tâm đài viễn thông (mạng của bộ nội vụ ngụy quyền Sài Gòn), trung tâm chỉ huy hành quân (mạng vô tuyến của tỉnh), chúng tôi ngỡ ngàng trước rất nhiều thiết bị thông tin hiện đại của Mỹ. Đó là các máy siêu tần số loại AN/TRC-24 của Mỹ do chính người Mỹ điều hành (dùng liên lạc 24/24 giờ với căn cứ quân sự, căn cứ các tỉnh lỵ); loại máy FM-5 (thuộc mạng bộ nội vụ ngụy quyền Sài Gòn); máy TR-20, TR-25 (mạng nội bộ), máy AN/GRC-9 15W dùng băng AM sóng dài liên lạc bằng tín hiệu morse... Tất cả các loại máy đều mới lạ và vượt quá khả năng sử dụng của chúng tôi. Chúng tôi chỉ biết sử dụng các máy vô tuyến loại 2W, máy Sinen tự lắp ráp, các loại máy điện thoại quay tay, tổng đài điện thoại loại nhỏ dã chiến để phục vụ kháng chiến.

Vấn đề đặt ra là cần phải có người hướng dẫn sử dụng được các loại máy này giỏi về kỹ thuật: sửa được các máy vô tuyến, các tổng đài điện thoại, vận hành máy siêu tần số AN/TRC-24 của Mỹ, điều chỉnh định vị đúng hướng phát sóng cho đài ở cự ly xa... và phải có mối quan hệ tốt với cách mạng. Tôi chọn được 15 người và cử cán bộ thông tin vừa học tập kỹ thuật vừa giáo dục tư tưởng để họ an tâm phục vụ và chuyển giao công nghệ cho ta. Qua quá trình làm việc và thử thách, những người có trình độ chuyên môn giỏi đã được giữ lại và phục vụ lâu dài. Đó là những người rất giỏi về chuyên môn và có kỷ luật, như anh Nguyễn Văn Đỏ - chuyên viên kỹ thuật đài viễn thông, vừa vận hành các loại máy phát điện, hàn điện, làm bình ắcquy, vừa tự thiết kế và thi công ăngten bằng phương pháp thủ công. Sau ngày giải phóng, anh đã tự lắp ráp cột ăngten cao 60m cho đài phát thanh tỉnh Bến Tre theo yêu cầu của lãnh đạo tỉnh. Hay anh Nguyễn Văn Huýt - chuyên viên kỹ thuật vận hành mạng siêu tần số AN/TRC-24 của Mỹ ở thị xã Bến Tre, anh được giữ lại để hướng dẫn kỹ thuật, vận hành sửa chữa loại máy này và đã phục vụ đến tuổi về hưu.

30-4-2006

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Gặp mặt kỷ niệm 75 năm Ngày Truyền thống Cục Kỹ thuật

Trong không khí vui tươi, phấn khởi của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đẩy mạnh các hoạt động chào mừng kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng (03/02/1930-03/02/2025) và tiến tới đại hội Đảng các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, sáng ngày 23 tháng 02 năm 2025 tại SCH Lữ đoàn 205, Hội Truyền thống Cục Kỹ thuật đã long trọng tổ chức buổi Gặp mặt kỷ niệm 75 năm Ngày Truyền thống Cục Kỹ thuật (28/02/1950-28/02/2025).

Đồng chí Trưởng ban liên lạc Nguyễn Minh Huấn chủ trì buổi Gặp mặt.

Tới dự buổi Gặp mặt 2025 còn có đồng chí Đại tá Trần Đức Thọ - Phó Tư lệnh Binh chủng (BC), thay mặt cho Đảng ủy, thủ trưởng BTL; các đồng chí nguyên là lãnh đạo, chỉ huy BC: Thiếu tướng Nguyễn Như Khánh - nguyên Tư lệnh BC, Trung tướng Ngô Văn Sơn - nguyên Tư lệnh BC, Thiếu tướng Trần Minh Tâm - nguyên Chính ủy BC, Đại tá Đàm Rơi - nguyên Phó Tư lệnh BC, Đại tá Nguyễn Đỗ Trung - nguyên Phó Tư lệnh BC, Đại tá Nguyễn Chí Kiên - nguyên Phó Tư lệnh BC; các đ/c nguyên là thủ trưởng Cục Kỹ thuật qua các thời kỳ: đ/c Nguyễn Hữu Đăng, đ/c Nguyễn Tất Vọng, đ/c Vũ Anh Tuấn, đ/c Nguyễn Hòa Bình. Các đ/c lãnh đạo chỉ huy Cục Hậu cần-Kỹ thuật (HC-KT): Đại tá Phạm Mạnh Cường - Cục trưởng Cục HC-KT, Đại tá Lê Anh Dũng - Cục phó Cục HC-KT, Đại tá Phạm Văn Yên – Bí thư Đảng ủy/Cục phó Cục HC-KT và các đ/c lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trực thuộc Cục HC-KT. Chỉ huy các đơn vị trong BC có: Đ/c Đại tá Bùi Văn Thắng – Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật Thông tin công nghệ cao, Thượng tá Nguyễn Tất Thọ – Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 205; đại biểu Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin, Lữ đoàn 134, Lữ đoàn 139; các nhà máy 755, Z143 và đ/c Thiếu tướng Vũ Hữu Hanh – Tư lệnh BTL 86 gửi lẵng hoa và quà chúc mừng.

Buổi họp rất vui được chào đón gần 250 hội viên từ các tổ của Hội, không chỉ ở Hà Nội mà còn ở các địa phương như: Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc... cũng về dự. Nhiều hội viên tuổi cao, sức yếu cũng rất nhiệt tình về dự, rất cảm động.

Toàn cảnh buổi Gặp mặt.

Thay mặt Ban liên lạc Hội Truyền thống CKT, đồng chí Trưởng ban liên lạc đã bồi hồi, xúc động ôn lại chặng đường vẻ vang của lớp lớp cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật đã góp công sức nhỏ bé của mình để xây dựng lên truyền thống của ngành kỹ thuật thông tin, vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Theo đó vào đầu năm 1950, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta đang bước vào giai đoạn cam go, quyết liệt; để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, lực lượng kỹ thuật thông tin của Binh chủng TTLL chính thức được thành lập. Từ khi ra đời, trải qua các thời kỳ cách mạng gian nan, vất vả, nhưng bất luận trong hoàn cảnh nào, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ ngành kỹ thuật luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất; tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nhiệm vụ của Quân đội, không ngừng phấn đấu rèn luyện, chủ động khắc phục khó khăn, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, quân đội và BTL Binh chủng TTLL giao phó. Trải qua các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và làm nghĩa vụ quốc tế, các thế hệ cán bộ chiến sỹ ngành kỹ thuật và cán bộ kỹ thuật của các đơn vị trong Binh chủng đã trực tiếp tham gia bảo đảm kỹ thuật phục vụ hàng nghìn trận đánh lớn, nhỏ trên khắp các chiến trường trong nước và trên nước bạn Lào, Campuchia với nhiều đối tượng tác chiến khác nhau và đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Những chiến công và sự hy sinh anh dũng các thế hệ cán bộ, chiến sĩ ngành kỹ thuật trước đây, cùng những thành tích nổi bật trong giai đoạn hiện nay đã và đang góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang và làm sáng đẹp phẩm chất Bộ đội Thông tin liên lạc anh hùng.

Đồng chí Trưởng ban cũng ôn lại lịch sử của Hội Truyền thống Cục Kỹ thuật, là một tổ chức tự nguyện ra đời cách đây 27 năm, nối tiếp truyền thống vẻ vang của CKT, Hội Truyền thống CKT là địa chỉ để các hội viên thường xuyên gặp gỡ trao đổi, kết nối thông tin giữa các thế hệ và làm tốt công tác chính sách, thể hiện tình nghĩa keo sơn gắn bó giữa các thế hệ cán bộ, nhân viên trong toàn Cục, dù ở cơ quan hay các đơn vị trực thuộc, giữa Hà Nội với 10 tỉnh phía Bắc... Trong hai năm qua, kể từ lần gặp mặt năm 2023, Hội Truyền thống CKT luôn bám sát các chủ trương của Đảng ủy Bộ tư lệnh Binh chủng thông qua Ban Chính sách/Cục Chính trị, tiếp nhận thông tin của trên, thông báo, hướng dẫn cho các tổ của các tỉnh và khu vực Hà Nội để kịp thời làm tốt công tác chính sách cho các đối tượng được hưởng, phù hợp với nguyện vọng và đúng quy chế của Binh chủng. Các đồng chí trong Ban liên lạc luôn tích cực, chủ động trên từng nhiệm vụ được phân công, luôn duy trì tốt các hoạt động, giữ mối đoàn kết giữa Ban liên lạc với các tổ. Các tổ  trong Hội đã duy trì tốt các hoạt động của mình và thường xuyên trao đổi thông tin với Ban liên lạc, đặc biệt tổ Thanh Ba/Phú Thọ và Chương Mỹ/Hà Nội đã tổ chức gặp mặt, chúc thọ cho hội viên và mời Ban liên lạc Hội đến dự, trao bằng và quà chúc thọ của BTL và CKT. Hội luôn thực hiện có nền nếp việc công tác thăm hỏi các hội viên và gia đình, đặc biệt các hội viên có hoàn cảnh khó khăn tận tình chu đáo thể hiện tình cảm tốt đẹp của truyền thống Việt Nam. Tuy kinh phí đến với hội viên không lớn nhưng giá trị to lớn nhất là sự động viên giữa những người đồng đội đã có thời chiến đấu và làm việc bên nhau theo truyền thống của Bộ đội Thông tin anh hùng.

Đ/c Trưởng ban bày tỏ lòng biết ơn và mãi mãi tri ân sự ủng hộ nhiệt tình cả về tinh thần và vật chất của các Thủ trưởng BTL trước đây và hiện nay, của Cơ quan CKT, các kho thuộc Cục... trong suốt 27 năm qua đã rất cảm thông, đồng hành và ủng Hội hết mình phục vụ các buổi gặp mặt truyền thống của Hội. Đ/c kính chúc các đồng chí lãnh đạo và toàn thể hội viên mạnh khỏe, gia đình hạnh phúc.

Đại tá Trần Đức Thọ - Phó Tư lệnh BC phát biểu.

Phát biểu với các hội viên, đ/c Phó Tư lệnh thông báo một số tình hình Binh chủng từ 2024 đến nay, trong đó đ/c nêu rõ: những năm qua Cục Kỹ thuật luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi của Thường vụ ĐU, Thủ trưởng BC, các cơ quan BC và sự theo dõi động viên của các đ/c nguyên là Thủ trưởng BC phụ trách ngành kỹ thuật, nguyên là Thủ trưởng CKT qua các thời kỳ. Tập thể cán bộ, nhân viên, chiến sỹ CKT đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, đoàn kết, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Đồng chí thông tin thêm: trong thời gian tới, trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng BC, xây dựng Cục Hậu cần-Kỹ thuật hiện nay theo hướng “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” trong thời kỳ mới, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Cục HC-KT cần tiếp tục kế thừa và phát huy những thành tích của các thế hệ cha anh đi trước; nỗ lực rèn luyện, đoàn kết thống nhất, nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiên quyết khắc phục những hạn chế, khuyết điểm. Quyết tâm xây dựng Đảng bộ TSVM tiêu biểu, Cục HC-KT vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Phó Tư lệnh cũng mong muốn các đ/c trong Hội Truyền thống Cục Kỹ thuật tiếp tục quan tâm, theo dõi, giúp đỡ, động viên, vì sự ổn định và phát triển của Binh chủng nói chung và Ngành Hậu cần-Kỹ thuật BC nói riêng và nhân dịp năm mới 2025, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống BC TTLL, đồng chí chúc các đ/c trong Ban liên lạc và toàn thể hội viên mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.   

Buổi Họp mặt còn được chứng kiến các đồng chí lão thành được Binh chủng và Hội mừng thọ.

Chương trình Gặp mặt truyền thống kỷ niệm 75 năm Ngày Truyền thống Cục Kỹ thuật đã diễn ra thành công trong không khí hân hoan, ấm áp và tràn đầy niềm vui của toàn thể hội viên. Những lời tâm sự, những nụ cười rạng rỡ cùng những lời chúc mừng tốt đẹp nhất báo hiệu một tương lai đầy sức khỏe và hạnh phúc cho mỗi hội viên trong tập thể Hội Truyền thống Cục Kỹ thuật.

Dưới đây là một số hình ảnh buổi Gặp mặt:

Đại tá Trần Đức Thọ - Phó Tư lệnh BC tặng hoa và quà cho Hội Truyền thống.

Đại tá Lê Anh Dũng – Phó Cục trưởng Cục HC-KT tặng hoa và quà cho Hội Truyền thống.

Đại tá Bùi Văn Thắng – Giám đốc Trung tâm KTTTCNC tặng hoa và quà cho Hội Truyền thống.

Thượng tá Nguyễn Tất Thọ – Lữ đoàn trưởng L205 tặng hoa và quà cho Hội Truyền thống.

Đ/c Hồ Thanh Long - Ủy viên Ban liên lạc tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu.

Đ/c Trần Đình Tấn - Ủy viên Ban liên lạc điều hành phần mừng thọ hội viên.



Đ/c Phó Tư lệnh trao Bằng và quà mừng thọ cho các hội viên.

Hình ảnh ngoài hội trường.

Tin, ảnh: Quang Hưng