18.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (8/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 7/8

61. Tôi bị tấn công bằng tình thương yêu

Từ ngày 4/2 đến ngày 17/2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rời Hà Nội để đi thăm Ấn Độ và Miến Điện. Trong cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân Ấn Độ chào mừng Hồ Chủ tịch tại New Delhi, Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru đã nói:

“Chúng tôi đã có dịp hoan nghênh với lòng kính trọng và yêu quý nhiều vị thượng khách từ các nơi đến. Nhưng - Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị thượng khách mà chúng tôi hoan nghênh hôm nay thật là đặc biệt. Đặc biệt không phải vì chính trị hoặc vì lẽ gì khác, nhưng vì không vị thượng khách nào giản dị như vị thượng khách này và hễ gặp mặt là người ta phải mến yêu... Ba năm rưỡi trước đây, tôi đã gặp vị thượng khách này ở Hà Nội. Và tôi cảm thấy ngay là tôi bị tấn công bằng tình yêu thương, thật khó mà chống lại một cuộc tấn công như thế”.

 

62. Ăn no rồi hãy đến làm việc

Anh em, bạn bè, họ hàng lâu ngày gặp nhau, cùng uống một chén rượu, ăn với nhau một bữa cơm cũng là việc thường tình. Cái chính là ở tấm lòng trung thực, tình nghĩa, kính trọng, yêu thương nhau chứ không nên “khách một khứa mười tranh thủ chi tiêu “tiền chùa” xả láng. Khách không nên vì cương vị “gợi ý” khéo để chủ nhà “nghênh tiếp”.

Anh em ở gần Bác cho biết, dù trong kháng chiến ở Việt Bắc, hay khi đã về Hà Nội, kể cả trong những năm kháng chiến, hễ đi công tác xa, gần, là nhất định Bác “bắt” mang cơm đi theo. Khi cơm nắm, độn cả ngô, mì. Khi là bánh mì với thức ăn nguội. Chỉ có canh là cho vào phích để đến bữa, Bác dùng cho nóng.

Nhớ lần về thăm tỉnh Thái Bình, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân cố nài Bác ở lại ăn cơm. Bác nói: “Đi thăm tỉnh lụt còn ăn uống nỗi gì”. Nói xong, Bác lại thương cán bộ vì đã có cơm sẵn. Bác gọi đồng chí cảnh vệ đưa cơm nắm thức ăn mặn của Bác đến và bảo:

- Mời đồng chí Bí thư và Chủ tịch đến ăn cơm với Bác. Còn chú và chú bác sĩ sang mâm kia ăn với cán bộ tỉnh.

Thường là đi công tác, đến bữa, Bác cho dừng xe, chọn nơi vắng, mát, sạch, Bác cháu mang cơm ra ăn. Làm việc xong, Bác chọn giờ ra về để kịp ăn cơm “ở nhà”. Nếu không, lại có cơm nấu bữa thứ hai mang theo. Chỉ khi nào ở đâu, công tác lâu Bác mới chịu ăn cơm ở địa phương. Bao giờ Bác cũng dặn “chủ nhà”:

- Đoàn Bác đi có từng này người. Nếu được, chỉ ăn từng này, từng này...

Dù không nghe lời Bác, chủ nhà dọn “cỗ” ra, Bác cũng có cách riêng của Bác. Bác nói với anh em:

- Bác cháu ta chỉ ăn hết món này, món này thôi. Còn món này để nguyên.

Nhà chủ thiết tha mời Bác dùng thử món “cây nhà lá vườn”, Bác cũng chỉ gắp vào bát anh em và bát mình mỗi người một miếng rồi lại xếp ngay ngắn đĩa thức ăn ấy, kiên quyết để ra ngoài mâm, người ngoài nhìn vào thấy đĩa thức ăn vẫn như nguyên vẹn. Bác nói với cán bộ:

- Người ta dọn ra một bữa sang, Bác cháu mình có khi cũng chẳng ăn đâu, chẳng ăn hết. Nhưng đi rồi để lại cái tiếng: đấy, Bác Hồ đến thăm cũng làm cơm thế này thế nọ, cũng điều động người này, người nọ từ giao tế sang, mất thời gian. Thế là, tự mình, Bác lại bao che cho cái chuyện xôi thịt... Cứ ăn no rồi đến làm việc.

 

64. Một mình Bác có 4 “chánh văn phòng”

Được đọc các tư liệu, tài liệu của Bác Hồ tại Văn phòng Trung ương Đảng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng cách mạng, điều dễ nhận ra đối với người tiếp cận là Bác tự tay viết, tự tay đánh máy, gửi, nhận công văn, một mình làm hết, không có ai làm “thư ký”, thực ra cũng chẳng ai làm nổi thư ký của Bác, cũng chẳng ai chuẩn bị được đề cương bài nói, diễn văn giúp Bác. Những năm 60 thế kỷ 20, Bác có ủy nhiệm đồng chí này, đồng chí kia giúp Bác xem, đọc một số tài liệu, thư từ. Các việc quan trọng khác, Bác vẫn tự làm. Người nào, Bộ nào có đưa điện, thư viết sẵn, thế nào cũng được Bác sửa lại.

Những năm kháng chiến chống Pháp, trong khoảng từ năm 1946 đến hết năm 1947, Bác Hồ không có “trụ sở”, không có “nhà riêng”. Bác đi nơi này đến cơ quan nọ, “hành quân” liên tục. Khi dừng ở đâu, chặt vài cây bương, cây luồng, cây vầu, quây nứa, lợp lá làm một căn nhà nhỏ hai gian, một gian để Bác nghỉ, một gian làm nơi nghỉ của anh em cùng đi.

Sau Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, Bác mới cho làm một cái nhà sàn để đỡ bị hơi ẩm núi rừng. Cái nhà sàn này cũng không phải là nhà “cố định”. Bác chỉ ở độ 5, 6 tháng lại di chuyển, để giữ bí mật, và tiện cho công tác.

Bác yêu cầu làm nhà sàn cao bao nhiêu, rộng bao nhiêu, bàn làm việc của Bác đặt ở đâu, rất cụ thể. Nhà tuy nhỏ - anh em thường gọi là “chuồng chim câu” (chỉ có một mình Bác ở) – nhưng thuận tiện để Bác làm việc.

Bác còn yêu cầu là từ bàn làm việc của Bác, Bác có thể với tay đến 4 cái cột để ở gần bên. Vì thế các nhà “kiến trúc” - mà Bác gọi tắt theo kiểu Việt Nam cho tiện là ông “Kiến”, (như kiểu Bác gọi Napoléon là ông “Na”) phải tìm cách đưa bốn cột nhà vào giữa, không kể các cột khác. Không ai hiểu ý Bác ra sao cả.

Trong khi làm việc, Bác vẫn thường xuyên kiểm tra “tiến độ”. Làm xong, Bác lên xem lần cuối, đồng ý. Bấy giờ Bác mới đi chặt 4 ống bương to, rất sẵn ở trong rừng, buộc vào 4 cột. Sau đó, Bác viết tên bốn đồng chí phụ trách Đảng, Chính phủ, Quân đội, Mặt trận - theo hồi ký của một đồng chí bảo vệ đó là tên các đồng chí Thận (tức đồng chí Trường Chinh), Tô (đồng chí Phạm Văn Đồng), Văn (đồng chí Võ Nguyên Giáp) và Việt (đồng chí Hoàng Quốc Việt). Công văn đến chia ra 4 ngành theo 4 ống bương. Ngồi vào bàn làm việc Bác lấy công văn trong 4 ống bương ra, xem xét, giải quyết, viết thư trả lời. Cuối giờ, Bác lại bỏ các thư từ, công văn gửi theo 4 ngành với 4 tên các đồng chí vào các ống bương quy định.

Anh em gần Bác quen gọi đùa 4 ống bương ấy là “tứ trụ”. Có người còn nói: 4 ống bương đó là bốn ông “Chánh Văn phòng” của Bác.

 

65. Căn phòng người thợ điện

Cuối năm 1954, từ Việt Bắc về Hà Nội, Bác Hồ ở tại nhà thương Đồn Thủy - nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội. Ngày 19 tháng 12 năm đó, Bác mới đến ở khu nhà nhỏ trong khu Phủ Chủ tịch.

Trước đó vài ngày, Bác đã đến Phủ Chủ tịch. Lướt qua các nhà cao, Bác đi thẳng đến khu nhà thấp, tồi nhất, chỉ vào căn phòng nhỏ và nói:

- Bác ở đây.

Đây là căn phòng của người thợ điện, rộng chừng 12 mét vuông, bên cạnh có 3 phòng nhỏ. Hôm Bác đến dọn nhà, căn phòng của người thợ điện ấy còn đặt một bộ phận máy nổ, sàn đầy vết dầu mỡ. Anh em khuân máy đi, quét tước dọn dẹp, vừa làm vừa băn khoăn.

Bác chỉ ở 1 trong 4 phòng. Phòng của Bác kê cái gì cũng một - một giường, một bàn, một ghế, một tủ nhỏ đựng quần áo. Đến bữa, Bác sang phòng bên dùng cơm. Phòng làm việc của Chủ tịch nước nguyên là của người thợ điện. Bác ở đây không đủ ánh sáng. Mùa đông 8 giờ sáng còn phải để đèn, chiều 3 giờ đã phải bật đèn. Cái phòng này, người thợ điện cũng chỉ nghỉ và ngủ, chứ không ở. Mùa hè về, nắng hắt vào sân xi măng mặt đường hắt lại vào phòng của Bác, nên rất nóng. Các đồng chí cán bộ cấp trung, cấp cao được “phân phối những ngôi nhà, hoặc cho mượn biệt thự, vào làm việc với Bác, Bác không cho đến phòng này nhiều. Anh em thương Bác quá, đã nhiều lần “xin” Bác chuyển đến một nơi khác, nhưng Bác không nghe.

Như muốn để trả lời anh em, buổi tối mùa hè Bác thường cùng anh em đến thăm những khu phố cổ Hà Nội, những ngôi nhà như cái hộp trên những con đường hẹp, bàn cờ của thủ đô. Bác chỉ vào số đông đồng bào đem chõng, rải chiếu ra nằm trên hè, rồi nói:

- Đồng bào còn cực khổ như thế này, Bác “được” ở trong phòng người thợ điện ấy cũng phong lưu lắm. So với ngày ở lán trên rừng, ở hang, ở nhà sàn, so với đồng bào, Bác cũng đã sướng hơn rồi... Thôi Bác cứ ở đấy, không đi đâu hết.

Năm 1967, giặc Mỹ đưa máy bay ném bom ác liệt ở miền Bắc, có lần anh em đề nghị Bác đến ở nhà khách to (nhà của Toàn quyền Pháp trước đây), bây giờ đã là nhà tiếp khách của Chính phủ, Bác không đồng ý. Năn nỉ mãi, Bác nói:

- Bác không ở vì ở đấy có mùi hôi thế nào ấy.

Anh em tưởng thật định rủ nhau làm tổng vệ sinh tầng trên, tầng dưới, tầng hầm thật sạch sẽ để “xin” Bác ra.

Bác lại nói:

- Bác nói hôi là hôi mùi Toàn quyền Pháp ngày xưa thôi...

Và Bác vẫn cứ ở nhà sàn, trừ những lần phải tiếp khách.

Một lần, đi cùng đoàn đại biểu nước ngoài, Bác chỉ vào ngôi nhà tiếp khách của Chính phủ nói “Tôi có ý định khi đánh giặc xong, nếu chưa xây kịp cung Thiếu nhi thì tạm dùng cái nhà to này dành cho các cháu”.

 

66. Bác thương chiến sĩ

Lần thăm Hồng Quảng1, Bác có nghỉ lại đêm. Tỉnh ủy, Ủy ban, Công an tỉnh họp bàn “phương án” bảo vệ "A1".

Điều đó rất đúng và phải làm, không những là vì lòng kính yêu vô hạn với Bác, mà còn là chức trách, nhiệm vụ của tỉnh. Bác biết điều đó, Bác hỏi đồng chí công an:

- Ở gần đây có đơn vị bộ đội nào đóng quân trên đổi không?

Được Tỉnh ủy báo cáo là có, Bác đề nghị để Bác lên đấy ngủ qua đêm.

Biết chẳng trái được ý Bác, Tỉnh phải bí mật, yêu cầu đơn vị bộ đội bảo vệ.

Sáng sớm, Bác dạy tập thể dục, thấy dưới đồi có người đi đi, lại lại.

Vào giờ làm việc, Bác nói:

- Bác ở trên đó vừa bí mật, đỡ bảo vệ, lại gió mát. Bác nằm giường gỗ quen rồi, thoải mái rồi. Nằm giường đệm khách sạn của các chú nóng, Bác không quen. Thế mà các chú còn “bắt” anh em vòng trong, vòng ngoài...2

---------------------------------------------

1 Tên của hai tỉnh Hồng Gai và Quảng Ninh.

2 Có thông tin cho biết Bác còn nói “Mình ngủ mà để người ta thức gác cho mình ngủ thật là không nên”.

 

67. Ngân hàng Nhà nước phục vụ ai?

Một ngày trong năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm công nhân, cán bộ, Nhà máy Dệt Nam Định. Mọi người trong các phân xưởng đều làm việc. Chủ tịch đi qua một phòng thấy có ba người ngồi. Bác hỏi:

- Các cô, các chú làm gì đấy?

Anh Đoàn Duy Bảo đứng lên thưa:

- Dạ, thưa Bác, đây là bàn tiết kiệm của Ngân hàng đặt tại Nhà máy.

Bác cầm một quyển sổ lên, hỏi:

- Nhà máy có bao nhiêu người gửi tiền tiết kiệm?

Anh Bảo thưa:

- Dạ, có tám mươi phần trăm người gửi ạ.

Bác gặng:

- Thế còn hai mươi phần trăm nữa thì sao?

Anh Bảo báo cáo:

- Dạ, do hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Thấy cán bộ Ngân hàng trả lời chưa đúng vào câu hỏi có lẽ khó, Bác tìm hiểu sang vấn đề khác.

- Mỗi lần được gửi bao nhiêu?

- Dạ, gửi từ một đồng trở lên ạ.

Bác nói:

- Thế Bác có một hào, có gửi được không?

Tất cả từ Giám đốc Nhà máy, Bí thư, cán bộ Ngân hàng quỹ tiết kiệm đều không trả lời được...

Bác Hồ đến thăm Nhà máy Dệt Nam Định.

Vài thập kỷ sau, kỷ niệm “45 năm mùa sen nở” của ngành Ngân hàng, anh Bảo bây giờ đã thành ông cụ Bảo mới nói với cán bộ ngân hàng trẻ rằng:

“Mãi về sau tôi mới hiểu ra rằng Ngân hàng Nhà nước ta, là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, nên trước hết là phải giúp đỡ dân, giúp đỡ người nghèo, lo cho người nghèo có vốn để sống, để làm kinh tế, để có tiền gửi Ngân hàng, để nuôi Ngân hàng và phải tạo điều kiện có thể thu hút được nhiều tiền tiết kiệm, chẳng hạn sẵn sàng nhận gửi, dù là một lần nhận gửi với số tiền rất ít...

Một câu hỏi mà hơn một phần tư thế kỷ tự tôi mới tìm ra được ý nghĩa của câu trả lời.

 

68. Thi đua về lòng yêu nước thì ta thắng

Những bức ảnh Bác Hồ chúng ta biết được đến ngày nay, thường là không thấy Bác mặc com lê, thắt cà vạt. Nhớ lại khoảng tháng 10 năm 1945, khi đi thăm tỉnh Thái Bình, Bác gặp một đội viên bảo vệ chân đi giày ghệt, thắt lưng to bản (bấy giờ gọi là xanh-tuya-rông...) và thắt cả cà vạt nữa. Bác dừng lại nói:

- Chú mà cũng phải thắt cái này à?

Trong Bắc Bộ Phủ, thấy có một số cán bộ từ chiến khu mới về đã “xúng xính”, Bác nhẹ nhàng:

- Trông các chú ra dáng người thành phố rồi...

Bác bao giờ cũng mong đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Rồi Bác còn mong các cháu có áo đẹp, cụ già có khăn lụa... Bác không bao giờ lấy ý của mình áp đặt người khác, không bắt ai cứ phải theo mình.

Lần sang thăm một nước bạn, có cán bộ ngoại giao xin phép Bác ra phố. Bác bắt cán bộ đó mặc quần áo, thắt cà vạt nghiêm chỉnh rồi mới cho phép đi.

Bác nói:

- Đời sống khá hơn thì ăn mặc cũng được khá lên. Nhưng phải tùy cảnh, tùy thời.

“Thời và “cảnh” năm 1945 là đa số đồng bào ta vừa qua 80 năm bị áp bức nô lệ, qua cơn đói Ất Dậu, vừa bị lụt bão, miếng cơm, củ khoai chưa đủ ăn, áo không đủ mặc. Thế mà các cán bộ - là những đầy tớ nhân dân, như lời Bác dạy, lại mặc  những bộ quần áo sang trọng, đắt tiền, không phải lúc, thì “khó coi. Khi Bác đi thăm bà con nông dân, Bác đi dép, tới ruộng, Bác bỏ dép, xắn quần lội ruộng, tát nước với bà con. Trong khi đó, có anh cán bộ, đi giày bóng loáng, chỉ có thể đứng trên bờ hỏi thăm.

Báo Nhân Dân ngày 18 tháng 5 năm 1994, có đăng một bài, nội dung tóm tắt như sau:

“Chuyện rằng vào khoảng cuối tháng 4 năm 1946, do tình hình thực dân Pháp không chịu từ bỏ ý đồ trở lại xâm lược Việt Nam, để tạo điều kiện, thời gian chuẩn bị kháng chiến, Bác và phái đoàn sang Pháp điều đình với Chính phủ Pháp.

Trước ngày ra đi, vẫn thấy Bác làm việc theo đúng thời gian biểu đã định, chẳng thấy Bác “sắm sửa” gì. Trong khi đó, một số cán bộ trong phái đoàn lo tìm hiểu “mốt” Paris, lo may mặc những bộ com lê, sơ mi, cà vạt, đóng giày mới, và có người còn lo cả khoản nước hoa.

Việc làm ấy của cán bộ cũng là điều tốt. Nhưng có điều là các “vị” đi hơi xa, hay có thể hơi “ồn ào”, có vẻ như một cuộc thi đua mua sắm. Chuyện đó đến tai Bác.

Thương yêu, bình đẳng, nhưng không thể không nhắc nhở, Bác nói:

- Các chú muốn thi đua với Tổng thống, Thủ tướng nước ngoài về ăn mặc thì thua họ thôi, Bác cháu ta thi đua với họ về lòng yêu nước, thương dân thì ta mới thắng”.

 

69. Mênh mông quá!

Bác Hồ của chúng ta là Chủ tịch nước, nhưng trong cuộc sống hằng ngày Bác không coi nhẹ, coi thường các việc nhỏ. Bác yêu thương đồng bào cả nước, kiều bào ở nước ngoài, các dân tộc anh em bị áp bức. Một em bé da đen đói, một người con gái ở nước Pháp bị án tử hình đều làm Bác xúc động.

Bác không bằng lòng nhiều cán bộ “ra vẻ hăng hái, “kiên trung”, thấy bạn bè, đồng đội, đồng bào có lầm lỗi, chưa phân tích đầy đủ nguyên nhân, khách quan, chủ quan, mức độ đã “vơ đũa cả nắm”, “đánh một đòn chết tươi”. Thường là, nếu cán bộ, đồng bào có điều gì không phải Bác lại nhận lỗi ấy về mình “mong được lượng thứ”.

Đầu năm 1960, trong một cuộc họp cán bộ, có đồng chí “lên án” gay gắt “bệnh lười biếng”, “công thần”, đòi phải “xử lý”... bàn cãi hồi lâu, sắp hết giờ họp, Bác “xin được phát biểu”. Bác nói đại ý:

- Bể cũng là nước, giọt nước cũng là nước. Trong Đảng hằng ngày là giọt nước hay là bể. Nếu nói lười biếng, công thần cũng là tư tưởng tư sản thì mênh mông quá.

 

70. Bán “tru” mua chó, bán “ló” mua mèo

Ngày mồng một tết năm Ất Tỵ 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Hồng Gai, chúc mừng xuân mới và nói chuyện với công nhân, chiến sĩ, cán bộ trong tỉnh.

Bác khuyên bà con đoàn kết, cần, kiệm, liêm chính để xây dựng đất nước, cùng đồng bào miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Ngay sau buổi gặp mặt mừng xuân xong, từ chối không ở lại “ăn tết” với Tỉnh ủy, Bác về Hà Nội. Trên đường đi, Bác cho dừng xe thăm rừng cây trồng hai bên sườn núi, Bác có ý định vào sâu trong rừng để xem xét, nhưng cán bộ địa phương cho biết không có đường đi và cũng không có người để bảo vệ rừng.

Bác hỏi Bộ trưởng Lâm nghiệp:

- Chú có biết quê “choa” có câu “bán tru mua chó, bán ló mua mèo1” không?

Bộ trưởng Lâm nghiệp chưa kịp trả lời, Bác giải thích:

- Có đàn trâu, có khi phải bán đi một con để mua con chó canh giữ nếu không kẻ trộm bắt hết cả đàn. Có vựa lúa có khi phải bán bớt lúa để mua mèo nếu không chuột sẽ ăn hết lúa.

Bộ trưởng và cán bộ địa phương thưa với Bác: “Chúng cháu hiểu rồi ạ!”. Bác giao hẹn:

- Hiểu rồi thì phải làm đấy!

------------------------------------

1 Ở vùng Thanh-Nghệ Tĩnh, đồng bào ta còn hay gọi con trâu là “con tru”. Sông Lương Giang ở Thanh Hóa chảy qua huyện Thọ Xuân, Thiệu Hóa... vì nước chảy chậm như bước trâu đi nên gọi là sông Tru, khác với sông Mã nước chảy nhanh như ngựa phi. Còn “ló” là “lúa”. Đây là những tiếng Việt Mường cổ xưa nay còn lại trong ngôn ngữ nhân dân.

 

71. Bác Hồ “xin đồng bào và cán bộ cho biết”

Trong kho tàng lưu trữ của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam có một bài báo viết trên một tờ giấy “tiết kiệm” (là những tờ Bác Hồ tận dụng các giấy tờ mà anh em đã “bỏ” đi). Bài báo đánh số 153/11, kèm theo mấy chữ “đăng 21 tháng 1”. Chưa rõ vào năm nào - nhưng chắc chắn là trong kháng chiến chống Pháp và theo dự đoán có thể đăng ở báo Cứu Quốc hoặc báo Nhân Dân.

Bài báo như sau:

“Các đồng bào điền chủ gương mẫu.

Tục ngữ có câu “Có nước thì có đất

Nước đây là nước nòi, nước nhà, chứ không phải là nước sông, nước giếng.

Nhiều đồng bào điền chủ đã hiểu như vậy và đã hăng hái hiến đất ruộng cho kháng chiến.

Đây là vài ví dụ:

Ở Bắc: Ông bà Đỗ Đình Thiện hiến hơn 2.000 mẫu. Ông bà Đỗ Thúc Phách 600 mẫu, v.v.

Ở Trung: Tôi không biết rõ, xin đồng bào và cán bộ cho biết.

Ở Nam: 300 đồng bào điền chủ đã hiến 24.500 mẫu, trong đó miền Tây nhiều hơn. Theo báo cáo số ruộng hiến cộng tất cả đã đến 40.000 mẫu. Một điều đáng quý nữa là các điền chủ Hoa kiều cũng hiến ruộng để tỏ lòng ủng hộ kháng chiến...

Phong trào hiến ruộng ở Nam bộ do ông Huỳnh Thiện Lộc (cựu Bộ trưởng Canh nông, nay đã mất rồi) xung phong trước nhất. Đó cũng là một đặc điểm trong cuộc kháng chiến của Việt Nam. Nó chứng tỏ rõ rệt sự toàn dân đoàn kết. Mà đoàn kết thì nhất định thắng lợi”.

Chỉ một bài viết ngắn như vậy chúng ta vẫn tiếp thu được tư tưởng lớn của Bác về đoàn kết toàn dân, về động viên tài lực của dân... Và cũng ở đây có một nét phong cách làm việc của Bác để ta suy nghĩ và học tập, đó là:

- Việc gì Bác biết chính xác, Bác mới viết.

- Việc gì Bác biết gián tiếp, Bác viết “theo báo cáo”.

- Việc gì Bác không biết rõ, Bác “xin đồng bào và cán bộ cho biết”. Bác “xin đồng bào” trước, “xin cán bộ” sau, vì Bác ngại “cán bộ” vì một lý do nào đó báo cáo chưa đúng, còn đồng bào, nhân dân chắc chắn là sẽ thưa với Bác chính xác nhất mọi điều.

-----------------------------------------

1 Gia đình ông Đỗ Đình Thiện hiện ở Hà Nội, con trai ông Thiện là TS Đỗ Long Vân.

 

72. Ý kiến của Bác Hồ về văn hóa mới của Việt Nam hơn nửa thế kỷ trước

Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4 (1945 - 1946) đăng bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” trong ngày 3 tháng 9 năm 1945. Trong bài ấy Bác nói “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc họp ở Hà Nội ngày 24 tháng 11 năm 1946, Bác nói “Nhi đồng Việt Nam đã tiến bộ nhiều về văn hóa... Tôi xin thay mặt toàn thể thiếu nhi Việt Nam kêu gọi các nhà văn hóa Việt Nam hãy chú ý đặc biệt đến nhi đồng”. Báo Cứu Quốc số 415 ra ngày 24 tháng 11 năm 1946, đăng bài viết của Bác Hồ, có đoạn như sau:

Phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm cơ sở. Phải học những điều tốt đẹp của văn hóa nước ngoài, tạo ra nền văn hóa Việt Nam sao cho văn hóa mới phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ. Phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập. Phải chú ý đến nhi đồng”.

 

73. Trị cái gì? Sự cái gì?

Bác Hồ không ưa lối dùng chữ nước ngoài để nói hoặc viết, trong khi có thể dùng chữ nước mình. Có một câu chuyện của Bác về hai chữ “trị sự1”.

Năm 1951, Bác thăm báo Nhân Dân, bấy giờ đang “đóng quân” tại Bắc Kạn. Bác đi vào một căn buồng làm bằng tre nứa, thấy một người ngồi. Bác hỏi: “Chú làm việc gì?”, “Thưa Bác, làm trị sự ạ”. Bác lại hỏi: “Trị cái gì? Sự cái gì?”. Anh cán bộ không hiểu chữ “trị, sự” là gì, cũng không hiểu ý Bác phê bình “dốt hay nói chữ” nên “thật thà” thưa:

- Dạ, trông nom việc in và phát hành báo ạ...

Bác không nói gì, đi ra...

Mấy chục năm sau, số cán bộ đi theo Bác năm ấy mới “hiểu” ra được vì sao Bác không nói gì, không cần nói gì nữa, vì chính người nói “trị sự” cũng chẳng hiểu mình “trị cái gì, “sự” cái gì.

--------------------------------------------

1Trị” là việc đương làm, sửa sang công việc. “Sự” là việc làm, Trị sự là sửa sang, xem xét mọi việc.

 

74. Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Đồng chí Chương, cán bộ cấp cao của Đoàn 559 có lần kể chuyện như sau:

Bác Hồ hỏi một nhà “lý luận1”.

- Chú đã học, đã dạy Triết học Marx-Lenin ở các trường Liên Xô - Trung Quốc - Việt Nam, vậy chú có biết chủ nghĩa xã hội Việt Nam là gì? Nói tóm tắt trong vài chữ thôi.

Giáo sư “đỏ” suy nghĩ hồi lâu rồi thưa:

- Vài chữ thì khó lắm. Thưa Bác, cháu chịu ạ.

Bác nói:

- Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là 5 chữ: Lý kết hợp với Tình.

----------------------------------------

1 Có tư liệu cho biết “nhà lý luận” này là Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn.

 

75. Người Pháp, người Mỹ

Tuần báo “Đây Paris1” ra ngày 18 năm 6 năm 1946 là một trong những bài viết sớm nhất, tương đối đầy đủ nhất về phong cách của Bác Hồ. Xin hãy đọc:

“Chủ tịch nước Việt Nam là một người giản dị quá đỗi. Quanh năm ông chỉ mặc một bộ áo ka ki xoàng xĩnh và khi những người công tác quanh ông để ý, nói với ông rằng với địa vị ông ngày nay, nhiều khi cần phải ăn mặc cho được trang trọng, thì ông mỉm cười trả lời:

- Chúng ta tưởng rằng chúng ta được quý trọng vì có áo đẹp mặc, trong khi bao nhiêu đồng bào mình trần đang rét run trong thành phố và các vùng quê?

Sự ăn ở giản dị đến cực độ, như một ẩn sĩ, đó là một đức tính rõ rệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tuần lễ ông nhịn ăn một bữa, không phải là để hành hạ mình cho khổ sở mà là để nêu một tấm gương dè xẻn gạo đồng bào đặng làm giảm bớt nạn đói trong nước. Hết thảy mọi người xung quanh đều bắt chước hành động đó của ông.

Trong những ngày bình thường, ông dùng cơm ở Bắc Bộ Phủ, ngồi chung với hết thảy mọi người. Người ta thấy quây quần xung quanh bàn ăn: các bộ trưởng, những thư ký và cả những cậu thiếu niên phục vụ bàn giấy. Nhờ có đức tính giản dị của ông mà khi ngồi ăn với mọi người, ông không làm ai phải giữ kẽ nhiều quá, mà trái lại, không khí chung lộ ra, lúc nào cũng thân mật, cũng vui vẻ, gây cho bữa ăn một vẻ gia đình.

Tính giản dị và thân mật của ông còn biểu lộ ra trong những bài diễn văn. Không bao giờ ông tỏ vẻ thông thái, vốn rất rộng của ông. Ông thông thạo bảy thứ tiếng khác nhau và nói được rất nhiều tiếng thổ âm, trái lại ông chỉ dùng những câu nôm na, khiến cho một người dù quê mùa chất phác nghe cũng hiểu được ngay. Ngày ông viết xã luận cho báo Cứu Quốc, trước khi đem bài cho nhà in, bao giờ ông cũng đem đọc cho một số người không biết chữ, ông già, bà già cùng nghe. Nếu ông thấy thính giả tỏ vẻ không hiểu mấy những ý tưởng trong bài viết, lập tức ông viết lại ngay bài khác. Tất cả đức tính Hồ Chí Minh bao gồm trong một cử chỉ bé nhỏ đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất ghét lối nói khoa trương, văn vẻ. Mỗi bài diễn văn của ông là một bài học nhỏ kết luận bằng một ý kiến đạo đức. Bởi những ý tưởng hết sức giản đơn ấy mà bài diễn văn của ông có một tiếng vang lớn trong giới trí thức và dân chúng”.

------------------------------------------

1 Tiếng Pháp “Ici Paris”.

 

76. Bìa quyển sách Ho của David Halberstam

Hai mươi lăm năm sau bài viết trên, năm 1971 – sau khi Bác Hồ mất, một người Mỹ - nhà báo, nhà văn David Halberstam trong cuốn sách Ho của mình, do Nhà xuất bản McGraw-Hill ở New York ấn hành đã viết:

“... Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này - hơi giống Gandhi, hơi giống Lenin, hoàn toàn Việt Nam. Có lẽ hơn bất kỳ một người nào khác của thế kỷ này, đối với dân tộc của ông, và đối với cả thế giới ông là hiện thân của một cuộc cách mạng. Thế nhưng đối với hầu hết nông dân Việt Nam, ông là biểu tượng của cuộc sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh và thắng lợi của họ. Ông là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hòa nhã, không màng địa vị, luôn luôn mặc quần áo đơn giản nhất - cách ăn mặc của ông không khác mấy người nông dân nghèo nhất - một phong cách mà phương Tây đã giễu ông trong nhiều năm, cười ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không theo thời trang. Cho đến một ngày họ mới tỉnh ngộ và nhận thấy cái tính giản dị ấy, cái sùng bái sự giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân là cơ sở cho sự thành công của ông.

Trong một nước khi mà dân chúng đã thấy những người cầm đầu đạt tới một địa vị nào đó rồi trở thành “Tây” hơn là “Việt Nam”, bị quyền lực, tiền bạc và lối sống phương Tây làm thối nát, trong một nước khi những người đó đã ngoi lên khá cao thì không làm gì cho dân chúng cả, lập tức bị bán mình cho người nước ngoài. Tính giản dị của ông Hồ là một sức mạnh. Địa vị càng cao sang, ông càng giản dị và trong sạch. Hình như ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh cửu của người Việt Nam: kính già, yêu trẻ, ghét tiền của. Ông Hồ không cố tìm kiếm cho mình những cái trang sức quyền lực vì ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của ông với nhân dân, với lịch sử đến nỗi không cần những pho tượng, những cái cầu, những pho sách, những tấm ảnh để chứng tỏ điều đó cho mình và cho thiên hạ biết. Việc ông từ chối sự sùng bái cá nhân là đặc biệt đáng chú ý trong cái xã hội kém phát triển.”.

 

77. Bác không phải là “ngài Chủ tịch”

Ngày 24 tháng 8 năm 1961, Girard phóng viên báo Nhân đạo (L’Humanité) cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp - thường trú tại Việt Nam có gửi một thư lên Hồ Chủ tịch bằng tiếng Pháp.

Thư viết:

“Kính thưa Ngài Chủ tịch Hồ Chí Minh,

Thưa Ngài Chủ tịch,

Nhân dịp nhân dân Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 16 năm tuyên bố độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tôi xin đề nghị Ngài Chủ tịch cho phép tôi được tiến hành một cuộc phỏng vấn...”1

Tiếng “Ngài” trong nguyên văn là “Monsieur”.

Thư đến Văn phòng Trung ương Đảng ngày 26 tháng 8 năm 1961, số công văn đến là 7424.

Nhận được thư, Bác Hồ xóa chữ “Ngài mà viết thay bằng chữ “Đồng chí” (camarade).

Bác không phải là “Ngài Chủ tịch”, Bác không chỉ là đồng chí với Girard, với các đồng chí Pháp mà cả với tất cả những người lao động trên thế giới.

------------------------------------------------

1 Thủy Trường lược dịch.

Hết

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019) 

16.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (7/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 6/8

51. Cái đuôi Tôn Ngộ Không

Một cán bộ cấp cao dự lớp Chỉnh Đảng Trung ương khóa 1, năm 1952 tại Việt Bắc, nói với chúng tôi:

- Bây giờ xem Tây Du Ký hay, đẹp thật đấy, nhưng mình vẫn nhớ mãi câu chuyện “ngoài” Tây Du Ký hay nhất mà mình được Bác Hồ dạy.

“Năm ấy, Bác đến lớp. Bác nói: “Các cô, các chú (bao giờ Bác cũng gọi các cô trước, đồng bào, chiến sĩ trước) học đã căng thẳng, nên Bác đề nghị tối nay nghỉ học để Bác cháu ta nói chuyện vui.

Cả lớp vỗ tay hoan hô, không khí lớp học sôi nổi hẳn lên.

Bác hỏi: “Trong các chú ở đây, ai đã đọc Tây Du Ký? Nhiều cánh tay giơ lên, Bác nhìn thấy ông Tôn Quang Phiệt là nhà hoạt động cách mạng, người đã tham gia sáng lập Đảng Tân Việt, bấy giờ là Tổng thư ký Ủy ban Thường trực Quốc hội, Bác mời ông Phiệt, đồng hương Nghệ An lên kể chuyện, nhưng yêu cầu chỉ được nói trong 15 phút. Ông Phiệt mới “đỉ được vài đoạn đã hết giờ đành thú thực “kể vắn tắt khó lắm” và ông Phiệt “trêu” lại Bác. “Xin mời Bác”.

Bác cười, “thông cảm” rồi kể.

“Từ khi loài người có đầu óc tư hữu thì sinh ra nhiều thói hư tật xấu. Đường Tăng là một vị chân tu, bản chất tốt, có lòng nhân hậu, có tính khoan dung. Ông ta muốn chống áp bức, nhưng không có đường lối cách mạng dẫn đường. Tin vào sức mạnh cảm hóa của đạo Phật, nên ông tình nguyện đi lấy Kinh Phật để truyền bá. Sau 14 năm trời, tức là qua 5.048 ngày đêm, thầy trò Đường Tăng vượt qua 18 vạn 8 ngàn dặm đường chịu đựng 81 tai ương để lấy được 55 bộ kinh gồm 5.048 quyển. Đó là pho truyện dài, đấu tranh giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa. Còn có thể tìm thấy ở Tây Du Ký nhiều vấn đề bổ ích nữa. Đường Tăng là một người có lập trường kiên định, có bản lĩnh, tạo được cái “bất biến” để đối phó với cái “vạn biến”.

Còn Tôn Ngộ Không vì không tu thành đạo được nên vẫn còn cái đuôi. Khi Tôn Ngộ Không biến thành cái đình thì cái đuôi ở sau phải hóa phép làm cái cột cờ. Bọn Ma Vương thấy lạ, tại sao cột cờ ở phía sau đình, phát hiện ra cái đuôi của Tề Thiên Đại Thánh nên không bị mắc lừa, không vào đình nữa, nên mưu của họ Tôn bị thất bại...”

Nghe đến đây, chúng tôi “sợ” quá. Quả là được nghe một bản “tổng thuật” giá trị về Tây Du Ký. Biết chắc là Bác còn cái gì nữa nên chờ...

Bác nói tiếp...

“Người cách mạng chúng ta nếu không tu dưỡng thì cũng có phen cái đuôi ấy, dù nhỏ sẽ có ngày gây hậu quả khôn lường...”

Cả lớp ngồi im...

Mấy năm gần đây, đọc sách báo biết thêm Bác đã nói “cách mạng là đổi cái cũ ra cái mới, đổi cái xấu ra cái tốt”, tôi nghĩ đến một số nhỏ cán bộ chẳng đổi mới, chẳng đổi tốt, vẫn cứ như cũ, có khi còn xấu hơn cũ nên bụng bảo dạ rằng: thể là cái đuôi Tôn Hành Giả “lòi” ra rồi, như Bác Hồ đã báo trước.

 

52. Một bức ảnh muộn màng

Năm 1960, tháng 7, ngày 17, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội đi nghỉ tại Sầm Sơn.

9 giờ sáng Bác tới Sầm Sơn, Người lên thẳng miếu Cô Tiên, nghe trưởng đồn công an thị trấn Sầm Sơn báo cáo tình hình và nghỉ trưa tại đó. 13 giờ, Người làm việc với cán bộ lãnh đạo tỉnh, nhằm giúp đỡ Thanh Hóa nhanh chóng khắc phục tình trạng đói nghèo. Tối hôm ấy, Bác nghỉ tại miếu Cô Tiên.

Sáng ngày 18, Người ra bãi biển ngắm cảnh, nói chuyện với ngư dân xóm Vĩnh Sơn, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương - nay thuộc phường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn.

Sau đó, Bác tới thăm gia đình một đồng bào làm nghề đánh cá, chụp ảnh chung với cháu bé trong gia đình, thăm nhà nghỉ của Tổng Công đoàn, nói chuyện với nhân viên phục vụ ở đây. Bác đi thăm trại nuôi dưỡng thương binh, trại an dưỡng cụ già nghèo miền Nam, trèo núi thăm một đơn vị bảo vệ bờ biển. Tối, Bác xem phim với đồng bào, bộ đội, rồi lại về miếu Cô Tiên nghỉ.

Bác Hồ kéo lưới cùng ngư dân Sầm Sơn, Thanh Hóa, 1960.

Sáng 19, Bác ở thị xã Thanh Hóa, và hôm sau về Hà Nội.

Trong chuyến đi này, các nhà nhiếp ảnh có chụp được nhiều ảnh về Bác. Có ảnh Bác kéo lưới, bắt cá với dân, ngồi trò chuyện với cụ già đánh cá, quần đùi, cởi trần, đâu không nón, mũ. Khi bức ảnh được in ra, có người rất thích, khen đẹp. Có cán bộ tuy cũng đồng ý là được, nhưng không cho công bố “vì để giữ bí mật”. Hay là thật lòng anh cán bộ nghĩ để ảnh Bác “dân dã” như vậy có điều gì khiếm khuyết chăng?

Chính vì vậy, cho đến ba mươi lăm năm sau, tấm ảnh “Bác Hồ trên bãi biển Sầm Sơn” mới được xuất hiện trên báo.

 

53. Chỉ là hai chữ “cám ơn”

Tháng 12 năm 1968, cơ quan Phủ Chủ tịch có dự thảo lời Hồ Chủ tịch trả lời điện của bốn tờ báo Nhật (Chunichi Shimbun, Tokyo Shimbun, Nishinihon Shimbun, Hokkaido Shimbun).

Mở đầu, bản dự thảo viết:

“Tôi đã nhận được thư của các ông đề nghị tôi nói vài lời với nhân dân Nhật Bản nhân dịp đầu năm 1969...

Cuối thư, dự thảo có câu “Chúc nhân dân Nhật Bản thu được nhiều thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ của Nhật Bản và vì hòa bình ở châu Á và thế giới”.

Dự thảo được trình lên Bác. Người xóa bỏ tất cả những

chữ “thu nhiều thắng lợi”... cho đến... châu Á và thế giới” và thay vào đó bốn chữ “muôn sự tốt lành” và viết thêm: “Chúc quý báo và các bạn đọc hạnh phúc”.

Trong câu mở đầu, Bác xóa ba chữ: “đã nhận được” và dòng viết: “đề nghị tôi...”

Bác viết: “Tôi cám ơn thư các ông”.

Bức thư ngắn này làm cho ta nhiều suy nghĩ.

Thứ nhất: Bác không thích “chúc” người ta vừa lại có ý “nhắc nhở” làm một việc gì đó.

Thứ hai: “nhận” được có thể bỏ đi, có thể quên, có thể không được... nhưng “cám ơn” thì khác, mức độ thân thiết, nghĩa tình cao biết mấy.

Thứ ba: Phong cách làm việc của Bác tỉ mỉ, cụ thể... Năm đó Bác đã ở tuổi 78.

 

54. Tấm lòng của Bác với Paris

Theo nhiều nguồn tư liệu, Nguyễn Tất Thành đến Paris vào cuối năm 1917, thủ đô nước Pháp hoa lệ, ánh sáng, trung tâm chính trị văn hóa của nước Pháp và châu Âu đầu thế kỷ này và còn là pháo đài của bọn phản động, là cạm bẫy của mọi sự cám dỗ. Tại đây, Nguyễn Tất Thành lao động, học tập, làm chính trị, tìm con đường cứu nước... Paris là nơi Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức, xuất bản tờ Le Paria... Dấu chân Nguyễn Ái Quốc đã in trên nhiều đường phố, nhiều thư viện, nhà hát, hội trường, vùng ngoại ô... Là một người Việt Nam chống lại chính quyền ở Đông Dương, chống lại chính phủ Pháp ở chính quốc, nhưng Nguyễn Tất Thành lại được các tổ chức dân chủ, tiến bộ, được nhân dân Pháp, nhân dân Paris đùm bọc chở che.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ tướng Pháp Georges tại Pháp, ngày 02 tháng 7 năm 1946.

Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc, từ Paris sang nước Nga và bôn ba qua nhiều nước khác, mãi đến năm 1946, Bác mới có dịp trở lại nước Pháp và thủ đô Paris với tư cách là thượng khách của nước Pháp. Trong bữa tiệc chiêu đãi Bác do Thị trưởng Paris tổ chức ngày 4 tháng 7 năm 1946, Bác đã phát biểu:

“... Cho phép tôi được nói lên, với tất cả sự chân thành, sự vui mừng của tôi được tới Paris, mảnh đất lý tưởng của công lý, tự do, quê hương của dân chủ, xin cho phép tôi được chào, với tất cả sự cảm động và tấm lòng của tôi tới thành phố vinh quang mà biết bao mối quan hệ trí tuệ và đạo đức đã làm cho nước Cộng hòa Việt Nam hướng tới.

Tôi đã từng mến và khâm phục nhân dân Paris anh dũng từ nhiều thế kỷ đã đứng vào mũi nhọn của các cuộc chiến đấu cho các tư tưởng tiến bộ và hòa hiệp.

...Paris đã từng chiến đấu và đau khổ cho tự do, sẽ hiểu và ủng hộ những khát vọng của nhân dân Việt Nam, cũng là những khát vọng của chính họ1”.

-----------------------------------------

1 Lời dịch qua bản tiếng Pháp của GS. Đinh Xuân Lâm.

 

55. Điều lo của Bác cách đây hơn nửa thế kỷ

Mỗi cán bộ cấp cao, nay đã nghỉ hưu, nhưng vẫn tham gia hoạt động vì dân, vì nước, thấy tình hình giáo dục đạo đức của thanh thiếu niên, tình hình “nhố nhăng” ở một số mặt văn hóa, thông tin, tuyên truyền, quảng cáo, truyền hình, mách cho tôi biết một câu của Bác.

Một câu ngắn thôi. Đó là trong Hội nghị Trung ương lần thứ 4 năm 1960, Bác đã “báo động” bằng một nhận xét rằng: “Tôi xem chương trình giáo dục của 10 lớp thì từ lớp 1 đến lớp 10, phần Đức dục rất thiếu sót, chỉ có 10 dòng”.

Nhận xét này của Bác gợi cho chúng ta một suy nghĩ là: vấn đề đạo đức trong nhà trường quan trọng biết nhường nào! Giáo dục toàn diện, trong đó thực sự coi trọng giáo dục đạo đức, rõ ràng đang được đặt ra cấp bách của ngành giáo dục - đào tạo và của toàn dân ta hiện nay. Nhận xét trên đây của Bác không chỉ mang tính truyền thống của giáo dục “tiên học lễ, hậu học văn” mà còn là tư tưởng chỉ đạo quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo.

 

56. “Quyền lực” của Hồ Chủ tịch

Jean Étienne Valluy (1899 - 1970) là tướng Pháp làm Tổng chỉ huy quân đội Viễn chinh Pháp ở Đông Dương từ tháng 6 năm 1946 đến tháng 9 năm 1948. Sau khi thất bại ở chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông, trở về Pháp, Valluy tiếp tục cuộc đời binh nghiệp. Năm 1958, Valluy lại ra chỉ huy quân đội khối Bắc Đại Tây Dương ở Tây Âu cho đến năm 1960.

Trong cuộc kháng chiến của Việt Nam, Valluy là kẻ thù của nhân dân ta. Valluy có mặt tại Việt Nam trong một thời điểm gay cấn nhất, chiếm đóng Hải Phòng, khiêu khích ở Hà Nội, nổ súng đánh chiếm các công sở Việt Nam trong ngày 19 tháng 12 năm 1946, tấn công lên Việt Bắc.

Valluy đã thua - cũng như nước Pháp đã thua trong cuộc chiến tranh do Pháp tự gây ra. Nhưng trước mắt Valluy đã kịp có dịp trả lời phỏng vấn của phóng viên tạp chí Hành tinh - Hành động (Planète - Action) ở Paris. Bài trả lời của Valluy được đăng trên tạp chí này vào tháng 3 năm 1970:

“Phải nói rằng ông Hồ cực kỳ nhã nhặn, vô cùng lịch thiệp và thoạt nhìn đã thấy Người rất hấp dẫn. Tôi còn nhớ có lần từ ngoại ô về1, Người có một quả táo to lắm. Người để dành mãi để làm quà cho con gái tôi mà Người đã coi như cháu mình. Người là Bác Hồ của mọi người. Còn chúng tôi, khi gọi Người là Bác Hồ thì mọi việc đều trở nên hết sức đơn giản. Người tỏ ra có quyền lực lãnh đạo đối với mọi người, quyền lực đó là lòng nhân đạo, chỉ công vô tư, là tuổi tác, trí thông minh, trình độ học vấn, nói chung là bằng tất cả vốn văn hóa cách mạng đã tiếp thu được ở Pháp, ở Nga và có thể ở cả nhiều nơi khác. Đó là một nhân vật trung tâm điều hành công việc... hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi ích riêng tư. Trong ánh mắt những người xung quanh, những người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ”.

--------------------------------------------

1 Chuyện xảy ra trong năm 1946, khi Bác Hồ ở Paris.

 

57. Cái ghế băng nhỏ

Năm 1960, Trung tá Phạm Ngọc Hưng, phụ trách Tham mưu phó Sư đoàn 338. Trung đoàn 2 của sư này đóng quân ở một vùng đất khô cằn thuộc tỉnh Sơn Tây, đồng cỏ nhiều, đất bạc màu, cây rất ít. Mùa hè ở đây nóng như đổ lửa.

Một hôm, Bác Hồ đến thăm Trung đoàn 2. Từ đường quốc lộ vào nơi đóng quân, Bác thấy một số đồng bào đứng dưới một gốc cây tránh nắng, mà chiếc nón trên tay vẫn quạt đều. Sau khi đi thăm và nói chuyện với chiến sĩ, cán bộ. Bác hỏi Trung đoàn trưởng:

- Các chú có thể làm một cái ghế băng để dưới gốc cây gần đơn vị để đồng bào ngồi nghỉ nắng được không?

- Thưa Bác, được ạ. - Trung đoàn trưởng đáp lời Bác. Ít lâu sau, Tỉnh ủy cho biết Bác sẽ đến thăm Tỉnh ủy và Trung đoàn. Vì việc quân bận rộn, Trung đoàn trưởng nhãng quên việc cho làm một chiếc ghế, bây giờ mới nhớ ra như đã hứa với Bác. Lập tức, Trung đoàn cho đơn vị khẩn trương đóng ghế.

Sáng hôm sau, Bác đến. Nhìn thấy cái ghế băng, Bác hỏi:

- Các chú làm xong ghế từ bao giờ?

Trung đoàn trưởng đành thủ lỗi với Bác. Bác nói:

- Như thế là các chú thật thà!

Trung tá Phạm Ngọc Hưng nay đã là một trung tướng, và câu chuyện cái ghế băng năm ấy là một kỷ niệm của Trung đoàn 2 và của đời anh.

 

58. Trường học của Bác

Có lần nhân câu chuyện kể với các bạn trẻ trong khu Phủ Chủ tịch, Bác nói:

“Các cô, các chú bây giờ đi học có trường, có bàn ghế, có cô thầy, bạn bè, sách vở, giấy bút, có giờ giấc đàng hoàng. Tối đến có đèn điện, thế mà học một năm không lên được một lớp là không đúng.

Ngày xưa, lúc Bác đang tuổi các cô, các chú thì tất cả bàn ghế, thầy, bạn, sách vở, giấy bút chỉ có trong bàn tay này thôi”.

Bác giơ bàn tay trái lên nói tiếp:

“Hồi ấy Bác làm bồi tàu, làm người quét tuyết ở Anh, rồi đi làm phụ bếp. Làm việc từ sáng đến tối, suốt ngày không được cầm đến tờ báo mà xem. Đến đêm mới hết việc, mới được đọc sách, đọc báo. Ban ngày muốn học chỉ có một cách là viết chữ lên mảng da tay này. Cứ mỗi buổi sáng viết mấy chữ, rồi đi cọ sàn tàu, cọ thùng, đánh nồi, rửa bát, thái thịt, băm rau, vừa làm vừa nhìn vào da bàn tay mà học. Hết ngày, người thì mồ hôi đầm đìa, chữ cũng mờ đi, cuối buổi đi tắm mới xóa được chữ ấy đi. Coi như đã thuộc. Sáng mai lại ghi chữ mới.

Sách Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta gồm nhiều hồi ký của các bạn Pháp viết, Nhà xuất bản Xã hội Paris in năm 1970 có trích một đoạn Bác trả lời phỏng vấn A. Kan (phóng viên báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp) như sau:

“Tôi không có hạnh phúc được theo học ở trường đại học. Nhưng cuộc sống đã cho tôi cơ hội học lịch sử, khoa học xã hội và ngay cả khoa học quân sự. “Phải yêu cái gì? Phải ghét cái gì? Cũng như tôi, tất cả người Việt Nam cần phải yêu độc lập, lao động, Tổ quốc” (tr.203).

...“Tất nhiên, không phải riêng tôi mà toàn thế giới đều kính trọng những nhà báo chân chính. Tôi cũng có thời gian học làm báo, cũng có thời gian tôi bỏ ngòi bút, cầm súng để chống lại kẻ thù, chống lại chủ nghĩa thực dân. Khi tôi còn ở Pháp, khi còn biết ít tiếng Pháp tôi đã là Tổng biên tập, biên tập và phát hành cả một tờ báo” (tr.202)

Bác thường nói với cán bộ:

“Học thêm được một thứ tiếng nước ngoài coi như có thêm một cái chìa khóa để mở thêm một kho tàng tri thức. Việc học là việc suốt đời”.

 

59. Điều Bác Hồ yêu nhất, ghét nhất

Trong kháng chiến chống Pháp, một nhóm người Pháp tiến bộ, cùng với một số hàng binh đã đứng về phía Việt Nam, chiến đấu dưới lá cờ giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh. Họ thành lập một tờ báo lấy tên là Bạn chiến đấu1 bằng tiếng Pháp xuất bản tại chiến khu Việt Bắc, phát hành bí mật trong quân đội Pháp.

Phóng viên báo Bạn chiến đấu đã có cuộc phỏng vấn Hồ Chủ tịch. Báo Cứu Quốc số 938 ngày 25/5/1948 – Chi nhánh số 6 in tại Liên khu X, đã đăng lại bài trả lời của Bác.

Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất?

Trả lời: Điều ác.

Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất?

Trả lời: Điều thiện.

Hỏi: Chủ tịch mong điều gì nhất?

Trả lời: Nền độc lập của nước tối và của tất cả các nước trên toàn cầu.

Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ cái gì nhất?

Trả lời: Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì.

------------------------------------------

1 Nguyên văn tiếng Pháp: Frères d’arme.

 

60. Năm ấy Bác Hồ không đi thăm rừng Cúc Phương

Các chiến sĩ và cán bộ Cục hàng không đã đưa Bác đi công tác trên cái máy bay của nhân dân Liên Xô tặng mang biển số Mi-4 VN 50D. Trong các chuyến đi gần và ít người, các đồng chí đã đề nghị Bác dùng trực thăng. Như trong các chuyến đưa Bác đến Lạng Sơn, Tân Trào, Quảng Ninh...

Một lần Bác đi công tác Vĩnh Phú. Theo chương trình thì chiều là Bác đi ô tô về Hà Nội. Nhưng lần ấy, tối mịt Bác mới ra về được. Anh em trong đoàn vừa lo đường sá, vừa sợ Bác mệt, nên anh em xin điều một máy bay trực thăng để đưa Bác về. Trực thăng đỗ ở sân bóng đá Vĩnh Yên.

Tỉnh ủy thưa với Bác và đề nghị Bác lên “trực thăng” về Hà Nội.

Bác cám ơn rồi nói:

- Bác có ô tô. Bác đi ô tô thôi, Bác về Hà Nội bằng ô tô.

Chú nào đã điều máy bay lên thẳng thì chú ấy ra ngồi máy bay mà về...

Đầu năm 1969, sau khi nghe Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp báo cáo tình hình rừng cây bị phá hoại, phần thì bom đạn, phần thì dân đốt phá, đẵn làm gỗ, làm củi và “cứ đà này, vài năm nữa ta sẽ hoàn thành kế hoạch... tiêu diệt rừng”1.

Nhân đó, Tổng cục trưởng mời Bác vào thăm rừng Cúc Phương. Tuy sức không còn khỏe, nhưng Bác vui vẻ nhận lời và nói:

- Phải đi thăm hang người Việt cổ...

Bác đề nghị đồng chí Nguyễn Lương Bằng thu xếp cho chuyến đi.

Anh em đề nghị Bác không đi ô tô nữa mà đi bằng “trực thăng”.

Trước hết. Bác uốn nắn:

- Tại sao chú không gọi là “lên thẳng”, mà cứ là “trực thăng”? “Trực thăng” hơn gì “lên thẳng”?

- Bác đi ô tô. Các chú cứ cho rằng hễ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước đi đâu muốn “đi gì cũng được à? Không phải thế đâu! Để Bác khỏe lên, Bác đi ô tô đến thăm Cúc Phương. Đi máy bay lên thẳng thì thôi, chờ dịp khác. Máy bay lên thẳng để dành khi nào có đồng bào bị tai nạn, bị đau nặng ở vùng rừng núi hẻo lánh khó chạy chữa thì đưa đồng bào nhanh chóng vào bệnh viện. Hay khi mưa bão, lũ lụt cần hộ đê, cứu dân, thì dùng.

Lần ấy chỉ vì không chịu “đi máy bay lên thẳng mà Bác không đến được Cúc Phương, mãi mãi anh chị em công nhân cán bộ trông nom rừng Cúc Phương không đón được Bác để Bác thực hiện một điều mong ước nhỏ.

Ngày nay, trong rừng Cúc Phương vẫn còn có cái thang của công nhân, cán bộ làm để Bác leo lên thăm hang người Việt cổ. Cái thang ấy không được in dấu chân Bác, và ngày ngày nhìn vào thang anh em chị em càng nhớ thương Bác.

Họ đặt tên cho cái thang ấy là “Cái thang thương nhớ”.

--------------------------------------

1 Sau khi nghe Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp báo cáo. Bác đã viết bài “Tết trồng cây” - in trên báo năm 1969.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)

14.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (6/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 5/8

44. Cờ của ta phải bằng cờ các nước

Đồng chí An Quân kể lại:

Vào khoảng ngày 23, 24 tháng 8 năm 1945, tôi được lệnh đón đoàn cán bộ cấp trên về địa phương. Thôn tôi ở bên bờ sông Hồng. Cờ đỏ sao vàng bay trên thôn xóm hai bên sông. Dưới sông, thuyền xuôi ngược, cờ bay trên đỉnh cột buồm, tạo nên không khí quật khởi đẹp lạ thường.

Chiếc thuyền đưa đoàn cán bộ tới. Chúng tôi nhận ra trong đó có Cụ Hồ. Trông Cụ gầy yếu xanh xao, tay cầm chiếc gậy song nhỏ, vai đeo túi dết màu chàm. Sau vài phút chào hỏi, chúng tôi mời Cụ và đoàn cán bộ về trụ sở tự vệ thôn. Tới cổng thôn, ông Cụ dừng lại xem các khẩu hiệu cách mạng kẻ trên tường. Chợt nhìn thấy hàng dãy cờ căng trước cổng thôn, Cụ bỗng hỏi:

- Sao các chú làm cờ của ta nhỏ hơn cờ các nước đồng minh?

Một đồng chí thưa:

- Dạ, giấy đỏ và vàng nhân dân mua làm cờ nhiều quá nên thiếu ạ! Vì muốn cho đủ nên chúng cháu phải cắt nhỏ đi một chút ạ.

- Không nên.

Cụ khẽ lắc đầu và bảo:

- Các chú phải hiểu là cách mạng đã thành công, nước ta đã giành được độc lập và đã ngang hàng với các nước, vì vậy cờ của ta phải bằng cờ các nước. Có thế mới tỏ rõ chí tự cường, tự trọng của mình.

Sau đó, một đồng chí chúng tôi đã trèo lên lấy cờ xuống để sửa lại.

 

45. Bác nhớ các cháu

Tháng chạp năm 1968, các dũng sĩ thiếu niên miền Nam đang học ở khu Tả Ngạn được đón về Hà Nội. Hôm sau, các cháu được vào Phủ Chủ tịch.

Vừa bước chân xuống xe, đã thấy Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở một cái ghế gỗ dài kê trước cửa nhà. Tất cả chạy ào tới.

Bác cháu trò chuyện ríu rít thăm hỏi nhau. Sau đó Bác Hồ bảo:

- Thôi các cháu vào ăn cơm với hai Bác!

Bữa cơm chẳng có thịt cá gì nhiều nhưng rất ấm cúng. Các dũng sĩ thiếu niên được ngồi ăn cùng Bác Hồ và Bác Tôn. Có một em người nhỏ quá, cái đầu chỉ lấp ló cạnh bàn, được Bác gắp thức ăn cho luôn.

Vừa ăn, Bác cháu vừa nói chuyện rất vui vẻ. Ăn xong, hai Bác cho mỗi cháu một bông hồng, một quả táo, một quả lê và ba quyển sách Người tốt việc tốt. Sau đó Bác Hồ bảo:

- Các cháu lại cả đây hôn hai Bác rồi ra về.

Các dũng sĩ hôn hai Bác xong, Bác Hồ lại dặn:

- Các cháu về trường cố gắng học tập cho giỏi.

Tất cả đều cảm động. Nhưng trong đoàn bỗng có một người lên tiếng hỏi: Thưa Bác, chúng cháu cứ tưởng hai Bác gọi chúng cháu về có việc gì ạ?

Bác Hồ cười hiền từ và bảo: Hai Bác nhớ các cháu thì gọi về để gặp và hỏi chuyện cho vui...

Hai Bác tuổi đã cao, trăm công nghìn việc nhưng vẫn nhớ đến các cháu miền Nam. Mọi người cảm động muốn trào nước mắt.

(Theo sách “Bác Hồ kính yêu")

 

46. “Ngó mí chắc lố”

Cuối năm 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang giai đoạn quyết liệt.  Phủ Chủ tịch đặt tại một vùng rừng già thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Tuy gọi là Phủ Chủ tịch, nhưng thực ra nhà cửa cũng chẳng khác gì nhà cửa của dân bản: một căn nhà sàn nhỏ là nơi Bác ở và làm việc. Vài ba chiếc nhà tranh, xung quanh là nơi ở và làm việc của thư ký, cán bộ, văn phòng và anh em bảo vệ; tất cả đều khuất trong lùm cây.

Đến địa điểm nào, Bác cũng chăm lo đến đời sống của anh em như chỗ ăn, chỗ ở, nhà tắm, nhà vệ sinh, nơi tăng gia và đặc biệt là giữ gìn bí mật. Bác bao giờ cũng gương mẫu thực hiện nghiêm túc.

Trong đội bảo vệ của chúng tôi, đa số là anh em người Tày. Một số quê ngay tại huyện Chiêm Hóa.

Một buổi sáng mùa đông, trời nắng đẹp, vào khoảng 10 giờ, Bác xuống ngồi đọc báo ngay dưới bãi cỏ, cách nhà sàn khoảng 2-3 chục mét. Một bà già người Tày ngoài 50 tuổi, tay xách chiếc làn đan bằng nứa, đầu đội nón, bất ngờ xuất hiện trong khu vực Phủ Chủ tịch.

Thấy ông già gầy gò, mặc quần áo chàm đang ngồi đọc báo, bà đinh ninh đó là ông Ké người Tày. Bà đến tận nơi vỗ vai và cất giọng hỏi:

- Kẻ mi chắc cơ quan Phủ Chủ tịch dú hầu? (Ông Ké có biết cơ quan Phủ Chủ tịch ở đâu không?)

Bác biết là bà già đến thăm con trai đang công tác trong đội bảo vệ Phủ Chủ tịch, song Bác vẫn giữ nguyên tắc và thản nhiên trả lời:

- Ngó mí chắc lố! (Tôi không biết đâu nhé!)

Tôi đứng khuất gần đó cũng phải phì cười. Để bà già đi qua, Bác vẫy tay gọi tôi lại rồi dặn:

- Chú theo bà cụ, hỏi xem bà là mẹ chú nào, đưa bà cụ tới nhà khách, lo ăn ngủ chu đáo, rồi báo cho con trai bà cụ ra. Nhớ dặn chú ấy là giữ gìn bí mật.

Tôi vâng lời và làm theo. Sáng hôm sau, Bác lại hỏi tôi xem bà cụ đã gặp con trai chưa và chỗ ăn ở của bà cụ có chu đáo không?

Tôi báo cáo Bác là mọi việc anh em đã lo chu đáo. Bác nói như tâm sự:

- Đã là đồng bào, đồng chí thì một lòng một dạ, sống chết có nhau. Mẹ của bạn đến cũng như mẹ của mình đến, phải săn sóc ân cần. Có thế thì bạn mình mới yên tâm công tác.

Tôi cảm động và đinh ninh nhớ lời Bác trong suốt đoạn đường theo Bác đi kháng chiến.

(Viết theo lời kể của Ma Văn Trường)

 

47. Câu hát ví dặm

Chiểu 18 tháng 5 năm 1969, các diễn viên Đoàn văn công Quân khu 4 vào Phủ Chủ tịch biểu diễn mừng thọ Bác 79 tuổi.

Sau một số tiết mục, đến lượt chị Mai Tư hát dặm đò đưa: “Nước sông Lam biết khi mô cho cạn cũng như tinh thần cách mạng của dân ta...”

Bác hỏi mấy đồng chí ngồi xung quanh:

- Có hay không các chú?

- Thưa Bác, hay ạ!

Bác hỏi chị Mai Tư:

- Trong ta chừ có dệt vải nữa không?

- Dạ thưa Bác, có ạ!

Bác bảo Mai Tư hát một câu mà các cụ ngày xưa hay hát. Mai Tư thưa với Bác

- Dạ, chúng cháu hát điệu phường vải nhưng không biết lời cũ ạ!

Bác bảo:

- Thì cháu lấy câu ni để hát nhé: “Khuyên ai chớ lấy học trò”. Cháu tiếp đi.

- Dạ, thưa Bác, có phải “Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” không ạ!

- Giờ cháu tiếp câu nữa đi.

Mai Tư lúng túng không biết, Bác nhắc

- “Lưng dài có võng đòn cong

Áo dài đã có lụa hồng vua ban

Mai Tư hát câu Bác vừa nhắc theo điệu hát ví Nghệ An.

Đến lượt Minh Huệ, chị đứng dậy thưa:

- Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền Trung theo lời cũ ạ! Rồi chị cất giọng: “A ơ ơ... Ru em em ngủ cho muồi”.

Bác sửa lại: “Ru tam tam théc cho muồi

Minh Huệ hát tiếp: “Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu”.

Bác sửa lại: “Để mạ chứ không phải mẹ

Minh Huệ hát tiếp: “Mua với chợ Quán, chợ Cầu

Mua cau chợ Sải, mua trầu chợ Dinh

Bác cười và nói: “Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ Sải”.

Bác đã từng đi năm châu bốn biển mấy chục năm trời mà vẫn không quên câu hát ví dặm của quê nhà.

 

48. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ đã “bay” đến miền Nam

Trên Việt Bắc, tại A.T.K (an toàn khu), nhiều lần trong những năm chống Pháp, sau buổi họp Hội đồng Chính phủ, Bác Hồ thường gợi ý đồng chí Hoàng Đạo Thúy1: “Tối nay ta đốt lửa trại nhé”. Thế là anh em cảnh vệ kiếm một góc rừng kín, xếp vài bó củi, lấy nứa khô làm mồi, nổi lửa lên. Các vị trong Hội đồng, già có, trung niên có, cả anh em phục vụ quây quần nghe Bác kể chuyện...

Một lần, Bác nói với đồng chí Thúy:

- Tối nay lại làm lửa trại nhé!

Đồng chí Thúy hóm hỉnh trả lời.

- Thưa Cụ, lửa trại phải có “Chúa lửa” chứ!

- Thì chú làm chúa.

- Tôi làm, sợ chỉ định ai đấy họ không nghe thì mất vui.

- Phải tuân thủ “luật rừng” chứ!

Thế là lửa được nhóm lên. Chúa lửa Hoàng Đạo Thúy đi vòng quanh đống lửa, giơ tay lên trời, quay người đi bốn hướng... rồi chỉ đúng vào Bác Hồ: “Yêu cầu hát một bài.

Bác đang ngồi cạnh cụ Bùi2, đứng dậy, tiến ra, vừa đi vòng quanh đống lửa vừa hát “Anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu, dấy binh lấy lau làm cờ...3

Mọi người hoan hô nhiệt liệt, vỗ tay hoan nghênh người hát.

Cụ Bùi hỏi:

- Cụ học bài này hồi nào thế?

- Ấy, Hướng Đạo họ dạy tôi. Cụ cũng phải chuẩn bị “tiết mục” lỡ chúa trại chỉ vào mà không có là nguy đấy...

Lần khác, đốt lửa lên, bác sĩ Trần Duy Hưng được bầu làm chúa lửa. Sau những động tác theo thủ tục, Chúa lửa tuyên bố:

- Cụ Chủ tịch rời Sài Gòn đã hơn 40 năm. Nay máy bay sẽ đưa Cụ vào miền Nam gặp gỡ đồng bào, nói chuyện với đồng bào... Thế là có hai người đã được bố trí sẵn, khoác tay, đan vào nhau làm một cái “kiệu” công kênh Bác lên. Mọi người trong lửa trại đều “ù ù” ra cái vẻ máy bay đang bay...

Chạy hai vòng lửa, “cả máy bay” lẫn hành khách “cùng phải ù ù nên cũng mệt”. Máy bay “ngừng” động cơ “ù ù, tắt.

Đứng trước Chúa lửa – là người “giả vờ là đồng bào miền Nam”, Bác Hồ nói:

- Kính thưa đồng bào miền Nam. Tôi được đến đây vui mừng khôn xiết. Nhưng vì đi “máy bay” cũ nên chưa được khỏe. Tôi xin nhờ đồng chí Trần Duy Hưng thay tôi thưa chuyện trước với đồng bào...

Tất cả các trại viên đều nhảy đứng lên cười vang trong tiếng vỗ tay, hoan hô ầm ĩ. Một vị cao tuổi nói:

- Trần Duy Hưng4 “chết” chưa?

(Theo lời kể của Hoàng Đạo Thúy)

-----------------------------------------

1 Ủy viên trưởng Hướng đạo Bắc Kỳ, Trưởng ban thi đua ái quốc Trung ương, Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc.

2 Bùi Bằng Đoàn: Trưởng ban Thường trực Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa I (BTV).

3 Bài hát nói về Đinh Bộ Lĩnh.

4 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội.

 

49. Quà tặng của Bác

Một buổi sáng mùa thu năm 1950, Bác Hồ đi công tác, vừa qua vọng gác ATK (an toàn khu) thì gặp một cô bé. Cô vừa đi vừa ngắm nhìn cây cối, chim chóc. Thoáng thấy một cụ già mặc áo ka ki vàng, khăn quàng bên vai, cô sững sờ giây phút rồi hét lên:

- Bác! Bác Hồ!

Bác đi gần lại, hỏi:

- Cháu đi đâu mà sớm thế.

Cô gái nhanh nhẩu thưa:

- Thưa Bác, cháu bên chú Tô (bí danh của đồng chí Phạm Văn Đồng) sang đưa công văn ạ.

Bác lại hỏi:

- Cháu đi từ mấy giờ sáng mà đã đến đây sớm thế?

- Thưa Bác, tan sương là cháu đi ngay ạ.

Bác động viên:

- Giỏi lắm. Thế đi liên lạc có vui không?

- Dạ vui lắm.

- Thế bên ấy có ăn cơm độn không?

- Dạ có ạ, nhưng các anh thấy cháu là con gái nên dành cho ăn cơm...

Bác dặn:

- Trưa nay ở đây ăn cơm rồi hãy về.

Trưa hôm ấy, bữa cơm gạo đỏ, tôm rim, canh rau muống đựng trong ống bương nhưng cô gái ăn rất ngon lành.

Chúng tôi bảo cô:

- Rau muống Bác trồng đấy.

Ít lâu sau, cô liên lạc được chuyển sang Văn phòng của Phủ Chủ tịch. Chúng tôi gọi cô là cô Hiền, vì thật sự là cô hiền từ quá, mặc dù tên của cô là Đức. Hiền Đức. Cuối năm, cơ quan chọn một số thanh niên đi sang Trung Quốc học. Cô Hiền cũng có trong danh sách, nhưng ý không muốn đi.

Một hôm, Bác cho gọi Hiền, Bác hỏi:

- Cháu có muốn công tác tốt không?

- Có ạ.

- Có muốn phục vụ nhân dân được nhiều không?

- Có ạ.

- Thế thì phải đi học. Học tập để hiểu biết thêm, hiểu biết nhiều. Có hiểu biết nhiều mới phục vụ nhân dân được nhiều, được tốt.

Bác đưa cho cô Hiền hộp thuốc lá của Bác:

- Bác tặng cháu cái hộp này để đựng kim chỉ. Ngoài giờ học phải học thêu thùa, vá may. Con gái là phải biết làm các việc đó.

Bẵng đi mấy năm, ngày 12 tháng 6 năm 1956, Bác đến thăm lớp đào tạo hướng dẫn viên trại hè tại trường Chu Văn An, Hà Nội. Trong câu chuyện, Bác nói đại ý: Trong giáo dục không những phải có tri thức, tham ô hủ hóa thì hại dân hại nước. Có đức mà không có tài cũng như ông Bụt trong chùa, không giúp ai được gì.

Nói xong chuyện, Bác bước xuống bục đến gần một cô giáo hỏi:

- Cháu Đức phải không?

Cô giáo, cô Hiền Đức liên lạc ngày nào òa lên khóc.

Nhìn thấy em nhỏ trên tay Đức, Bác hỏi:

- Cháu được đầy năm chưa?

Cô giáo Đức trấn tĩnh lại, thưa:

- Dạ, được 3 tháng ạ.

Bác khen:

- Cháu bụ lắm. Chú ấy công tác ở đâu?

- Dạ, nhà cháu ở bộ đội ạ... Thưa Bác, nghe lời Bác cháu đi học sư phạm rồi về nước dạy học. Cái hộp Bác cho, cháu vẫn giữ ạ...

Bác hỏi:

- Thế bây giờ cô giáo thêu thùa, khâu vá đã giỏi chưa?

- Thưa Bác, cũng tàm tạm ạ.

Bác dặn:

- Đã là cô giáo thì phải dạy cho học trò biết nữa. Vừa dạy học vừa nuôi con được như thế này là giỏi. Nhưng phải cố gắng thêm.

- Dạ, cháu xin hứa.

Mấy ngày sau, đồng chí nhiếp ảnh trình Bác xem mấy tấm ảnh, trong đó có bức ảnh Bác đang vuốt má con cô Hiền Đức.

Bác bảo một đồng chí trong Văn phòng:

- Chú tìm nhà cháu Đức đưa tấm ảnh này tặng cô giáo.

Không rõ năm nay cô giáo Hiền Đức ở đâu? Có còn giữ được tấm ảnh quý ấy không? Và hai mẹ con đã đi một quãng đường hứa với Bác thế nào?

(Theo đồng chí Trung và một số đồng chí khác)

 

50. Không ai được vào đây

Sách Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 10, do Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1996, trang 334 có đoạn:

“Ngày 27 tháng 4 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe hai đồng chí Lê Đức Anh và Chu Huy Mân báo cáo công việc, sau đó Người mời hai đồng chí ở lại ăn cơm với Người”.

Sáng hôm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bỏ phiếu Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã... Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, đơn vị 1, tiểu khu 1, khu phố Ba Đình, Hà Nội, đặt tại nhà thuyền Hồ Tây.

Bác Hồ bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội ngày 27 tháng 4 năm 1969.

Khi Bác Hồ đến, trong nhà thuyền đã có nhiều cử tri bỏ phiếu. Tổ bầu cử thấy Bác đến ra hiệu để đồng bào tạm dừng và tạo “điều kiện” cho Bác bỏ phiếu trước. Biết ý, Bác nói “sòng phẳng”.

- Ai đến trước, viết trước. Bác đến sau, Bác chờ. Bác chờ cho đến hàng mình mới nhận phiếu và vào “buồng” phiếu.

Nhà báo Ma Cường chợt nghĩ thật là “hạnh phúc một đời của người làm báo”, “cơ hội ngàn năm có một” và vội giơ máy lên bấm, rất nhanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy tay che phiếu lại, nói với Ma Cường:

- Không ai được vào đây. Đây là phòng viết phiếu kín của cử tri. Phải đảm bảo tự do và bí mật cho công dân.

Nhà báo buông máy, nhưng vẫn thấy hạnh phúc.

Theo lời kể của các đồng chí ở gần Bác, trước khi đi bầu cử, Bác không cho ai “gợi ý” cả, Bác nói:

- Ấy, đừng có “lãnh đạo” Bác nhé. Bác không biết Đảng ủy hướng dẫn danh sách để ai, xóa ai đâu nhé. Đưa lý lịch của những người ứng cử đây để Bác xem. Có chú nào dự buổi ứng cử viên trình bày ý kiến với cử tri, nói lại để Bác cân nhắc, Bác tự bầu.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)