9.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (4/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 3/8

26. Bỏ một mâm, lấy một đĩa

Ðồng chí Vũ Uy kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện mà đồng chí nhớ mãi.

“Đó là vào dịp cuối năm 1950, sau Chiến dịch Biên giới. Tôi được trên phân công lái xe đưa Bác đi công tác. Một tối, trên đường từ Ngân Sơn đi Cao Bằng, qua đèn chiếu tôi thấy một hòn đá giữa đường. Vốn là lái xe to, quen tay, tôi đưa xe vào giữa hòn đá, nghĩ bụng sẽ lọt thôi. Nào ngờ hòn đá tai ác bật lên chạm két nước. Nhảy xuống xe tôi phát hiện ra là két bị thủng rồi. Nguy quá. Tôi cuống lên.

Bác đến bên, chiếu đèn pin cho tôi, rồi nói:

- Cứ bình tĩnh mà chữa. Chữa cho cẩn thận.

Bác không hỏi vì sao xe hỏng, cũng không góp ý phê bình gì.

Vì trên xe có đồng chí Chủ, thợ máy đi theo nên chẳng mấy chốc lỗ thủng két nước đã hàn xong. Chúng tôi lại đưa Bác lên đường đi tiếp, đến địa điểm an toàn.

Nghỉ ngơi xong, Bác hỏi tôi:

- Xe làm sao thế?

- Thưa Bác, cháu quen lái xe tải, nên thấy hòn đá tưởng có thể vượt qua được, không ngờ nó lại kẹt vào thùng nên bị thủng...

Bấy giờ Bác mới nói:

- Đáng lẽ ra chú nên cho xe dừng. Ta lăn hòn đá xuống vực rồi tiếp tục đi. Có lâu cũng chỉ dăm ba phút không phải dừng lại đến gần nửa tiếng mà lại giúp các xe đi sau khỏi gặp nạn. Chú đã “bỏ một mâm mà chỉ lấy một đĩa”.

Tôi nhận lỗi và xin hứa với Bác rút kinh nghiệm, sửa chữa cách nghĩ, cách làm...

Cứ như ý tôi sáu chữ Bác dạy “bỏ một mâm lấy một đĩa” có thể áp dụng trong tất cả công tác cách mạng. Phải nghĩ tới cái lớn, cái lâu dài, cái chung. Phải cẩn thận chứ không nên vội vàng, hấp tấp, nghĩ tới cái nhỏ, cái hẹp, cái thiển cận...

 

27. Hỏi chú Việt ấy!

Trong kháng chiến chống Pháp để sẵn sàng để phòng sự bất trắc, tuy đã ở trong A.T.K (an toàn khu) nhưng cán bộ của Phủ Chủ tịch và Văn phòng Trung ương Đảng vẫn luôn luôn phải “quân sự hóa”, có thời gian phần lớn cán bộ đều phải ngủ đêm tập trung, đôi lúc còn bị “báo động thử”, điểm danh, mang ba lô tập hành quân.

Một lần đồng chí Việt có vợ lên thăm. Cơ quan cho phép đồng chí ra “chiêu đãi sở”1 trao đổi công việc gia đình với chị Việt. Được vài hôm thì có lệnh tập trung. Đêm hôm ấy có báo động thật. Điểm danh không thấy đồng chí Việt đâu. Anh em lo quá, báo cáo lên Bác. Bác nói:

- Ta cứ hành quân thôi. Yên tâm.

Sau đó mới biết rằng đêm ấy đồng chí Việt xuống làng, đến “chiêu đãi sở”. Anh em cũng “thông cảm” bỏ qua cho, nhưng cũng không quên nhắc nhở đồng chí Việt.

Ít lâu sau, trong một lần sinh hoạt học tập về quân sự, có người đề nghị Bác giảng dạy thêm về lối đánh du kích của Nga, của Trung Quốc, của ta.

Bác kể các mẩu chuyện nhỏ của các đội quân ngầm Hồng quân Liên Xô, của Bát Lộ Quân... Trong các vùng bị địch tạm thời chiếm đóng. Khi thời gian học đã gần hết, Bác nói:

- Về cách đánh du kích của ta, Bác sẽ nói sau. Ai muốn tìm hiểu trước thì hỏi chú Việt ấy...

Đồng chí Việt nói lại với chúng tôi:

- Ông cụ phê bình tế nhị, thân tình mà vẫn nghiêm khắc, nhẹ nhàng nhưng mình xấu hổ quá. Từ đó về sau, “cạch” không dám vi phạm nội quy nữa...

-------------------------------------------

1 Là nơi dành để đón gia đình vợ, con cán bộ đến thăm.

 

28. “Nhà máy có khỉ”

Sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với chủ đề Hà Nội do Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội in vào dịp tháng 5 năm 1985, trang 22 có viết:

Ngày 19 tháng 5 năm 1955, Hồ Chủ tịch thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm.Người căn dặn “Muốn thi đua có kết quả thì mọi người phải biết đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau...”

Đến thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, Bác nhắc nhở công nhân, cán bộ phát huy truyền thống cách mạng của Nhà máy, ra sức xây dựng miền Bắc, ủng hộ miền Nam.

Một công nhân trẻ Nhà máy sau này còn được nghe kể lại một mẩu chuyện nhỏ trong dịp Bác thăm lần ấy.

Năm 1955, Hà Nội mới giải phóng được một năm, Nhà máy bấy giờ còn có tên là “Nhà máy Cơ khí Gia Lâm”. Cái biển treo trước cổng nhà máy kẻ chữ to, đẹp nhưng không đánh dấu sắc chữ “i”. Không có “mũ chữ “â”, chữ “ơ” không có râu...

Đến thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, Bác nhắc nhở công nhân, cán bộ phát huy truyền thống cách mạng của Nhà máy, ra sức xây dựng miền Bắc, ủng hộ miền Nam.

Bác vào Nhà máy, gặp anh chị em công nhân, bỗng Bác hỏi:

- Nhà máy các cô, các chú có khỉ à?

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu câu chuyện thế nào mà lại sinh ra “khỉ” thế này. Giám đốc ra hiệu hỏi thư ký công đoàn, thư ký công đoàn hỏi bí thư thanh niên. Không ai trả lời được. Bác lại giục:

- Thế nào, biển đề “có khỉ” mà.

- Dạ, thưa có đâu ạ.

Bác cười:

- Có đấy!

- Biển Nhà máy Cơ khí Gia Lâm của các cô, các chủ viết bằng tiếng mẹ đẻ mà không đánh dấu. Vì vậy mà Bác đọc nhầm là “Nhà máy có khỉ mà khỉ lại “già lắm”...

Mọi người ngẩn ra... được một bài học đích đáng nhé...

 

29. “Qua kin mẹo”

Thời gian ở Xiêm năm 1927 - 1928, Bác thấy Việt kiều ta thỉnh thoảng vẫn “đánh đụng” chung nhau ăn “mộc tồn”1. Vì người Thái kiêng không ăn loại thịt này nên Việt kiều thường nói khác là thịt “mèo”, anh em nói lái ra “qua kin mẹo” (nghĩa là quạ ăn mèo) để diễn đạt: “keo kin mạ” (người Keo - người Việt ăn thịt cầy).

Tuy Thầu Chín không “tham gia” nhưng thấy anh em vui vẻ Người cũng vui lây...

Năm 1949, có một đoàn đại biểu ở Xiêm về nước báo cáo tình hình hoạt động yêu nước của kiều bào với Hồ Chủ tịch và Chính phủ, trong khi chờ ngày Hội đồng Chính phủ tiếp, Bác chủ động đến thăm anh em.

Trông thấy đồng chí Nhu, đồng chí Kiệt và một số kiều bào quen biết cũ, trong lúc các đồng chí này đang lúng túng không biết nên báo cáo thế nào với Chủ tịch nước, thì Bác đã tươi cười hỏi:

- Anh em mình vẫn mạnh giỏi cả chứ. Vẫn “qua kin mẹo” chứ?

Tất cả cười vang lên trong một không khí gia đình của những người thân thích ruột thịt xa nhau, lâu ngày mới được gặp lại và không thấy có gì ngăn cách giữa mình với Bác.

(Theo lời kể của đồng chí Hòa)

-----------------------------------

1 “Mộc” tiếng Hán là “cây”. “tồn” tiếng Hán là “còn”, “cây còn” nói lái ra là “con cầy” tức món thịt cầy, thịt chó (TG).

 

30. Phải đánh được bài “Kết đoàn”

Có một cán bộ cao cấp rất yêu thích văn học nghệ thuật. Trong năm đồng chí ấy đã tập đánh đàn dương cầm vừa để giải trí xen kẽ những giờ lao động trí óc mệt nhọc vừa thưởng thức những âm thanh huyền diệu của cây đàn.

Một lần, Bác đến thăm và yêu cầu đồng chí dạo một bản nhạc tự chọn để Bác nghe. Ngồi vào bàn đồng chí ấn phím và bài “Chiến thắng Điện Biên” hùng tráng vang lên. Dứt bản nhạc Bác hỏi:

- Chú có chơi các bài dân ca không?

Những phím đàn lại đưa Bác về với vùng quan họ với bài Trống cơm, rồi Trẩy hội đêm rằm...

Nghe xong, Bác tiến lại gần đồng chí cán bộ hỏi:

- Chú có biết đánh bài Kết đoàn không? Bài Kết đoàn ai cũng biết. Nếu chưa đánh được bài ấy thì chưa giỏi.

Bác bắt nhịp bài Kết đoàn trong buổi hòa nhạc mừng Đại hội Đảng năm 1960

Đồng chí cán bộ đành thú thật với Bác là chưa đánh được bài Kết đoàn.

(Theo đồng chí H.D)

 

31. Dân chủ mà thành “quan chủ”

Ngay từ khi chưa giành được chính quyền, Bác Hồ đã dự báo trước căn bệnh “quan liêu” sẽ xuất hiện, sẽ làm xói mòn “cơ thể” một số cán bộ, một số cơ chế tổ chức, dẫn đến tai hại cho cả một xã hội.

Hôm đầu tiên về Hà Nội, tháng 8 năm 1945, Bác đã nhắc khéo một vài “quý vị” rằng “đã ra vẻ người thành phố, ra vẻ cán bộ rồi đấy”.Trong kháng chiến chống Pháp trong sách Sửa đổi lối làm việc, mỗi khi có hội nghị, gặp gỡ cán bộ cấp cao ở Trung ương, cấp cuối cùng ở thôn xã, bao giờ Bác cũng nhắc “cán bộ là đầy tớ của nhân dân”. Bác nghiêm khắc phê bình lối làm việc “quan liêu mệnh lệnh, xa rời dân chúng”, lên mặt quan cách mạng, “khắc hai chữ cộng sản lên trán” ra vẻ ta đây...

Hòa bình lập lại trên miền Bắc được vài năm, ở Hà Nội xuất hiện chế độ tem phiếu. Những bà nội trợ trong thời gian ấy cứ bù đầu lên vì những phiếu, những số A, B, C, 1, 2, 3... Có những ông chồng giáo sư, bác sĩ... cứ nghe “đức phu nhân” trình bày “giá trị, tác dụng” của các ô giấy nhỏ ấy cũng lắc đầu lảng tránh “Tôi xin chịu... không hiểu nổi, không nhớ nổi”...

Có phiếu bìa đỏ mua ở cửa hàng cung cấp cho cán bộ “cao”, bìa xanh cho cán bộ “vừa”, bìa trắng cho nhân dân... Lại có bìa mua ở cửa hàng đặc biệt. Lại còn bìa dành cho cán bộ được mua ở các cửa hàng quốc tế mặc dù có cán bộ “cả đời” cũng không bước chân vào xem trong đó có gì - có thể vì không thích, vì không đủ tiền; trong khi đó có một loại “con buôn” lại vào, ra “thì thọt” kiếm chác được!

Tháng 5 năm 1969, trong một lần làm việc với một nhà khoa học, những vấn đề tem phiếu cho các cấp “quan cán bộ” ấy đã được Bác lắng nghe. Bác yêu cầu cho dẫn chứng cụ thể các thể thức bán hàng, phục vụ quá phiền phức tại Hà Nội.

Bác không vui, quay lại hỏi Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Nội thương. Bác lại hỏi Bí thư Thành ủy Hà Nội. Biết chắc chắn tình hình đã có, đã có khá lâu, Bác lắc đầu: - Dân chủ mà thành ra quan chủ. Hà Nội mà còn nhiều quan như vậy sao!

Tất cả từ Thủ tướng đến nhà khoa học, ngồi im nghẹn ngào, xúc động không trả lời được Bác.

(Theo lời kể của giáo sư Hoàng Tụy)

 

32. Chiếc áo ấm

Một đêm mùa đông năm 1951, gió bấc tràn về mang theo những hạt mưa lâm thâm làm cho khí trời càng thêm lạnh giá. Thung lũng bản Ty co mình lại trong yên giấc, trừ một ngôi nhà sàn nhỏ còn phát ra ánh sáng. Ở đây, Bác vẫn thức, vẫn làm việc khuya như bao đêm bình thường khác.

Bỗng cánh cửa nhà sàn hé mở, bóng Bác hiện ra. Bác bước xuống cầu thang, đi thẳng về phía gốc cây, chỗ tôi đang đứng gác:

- Chú làm nhiệm vụ ở đây có phải không?

- Thưa Bác, vâng ạ!

- Chú không có áo mưa?

Tôi ngập ngừng nhưng mạnh dạn đáp:

Dạ thưa Bác, cháu không có ạ!

Bác nhìn tôi từ đầu đến chân ái ngại:

- Gác đêm, có áo mưa, không ướt, đỡ lạnh hơn.

Sau đó Bác từ từ đi vào nhà, dáng suy nghĩ...

Một tuần sau, anh Bảy cùng mấy người nữa đem đến cho chúng tôi 12 chiếc áo dạ dài chiến lợi phẩm. Anh nói:

- Bác bảo phải cố gắng tìm áo mưa cho anh em. Hôm nay có mấy chiếc áo này, chúng tôi mang lại cho các đồng chí.

Được một chiếc áo như thế này là một điều quý, nhưng đối với chúng tôi còn quý giá và hạnh phúc hơn khi Bác trực tiếp chăm lo, săn sóc với cả tấm lòng yêu thương của một người cha.

Sáng hôm sau, tôi mặc chiếc áo mới nhận được đến gác nơi Bác làm việc. Thấy tôi, Bác cười và khen:

- Hôm nay chú có áo rồi.

- Dạ thưa Bác, đây là áo anh Bảy đem đến cho tiểu đội chúng cháu mỗi người một chiếc ạ.

Nghe tôi thưa lại, Bác rất vui. Bác ân cần dặn dò thêm:

- Trời lạnh, chú cần giữ gìn sức khỏe và cố gắng làm tốt công tác.

Dặn dò xong, Bác trở lại ngôi nhà sàn để làm việc.

Lòng tôi xiết bao xúc động. Bác đã dành áo ấm cho chúng tôi trong lúc Bác chỉ mặc một chiếc áo bông mỏng đã cũ. Đáng lẽ chúng tôi phải chăm lo cho Bác nhiều hơn, còn Bác, Bác lại lo nghĩ đến chúng tôi nhiều quá.

Từ đấy, chúng tôi cũng trân trọng giữ gìn chiếc áo Bác cho như giữ lấy hơi ấm của Bác. Hơi ấm ấy đã truyền thêm cho chúng tôi sức mạnh trong mỗi chặng đường công tác.

(Theo lời kể của đồng chí Tiện)

 

33. Thế có nước mắm ớt không?

Đầu năm 1967, nhân dịp Tết Bính Ngọ, Bác Hồ đến thăm trận địa trung đội súng máy cạnh bờ đê Mai Lĩnh. Từ xa, các chiến sĩ đã nhận ra ngay cụ già từ trong chiếc xe sau bước xuống là Bác Hồ vô cùng kính yêu của họ. Không nén được vui mừng, cả trung đội cùng reo lên: Bác Hồ!

Mặc dù trời mưa, đường trơn, Bác vẫn nhanh nhẹn đi vào trận địa. Chỉ trong giây lát, cả trung đội đi vòng quanh Bác. Chân đi dép lốp, đầu đội mũ vải, Bác cứ đứng dưới mưa phùn nói chuyện với anh em. Giọng Bác ấm áp, hiền từ như một người ông nói với đàn cháu nhỏ. Bác hỏi:

- Các chú khỏe chứ. Có đủ ấm không? Các chú ăn tết có những gì?

Anh em đồng thanh đáp:

- Thưa Bác nhiều lắm ạ.

Một đồng chí cán bộ thay mặt đơn vị báo cáo:

- Dạ thưa Bác, chúng cháu khỏe, đủ ấm, Tết chúng cháu có bánh chưng, có thịt, có giò, có cả thịt gà nữa...

Bác lại hỏi:

- Thể có nước mắm ớt không?

Câu hỏi của Bác làm cả trung đội cười ầm lên thích thú và cảm động. Nghe những câu hỏi của Bác, nhìn cặp mắt hiền từ của Bác, càng thấy tấm lòng yêu thương của Bác đối với bộ đội như người mẹ hiền.

(Theo hồi ký của Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu)

 

34. Bữa cơm ở bản

Bác và đồng chí Phù Sấn thoát khỏi bốt gác Đôn Chương thì đi thẳng đến trạm Nà Mạ. Mới đặt khăn gói, chưa kịp nghỉ ngơi thì được tin: có tên tổng đoàn lên khám mạng một vụ giết người cướp của ở Kèo Già. Để đảm bảo an toàn, các đồng chí đưa Bác lánh vào một cái hang sau làng Nà Mạ, chờ đến tối sẽ đưa Bác vào làng ăn cơm. Trước khi vào hang tránh, Bác dặn làm thịt con gà mà tỉnh ủy Cao Bằng cho mang theo khi Bác cải trang đi đường.

Chiều hôm ấy, chủ nhà không thịt gà như Bác đã dặn mà thịt con vịt béo của nhà mình để làm cơm mời khách. Chủ nhà lọc riêng nạc với gan cho ra một đĩa và đặt sang mâm Bác.

Ngồi vào ăn, Bác nhìn mâm cơm và hỏi:

- Ai làm bữa cơm này?

- Thưa Bác, chủ nhà ạ!

Chỉ vào đĩa thịt nạc, Bác bảo:

- Sao lại làm như vậy?

- Thưa Bác, đó là phong tục địa phương đối với khách ạ.

Bác lắc đầu nói:

- Không được, phong gì thì phong tục gì thì tục, chủ xẻ đĩa thịt này sang mâm kia để gia đình cùng ăn.

Mọi người làm theo lời Bác.

 

35. Vận trù học

Dù đã đi bốn phương trời, tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ sau bao nhiêu năm xa cách Tổ quốc, Bác vẫn không bao giờ quên những âm nói riêng của “Xứ Nghệ”, nhớ thương, xúc động khi ở đất Thái, quê người, bỗng nghe bà Quỳnh Anh một đêm hè “ru con” bằng lối ru của những người mẹ hiền ở quê mẹ...

Ngành ngôn ngữ nước ta chắc sẽ không bao giờ quên, nhờ có Bác mà có thêm được những danh từ rất Việt Nam không kém trang trọng “bác học” mà vẫn “dân gian”. Một đoàn “ca vũ” Tổng cục chính trị, một hội “Hồng thập tự”, một lớp “phi công”, các “cung ứng hỏa xa viên”... đều đã được Bác đổi tên cho thành “Đoàn ca múa”, “Hội chữ thập đỏ”, “chiến sĩ lái”, “Đội phòng cháy, chữa cháy, nhân viên phục vụ”, rồi cho cả “vùng trời vùng biển”...

Nhà toán học Hoàng Tụy có chuyện kể rằng:

“Khoảng tháng 5 năm 1969, chỉ vài tháng trước lúc đi xa, trong một lần nào đó, Bác thấy nhân dân thủ đô phải “rồng rắn” xếp hàng dài trước các cửa hàng, nhất là ở các quán bia. Bác băn khoăn và trao đổi việc này với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ngày 30 tháng 7 cùng năm, nhà toán học được mời đến gặp Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ yêu cầu áp dụng khoa học trong việc phân phối hàng hóa, góp phần giải quyết tình trạng “xếp đuôi dài” trước các cửa hiệu. Nhà toán học đã phát biểu về khả năng áp dụng vận trù học trong ngành thương nghiệp để giải tỏa “rồng rắn”. Bác nêu việc người mua bia, bán bia và nói:

- Chú thử cố gắng áp dụng lý thuyết “vận trù học” của chú để cải tiến việc này.

Biết là Bác phê bình khéo ba chữ “vận trù học”, vì nhà khoa học đã đoán biết thế nào Chủ tịch nước cũng “nhắc nhở” về nhóm chữ này, nên đồng chí Hoàng Tụy thưa:

- Thưa Bác, chúng cháu chưa tìm ra được chữ khác...

Bác nói:

- Nên tìm chữ gì dễ hiểu hơn, chứ “vận trù học” thì Chủ tịch nước cũng không hiểu nổi!

Ngừng một lát, Bác lại hỏi:

- Thế chú có biết nguồn gốc chữ “vận trù học” ở đâu mà ra không?

Nhà toán học, mẹ đẻ ra đứa con yêu - danh từ “vận trù học”, xấu hổ quá, báo cáo thật:

- Thưa Bác, không ạ...

Bác nói:

- Đó là câu của Trương Lương “vận trù duy ác chi trung, quyết thắng thiên lý chi ngoại”. Vận trù cũng là tham mưu. Bộ đội ta có nhiều người không học tính toán được nhiều mà làm “vận trù” cũng khá, là nhờ cái này (Bác chỉ vào ngực, phía quả tim...).

Nghe thế, nhưng nhà toán học cho đến nay vẫn còn “nợ” chưa tìm được ba chữ gì thay cho “vận trù học”.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019) 

7.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (3/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 2/8

17. Chú ngã có đau không?

Vào đầu năm 1954, tiết trời đã sang xuân, nhưng ở Việt Bắc vẫn còn rét. Gió bấc thổi mạnh, mưa phùn lâm râm gây nên cái lạnh buốt, Bác vẫn làm việc rất khuya. Bác khoác chiếc áo bông đã cũ, miệng ngậm điếu thuốc lá thỉnh thoảng lại hồng lên, tiếng máy chữ lách tách, lách tách đều đều...

Trời lạnh, nhưng được đứng gác bên Bác, tôi thấy lòng mình như được sưởi ấm lên. Tôi nhẹ nhàng bước chân đi vòng quanh lán. Một lần vừa đi, vừa nghĩ, tôi bị thụt chân xuống một cái hố tránh máy bay. Tôi đang tìm cách để lên khỏi hố, chợt nghe có tiếng bước chân đi về phía mình. Có tiếng hỏi:

- Chú nào ngã đấy?

Chưa kịp nhận ra ai, thì tôi đã thấy hai tay Bác luồn vào hai nách, chòm râu của Bác chạm vào má tôi. Tôi cố trấn tĩnh lại để nói một lời thì giật mình khi thấy Bác không khoác áo bông, Bác đi tất một chân có guốc, một chân không, nước mắt tôi trào ra. Vừa kéo, Bác vừa hỏi:

- Chú ngã có đau không?

Bác sờ khắp người tôi, nắn chân, nắn tay tôi. Rồi Bác nói:

- Chú ngã thế đau lắm. Chú cứ ngồi xuống đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống!

Tôi bàng hoàng cả người, không tin ở tại mình nữa. Có thật là Bác nói như vậy không! Bác ơi! Bác thương chúng cháu quá!

Tôi trả lời Bác:

- Thưa Bác, cháu không việc gì ạ. Rồi tôi cố gắng bước đi để Bác yên lòng.

Bác cười hiền hậu và căn dặn: “Bất cứ làm việc gì chú cũng phải cẩn thận”. Rồi Bác quay vào.

Tôi đứng nhìn theo Bác cho đến lúc lại nghe tiếng máy chữ của Bác kêu lên lách tách, đều đều trên nhà sàn giữa đêm Việt Bắc.

(Theo lời kể của Ngô Văn Núi)

 

18. Câu chuyện về ba chiếc ba lô

Trong những ngày sống ở Việt Bắc, mỗi lần Bác đi công tác, thường có hai đồng chí đi cùng. Vì sợ Bác mệt, nên hai đồng chí định mang hộ ba lô cho Bác, nhưng Bác nói:

- Đi đường rừng, leo núi ai mà chẳng mệt, tập trung đồ vật cho một người mang đi thì người đó càng chóng mệt. Cứ phân ra mỗi người mang một ít.

Khi mọi thứ đã được phân ra cho vào ba chiếc ba lô, Bác còn hỏi thêm:

- Các chú đã chia đều rồi chứ?

Hai đồng chí trả lời:

- Thưa Bác, rồi ạ.

Ba người lên đường, qua một chặng, mọi người dừng chân. Bác đến chỗ đồng chí bên cạnh, xách chiếc ba lô lên.

- Tại sao ba lô của chú nặng mà của Bác lại nhẹ?

Sau đó, Bác mở cả ba chiếc ba lô ra xem thì thấy ba lô của Bác nhẹ nhất chỉ có chăn, màn. Bác không đồng ý và nói:

- Chỉ có lao động thật sự mới đem lại hạnh phúc cho con người.

Hai đồng chí kia lại phải san đều các thứ vào ba chiếc ba lô.

 

19. Chủ tịch nước cũng không có đặc quyền

Đầu năm 1946, cả nước tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên. Gần đến ngày bầu cử, tại Hà Nội - là nơi Bác Hồ ra ứng cử - có 118 vị Chủ tịch Ủy ban nhân dân và đại biểu các giới hàng xã đã công bố một bản đề nghị: “Yêu cầu cụ Hồ Chí Minh không phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi suy tôn và ủng hộ vĩnh viễn cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Từ nhiều nơi trong cả nước, đồng bào viết thư đề nghị Bác không cần ra ứng cử ở một tỉnh nào, nhân dân cả nước đồng thanh nhất trí cử Bác vào Quốc hội.

Trước tình cảm tin yêu đó của nhân dân, Bác viết một bức thư ngắn cảm tạ đồng bào và đề nghị đồng bào để Bác thực hiện quyền công dân của mình: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của Tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa. Xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới.

Sau ngày hòa bình lập lại, có lần Bác đi thăm một ngôi chùa cổ, vị sư trụ trì ra đón và khẩn khoản xin Bác đừng cởi dép khi vào trong chùa. Bác không đồng ý và lặng lẽ làm đúng những quy định như khách thập phương đến lễ chùa. Trên đường từ chùa về, khi vào đến thành phố, xe Bác đến một ngã tư thì vừa lúc đèn đỏ bật. Sợ phố đông, xe dừng lâu, đồng chí bảo vệ định chạy lại đề nghị đồng chí công an giao thông bật đèn xanh để Bác đi. Bác hiểu ý ngăn lại:

- Các chú không được làm như thế, phải tôn trọng và gương mẫu chấp hành luật lệ giao thông. Không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên riêng cho mình.

 

20. Câu chuyện về một con đường

Trong kháng chiến chống Mỹ, một hôm đi thăm nơi ăn, chốn ở của một đơn vị thông tin, trước khi ra về, Bác bảo đồng chí chỉ huy tập trung bộ đội lại.

Bác nói:

- Muốn làm tốt được nhiệm vụ, các chú phải đoàn kết nội bộ, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân địa phương, thường xuyên thăm hỏi, động viên giúp đỡ nhân dân, làm cho nhân dân tin yêu, giúp đỡ bảo vệ quân đội. Chỉ có dựa vào nhân dân, đoàn kết với nhân dân mới bảo vệ được mình, che mắt địch và đánh thắng được chúng.

Chợt Bác chỉ tay ra phía đường cái hỏi:

- Thế các chú cấm con đường kia thì nhân dân đi lại bằng đường nào?

- Thưa Bác... đi vòng theo các bờ ruộng ngoài kia ạ.

Nghe đồng chí chỉ huy trả lời thế, Bác phê bình:

- Như vậy là không được. Các chú cấm đường để phòng kẻ gian, đảm bảo bí mật quân sự là đúng, nhưng phải đắp con đường khác cho nhân dân đi chứ. Có như vậy mới đúng là quân dân đoàn kết, Bác nói thế có đúng không?

Chúng tôi cùng trả lời:

- Thưa Bác, đúng ạ!

Vâng lời Bác, đơn vị đã tự phê bình trước nhân dân và cùng nhân dân đắp xong con đường mới sớm hơn thời gian dự định.

 

21. Từ chiếc đồng hồ của Bác

Cuối năm 1954, Bác Hồ đến thăm một đơn vị pháo binh đóng ở Bạch Mai đang luyện tập để chuẩn bị cho cuộc duyệt binh đón mừng chiến thắng Điện Biên Phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thủ đô Hà Nội.

Sau khi đi thăm nơi ăn, chốn ở của bộ đội, Bác đã dành một thời gian dài để nói chuyện với anh em. Bác lấy ở túi ra một chiếc đồng hồ quả quít và kể rằng, đây là vật kỷ niệm của một đồng chí lãnh tụ một Đảng Cộng sản tặng. Bác âu yếm nhìn mọi người rồi chỉ vào từng chiếc kim, từng chữ số và hỏi anh em về tác dụng của từng bộ phận. Mọi người đều trả lời đúng cả. Song chưa ai hiểu tại sao Bác lại hỏi như vậy?

Bác vui vẻ nói tiếp: “Đã bao nhiêu năm nay, chiếc kim đồng hồ vẫn chạy để chỉ cho ta biết giờ giấc, chữ số trên mặt vẫn đứng yên một chỗ, bộ máy vẫn hoạt động đều đặn bên trong. Tất cả đều nhịp nhàng làm việc theo sự phân công ấy”. Ngừng một lát Bác nói tiếp:

- Thế mà ngày nay, bỗng nhiên cái kim kêu lên: tôi chạy mãi hết ngày này qua tháng khác, mỏi chân lắm rồi, phải cho tôi nghỉ. Chữ số thì đua nhau la lớn: tôi đứng mãi một chỗ, chùn chân lắm, phải cho tôi chạy. Bộ máy bên trong thì than thở: tôi ở mãi trong này, chẳng ai biết đến công việc âm thầm của tôi, phải cho tôi ra ngoài. Thế là kim thì đứng, chữ số thì chạy linh tinh theo sở thích, bộ máy bên trong thì nhảy ra ngoài. Các cô, các chú thử tưởng tượng xem, nếu như vậy có còn là chiếc đồng hồ nữa không? Có giúp ích gì cho chúng ta nữa không?

Mọi người đáp: “Thưa Bác, không ạ!”

Anh chị em đều hiểu ý Bác dạy: Việc gì cách mạng phân công phải yên tâm hoàn thành. Không được “đứng núi này trông núi nọ”.

 

22. “Ông kiến” nhà sàn của Bác

Năm 1958, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh được Văn phòng Phủ Chủ tịch mời lên gặp Bác.

Hôm ấy, Bác mặc bộ quần áo bà ba, chân đi đôi guốc mộc. Sau khi mời đồng chí Ninh ngồi, Bác nói ý kiến của mình về ngôi nhà mà Trung ương đã quyết định xây để Bác ở. Bác dặn nhà mới sẽ làm theo kiểu nhà sàn Việt Bắc, loại gỗ gì, tầng dưới thế nào, chỗ làm việc của Bác ra sao, cặn kẽ, cụ thể. Khi nói đến hành lang quanh sàn, Bác bê chiếc ghế mây ra để ngang, giơ tay làm cữ, nói:

- Hành lang chú làm rộng cho Bác như thế này, để khi Bác ngồi đọc sách, có ai qua lại đều thuận lợi. Ý kiến chú thế nào? Có được không?

Đồng chí Ninh thưa với Bác là “được” và xin phép ra về. Bác dặn thêm là phải hết sức tiết kiệm.

Sau đợt đi công tác ngắn ngày về, ngôi nhà đã xong. Bác đến xem nhưng không ai nghe thấy Bác nói gì. Hôm sau, Bác bỏ tiền riêng của mình nhờ Văn phòng tổ chức một buổi liên hoan ngọt. Bác mời đồng chí Ninh và một số công nhân làm nhà cho Bác tới dự ngay gian dưới ngôi nhà sàn mới dựng xong. Đấy là bữa tiệc đầu tiên “khánh thành công trình” nhà sàn của Chủ tịch nước. Bác giục mọi người ăn kẹo, uống nước. Bác tặng mỗi người một huy hiệu hình Bác. Đến lượt đồng chí Ninh, Bác nói:

- Các chú làm như thế là nhanh, tốt, nhưng còn một khuyết điểm. Chú có biết khuyết điểm gì không?

Đồng chí Ninh thưa với Bác

- Thưa Bác, so với lời Bác dặn thì có tốn kém hơn đôi chút ạ.

Bác gật đầu:

- Chú nói đúng. Nước ta chưa giàu, dân ta còn chưa đủ nhà ở. Bác ở thế là tốt lắm rồi...

Sau bữa tiệc, Bác mời anh em ra chụp ảnh chung với Bác. Nhìn quanh, thấy đồng chí Ninh, Bác vẫy:

- Còn “ông kiến” nữa, đến đây!

Tất cả cười ồ lên, vui vẻ, phấn khởi trong niềm hạnh phúc riêng của mình...

Đồng chí Ninh kể lại: “Ban đầu tôi cho rằng mình là “kiến trúc sư” nên Bác gọi là “ông kiến” cho gọn, cho vui. Mãi về sau có người nói rằng gọi “ông kiến” là tiết kiệm được hai chữ “trúc sư” Mà Kiến là hay leo, leo thang. Tôi đã “leo thang” trong việc xây nhà sàn cho Bác, không tiết kiệm, nên Bác gọi thế!”1

(Theo lời kể của đồng chí Ninh)

-------------------------------------------

1 Cuối năm ấy, Bác tự tay gửi một con cá trong “Ao cá Bác Hồ”, nhờ đồng chí bảo vệ đem đến tận nhà “tặng và cảm ơn kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh”.

 

23. Đôi chân Bác

Đôi chân Bác là đôi chân ngàn ngàn dặm. Chẳng có ai trong thời đại Bác lại đi nhiều đến thế. Chỉ nói riêng trong thời gian chống Pháp, ở Việt Bắc, Bác đi rất nhiều. Anh em bảo vệ phục vụ Bác kể: Bác đi khiếp lắm, toàn đi bộ, thỉnh thoảng mới đi ngựa. Thoắt đã từ Tân Trào sang Thái, thoắt đã lên Tuyên, thoắt ngược Bắc Cạn... Vừa đi vừa làm việc, viết báo, viết sách. Cánh thanh niên theo được Bác còn đến “Tết”.

Thời gian ở Xiêm có ngày Bác đã đi bộ hơn 70 kilômét đường rừng. Bác đi quen, sải chân đều, đúng giờ là nghỉ, hết giờ nghỉ lại đi, dù mưa bão, hễ đã định đến đâu là đến bằng được, ít khi lỡ độ đường vì chủ quan. Ai đi theo Bác, mệt mỏi, Bác mách cho cách xoa bóp chân, bóp chân bằng nước tiểu, nấu canh lá lốt rừng ăn cho đỡ. Còn đôi chân Bác thì cứ như là chân thép.

Nhưng Bác lại hay thương anh em phải đứng lâu, đi nhiều.

Một lần, các chiến sĩ quân đội được vào thăm Bác, xin Bác được chụp ảnh chung. Bác đồng ý. Bác mời đồng chí chụp ảnh tới. Để đảm bảo “ăn chắc”, nhà ảnh xin phép Bác lấy chân máy ảnh đặt máy lên chụp. Chờ mãi mới mang được chân máy ra, Bác nói:

- Chú tìm được chân máy thì chân Bác gãy rồi...

Ai nấy đều vui vẻ hẳn lên, quên cả thời gian chờ đợi.

Lần khác, nhân dịp Bộ Quốc phòng chiêu đãi đoàn đại biểu quân sự Liên Xô do Đại tướng Pavel Batov dẫn đầu, Bác có tới dự. Đồng chí Tổng tham mưu trưởng1 quân đội ta đọc bài diễn văn bằng tiếng Việt một đoạn rồi ngừng. Một cán bộ đối ngoại dịch ra tiếng Nga nên mất nhiều thời gian.

Bác quay sang đồng chí Bộ trưởng Quốc phòng:

- Bài dài quá, mình đứng rục cả chân.

Đồng chí Văn2 phân trần:

- Thưa Bác, hôm nay có đoàn đại biểu quốc tế, có Ủy ban giám sát đình chiến nên xin phép Bác...

Sau đó đồng chí Văn nói riêng với một cán bộ. Đồng chí này viết trên một tờ giấy nhỏ chuyển tới đồng chí Tổng tham mưu trưởng. Từ đấy, chỉ đọc bản tiếng Nga. Cuối cùng đồng chí Tổng tham mưu trưởng mới nói lại bằng tiếng Việt, cám ơn quan khách.

Tiếng vỗ tay chưa dứt, Bác đã cầm một cốc rượu nhanh nhẹn đi chúc mừng những người đứng xung quanh. Sau đó, Người cầm cái nĩa, giơ lên nói

- Bắt đầu thôi! Không thì mỏi chân lắm...

Thật ra là Bác nói hộ mọi người.

-------------------------------------

1 Đại tướng Văn Tiến Dũng.

2 Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

 

24. Bác phục vụ dân chứ không phải dân phục vụ Bác

Suốt cuộc đời mình, dù đã đi bốn phương trời, qua nhiều nước, tiếp nhận và gạn lọc tinh hoa nghệ thuật của nhiều dân tộc, nhưng Bác vẫn trân trọng nghệ thuật cổ truyền Việt Nam, trong đó có câu hát phường vải và hò ví dặm của quê hương  Nghệ An.

Các đoàn, các đội văn nghệ ở Trung ương và các địa phương vẫn thường được Bác mời vào Phủ Chủ tịch biểu diễn, tiếng là để Bác xem và cho ý kiến, nhưng - như anh em trong cơ quan thường nói “chủ yếu là Bác cho chúng tôi xem thôi”.

Lần về thăm Nghệ An, sau khi đội văn nghệ tỉnh nhà biểu diễn, Bác bước lên sân khấu, giơ cao một chiếc lẵng mây, nói:

- Các cháu diễn tốt, Bác thưởng kẹo. Kẹo trong lẵng này này.

Khi đoàn trình diễn vở “Cô gái sông Lam”, trước giờ mở màn, Bác vào phòng hóa trang. Với anh Nghĩa quê Nghi Lộc, Bác nhại tiếng: “Nghi Lộc hả, con “méo” phải không?”. Anh Ngoạn trưởng đoàn trả lời Bác quê mình là Thừa Thiên, Bác nói: “Rứa là không phải Nghệ An nhà choa rồi”...

Lần khác nữa, Bác lại mời đoàn ca múa Nghệ An vào Phủ Chủ tịch biểu diễn. Nhưng sau đó biết tin đoàn đang tiếp tục chương trình phục vụ đồng bào Hà Nội tại Văn Miếu, Bác báo cho đồng chí giúp việc điện sang Bộ Văn hóa hoãn lại. Bác nói:

- Để đồng bào thưởng thức trước, Bác xem sau. Bác phục vụ dân chứ không phải dân phục vụ Bác.

(Theo Minh Huệ)

 

25. Yêu ai yêu bằng cả tấm lòng

Lần Bác sang thăm nước Cộng hòa dân chủ Đức, các đồng chí ở Bộ Y tế nước bạn mời Bác đi thăm một số bệnh viện, trường đại học y khoa và cơ sở nghiên cứu khoa học ở Berlin. Đến một phòng học, các bác sĩ giới thiệu với Hồ Chủ tịch mô hình một người thủy tinh trong suốt, có đầy đủ các bộ phận cơ thể và có thể lấy ra đặt vào phục vụ cho việc nghiên cứu bài giải phẫu.

Khi cầm que chỉ vào trái tim, đồng chí bác sĩ nước bạn nói vui:

- Trái tim này còn chứa đựng bao nhiêu tình yêu...

Bác cười nói với đồng chí người Đức:

- Ở nước chúng tôi, người ta không nói yêu nhau bằng trái tim đâu. Đố đồng chí biết đấy!

Bác sĩ xin chịu.

Cầm lấy que chỉ, Bác khoanh một vòng tròn vào bụng người mẫu thủy tinh, rồi nói:

- Chúng tôi yêu ai, yêu bằng cả tấm lòng này này.

Mọi người cười rộ lên...

(Theo đồng chí Song Tùng)

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)  

5.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (2/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 1/8

7. Nhảy một nhảy

Trong xã hội phong kiến thuở trước, nam và nữ cầm tay nhau, bắt tay nhau, khoác tay nhau... là điều tối kỵ. Nhất là đối với nam nữ thanh niên con nhà “thi lễ” và “khuê các”, cũng như đối với cả những người nhiều tuổi có ý thức giữ gìn phong hóa cổ truyền, vi phạm điều cấm kỵ đó thường không thể không bị miệng tiếng thế gian chê bai.

Cách mạng tháng Tám bùng nổ, hơn một năm sau, tiếng súng toàn quốc kháng chiến chống Pháp vang lên. Từng đoàn, từng đoàn cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức, thanh niên, trung niên và không ít người già rời thủ đô và các thành thị về nông thôn, lên miền núi công tác trên mọi lĩnh vực hoạt động. Đời sống thật gian khổ, kham khổ và cũng khắc khổ. “Món ăn văn hóa” thường chỉ có bài đơn ca, đồng ca, những chuyện tiếu lâm, những thiên độc tấu... động viên chính trị.

Thắng lợi chiến dịch mùa thu 1950 mở thông những đường qua lại giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nhiều đoàn cán bộ, học sinh... từ miền Bắc sang Bắc Kinh và Hoa Nam công tác, trao đổi kinh nghiệm, tham quan và học tập. Trong những hành lý văn hóa đem về có món“nhảy múa” mà đầu trò là điệu “ương ca”. Món sinh hoạt văn hóa mới này nhanh chóng được số anh em công tác tại các cơ quan Văn phòng Trung ương Đảng yêu thích. Bác Hồ vui vẻ khuyến khích bằng sự trực tiếp tham gia của mình, nhất là sau mấy giờ lao động buổi chiều, kết hợp nghệ thuật với thể dục.

Những người từ Trung Quốc về thỉnh thoảng gọi nhau bằng tiếng “quan hỏa”: “Theo ý theo” (khiêu nhất khiêu). Bác dịch nôm na vui đùa từng chữ một là: “Nhảy một nhảy”.

Một hôm, trong một cuộc họp của Mặt trận Liên Việt có đủ các giới công, nông, thanh, phụ, già, trẻ, gái, trai, đến giờ nghỉ, đồng chí điều khiển hội nghị cũng đề nghị mọi người nhảy múa cho vui. Ra sân, các giới thanh niên trung niên, từng tốp, từng tốp, vừa vỗ tay vừa diễn ương ca. Một số đồng chí đảng viên những năm ba mươi và một số vị nhân sĩ, thân sĩ đứng nhìn, biểu thị nhiệt tình ủng hộ và cổ vũ bằng những ánh mắt nụ cười. Trong số này có bà Thục Viên, một nhà giáo dạy học đã nhiều năm ở Hà Nội và là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên, được nhân dân thủ đô tin cậy, quý mến.

Bỗng đâu, Bác Hồ từ trong phòng họp bước ra, đi thẳng tới chỗ các vị cao niên, vui vẻ mời: “Chúng ta cũng nhảy một nhảy chứ?”. Rồi Bác khoác tay bà Thục Viên... Bất ngờ, bị động và cũng hào hứng, bà Thục Viên ngoắc chặt khuỷu tay của Bác. Bác bước dồn dập và quay tròn. Bà hối hả theo và quay theo. Giữa sân, các tốp nhảy trẻ trung đều nhìn về phía Bác. Tiếng vỗ tay đánh nhịp và tiếng “sol la sol chuyển thành lạc điệu và lộn xộn. Ngoài hàng rào, sau một bụi tre, mấy cô gái người Tày đứng nhìn say sưa và có phần ngơ ngác. Chỉ một chốc, bà Thục Viên luống cuống “bắn” cả một chiếc dép vào chân Bác Hồ... Cũng là vừa lúc có chuông vào họp lại.

Mấy tuần sau, tôi theo anh Trường Chinh đến dự một cuộc họp Thi đua Ái quốc tổ chức tại Văn Lãng, dưới chân đèo Khế. Họp đến gần nửa buổi, cuộc thảo luận trở thành tranh cãi rất gay go. Đồng chí điều khiển hội nghị lúng túng. Bác Tôn Đức Thắng, ngồi ở giữa hàng ghế đầu, bỗng đứng phắt lên, nói to:

“Thôi, nhảy một nhảy đã nào”.

Mọi người vỗ tay ran rồi ùa ra sân. Chỉ trong chốc lát đã có cảnh tượng nhộn nhịp sol la sol...

Đồng chí Trường Chinh, đang vừa nghe vừa xem lại bản đánh máy bài nói chuyện  của mình, quay lại cười với tôi:

- Hay nhỉ! Vui nhỉ!

- Thưa anh, cũng là một bước nhảy “bài phong” giản dị.

- Đúng, Bác Hồ cổ vũ cho đời sống mới, văn hóa mới, giản dị và hiệu quả như thế đấy.

Quang Đạm kể1

-------------------------------------

1 Tên thật Tạ Quang Đệ, nguyên ủy viên biên tập báo Nhân Dân.

 

8. Chú còn trẻ, chú vào hầm trú ẩn trước đi

Một ngày tháng 7 năm 1967, ở Hà Nội, đồng chí Mai Văn Bộ được Bác Hồ gọi đến mời cơm tiễn chân trước khi đồng chí lên đường đi Paris nhận nhiệm vụ Tổng đại diện Chính phủ ta bên cạnh Chính phủ Pháp.

Trong bữa cơm, Bác kể chuyện về khu Luxembourg, nơi Bác có nhiều kỷ niệm. Bác nói Bác rất yêu Paris, Paris đã dạy cho Bác nhiều điều...

Bỗng tiếng còi báo động rú lên. Một chiến sĩ bảo vệ yêu cầu Bác và các đồng chí khác xuống hầm. Ít phút sau đã nghe tiếng đạn nổ.

- Thưa Bác, tác chiến báo cáo chúng nó đánh cầu Long Biên. Mời Bác vào hầm trú ngay cho.

Bác quay lại đồng chí Bộ, nói:

- Bác già rồi, chẳng bom đế quốc nào ném đâu. Chú còn trẻ, chú cần vào hầm trú ẩn trước.

Rồi Bác đẩy đồng chí Bộ đi trước, sau đó đến đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí cảnh vệ.

Bác là người vào hầm trú ẩn sau cùng.

Mai Văn Bộ kể

 

9. Bác Hồ thích món ăn gì nhất

Nhiều người quan tâm đến sinh hoạt đời thường của Bác Hồ có lúc đặt ra câu hỏi ấy. Mới xem qua, dường như nó chẳng có ý nghĩa gì mấy, bởi nó quá riêng tư, mỗi người đều có sở thích của mình, thị hiếu là vấn đề không thể bàn cãi!

Đúng như vậy. Nhưng tìm hiểu sở thích của một người cũng là một hướng tiếp cận tính cách của con người đó, càng cần thiết hơn khi đó lại là một vĩ nhân.

Cũng như mọi người, có món ăn Bác Hồ rất thích, nhiều món ăn được, có món không thích, ví dụ qua câu chuyện được kể lại về bữa cơm với bà Thanh, ta biết cậu Thành từ nhỏ không ăn được tỏi.

Nét nổi bật là vị Chủ tịch nước đầu tiên của chúng ta lại rất thích các món ăn dân dã như mắm, cà dầm tương, canh cua ăn với rau chuối thái ghém...

Có lần, trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí Chủ tịch Liên khu 4 Lê Viết Lượng có gửi lên Việt Bắc biếu Bác một lọ cà dầm mắm. Bác rất thích ăn. Ngày đó, Bác vẫn thường ăn chung với các nhân viên phục vụ của mình. Có bữa bận phải ăn sau, Bác dặn: - Các cô các chú cứ ăn thịt cá, để phần Bác món cà dầm mắm.

Ở rừng, thỉnh thoảng vẫn thiếu rau. Bác bảo: - Ta thiếu rau nhưng nhiều mít, cô Mai (vợ bác sĩ Chánh) làm món nhút ăn cho đỡ xót ruột. Chị Mai thú thực không biết làm. Bác lại bày cho cách làm nhút từ quả mít xanh. Có lẽ trong các món mang hương vị quê hương, Bác thích nhất món cá bống kho lá gừng. Hôm nào đồng chí Cần, cấp dưỡng của Bác làm món ăn đó, Người thường ăn hết, để món thịt lại.

Có lần, Bác được mời đi nghỉ tại Liên Xô. Bạn cho ăn toàn những món đặc sản vào loại tuyệt hảo. Bỗng một hôm Bác bảo: “Mình nhớ món cá bống kho lá gừng quá!”. Một chuyện thật đơn giản, nhưng trong hoàn cảnh đó thực hiện lại không dễ. Nấu ở nhà nghỉ thì không ổn, hơn nữa bạn lại rất sợ mùi nước mắm. Kho ở sứ quán rồi mang vào lại sợ bạn biết sẽ phật ý. Cuối cùng, nhờ sự trổ tài khéo léo của đồng chí Vũ Kỳ trong việc giới thiệu các món ăn cổ truyền của dân tộc, món cá bống kho gừng đã được thực hiện.

Ở Việt Bắc, hôm nào có điều kiện ăn tươi, Bác lại bảo: ra gọi cô Cúc (vợ đồng chí Phạm Văn Đồng) và cô Mai vào trổ tài cho bác cháu mình thưởng thức. Chị Mai làm món gà rút xương, thịt băm trộn nấm hương nhồi đùi gà, đem hấp. Chị Cúc làm món bít tết, Bác khen ngon, vì làm rất công phu. Bác nhận xét:

- Gia vị đối với món ăn Việt Nam rất quan trọng. Thiếu gia vị, món ăn sẽ giảm hương vị đi rất nhiều.

Coi trọng nội dung, Bác cũng nhắc nhở cần chú ý đến cả hình thức trình bày. Hồi ở Việt Bắc, có lần đi công tác, buổi trưa, Bác cháu dừng lại bên bờ suối nấu ăn. Bác bảo: các chú nấu cơm, để Bác rán trứng cho. Bác làm rất thạo. Trứng rán xong mà cơm chưa chín. Bác lấy que sắt nung trên than hồng rồi đặt lên khoanh trứng thành những hình quả trám rất đẹp. Anh em cười thán phục. Bác bảo:

- Khi có điều kiện làm cho ngon hơn, đẹp hơn thì ta cứ làm chứ các chú!

Ngày 16 tháng 6 năm 1957, Bác đi thăm Đồng Hới (Quảng Bình). Trong bữa cơm trưa có đủ các món đặc sản của Đồng Hới: mắm tôm chua, rau muống chẻ, cá thu kho... Bác cháu vừa ăn vừa trò chuyện. Bác chỉ tay sang bác sĩ Nhữ Thế Bảo nói đùa:

- Bác sĩ khuyên mọi người ăn chín, uống sôi, còn bản thân bác sĩ thì lại ăn rau muống sống hơi quá nhiều đấy!

Mọi người cười vang. Bữa ăn ngon lành càng thêm vui vẻ.

(Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ và vợ bác sĩ Chánh)

 

10. Làm việc nước nặng nề, khó khăn nên phải hết sức cẩn thận

Hồi Bác Hồ ở Pắc Bó, để giữ bí mật, nước sinh hoạt được đựng trong những ống dài để trong hang. Trừ những khi ốm đau, sáng nào Bác cũng đi “kỉn” nước (tiếng Tày “kỉn” là lấy).

Ống nước làm bằng ống luồng, hoặc bương (loại tre lớn) sẵn trong rừng, đục thông các “mắt” lấy dây thừng hay mây buộc lại đầu trên và dưới, để gánh bằng đòn. Có ống không cần buộc dây, để vác thẳng lên vai.

Một sáng sớm, trời còn sương, mặt trời chưa lên tỏ, Bác và một đồng chí bảo vệ, mỗi người hai ống trên vai, ra suối “kỉn” nước. Bác đặt chân nhẹ nhàng lên các hòn đá, vục ống xuống suối lấy đầy nước, dựng vào một hòn đá, khỏa nước rửa chân tay... Đồng chí bảo vệ tuy là người miền núi, địa phương nhưng bước đi không vững, trên vai lại hai ống nước nặng, đặt ống không thăng bằng, nên vấp đá, chẳng may trượt ngã.

Bác đến nâng đồng chí dậy, dạy cách đặt, cách vác ống nước, cách đi trên đá. Rồi hai bác cháu ra về.

Lên bờ, Bác nói:

- Làm việc nước nặng nề, khó khăn nên phải hết sức cẩn thận cháu ạ.

(Theo lời đồng chí Thủy Bách)

 

11. Có ăn bớt phần cơm của con không?

Mùa thu năm 1951, Bác đến thăm lớp chỉnh huấn chính trị toàn quân. Sau khi đọc lên những con số cụ thể về tệ nạn tham ô, lãng phí mà Ban lãnh đạo nhà trường đã báo cáo với Bác, Bác nói:

- Các chú xem đấy, mới có từng này cán bộ mà đã tham ô, lãng phí như vậy, thử hỏi nếu cán bộ trong toàn quân, toàn quốc cũng phạm khuyết điểm như các chú ở đây thì thiệt hại cho công quỹ của Nhà nước, của nhân dân biết bao nhiêu.

Ngừng một lát, Bác hỏi:

- Ở đây, những chú nào có vợ rồi giơ tay.

Có độ 1/3 số cán bộ giơ tay.

Bác chỉ vào một đồng chí trong số những người vừa giơ tay ngồi ở hàng ghế đầu, rồi hỏi:

- Chú có bao giờ ăn bớt phần cơm của con mình không?

Đồng chí cán bộ trả lời:

- Thưa Bác, không ạ!

- Thế thì tại sao của cải của nhân dân, tiêu chuẩn của chiến sĩ hễ sểnh ra là đút vào túi1.

Bác vừa nói vừa làm động tác vơ vét và đút vào cái túi vải bên mình. Bác phân tích cho mọi người thấy rõ tham ô, lãng phí là một tệ nạn, một thói xấu, nó giống như sâu mọi đục khoét của cải của nhân dân, nó làm vẩn đục chế độ tốt đẹp của chúng ta, đến đạo đức và phẩm chất của người cán bộ đảng viên.

---------------------------------------

1 Ngữ cảnh này làm cho người đọc có thể liên tưởng đến việc Bác Hồ phê phán việc tham ô của một số cán bộ (BTV).

 

12. Như cha với con

Trong những ngày ra thăm miền Bắc, đoàn anh hùng, dũng sĩ miền Nam được Bác chăm lo, ân cần như cha đối với con. Bác bảo tôi (vì tôi được cử phụ trách theo dõi sức khỏe, và đời sống của đoàn):

- Cô Bi, phải chăm sóc các cô, các chú ấy thật tốt, đừng để các cô, các chú ấy ốm.

Một bữa, đồng chí Huỳnh Văn Đảnh bị sốt rét, Bác biết được, gọi tôi lên hỏi:

- Chú Đảnh bị sốt ra sao?

Tôi báo cáo về bệnh tình của đồng chí Đảnh với Bác.

Bác nhắc:

- Cô phải cho các cô, các chú ấy ăn uống đầy đủ, chú ý làm các món ăn của địa phương để các cô, các chú ấy ăn được nhiều, sức khỏe mới tốt.

Một hôm khác, Bác chỉ vào Trần Dưỡng và hỏi tôi:

- Cô Bi, tại sao chú Dưỡng hơi gầy?

Bác nghe anh hùng Vai kể chuyện về quê hương miền núi nghèo khổ của mình, Bác cảm động nói:

- Thống nhất, Bác vô Nam, thế nào cũng về thăm quê hương cháu Vai.

Trong những ngày sống bên Bác, tôi càng thấm thía hơn tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam. Chị Tạ Thị Kiều nói với tôi:

- Càng được gần Bác, càng thấy Bác thương yêu dân miền Nam ta quá chị à.

Nói xong, hai chị em lại khóc vì sung sướng và cảm động trước tấm lòng của Bác Hồ.

Theo lời kể của Đại tá Hồ Thị Bi

 

13. Câu chuyện về hai cái kẹo

Một lần, Bác Hồ đến thăm bộ đội ở Quảng Bình. Tối đến, Bác dự buổi liên hoan văn nghệ “cây nhà lá vườn” với đơn vị. Anh em vô cùng sung sướng, nhưng cũng rất lo, vì cảnh lính có ai biết hò hát gì đâu! Đồng chí Phố mạnh dạn lên “mở đầu chương trình” đọc bài thơ “Hoa hồng không có gai”, bài thơ có nhắc tới một cô gái. Đồng chí Phố đọc xong, Bác thưởng cho một cái kẹo và hỏi vui:

- Cô ấy có phải là “đối tượng” của chú không?

Tất cả anh em đều cười sảng khoái. Câu hỏi vui của Bác đã làm anh em mạnh dạn hẳn lên trong không khí đầm ấm, chan hòa tình cha con.

Bác nói: - Đã làm thơ thì nên ngâm phải không?

Tất cả đồng thanh đáp: - Vâng ạ!

Sau đó, đồng chí Lư đứng dậy xung phong ngâm bài thơ “Thương nhất anh nuôi” của Lưu Trùng Dương. Bác chăm chú nghe. Tới hai câu:

“Thương đồng chí, giúp đồng bào

Mình làm cách mạng việc nào cũng vinh”.

Bác khen hay và thưởng liền cho hai cái kẹo. Đồng chí Lư ăn một chiếc, còn một chiếc ngay sáng hôm sau anh “bay” ra bưu điện gửi về tặng vợ mới cưới của mình.

Theo lời đồng chí Giang Tấn

 

14. Phải bảo vệ từng cành cây

Hôm ấy, tôi có nhiệm vụ mắc đường dây điện thoại qua vườn Phủ Chủ tịch. Tôi đang trèo lên một cây ở ngay cạnh đường thì nghe có tiếng chân người bước tới. Tôi nhìn về phía đó thì thấy Bác đi tới. Tôi loay hoay định tụt xuống thì Bác đã giơ tay ra hiệu cho tôi dừng lại. Bác hỏi:

- Cẩn thận kẻo ngã. Chú trèo cây làm gì?

- Thưa Bác, cháu mắc dây điện thoại ạ!

Trong lúc ấy, tay tôi vít chặt làm gãy một cành cây nhỏ. Tôi giật mình nhìn Bác, lo lắng. Bác không nói chỉ chú ý xem từng động tác của tôi ra dây, mắc dây vào các cành cây. Sau đó, Bác chỉ vào một cành cây to ở cạnh ngay chỗ tôi, nói:

- Sao chú không mắc dây vào cành kia, vừa to vừa chắc chắn hơn. Các chú mắc dây cần phải chú ý bảo vệ từng cành cây nhỏ, nếu không làm gì có cây to, cành to mà mắc dây.

Nói xong, Bác đi vào nhà làm việc. Tôi nhìn theo Bác cho đến khi Bác vào hẳn trong nhà. Nhìn vào cành cây vừa gãy, nhìn vào đường dây đang mắc, tôi càng thấy thấm thía lời dạy của Bác.

Về sau, cứ mỗi lần mắc dây qua những hàng cây tôi đều thận trọng nâng niu từng cành con, chồi nhỏ.

(Theo lời kể của đồng chí Hiền)

 

15. Cây sáo trúc

Năm 1962, nghệ sĩ Đinh Thìn được vinh dự vào thăm Bác và thổi sáo để Bác nghe. Đinh Thìn thổi xong, Bác khen hay, rồi Bác mượn cây sáo để thổi thử. Sáo không kêu. Nén xúc động Đinh Thìn mạnh dạn hướng dẫn Bác cách bấm sáo. Tiếng sáo thổi vang lên trong phòng khiến các đồng chí Trung ương đang dự họp có mặt tại gian phòng ngạc nhiên. Bác nói vui:

- Không thầy đố mày làm nên.

Rồi Bác hỏi Đinh Thìn:

- Sáo này chú làm lấy hay mua?

Đinh Thìn đáp:

- Thưa Bác, cháu làm lấy ạ!

Bác khen:

- Tự lực cánh sinh như thế là tốt.

Chỉ một nhận xét giản đơn, nhưng những người có mặt trong phòng hôm ấy đều cảm nhận được một lời căn dặn tế nhị mà sâu xa.

(Theo lời kể của đồng chí Đinh Thìn)

 

16. Việc gì làm được hãy tự làm lấy

Tháng 8 năm 1952, Bộ Quốc phòng mở Hội nghị tổng kết chiến tranh du kích tại căn cứ địa Việt Bắc.

Một buổi sáng, như thường lệ, một chiến sĩ phục vụ hội nghị xách mấy ống tre đầy nước từ dưới suối lên cho chúng tôi dùng. Tôi và anh Hoàng đón lấy một ống tre. Bỗng một ông già mặc quần đùi, áo may ô, khăn mặt nhuộm màu lá cây quàng cổ, đi lại gần hai chúng tôi. Anh Hoàng ghé sát vào tai tôi nói nhỏ:

- Bác, Bác Hồ đấy!

Chúng tôi chưa kịp chào Bác thì Bác đã hỏi:

- Nước xách lên cho các chủ đánh răng rửa mặt phải không?

Không đợi chúng tôi trả lời, Bác nói:

- Không được thế! Hai chú tuổi còn thanh niên, buổi sáng chạy xuống suối rửa mặt tha hồ thoải mái, mà còn tập thể dục, như thế có hơn không?

Cả hai chúng tôi đứng lặng người. Bác nói tiếp:

- Việc gì có thể làm được hãy tự làm lấy, đừng bắt chiến sĩ vất vả vì mình, mà các chú thì không bị phụ thuộc.

Bác đi rồi, chúng tôi còn đứng nhìn theo và vô cùng thấm thía lời nhắc nhở của Bác.

Theo lời kể của Như An

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)