21.8.26

Mặt trận vô hình (2/2)

Tiếp theo phần 1/2

Trọng Tân (Kính tặng cán bộ, chiến sĩ Thông tin liên lạc anh hùng tham gia Chiến dịch mùa Xuân năm 1975 lịch sử)

Có tiếng sột soạt... Bỗng tay Doanh dừng lại. Một tín hiệu nhỏ nhoi xa xăm thoáng lọt vào đội tai tinh tường của anh. Mọi người nín thở chờ đợi và hi vọng.

Đúng cự li. Tiếng gọi tha thiết từ X15 vang lên dần:

- X4 đâu? X4 đâu?

Tiếng Doanh reo lên:

- X15 phải không? Có X15 rồi!

Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Mệnh lệnh từ Bộ chỉ huy lại rộn ràng, khẩn trương trong niềm vui chung của cả trạm:

- Hàng quân ngay. Dùng hoả lực mạnh chặn giặc không cho chúng dồn về Cheo Reo và Bình Dương... Đường 21B, đường 7...

Bộ chỉ huy lệnh cho thông tin tiếp sức đi với các cánh quân truy đuổi địch.

A8 vừa triển khai xong lại được lệnh cuốn theo Sư 10 về Khánh Sơn. Tiếp sức di chuyển theo về điểm cao 435... Mọi đồ dùng cái gì có thể bỏ lại được thì bỏ, mọi phương tiện tận dụng được là đưa vào phục vụ cho cuộc chiến đấu đang phát triển như bão cuốn.

Từ vùng 2 chiến thuật quân địch tháo chạy hoảng loạn. Trên đường 21B, đường 7, Cheo Reo bọn tàn quân địch đang tranh nhau dồn về Đà Nẵng. Quân đoàn 2 địch ở Pleiku, Sư 22 của Quân đoàn 1 và các lực lượng khác của địch cũng bỏ trận địa chạy về đây... Cheo Reo trở thành cái túi khổng lồ đựng đủ các sắc lính nguỵ.

Tiếng chuông điện liên tục reo vang. Bên kia đầu dây, đồng chí Đại tướng Tư lệnh Chiến dịch với giọng nói ấm áp, điềm đạm thông báo tình hình và lệnh cho các đơn vị triệt để sử dụng các phương tiện vận chuyển: xe đạp, Honđa, ôtô đưa bộ đội lên Đường 7 đánh chặn không cho địch co cụm về phía Đông.

Quãng đường hơn bảy mươi cây số chứng kiến một cuộc chuyển quân rất đa dạng đẹp mắt, hùng hậu và vô cùng thần tốc của bộ đội ta.

Thế là khắp một vùng Tây Nguyên, khu Năm rộng lớn đã được giải phóng. Cả một bộ máy chiến tranh đồ sộ mà bọn Mỹ và chư hầu dày công xây dựng suốt hai mươi năm qua đã bị cuộc chiến tranh nhân dân nghiền nát. Hàng chục vạn đồng bào các dân tộc thoát khỏi bàn tay đàn áp, kìm kẹp của bọn ngụy quân ngụy quyền đã ngự trị trên vùng rừng núi giàu đẹp này như những lãnh chúa vô cùng tàn bạo.

Những đêm cuối tháng tư lịch sử dường như không ai ngủ nổi. Công việc dồn dập và ai cũng cảm thấy náo nức lạ thường. Sài Gòn đã ở phía trước. Hang ổ cuối cùng của lũ cướp nước và bọn tay sai ngoại bang đã chia cắt Tổ quốc ta hơn hai mươi năm trời đã hiện lên trong khoảng sáng nhợt nhạt run rẩy của ánh điện những ngày tàn của chế độ ngụy quyền. Tin chiến sự làm cho mỗi người càng cảm thấy nóng lòng muốn bay ngay tới đó...

- Liệu đơn vị mình có được vào Sài Gòn không? Bao giờ thì có lệnh vào?...

Ai cũng chung một câu hỏi như thế. Ai cũng mong mỏi cái phút giây lịch sử đó có mặt mình trong đội ngũ những người đầu tiên vào giải phóng thành phố. Từng đoàn chiến xa, pháo tự hành ẩn kín mình dưới những hàng cây cao su nổi tiếng của vùng rừng không xa những chiến tuyến mới dựng lên của quân nguy hòng chặn đường tiến quân của ta vào Đồng Nai, Sài Gòn. Từng tốp chiến sĩ túm tụm quanh xe. Phía thành phố, tiếng nổ của trọng pháo vọng lại nghe bồn chồn cả ruột gan.

Thoáng thấy bóng vị Tư lệnh Quân đoàn 3, tất cả đều nhao lên. Ông nhanh nhẹn đi dọc đoàn quân đang đợi lệnh. Vẫn chưa có lệnh. Ai cũng thầm nghĩ thế khi bóng dáng của Tư lệnh khuất sau cụm xe chỉ huy. Lại bàn tán cãi vã râm ran.

Phạm Ngọc Thụ đóng sầm cửa xe bước xuống, đi tới chỗ các chiến sĩ A8. Lúc nãy vừa thấy bóng Tư lệnh, anh ta đã nhanh chân phóng lên buồng lái.

- Chưa đi đâu bác "tài" ơi! Lại đây nói chuyện cho vui nào.

- Ôi dào - Một giọng chán nản - Mà có đi thì tăng rồi pháo chứ đâu đã tới tụi Thông tin mình.

- Cứ khề khà như các tướng thì vào thành mà "nhặt ống bơ" cũng không còn đâu. Nghe nói thằng 203 nó nằm ở Nước Trong rồi - Thụ nói như trút nỗi thất vọng vô cớ vào chỗ anh em đang sôi nổi trò chuyện.

Một đồng chí liên lạc người nội thành mặt non choẹt đang xăm xăm bước về Ban chỉ huy. Nhiều tiếng gọi với theo:

- Nhỏ, đi đâu mà hớt hải vẻ quan trọng vậy? Vào Sài thành chuyến này có tìm thấy má thì tha hồ mà bú tí nghe.

- Thủ trưởng con ơi, có gì tiết lộ cho anh em chút xíu nào?

Tiếng cười rộ lên. Đồng chí liên lạc mặt đỏ bừng vừa chặt vừa đấm gió về phía tốp lính. Một thoáng sau Tư lệnh Quân đoàn quay lại. Niềm vui sướng trong ông khó giấu nổi những cặp mắt chiến sĩ đang chờ đợi một mệnh lệnh tiến quân. Mọi người đều cảm nhận thấy cái phút ấy đã đến. Tư lệnh cố kìm tiếng nói mình cho khỏi rung lên:

- Các đồng chí! Bộ chỉ huy Chiến dịch đã phát lệnh tiến vào giải phóng Sài Gòn. Và Quân đoàn ta được nhận một vinh dự vô cùng to lớn: Thay mặt toàn quân cắm là cờ chiến thắng của Đảng, Bác kính yêu lên nóc Dinh Độc Lập...

Tiếng ông như reo như hát âm vang rất xa giữa rừng cây chuyền đến mọi người nỗi xúc động khó tả. Hàng quân lặng đi trong chốc lát rồi lại bùng lên những tiếng vỗ tay, tiếng bước chân sầm sập tạo nên lớp lớp sóng rung động khắp rừng.

- Cờ đâu? Sao lúng túng thế kia...

- Có lệnh cắm cờ rồi. Nhanh lên các ông ơi...

Tiếng ồn ã, cửa xe rầm rầm đóng lại và một vài chiếc đã rú máy. Cán bộ tuyên huấn Quân đoàn chạy như cờ ông Công, miệng la hét ầm ĩ:

- Xe kìa, cờ đâu? Các tướng thông tin, cờ gì mà nghiêng ngả thế kia...

Đội ngũ tiến quân sẵn sàng. Tốp xe thông tin tiếp sức của chúng tôi nhập vào đạo quân lao vùn vụt về phía mặt trận đang bao quanh thành phố.

*

Sài Gòn ngập chìm trong biển người, xe, pháo. Nhiều cột khói đang còn bốc lên trên các căn cứ vừa bị tiêu diệt. Xác giặc, súng ống và quần áo dù loang lổ ngổn ngang trên khắp các ngả đường vào thành phố. Những cao ốc, building cửa đóng im ỉm. Từng dãy cờ ba sọc ngụy in la liệt trên khắp các mặt nhà, cổng, ngõ. Giữa biển người đang hò reo chào đón chúng tôi, không ít những cặp mắt thất đảm lơ láo của bọn quân, tướng nguy vừa rũ vội bộ đồ nguỵ binh tội lỗi.

Con đường rộng lớn dẫn thẳng tới Dinh Độc Lập lúc này đang tắc nghẽn vì xe và những vật chướng ngại do bọn lính dựng lên. Khu vườn hoa trước cổng Dinh chật kín người: Cái "Phủ Đầu Rồng" nghiêm mật trước đây ít người được lai vãng tới gần, nay đang chìm dưới ánh sáng của một hệ thống đèn pha mạnh và trong tiếng reo vang của hàng ngàn đồng bào từ lâu mong mỏi được chứng kiến cái giờ phút sụp đổ của bọn bán nước. Cánh cổng sắt bị xe tăng húc đổ đã được kéo dẹp sang bên. Bao nhiêu ánh mắt tò mò thán phục nhìn vào các chiến sĩ Giải phóng đang bảo vệ quanh Dinh...

Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975 đang say trong chiến thắng, nhưng chúng tôi, những người lính thông tin vẫn chưa có một phút rảnh rỗi để ngắm nhìn gương mặt bà con đang rạng lên sung sướng vì niềm vui giải phóng. Hàng chồng điện đặc biệt quan trọng đang chờ làn sóng thông tin báo cáo lên Trung ương Đảng và đồng bào cả nước và đảm bảo chỉ huy từ Bộ tư lệnh Chiến dịch tới các mặt trận trên toàn miền... Những khối máy nặng, bình ắc-quy, bảng điện lại nhanh chóng được dỡ ra. Chiều cao ăng-ten được nâng lên hết cỡ, nhưng vẫn không thể bắt được liên lạc. Không có cách gì khác, chúng tôi quyết định đưa toàn bộ khí tài lên tầng năm và đưa cột ăng ten lên nóc Dinh Độc Lập. Phiên liên lạc lịch sử này của ngành Thông tin tiếp sức mang nhiều nét thú vị và khá độc đáo. Cỗ máy 401 mang số hiệu "043807" ngồi chễm chệ trên mặt chiếc bàn rộng loè loẹt những tranh ảnh hở hang của mấy cô đào Nhật, Mỹ trong phòng tên Thiếu tướng Trần Văn Minh (phụ trách nội trị của chính quyền Thiệu). Anh em chúng tôi gạt những sản phẩm văn hóa đồi trụy ấy của chủ nghĩa đế quốc sang một bên và bắt tay vào triển khai liên lạc.

Trên nóc toà nhà, cột ăng-ten cao vút bên cạnh lá cờ quang vinh mà tổ xe tăng do đồng chí Bùi Quang Thận chỉ huy cắm lên lúc 11 giờ 30 phút ngày hôm nay. Dây ăng-ten được dòng xuống phòng đặt máy.

Đây là một phiên liên lạc đặc biệt vượt ra khỏi phạm vi lí thuyết mà khí tài tiếp sức hiện có cho phép. Chúng tôi đã báo những tin vui: Sài Gòn được giải phóng, toàn bộ nội các Dương Văn Minh đầu hàng cách mạng vô điều kiện... qua một chặng đường dài tới 9 trạm tiếp sức tại Sài Gòn ra Hà Nội.

Bên cạnh lá cờ cách mạng đang tung bay trước gió, cây cột ăng-ten tiếp sức đứng sừng sững trang nghiêm và thầm lặng tung lên trời làn sóng điện báo tin vui rộn ràng đất nước. Một hình ảnh tuyệt vời làm rung động trái tim những chiến sĩ đã từng trải trong khói lửa của cuộc chiến tranh giải phóng Tổ quốc.

Cả trạm lặng đi sung sướng. Ngoài kia đêm nay sẽ không ai ngủ. Chúng tôi mỗi người một cách, hình dung Hà Nội giờ này đang rộn rã tiếng ca vui và những người đồng nghiệp của chúng tôi trên khắp các nẻo đường Tổ quốc chắc đều đang nghĩ tới Sài Gòn. Có ai hình dung nổi trên "đầu cái dinh thự" cuối cùng này của bọn bán nước, những người lính thông tin chúng tôi đang làm một phiên việc lịch sử... Bỗng có ai đó nhắc đến Bác. Lòng chúng tôi trào dâng niềm biết ơn vô hạn... Ôi, giá Bác kính yêu còn sống đến hôm nay! Cả nước thầm ước ao: Bác có mặt trong ngày vui giải phóng! Người đã dìu dắt Quân đội ta trong đó có những chiến sĩ Thông tin liên lạc chúng con đến chiến thắng vẻ vang này. Chúng tôi cùng ngẩng nhìn lên lá cờ Tổ quốc đang tung bay trên nóc Dinh Độc Lập như lời khẳng định toàn dân ta đã hoàn thành sứ mệnh vẻ vang thu non sông về một mối.

Hết

T.T.

Tân Sơn Nhất, Sài Gòn tháng 5-1975

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

18.8.26

Mặt trận vô hình (1/2)

Trọng Tân (Kính tặng cán bộ, chiến sĩ thông tin liên lạc anh hùng tham gia Chiến dịch mùa Xuân năm 1975 lịch sử)

Đêm trên sườn núi, khí trời lạnh ngắt, thi thoảng một cơn gió tràn qua lay nhẹ đám cành lá đẫm nước khiến những giọt sương khuya trong vắt nối nhau buông mình xuống gõ lộp độp trên những mái tăng lợp trên những căn nhà hầm âm dương vừa được đơn vị dựng lên chiều nay làm sở chỉ huy dã chiến.

Thượng tá Hoàng Niệm, vị chỉ huy Thông tin cao nhất của Chiến dịch này vẫn lặng lẽ đi lại, suy nghĩ phương án thực hiện nhiệm vụ vừa được Bộ chỉ huy chiến dịch giao cho Thông tin. Vóc dáng nhỏ bé nhưng săn chắc, nhanh nhẹn của ông đêm nay có vẻ trì nặng trong bộ "đại cán" đã cũ. Thỉnh thoảng ông dừng lại trước tấm bản đồ mặt trận, nhìn xoáy vào cái địa danh Buôn Ma Thuật nhỏ nhoi giữa đại ngàn mà mãi đến tận hôm nay, ngay cả những vị chỉ huy cao cấp như ông cũng mới thấy được cấp trên cho biết địa điểm mở màn của Chiến dịch quan trọng này. Có lẽ bởi tính chất đặc biệt của nó khiến tâm tư ông xúc động, bồn chồn đến khó tả. Ông linh cảm đây có lẽ là lần thứ hai, lần thứ hai trong cuộc đời binh nghiệp ông sẽ được chứng kiến lá cờ "bách chiến, bách thắng" của quân đội ta ngạo nghễ tung bay trên sào huyệt cuối cùng của quân giặc. Lần thứ nhất là khi các chiến sĩ trong tiểu đoàn của ông ôm nhau nhảy cẫng lên, nhiều người khóc to lên khi lá cờ chiến thắng của Quân đội ta phất cao trên nóc hầm của Đại tướng Đờ-cát-xtơ-ri giữa lòng chảo Điện Biên Phủ. Và hôm nay, mái đầu đã điểm bạc của chặng đường hai mươi năm chiến đấu, ông lại đưa các chiến sĩ, con cháu của lớp đồng ngũ xưa kia tham gia vào đội hình của hàng chục binh chủng hợp thành, chuẩn bị nghiền nát đội quân xâm lược Mỹ và tay sai của chúng, mà trận đầu sẽ diễn ra bất ngờ trên mảnh đất Tây Nguyên này.

Đã mấy đêm rồi, giữa sâu thẳm rừng già, cán bộ, chiến sĩ dưới quyền ông đang đạp lên gai góc và giá lạnh để đánh thông liên lạc tới các đơn vị. Nghĩ đến họ, ông thấy vợi bớt nỗ lo lắng và thốt lên se sẽ:

- Chà. Mấy thằng... tuổi trẻ của họ mới tuyệt làm sao.

Chiến dịch sắp mở!

Điều ấy không ai nói ra nhưng ai cũng cảm thấy qua những cuộc chuyển quân cấp tốc, những cuộc họp bất thường trong suốt hai mươi ngày đêm trèo đèo lội suối.

Nơi dừng chân đầu tiên là một vùng núi cao, cây rậm, hoang vu. Đón chúng tôi có đồng chí Phó Tư lệnh Binh chủng và cán bộ của bộ phận tiền phương. Thoáng trông thấy Phó Tư lệnh, đám tham mưu con trong các tổ đài liền nháy mắt, túm lại với nhau quanh mấy cậu A8 vốn được mệnh danh là "ăng ten" của "dê"1 tiếp sức.

Bỉnh "trọc" đánh mắt về phía các vị chỉ huy:

- Tớ đã đoán trước được bảy mươi phần trăm mà. Cấp trên "xuất tướng" rồi, các cậu thấy chưa?

Không riêng gì họ, chúng tôi cũng đã cảm thấy như thế. Một cái gì đó náo nức, bồn chồn không giải thích rõ ràng được giống như mình đang đón chờ một cơn bão sắp ào đến, cơn bão sẽ cuốn phăng những tảng mây mù của cuộc chiến tranh đã quá dài, để hé lộ ra mảng trời tươi sáng của hy vọng chiến thắng và hoà bình.

Phạm Ngọc Thụ vẻ quan trọng chen ngang:

- Theo các nguồn tin nội bộ mới nhất chúng tớ vừa nhận được thì tiểu đoàn ta sẽ được tham gia chiến đấu trong một vài ngày tới.

- Ôi! Thế mà cũng là tin. Đánh ở đâu chứ? - Một giọng nói cắt ngang.

- Dứt khoát ở Tây Nguyên rồi.

- Tây Nguyên mênh mông bể sở, cả một "dê" tiếp sức vào tham chiến, chuyện không nhỏ đâu. Nhưng cụ thể chiến trường nào?

- Thế theo cậu thì ở đâu?

- Tây Ninh.

- Tin hạng bét. Nếu Tây Ninh thì ta nằm đây làm gì?

- Tớ thì cho là Pleiku hoặc Buôn Ma Thuột!...

Đang sôi nổi thì có lệnh tập trung. Đồng chí Phó Tư lệnh Binh chủng và Ban chỉ huy Tiểu đoàn phổ biến nhanh tình hình chiến trường và nhiệm vụ của Binh chủng trong đó đặc biệt lưu ý tuân thủ quy ước làm việc của tiếp sức để đảm bảo bí mật tới phút chót của chiến dịch...

Thụ quay sang tôi: "Thấy chưa? Tớ đã bảo mà...". Rồi cậu ta đi về phía chiếc xe Zin 157 đầu tời, leo lên buồng lái lấy một phong lương khô cho vào chiếc bát "B52" dầm nước theo kiểu "chè 701". Chờ cái món ăn cải tiến của cậu ta tan ra sền sệt, Thụ vừa gõ chiếc thìa con vào vành bát vừa ngân nga hai câu thơ mà lính ta rất thích:

"Mấy chàng lính trẻ măng tơ,

Nghêu ngao gõ bát hát chờ cơm sôi"2

Tiếng ca, bát gõ rủng rẻng. Những "bữa" ăn khô vội vàng được dọn ra theo kiểu riêng của từng người. Chỉ nhoáng cái bữa ăn đã xong. Một vài chiến sĩ ngó nghiêng tìm nơi mắc võng. Đại đội trưởng Lưu Đức Doanh đi tới nhắc:

- Chuyển quân ngay đấy. Này mấy tướng, sao túm tụm giữa mặt đường thế kia... thu dọn hết giấy bọc lương khô đi, nhanh lên. Đoàn xe rùng rùng nối nhau lên đường, tới một cánh rừng thưa, đã có người đón sẵn, chúng tôi dừng xe. Khí tài trên xe được tháo ra, chuyển xuống. Và hàng chục đôi vai trần bắt đầu cõng khí tài, máy nổ, xăng dầu lên lưng chừng núi trước mặt. Tôi nhận thấy con dốc lên nơi đặt máy hình như vừa được dò tìm. Những bụi cây bị chặt còn chưa kịp kéo, những gióng tay vịn vừa được buộc... nhiều đoạn phải đạp qua các mỏm đá sắc lẹm làm đau buốt bàn chân. Một chiếc máy nổ 80-90 kg một cuộn cáp nhỏ... bây giờ là một thử thách ghê gớm. Chúng tôi xúm lại khiêng, leo ngược lên hang đá.

Đêm thứ nhất, chúng tôi phải nghỉ lại ở lưng chừng núi. Máy bay trinh sát địch rà sát ngọn cây nhòm ngó. Chúng muốn tìm dấu vết các đơn vị chủ lực để đoán biết ý đồ chiến dịch của ta mùa khô tới. Gần trưa ngày thứ hai, toàn bộ mạng liên lạc đã được nối thông. Phiên việc đầu tiên với Hà Nội vượt thời gian một ngày theo quy định. Nhưng tất cả vẫn chờ đợi.

24 giờ kém 15 phút, chiếc máy dành riêng cho Bộ chỉ huy chiến dịch bỗng đổ chuông. Doanh choàng tai nghe lên đầu. Lệnh trên cho các đài phát sóng. Cả một vùng rừng núi rộn lên trong tiếng reo của từng hồi chuông đổ và ánh đèn tín hiệu nháy sáng...

Báo cáo:

- Đài X3 bắt được liên lạc với OK...

- X4 liên lạc tốt.

- X1...

Phút chuẩn bị, chờ đợi bao lâu nay đã tới. Tiếng nói ấm áp, khoẻ khoắn của đồng chí Tư lệnh mặt trận từ Bộ chỉ huy Chiến dịch cất lên. Giờ phút lịch sử đó in đậm mãi trong kí ức của mỗi cán bộ chiến sĩ đoàn thông tin tiếp sức, những người vinh dự được truyền đi mệnh lệnh nổ súng mở màn cho chiến dịch lịch sử giải phóng Tây Nguyên, đòn phủ đầu của trận quyết chiến chiến lược đánh cho ngụy nhào - đó là lúc 24 giờ kém 5 phút ngày 9 tháng 3 năm 1975.

Từ trong trung tâm của Sư đoàn 23 ngụy – đơn vị mang cái tên đầy kiêu căng "Mãnh hổ Tây Nguyên". hai vệt lửa xanh xé toang khu chỉ huy và truyền tin. Các chiến sĩ đặc công ta bí mật luồn sát tận cửa hầm, từng cụm hoả lực, giáng đòn sấm sét mở đầu cho chiến dịch.

Sau những phút rối loạn, địch tổ chức chống cự quyết liệt. Đạn pháo rít trên đầu. Nổ quanh các mỏm đồi. Tiếng nhiễu sạo tăng lên. Một vài trạm bị máy bay oanh tạc, những anh em quyết giữ vững tiếng nói chỉ huy.

- Đường xuống X3 đứt!

- X15 mất liên lạc - đèn báo dập dồn.

Sư 10 là mũi chính của mặt trận. Không thể để thông tin gián đoạn. Lưu Đức Doanh điều các đài trưởng cùng anh ngồi vào bàn máy. Người nào cũng ướt đẫm mồ hôi, mặc dù ngoài trời đang giá lạnh. Các máy lẻ từ Bộ chỉ huy đang chờ đợi. Mỗi phút không khí như nén chặt lại, căng thẳng. Mệt, lo lắng hằn rõ trên gương mặt cán bộ, chiến sĩ đoàn thông tin tiếp sức.

Còn nữa

T.T.

Tân Sơn Nhất, Sài Gòn tháng 5-1975

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

------------------------------------------

1 Ký hiệu của đơn vị cấp tiểu đoàn.

2 Thơ Tố Hữu.

15.8.26

Hội truyền thống Thông tin khu vực Hà Nội tổ chức Hội nghị Ban liên lạc mở rộng năm 2026 (lần 2)

Sáng 15 tháng 8 năm 2026, tại d76, Lữ đoàn 205, Hội truyền thống Thông tin Hà Nội đã tổ chức Hội nghị Ban liên lạc mở rộng (lần 2) đến các chi hội trưởng, nhằm cùng nhau trao đổi, cập nhật tình hình và rút kinh nghiệm hoạt động của các chi hội, đồng thời gửi tặng thiếp, bằng mừng thọ của Bộ tư lệnh và của Hội cho các hội viên đến tuổi mừng thọ theo Quy chế (năm 2026 có 239 hội viên được mừng thọ), quà chúc Tết Nguyên đán Đinh Mùi 2027 của Hội cho các hội viên tuổi từ 90 đến 94 tuổi (năm 2026 có 50 hội viên, Ban liên lạc ủy quyền cho các chi hội trao cho hội viên) và 95 tuổi trở lên (năm 2026 có 28 hội viên, Thường trực Ban liên lạc sẽ trực tiếp thăm và trao quà nhân dịp tết Nguyên đán 2027 sắp tới).

Thường trực Ban liên lạc trao bằng mừng thọ và quà chúc Tết 2027 cho chi hội.

Đến dự Hội nghị có Trưởng ban liên lạc Vũ Dương Nghi, Phó Trưởng ban liên lạc Trần Minh Tâm, các đồng chí trong Thường trực Ban liên lạc cùng 37/39 đồng chí phụ trách các chi hội đã đến dự. Dự Hội nghị còn có đ/c Nguyễn Văn Công – Trợ lý Chính sách/Cục Chính trị Binh chủng.

Các nội dung trao đổi về kết quả hoạt động của các chi hội đều diễn ra sôi nổi, thân tình và thiết thực. Sau Hội nghị, các chi hội sẽ tiến hành tổ chức mừng thọ cho hội viên nhân dịp 81 năm Ngày Truyền thống của Bộ đội TTLL Anh hùng (09/9/1945 – 09/9/2026).

Tin, ảnh: Quang Hưng 

Kỷ niệm về một tờ báo (2/2)

Nguyễn Duy

Tiếp theo phần 1/2

Chùm thơ từ mặt trận

Mặt trận Quảng Trị, mùa hè năm 1972

Với tư cách là phóng viên chiến trường, tôi theo một đơn vị Thông tin của Sư đoàn 308 vào chiến dịch. Bom đạn nhiều tới mức không thể tả lại bằng lời. B.52 "toạ độ" suốt ngày đêm. Máy bay phản lực cứ từng đàn, từng đàn. Khủng khiếp nhất vẫn là pháo, pháo bầy, pháo tăng, pháp hạm đủ cỡ: 105, 175, 270, cả 406mm từ tàu chiến Niu Giơ-đi dội vào. Những mỏm đồi ở Đông Hà, đặt bàn chân nào cũng là đặt lên mảnh đạn pháo, tôi có cảm giác, đó là những mảnh sân phơi khoai thái lát. Hôm tôi tới thôn Tây Trì (Đông Hà), cả ban chỉ huy Trung đoàn 56 bị tử trận vì một quả đại bác rót trúng hầm. Đại uý Bằng Lâm, nhà quay phim của xưởng phim quân đội cũng hy sinh tại đây. Quân ta tổn thất khá nặng vì hoả lực vô cùng mạnh của địch. Điều quyết định là chúng ta đã thắng. Và tôi đã được gặp dân, lần đầu tiên gặp những người dân ở bờ Nam sông Bến Hải.

Trong căn hầm chữ A dã chiến, đung đưa như đưa võng dưới bom và đạn đại pháo, tôi làm được hơn chục bài thơ ngắn, làm nhẩm, rồi tì cuốn sổ tay nhàu nát, ngồi co ro tựa vào vách hầm mà chép ra. Theo đường thông hào mù mịt khói và bụi, tôi lần tới hầm tổng đài của sư đoàn, từ đó gọi về tổng đài Bộ chỉ huy chiến dịch.

- Một trăm... A lô, một trăm... cho xin hai trăm...

"Hai trăm" là tổng đài Bộ Tổng Tư lệnh ở Hà Nội. Và, từ xa tít tắp, một giọng con gái rất trong trẻo:

- 4430 à? Báo Văn nghệ à? Ở đâu xin?

- Quảng Trị. Xin 4430...

- Ai xin?

- Tổng Cóc đây. Đọc bài cho báo, gấp lắm.

Hồi đó, tôi có làm một bài độc tấu rất vui, về một anh chàng giữ kho thông tin biệt danh là "Tổng Cóc", và tự tôi nhảy lên khua khoắng trên sân khấu Văn nghệ của bộ đội Thông tin. Nhiều anh chị em ở Bộ tư lệnh không biết tên tôi, vẫn gọi là "Tổng Cóc". Xưng cái danh này, tôi hy vọng mấy cô trực tổng đài có thể nhớ ra và ưu tiên cho tôi. Quả như vậy thật.

- Chào cụ Tổng Cóc! Ở mặt trận khoẻ chứ?...

- Khoẻ. Nhưng suốt ngày ở hầm...

- Tổng Cóc thì ở hầm là đúng chỗ rồi. Có 4430 đó, nói đi!

Đầu dây đằng kia là Hữu Nhuận, cán bộ biên tập báo Văn nghệ. Anh không thể ngờ được rằng anh đang nói chuyện trực tiếp với người ở giữa chiến hào mặt trận Quảng Trị, bằng đường dây trần xuyên Trường Sơn có hệ thống các trạm tăng âm hiện đại. Hữu Nhuận chuyển máy cho anh Phạm Hổ. Rồi bác Hoài Thanh. Hỏi thăm nhau vài câu, tôi đề nghị toà soạn chép thơ ngay. Bác Hoài Thanh chuyển máy nói cho Hữu Nhuận. Phía này là mặt trận đang ầm ầm bom đạn. Phía kia là Hà Nội, chắc là một buổi sáng yên tĩnh. Không biết ngoài đó có nghe những tiếng nổ rung chuyển mặt đất vọng vào ống nói, nhưng những câu thơ tôi đọc thì nghe được rất rõ. Anh Phạm Hổ và anh Hữu Nhuận thay nhau chép, sau đó còn đọc lại cho tôi nghe xem có đúng không. Bác Hoài Thanh nói thêm, báo Văn nghệ đang lên khuôn ở nhà in, sẽ có ngay chùm thơ của tôi trong số này... "Tôi rất xúc động - lời bác Hoài - vì những dòng thơ này, từ mặt trận đi thẳng tới mặt báo..."

Chúng tôi đang nói dở dang thì tổng đài cắt liên lạc. "Tổng Cóc ơi – tiếng trong trẻo của cô gái trực đài - hết giờ ưu tiên cho ông rồi. Khoẻ nhé!..."

Hai ngày sau đó, tôi về Cùa, chợt nghe ra-đi-ô giới thiệu báo Văn nghệ, và đọc chùm thơ của tôi in trong số báo ấy. Đó là chùm thơ từ mặt trận Quảng Trị.

Hoa đào năm ấy

Cuộc chiến tranh đi qua...

Thế là xong! Tôi thở phào nhẹ nhõm khi trút bộ quân phục để chuyển ngành về làm biên tập viên cho tờ Văn nghệ giải phóng. Lúc đó là đầu năm 1976. Năm 1977 tờ Văn nghệ giải phóng sáp nhập vào tờ Văn nghệ trung ương, tôi trở thành biên tập viên thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh của tờ báo vốn có nhiều kỷ niệm sâu sắc với mình. Cứ ngỡ rằng đã "vĩnh biệt vũ khí", nào ngờ, tháng 6 năm 1978, tôi - phóng viên báo Văn nghệ lại lặn lội trong chiến hào ở Tây Ninh cùng với các bạn lính trẻ của Quân đoàn 4. Chiến dịch biên giới phía Tây-Nam Tổ quốc đang thời kỳ ác liệt nhất. Quân Pôn Pốt tràn sang dọc biên giới Việt Nam - Campuchia, tàn sát rất dã man đồng bào ta, từ Tây Ninh qua Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang. Quân ta đánh chặn và chuẩn bị tổng công kích... Lại những bài thơ chiến trận gửi về toà soạn báo Văn nghệ.

Qua mấy năm im tiếng súng, nhìn lại quãng đường bom đạn và đèo dốc dài dằng dặc phía sau lưng mình mà ngại ngùng. Cứ ngỡ rằng, đã quen hơi phố phường rồi, nếu phải đi trở lại con đường chiến tranh vừa qua, chắc là không đi nổi. Nhưng khi việc đã tới, giặc đã ở trước mặt, thật lạ, có một nguồn sức lực từ đâu đó trong con người mình bỗng khởi phát, xốc mình đi, những bước đi mạnh mẽ nguyên vẹn của người lính năm nào...

Nguồn sức lực ấy lại khởi phát một lần nữa trong tôi vào đầu xuân năm 1979. Sau chiến dịch biên giới Tây Nam, tôi tự thưởng cho mình một chuyến nghỉ phép, về ăn Tết ở quê nhà - thị xã Thanh Hóa. Ngày 15 tháng 2 năm 1979, tôi ra Hà Nội để chờ máy bay trở lại miền Nam. Sáng 17 tháng 2, chiến tranh bùng nổ trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Nhóm phóng viên xung kích của báo Văn nghệ, gồm năm người vốn xuất thân từ lính, được cử lên mặt trận. Đồng chí lái xe Đào Ngọc Chi cũng vốn là lính chiến.

Chiếc xe Rumaini tổng tộc của chúng tôi hoà vào đoàn xe chở lính lên phía Bắc. Tới thị trấn Đồng Mỏ chúng tôi bắt đầu làm việc với trạm phẫu, với thương binh, với đồng bào các dân tộc chạy giặc từ mấy huyện biên giới về. Ga Đồng Mỏ đặc kín người. Đường số 1 tắc nghẽn. Hầm Núi đá (do quân Trung Quốc đào, hồi họ sang "giúp" ta chống Mỹ) thì dành cho người bị thương nặng. Đêm ấy, chúng tôi ngủ ở chợ Đồng Mỏ cùng với đồng bào chạy giặc. Tôi và Phạm Tiến Duật nằm chung cái bạt võng, trước vỉa hè nhà bưu điện. Anh Hoài An ngủ trên xe với Đào Ngọc Chi. Anh Hồng Phi cùng với Đỗ Chu leo lên cái bàn bán thịt trong lều chợ không có mái. Tiếng đại pháo từ Lạng Sơn vọng về ùng ình suốt đêm. Những trang viết về mặt trận của nhóm chúng tôi bắt đầu từ đêm đó.

Lạng Sơn, 18 tháng 2. Thị xã vắng ngắt. Trời se lạnh. Hoa đào phai thấp thoáng trong sương mù. Đại pháo dội sang từ phía Bằng Tường, tiếng đạn rít veo véo, tiếng nổ lộng óc. Xe chúng tôi băng qua cầu Kỳ Lừa, lao về hướng Đồng Đăng.

Theo giới thiệu của Ban chỉ huy Sư đoàn Sao Vàng, chúng tôi sẽ tới Trung đoàn An Lão đang chặn giặc ở nam Đồng Đăng. Có một chiến sĩ liên lạc của trung đoàn An Lão dẫn đường. Ga Tam Lung hiện ra trước mặt. Chiếc xe của bệnh viện Lạng Sơn vừa bị bắn lật, xe hồng thập tự. Tiếp đó, chiếc xe của xưởng phim Quân đội trúng đạn (chiến sĩ Như Đạt, quay phim, đã hy sinh tại chỗ). Cối 81 của địch nhằm vào xe chúng tôi. Nhanh như cắt, Đào Ngọc Chi quặt xe vào con đường rẽ. Quân Trung Quốc từ các cao điểm gần đó nã cối theo tới tấp...

Hầm chỉ huy trung đoàn An Lão nằm trên sườn cao điểm 417. Vừa gặp chúng tôi, Chính uỷ trung đoàn đã đề nghị "các nhà văn trở về Lạng Sơn ngay cho. Chiến sự đang ác liệt, đơn vị không thể bảo đảm an toàn cho các anh được..."

Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Cái bề ngoài của mỗi người quả là xa lạ với thực tế trận mạc. Tôi mặc chiếc áo trắng có hoa đen, quần loe, kính cận, máy ảnh toòng teeng trên vai. Anh Hồng Phi, râu tóc bờm xờm, áo len, quần dạ, đôi dép sam-bô cao đế. Phạm Tiến Duật và Đỗ Chu thì đúng là bạch diện thư sinh, mảnh khà mảnh khảnh.

- Xin các đồng chí cứ yên lòng. Hồng Phi nói với Chính uỷ trung đoàn - chúng tôi đều con nhà lính, quen thuốc súng đạn cả. Chúng tôi sẽ ở đây theo dõi các trận đánh, và nếu có thể, xin các đồng chí phát vũ khí...

Đồng chí Biền, Chính uỷ, nói về tình hình chiến sự. Căn hầm thỉnh thoảng lại rung lên, đạn cối của địch vẫn rơi xuống quanh đấy, tiếng nổ nhức tai, và khói, bụi sặc sụa.

Những ngày ở Tam Lung, chúng tôi đã viết các bài in trên báo Văn nghệ dạo đó.

... Nhóm phóng viên chúng tôi xuôi về thị xã Lạng Sơn nghỉ đêm trong nhà khách tỉnh uỷ đã bỏ trống, cùng với tổ tự vệ của giáo viên trường Đông Kinh Phố. Trang thơ về mặt trận của tôi được hoàn chỉnh trong đêm này. Chúng tôi chụm đầu đọc thơ cho nhau nghe, rồi hát trắng đêm. Đêm chia tay, đêm tạm biệt những cây đào nở muộn. Tiếng súng bộ binh đã nổ rát ngoài rìa thị xã.

Mờ sáng hôm sau, tổ Công an vũ trang bảo vệ khu nhà khách tới giục chúng tôi rời đi, họ nhận được lệnh phải rút ngay ra khỏi thị xã. Chúng tôi thong thả chụp vài tấm ảnh cuối cùng với vườn đào, rồi chặt những cành đào đẹp nhất cắm đầy chung quanh xe. Chiếc xe Rumani của tuần báo Văn nghệ lần đầu tiên được nguỵ trang hoàn toàn bằng hoa đào. Lái xe Đào Ngọc Chi phải yêu cầu bỏ bớt hai cành cắm phía trước để còn trông thấy đường.

Trên chiếc xe hoa đào ấy, chúng tôi ngoái nhìn thị xã. Chào Lạng Sơn. Chào chợ Kỳ Lừa và dòng sông Kỳ Cùng, chào thành Tiên Xây và núi Vọng Phu... Thị xã đẹp mê hồn trong sương mù. Không một bóng người. Chỉ có cây với nhà, và hoa đào. Mấy con chó tìm chủ chạy lững thững dọc những phố nhỏ lặng ngắt. Pháo từ phía Bằng Tường bất chợt gầm lên, súng bộ binh đồng loạt nổ rền bên kia cầu Kỳ Lừa...

Chúng tôi đã mang về toà soạn những trang viết chưa ráo mực cùng những cành đào còn ướt nhựa nơi vết cắt. Cành đào phai lớn nhất được cắm trong cái bình đất nung đặt ở phòng khách toà báo. Những cành nhỏ hơn, chúng tôi chia ra, phân phát cho bạn bè. Bài viết của chúng tôi dồn dập in trên báo Văn nghệ, cùng lúc những nụ đào muộn mằn dồn dập nở, những cành đào Lạng Sơn vẫn còn tươi thắm giữa lòng Hà Nội. Và, mãi mãi tươi thắm trong tôi, cái màu hồng kỳ diệu của hoa đào năm ấy...

Hết

N.D.

3-1983

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

14.8.26

Tin buồn

Chi hội Long Biên-Gia Lâm, Hội truyền thống Thông tin Hà Nội vô cùng thương tiếc báo tin:

Đồng chí Đại tá TRẦN THANH DUNG

Sinh năm 1927; quê quán: Xã Diên Sanh, tỉnh Quảng Trị; trú quán: Số nhà 11, ngách 109/73, phố Nguyễn Sơn, phường Bồ Đề, TP Hà Nội; đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; hội viên Chi hội Long Biên-Gia Lâm, Hội truyền thống Thông tin Hà Nội; cán bộ tiền khởi nghĩa, nguyên Hiệu trưởng Trường Đảng, thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc; đã nghỉ hưu.

Huân chương Chiến công hạng Ba; Huân chương Chiến thắng hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng.

Đồng chí đã từ trần hồi 17 giờ 15 phút ngày 11-8-2026, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Lễ viếng tổ chức từ 7 giờ 30 phút đến 8 giờ 30 phút ngày 17-8-2026, tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng (số 5 Trần Thánh Tông, phường Hai Bà Trưng, TP Hà Nội). Lễ truy điệu và đưa tang tổ chức hồi 8 giờ 30 phút ngày 17-8-2026; hỏa táng tại Đài hóa thân Hoàn Vũ Văn Điển; an táng cùng ngày tại Nghĩa trang Gò Táo, Lâm Du, phường Bồ Đề, TP Hà Nội.

Chi hội Long Biên-Gia Lâm, Hội truyền thống Thông tin Hà Nội kính báo. 

13.8.26

Kỷ niệm về một tờ báo (1/2)

Nguyễn Duy

Những bài thơ đầu tiên

Tờ Văn nghệ (tờ báo của Hội Nhà văn Việt Nam) có ba mươi lăm tuổi, thì tôi cũng có hai mươi năm kỷ niệm với nó.

Cái kỷ niệm đầu tiên là: gửi bài mà không được in. Tôi đã gửi thơ cho báo Văn nghệ nhiều lắm, gửi cả tập giấy mỗi lần, gửi liên lạc từ năm 1962, cho tới 1972 mới được đăng bài đầu. Từ hồi còn đi học ở trường cấp ba Lam Sơn (Thanh Hóa), tôi đã "làm thơ" và lẳng lặng gửi, chỉ gửi cho báo Văn nghệ thôi, tôi nghĩ, đó là tờ báo đáng tin cậy về "tiêu chuẩn nghệ thuật". Và, cố nhiên là tôi cứ lẳng lặng mà chờ đợi... Lại lẳng lặng chép, lẳng lặng gửi, và lẳng lặng chờ... Nhưng ai lại đi in cái thứ mà tôi gọi là "thơ" của mình hồi đó. Thí dụ:

Người vợ của tôi

Tôi hình dung người vợ của tôi

da thịt bằng gang, tim gan bằng chì và ruột bằng cứt sắt

cái mặt nửa đỏ, nửa đen

răng lợn lòi chìa ra nhọn hoắt

đôi mắt là đôi đèn pha phòng không sáng quắc

khi trợn lên - mắt thiên hạ nhắm liền

nụ cười dịu hiền ngoác ra như hố bom

khi xuất hiện thì miệng đời méo xệ

và, giọng nói là xe tăng gầm ré

khi cất lên - tất cả phải im hơi...

Bởi rất yêu người vợ của tôi

nên tôi phải hình dung như thế.

(1965)

Tiếc thay, hồi đó tôi đã cho rằng đấy là thơ, thơ hay nữa là khác, ít ra thì cũng hiện đại! Tôi cũng đã tốn mất mấy năm mò mẫm theo cái cách làm thơ mà tôi cho là "hiện đại" này, để rồi chán nản, để rồi oán ban biên tập báo Văn nghệ là vô trách nhiệm với bạn viết...

Chiến tranh. Tôi nhập ngũ. Vẫn cặm cụi viết, gửi bài đi và chờ đợi. Cuối năm 1967 tôi mới được in bài thơ đầu tiên, trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, rồi sau đó được xuất hiện khá thường xuyên trên báo Quân đội nhân dân. Còn báo Văn nghệ thì chưa, cũng chưa có lấy một câu nhắn trả lời của toà soạn. Tôi càng oán báo Văn nghệ nhiều hơn trước. Càng oán, càng cay cú, càng gửi, bao thư trang trọng, giấy trắng, chép nắn nót, thỉnh thoảng lại có cả thư "kính thưa ban biên tập" đàng hoàng, kèm luôn cả bao thư dán tem sẵn để báo trả lời cho tiện nữa... Vẫn không ai trả lời tôi.

Có lần, tôi đánh bạo xông thẳng tới toà soạn báo Văn nghệ, định bụng sẽ hỏi cho ra nhẽ, nhưng vừa tới cổng thì sự hăng hái ban đầu cũng vừa tiêu tan hết, tôi lẳng lặng đi qua, đi lại, nhìn vào, rồi lại đi qua, đi lại... Rồi phát chán, bỏ về. Cũng may là tôi chưa chán viết và cũng chưa chán gửi. Tôi xoay lối viết theo cách chơi đồ cổ, làm thơ lục bát với những chi tiết thực, gần gũi với mình. Cứ "hiện đại hóa" mãi hóa tắc tị.

Sau một chuyến đi "B-ngắn, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), tôi có được mươi bài thơ mới. Tôi viết thoải mái hơn, có khá hơn - tôi tự nghĩ vậy. Tôi nảy ra ý định đổi bút hiệu. Họ và tên tôi gồm ba chữ số lẻ, nghe chừng xui xẻo quá, thôi, bỏ cái tên đi, giữ lấy cái họ, họ kép, thế là còn hai chữ. Có thể gặp may đây! Rồi một đêm, tình cờ tôi nghe đài, cụ Hoài Thanh đang "tán" về tính dân tộc trong thơ hiện đại... Tôi khoái quá, vì những điều cụ Hoài nói sao mà "hợp ý mình thế!" Tôi chép liền một bài, bài "Khúc dân ca", gửi tới "ông Hoài Thanh - nhờ Đài Tiếng nói Việt Nam chuyển". Tôi không hề có ý định gửi bài thơ này cho báo Văn nghệ, nó quê quê thế nào. Bất ngờ, mấy hôm sau, tôi nhận được thư của anh Phạm Hổ, đề nghị "cho báo Văn nghệ in bài "Khúc dân ca" do bác Hoài Thanh chuyển tới" và "đồng chí, nếu có thể được, gửi cho chúng tôi mấy bài thơ khác nữa, để báo Văn nghệ chọn in trong các số sau..." Tôi ngẩn cả người, vừa mừng, vừa lấy làm lạ. Lúc tôi gửi bài như điên thì họ không trả lời, lúc tôi không gửi thì họ lại đề nghị cho in. Cố nhiên là tôi rất sung sướng, chép gửi ngay. Không được cẩn thận như những lần trước, mấy bài thơ mới cùng mấy bài thơ cũ đã chép gửi đến chai cả tay. Tôi lại nhận được một văn bản đánh máy, dấu báo Văn nghệ đỏ tươi như hoa đào. Anh Vũ Tú Nam - thư ký toà soạn ký, mời tôi tới toà soạn chơi, và trao đổi về việc báo sẽ in cho tôi hẳn một chùm thơ. Chao ôi, tôi có bao giờ mong được như thế đâu!

Tôi xúng xính trong bộ quần áo lính mới toanh, rộng thùng thình, lần đầu tiên bước qua bậc cửa toà soạn báo Văn nghệ gặp ai cũng chào một cách cung kính và e dè. Ấy là lần đầu tiên tôi biết mặt anh Vũ Tú Nam, anh Phạm Hổ; lần đầu tiên tôi nhìn thấy chị Ngọc Tú, chị Xuân Quỳnh... Đến đó tôi mới biết là bác Hoài Thanh làm chủ nhiệm báo hiện bị ốm, ở nhà. Anh Phạm Hổ hẹn tôi tới thăm bác vào buổi tối. Tôi nhớ mãi cái buổi tối cuối đông năm 1971, gió bấc, rét căm căm và lất phất mưa phùn, anh Phạm Hổ ho nhiều, mặc dù đã quấn chiếc khăn len to xù, đạp cái xe Liên Xô cao lêu đêu mà từ xa đã nghe tiếng lọc xọc, lạch xạch. Anh đưa tôi tới nhà bác Hoài Thanh ở cùng phố với toà soạn. Bác Hoài Thanh, rất gầy, giọng nói yếu ớt, nói chậm, nói ít, nhưng lượng thông tin trong câu chuyện lại nhiều. Từng lời, từng chữ, cân nhắc và chính xác, bác nhận xét về những bài thơ của tôi mà bác đã đọc trên bản thảo, qua đó, đoán về tâm tính của người viết, tôi càng ngẫm về sau, càng thấy bác "bói" đúng quá. Sau ít phút trao đổi với anh Phạm Hổ, bác nói báo Văn nghệ sẽ in cho tôi hai bài trong số Tết sắp tới (tháng giêng năm 1972), sau đó in tiếp một trang, sau đó nữa, là bài phê bình của Hoài Thanh về một số bài thơ của tôi... Tôi lại ngẩn người, ngỡ là mình nghe lầm. Nhưng mọi việc đã diễn ra tuần tự đúng như lời bác nói.

Vậy là, bài thơ đầu tiên của tôi được in trên báo Văn nghệ cách bài thơ đầu tiên tôi gởi tới báo Văn nghệ đúng mười năm trời - mười năm lẳng lặng viết, lẳng lặng gửi, và lẳng lặng chờ đợi.

Người thầy đầu tiên

Người đầu tiên của toà soạn báo Văn nghệ mà tôi được gặp, cũng chính là người thầy đầu tiên dạy và dỗ tôi làm thơ một cách độc đáo nhất, là anh Trang Nghị.

Tháng 8 năm 1966, tôi là lính Thông tin, binh nhất, giữ đường dây liên lạc quân sự ở Hải Phòng. Nhà báo Trang Nghị tới đơn vị tôi để viết bài. Tôi thuộc loại chiến sĩ đang nổi, có thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu, bí thư chi đoàn, được đơn vị chọn ra để làm "nhân vật" cho nhà văn, nhà báo. Nhà văn, nhà báo quần tôi một ngày ròng, nào là "bối cảnh" các trận máy bay Mỹ oanh kích ác liệt nhất, nào là băng qua bom đạn nối đường dây liên lạc thế nào, tâm tư tình cảm ra sao, rồi lý lịch, quê hương bản quán... cho đến khi chả còn gì để mà khai báo nữa, tôi mới hỏi: nhà báo làm ở báo nào vậy? Văn nghệ! Ôi trời ơi, thế là tôi tóm được một ông Văn nghệ đây rồi! Tôi liền trút bầu tâm sự, ca cẩm... Anh Trang Nghị ôn tồn giải thích" bài vở gởi về toà soạn nhiều vô kể, biên tập viên không tài nào đọc cho xuể, bạn viết phải thông cảm cho báo, và nên kiên nhẫn gởi bài cho báo, gởi tiếp đi... Tôi quần lại ông Văn nghệ bằng cách đọc liền tù tì một thôi một hồi những bài thơ mà tôi sắp gởi tiếp cho báo Văn nghệ đây. Anh Trang Nghị cười hớ, hớ, hớ... Tiếng cười thật hồn nhiên, sảng khóai. Giọng Nam bộ thật diễn cảm: "Thơ chú mày dở ẹt!" Tôi đề nghị anh dạy cho tôi vài bí quyết, làm sao cho thơ hay lên được? Anh Trang Nghị gãi gãi vành tai, nói thản nhiên như không: "Dễ thôi mà, mày cứ đọc báo Văn nghệ ba năm liền là thơ của mày sẽ hay lên liền" và anh lại cười một tràng dài hớ, hớ, hớ...

Từ đó, tôi không gặp lại anh nữa. Cũng không thấy bài viết của anh đâu. Nghĩ mà buồn, mình muốn làm tác giả trên báo Văn nghệ đã không được, làm nhân vật trên báo Văn nghệ cũng không xong, thôi thì cứ theo lời khuyên của "thầy" Trang Nghị mà làm bạn đọc của báo Văn nghệ vậy. Khốn nỗi, cũng không có báo Văn nghệ mà đọc nữa. Tôi lang thang nay đây mai đó theo các tuyến đường dây liên lạc, hoạ hoằn mới vớ được một số Văn nghệ đã cũ rích.

Mãi cho tới cuối năm 1973, khi được tặng giải nhất cuộc thi thơ 1972- 1973 (cho trang thơ đầu tiên của tôi in trên Văn nghệ), tôi mới mò tới toà soạn lĩnh tặng phẩm, bất ngờ gặp lại anh Trang Nghị. Anh bắt tay chúc mừng tôi trúng giải. Tôi hỏi, anh có nhớ tôi không? "Không! - Anh Trang Nghị nói, tao đã gặp mày hồi nào đâu mà nhớ". Tôi kể lể: "Cái hồi ở Hải Phòng..." "A a... Tao nhớ ra rồi, nhớ ra rồi... đúng rồi... Tao phải đãi chú mày một chầu bia mới được". Anh kéo tôi ra quán bia hơi góc đường Trần Hưng Đạo - Phố Huế, lấy cái nắp hầm cá nhân làm mâm, bày lên đó mấy vại bia sủi bọt cùng một đĩa lạc rang húng lìu. Chúng tôi ngồi xổm, vừa uống bia hơi vừa ôn lại cái thời Hải Phòng bị oanh kích ác liệt, và tôi kể anh nghe công việc của tôi lúc này... Sau vài vại bia, anh Trang Nghị sôi nổi hẳn lên: "Mày thấy chưa, anh mày nói có đúng không nào, cứ đọc báo Văn nghệ ba năm là nên người". Anh lại cười một tràng dài hớ, hớ, hớ...

Năm 1976, tôi lại cùng anh Trang Nghị làm việc cho tờ Văn nghệ giải phóng, cùng ở một chung cư. Bây giờ tôi là bạn nhậu của anh rồi, thỉnh thoảng hai thầy trò gật gù với nhau, nhắc lại cái ngày xửa ngày xưa, cái lần gặp gỡ ở Hải Phòng, cứ ngỡ là thoảng qua, mà hóa ra một kỷ niệm thật nhiều ý nghĩa.

Còn nữa

N.D.

3-1983

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

 

11.8.26

Thông báo mời họp

Kính mời:

-  Các đồng chí trong Thường trực Ban liên lạc.

-  Các đồng chí chi hội trưởng (hoặc phó) các chi hội thuộc Hội truyền thống Thông tin liên lạc khu vực Hà Nội.

Thường trực Ban liên lạc Hội kính mời các đồng chí chi hội trưởng (hoặc phó) đến nhận bằng – quà - thiệp chúc thọ và thiệp – quà chúc Tết Xuân Đinh Mùi -  2027 của Đảng ủy Bộ tư lệnh Binh chủng Thông tin và của Hội truyền thống Bộ đội Thông tin khu vực Hà Nội.

Thời gian : 9 giờ 00, ngày 15/8/2026.

Địa điểm: Tại d76/L205 BCTT (vào cổng 210 đường Hào Nam, Hà Nội).

Vậy kính mời các đồng chí chi hội trưởng (hoặc phó) tới nhận về tổ chức cấp bằng – quà – thiệp mừng thọ và chúc Tết  cho các hội viên (theo quy chế) nhân kỷ niệm lần thứ 81 năm Ngày truyền thống vẻ vang của Bộ đội TTLL Anh hùng.

Hội cũng trân trọng mời các đồng chí Trưởng – Phó Ban liên lạc và các đồng chí Ủy viên thường trực Hội cùng dự để cuối buổi có hội ý Thường trực Ban liên lạc Hội chuẩn bị cho một số hoạt động cuối năm 2026, đầu năm 2027.

TRƯỞNG BAN LIÊN LẠC

Vũ Dương Nghi

10.8.26

Chiếc kẻng làng tôi

Đặng Trường Lưu

Quả bom này cô đội trưởng moi lên

Trong trận đánh dạo làng tôi thi cấy

Quả bom câm, từ đấy

Nói cười...

 

Chiếc kẻng làng tôi

Sáng chưa tỏ mặt người

Đã gọi mây trời bừng tươi vụ gặt

Âm vang như nỗi niềm của đất

Giục đường cày mùa gieo vãi sinh sôi

Trong ngõ nhỏ ngợi ngời

Đàn em đi học

Dự kiến tương lai xếp đầy nơi cặp sách

 

Chiếc kẻng là người lính gác

Mắt dõi nhìn đi xa xôi

Báo đạn lên nòng

Báo giặc bị bắn rơi...

 

Khi kẻng báo yên rồi

Trời xanh hơn trong hố bom đầy nước

Bóng cô dân quân soi mình sửa tóc

Máy lại cày, đồng trước giục đồng sau.

 

Tiếng kẻng khua vào đêm sâu

Già trẻ gái trai tụ đầy sân đội

Chuyện cần bàn

Như thóc về sân chật chội:

Thóc sân nào đã quạt sạch phơi khô

Chuyển ra tiền phương gấp!

Trai làng ai khỏe nhất

Tòng quân!

Giống lúa nào cấy trước? Mạ cần ngâm!

Xây nhà trẻ, cử thêm người trực chiến...

Bao nhiêu chuyện ùn ùn kéo đến

Khi tiếng kẻng khua vào trong đêm

 

Tiếng kẻng là con đường không tên

Nối làng tôi với mọi chiến trường

Là nhịp cầu, nhịp thang hối hả

Cho cuộc đời đi lên

 

Chiếc kẻng là quả bom câm

Treo lủng lẳng cành đa bom phạt cụt

Chiếc kẻng ngày ngày nói hết

Những gì làng tôi đang làm và đang nghĩ suy!

Tháng 12 năm 1971

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

8.8.26

Kỷ niệm nhỏ về phòng Hồ Chí Minh

Nguyễn Việt Hồng

Năm 1963 tôi được cử sang Liên Xô học. Với vốn tiếng Nga "tàm tạm", sau giờ học tôi hay "lang thang" vào các thư viện, nhà bảo tàng của thành phố Kiev - nơi tôi chuyên tu - thủ đô của Ukraine. Tôi còn đến các câu lạc bộ sĩ quan, một số phân đội của Trường Sĩ quan Thông tin - Bộ Quốc phòng Liên Xô - mang tên Kalinin, vùng Pa Đôn, trên bờ sông Đơ-nhi-ép. Tại các đơn vị này, tôi thấy có một "phòng Lênin". Với một không gian khoảng trên dưới trăm mét vuông, "phòng Lênin" được trưng bày các tranh, ảnh về tiểu sử, hoạt động của Lênin, tác phẩm của Người, lối dạy của Người đối với thanh niên, học sinh, chiến sĩ... Trên bàn, có rất nhiều báo. Trong tủ, xếp không ít các sách viết về truyền thống quân đội, về chiến tranh giữ nước vĩ đại, về lịch sử đơn vị...

Phòng thu hút khá đông học viên, chiến sĩ đến đọc báo, sách và thường xuyên được bổ sung nguồn tư liệu. Đôi lúc tôi còn được thấy gia đình học viên đến thăm vào phòng này tìm hiểu một vấn đề gì đó, chụp ảnh chung dưới chân dung Lênin...

Mãn khóa học, về nước tôi được cấp trên giao "làm" Bảo tàng Thông tin. Tôi nào đâu phải cán bộ văn hóa, hơn nữa là cán bộ bảo tàng - một ngành khoa học nghiêm túc. Nhưng đại đội trưởng cũ của tôi từ năm 1949, Tư lệnh Thông tin Hoàng Niệm cũng học ở Liên Xô về, biết tôi đã từng được tham quan Bảo tàng Nghệ thuật Tạo hình Nga, Bảo tàng Lực lượng vũ trang Ukraine, Bảo tàng Septrenko... Ở Kiev, lại có cả mấy bộ bưu ảnh. Ông bảo: "học rồi làm, vừa học vừa làm, vừa làm vừa học".

Tôi "bổ nháo bổ nhào" đi quan sát các bảo tàng ở Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Thái Nguyên. Tôi xin được dự học lớp bồi dưỡng cán bộ văn hóa của Bộ Văn hóa... Công việc đang tiến hành, thiết kế, viết đề cương chính trị... thì xảy ra chiến tranh biên giới. Mọi việc đành gác lại. Tôi lại chuyển sang đơn vị khác.

Năm 1985, nhân kỷ niệm 40 năm Bộ đội Thông tin, tôi trở lại "làm" Bảo tàng Thông tin. Bảo tàng đã được khánh thành đúng hẹn vào ngày 9 tháng 9 cùng năm.

Hết nợ "bảo tàng" tôi suy nghĩ đến phòng Lênin ở Liên Xô. Khó có thể xây dựng bảo tàng, nhà truyền thống cho mọi đơn vị, nhất là ở các cấp tiểu đoàn, đại đội, trạm... là những phân đội cơ sở, phân tán của bộ đội Thông tin. Một "dạng" nhà truyền thống "con" mang dáng dấp như "phòng Lênin" có thể vận dụng vào Việt Nam được không? Đặt tên là gì? Nội dung ra sao? Nguồn tư liệu, tài liệu, cơ sở vật chất, kinh phí, biên chế sẽ thế nào?

Nhân một lần đi họp "trên" Tổng cục Chính trị, tôi báo cáo sơ qua suy nghĩ của mình với Phó Chủ nhiệm Đặng Vũ Hiệp. Đồng chí Hiệp nói: "về làm đề cương đi".

Sau khi làm đề cương, được Bộ tư lệnh Thông tin thông qua, tôi gửi lên Tổng cục Chính trị và được hồi âm là "cho phép làm thử".

Tôi bắt tay thực hiện ngay tại một phòng khoảng 50 mét vuông của Bảo tàng Thông tin. Phòng này có tên là "phòng Hồ Chí Minh" gồm có mấy nội dung như sau:

1. "Đất nước Việt Nam tươi đẹp, Tổ quốc ta anh hùng, ta phải xứng đáng là con dân đất Việt"

Nội dung này có các tranh ảnh về đất nước, chân dung các vị anh hùng cứu nước, các danh nhân văn hóa...

2. "Đảng ta rất vĩ đại”

Trong phần này có các ảnh chụp, bút tích, hiện vật phục chế, truyền đơn... kể về hoạt động của Bác Hồ, về các lãnh tụ, chiến sĩ cách mạng, những tháng năm nô lệ dưới thời Pháp thuộc, phong trào cách mạng - yêu nước của nhân dân ta để giành chính quyền, thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược...

3. "Quân đội ta rất anh hùng"

Được thể hiện bằng sơ đồ phát triển lực lượng vũ trang, chân dung một số anh hùng, chân dung tất cả các Anh hùng Thông tin kèm theo chú thích tiểu sử, một số thư từ, bài báo ca ngợi thành tích, bản sao lời tuyên dương các đơn vị Thông tin anh hùng.

Ba nội dung này được đưa lên diện tích trưng bày trên tường, số rất ít còn lại được bố trí trong mấy tủ nhỏ, thấp, vừa tầm đọc.

Trong "phòng Hồ Chí Minh" còn bố trí một số bàn ghế, trên có báo Tiền Phong, Phụ nữ, Quân đội nhân dân, Nhân dân, báo Thông tin, tập san in rônêô hay viết tay... của các đơn vị Thông tin, báo tường, báo tranh... được giải thưởng sau các kỳ thi từ các đơn vị Thông tin gửi lên. Các sách viết về thông tin như: "Giữ vững đường dây", "Giao liên trên tuyến đầu Tổ quốc"... được treo trên "dây sách" có thể lấy ra, đặt vào dễ dàng. Giữa "phòng Hồ Chí Minh" đặt một tượng bán thân Bác Hồ, trên nền cờ Tổ quốc. Cạnh đấy là một đài thu thanh, khi cần phát tin tức, hoặc truyền đi các bài hát, bản nhạc nhẹ. Một số lượng không ít các sách, báo văn hóa, văn nghệ được đặt trên giá sách đặt ở cuối "phòng". Một lọ hoa, với những bông hoa đẹp, cắt từ vườn hoa đơn vị ra, được đặt dưới tượng Bác, một số "đĩa hoa" đặt trên các bàn.

"Phòng Hồ Chí Minh" được giao cho một đoàn viên xuất sắc, ưu tú của chi đoàn đứng ra quản lý, giới thiệu.

Sau một thời gian chuẩn bị, hoàn thành, chúng tôi được đồng chí Đặng Vũ Hiệp đến kiểm tra.

Đồng chí xem tỉ mỉ từng bức ảnh, tấm tranh, đọc kỹ những câu chú thích, hỏi cảm tưởng, suy nghĩ của một số cán bộ chiến sĩ được mời lên thăm quan. Quay lại phía tôi, đồng chí hỏi:

- Một phòng thế này hết bao nhiêu kinh phí?

Tôi trình bày là chủ yếu tiền dùng vào việc mua ảnh, tài liệu. Còn "công xá" trang trí, vẽ tranh là do Đoàn thanh niên làm, sách báo xin ở thư viện vốn đã có kinh phí... Tổng số ước chừng...

Đồng chí Đặng Vũ Hiệp nói:

- Có thể chấp nhận được "phòng Hồ Chí Minh" với kinh phí, nội dung, tổ chức này. Bây giờ "mình" (đồng chí thân mật bảo tôi) cho cậu ít tiền làm thử ở một số đơn vị, tính chất khác nhau, xong, tổng hợp báo cáo lên. Nếu Tổng cục thông qua cho tiến hành trong toàn quân, sẽ đặc cách phong cậu làm "tiến sĩ".

Đầu năm sau và tiếp sau đó chừng hết năm, tôi và một số đồng chí trợ lý bảo tàng đã đi xây dựng "phòng Hồ Chí Minh" tại một tiểu đoàn học viên Trường Kỹ thuật Thông tin, tại Bệnh xá Thông tin, một đơn vị quân bưu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, một đơn vị vô tuyến điện hoạt động trên đất bạn, một số phân đội thông tin Phòng không - Không quân, Quân khu 7 và một đơn vị ở Phnôm Penh.

Cuối năm 1986, sau khi nhận được báo cáo tổng kết và cử người đi kiểm tra, Tổng cục Chính trị đã có chỉ thị bước đầu, lần lượt tổ chức "phòng Hồ Chí Minh" tại một số đơn vị thí điểm, sau đó tiến hành nhân rộng khắp trong toàn quân.

Trong mấy năm gần đây, tôi có dịp được đến thăm các "phòng Hồ Chí Minh" ở một số đơn vị bộ đội đóng quân tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cao Bằng, Đồng Tháp, Cần Thơ, Quảng Bình... đều thấy tổ chức khá phong phú, đã có thêm tivi, có nơi còn kết hợp đọc báo hàng ngày vào buổi tối cho đơn vị, làm lễ kết nạp đoàn viên, đảng viên, chụp ảnh các chiến sĩ thi đua, kể chuyện truyền thống, tiếp đón đại biểu nhân dân địa phương. Cũng còn có "phòng" sơ sài, và nội dung hoạt động còn nghèo nàn... chắc chắn sẽ được uốn nắn, bổ sung và hy vọng sẽ "giàu, đẹp" hơn.

Hẳn là "phòng Hồ Chí Minh" có mang lại một "cái gì đó" trong giáo dục lòng yêu nước, tự hào về truyền thống của cha, anh... có đóng góp ít nhiều vào sức mạnh văn hóa, chiến đấu của chiến sĩ, nên đã được coi như một "biên chế chính thức".

Phải chăng nơi đây đã mang tính chất một "điểm văn hóa" trong tế bào cơ sở của lực lượng vũ trang, một sức mạnh tinh thần của nhân dân ta để chiến thắng nhiều kẻ thù trang bị vật chất hơn ta? Phải chăng "nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh" thêm một bước nữa, đã đến với các thế hệ chiến sĩ trẻ trong quân đội Người đã sáng lập, rèn luyện, dẫn dắt đến chiến thắng hoàn toàn.

Trở lại lời hứa của Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp. Có lần gặp Thượng tướng, tôi có nhắc lại lời hứa ấy. Thượng tướng đập tay vào vai tôi nói:

- Nhớ dai thế! Mình nghe cậu là tiến sĩ rồi cơ mà.

Tôi vẫn cố nài:

- Thưa anh, mới có "phun thuốc sâu"1 thôi ạ!

N.V.H.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

-------------------------------------------

1 Viết tắt pts, câu nói vui chỉ phó tiến sĩ. 

6.8.26

Đi từ một tờ tin Binh chủng

Nguyễn Thụy Kha

Khi tôi từ bộ binh chuyển sang Binh chủng Thông tin làm lính vì được phát hiện là kỹ sư thông tin thì tờ tin của Binh chủng đã khá vững chãi. Tôi nhanh chóng biết đến những tên tuổi đại diện cho "nền văn minh Binh chủng" này. Đó là anh Nguyễn Văn Khoan, thường hay ký Việt Hồng, linh hồn của tờ tin từ ngày khởi sự. Anh Khoan bây giờ đã về hưu và thường cộng tác với tạp chí Xưa và Nay. Đó là Nguyễn Duy nổi tiếng với những bài ca dao về đường dây và tấu "Cóc", tấu "Cáp". Con người thấp bé nhỏ thó ấy khi diễn tấu, cái duyên nở bung ra như ngô rang. Khi tôi gặp Duy, anh đã được giải thưởng thơ và đang theo học... Tổng hợp Văn. Ở chiến trường, tôi nghe phong thanh Duy bị "dính" cái nạn vì bài thơ nào đó, rất nguy hiểm. Và Duy cứ long đong như thế cho đến những ngày đầu giải phóng, mãi mới kiếm được chỗ cư trú ở Sài Gòn. Bây giờ, khi tôi viết những dòng này thì Duy đang ở Mỹ cùng Văn Lê, Cao Tiến Lê và Chu Lai. Mới thấy cái  nghiệp văn, nghiệp báo nó... ghê cả người. Đó là Phạm Đức, với những bài thơ ngắn mơ màng tình rừng, tình biển, hun hút dọc tuyến thông tin. Số phận của Đức long đong cũng không kém, long đong vì một cái gì không rõ rệt. Nhưng đến khi ra khỏi Quân đội, chân dung của Đức là một khối im lặng thu mình trong bộ quần áo xanh bạc phếch, đầu đội mũ nan. Ra khỏi Quân đội, Đức cũng thôi làm báo và chuyển sang làm xuất bản cho tới hôm nay và đã tươi vui hơn xưa. Đó là Phạm Khắc Vinh tài hoa - chàng trai Bình Định - thường gọi là Vinh "lé". Vinh "lé" sùng sục viết tin, làm thơ, viết văn xuôi và... viết ca khúc. Vì tài viết ca khúc mà Vinh "lé" rời khỏi bản tin về làm tuyên truyền văn hóa. Trong chống Mỹ, Vinh đã nổi tiếng với bài "Em nguyện làm cầu nối bến anh qua" và truyện ngắn "Chuyện tình cờ". Anh là một trong không nhiều các nhạc sĩ ở Binh chủng biết phối khí dàn nhạc mãi cho tới 1985 đột ngột quay lại viết văn và giật ngay giải nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ với truyện "Trái chín". Vinh "lé" rời Binh chủng vào Quân khu 7 hồi 1984 và ra đi khỏi cõi đời quá sớm trong cuối thu 1991. Không chỉ có "hồng nhan bạc phận" mà "tài hoa cũng... bạc phận" lắm. Hôm nghe Thu Bồn báo tin Vinh "lé" mất cùng lúc ở Hà Nội đưa đám Tô Hà, cổ họng tôi chợt đắng ngắt. Một giọt nước mắt chia về hai phía mất mát.

Người gắn bó với tờ tin khá lâu và trở thành người phụ trách nó, đó là Quang Chuyền. Thời kỳ ấy, bản tin cũng có vẻ thịnh vượng nhất. Chúng tôi gồm: Lương Văn Tăng, Nguyễn Văn Tâm, Trường Lưu, Trung Tín (nhiếp ảnh), Nguyễn Văn Bồng, Nguyễn Bá Tòng, Nguyễn Bắc Việt (3 chàng này bây giờ là những "sếp" chương trình ở Truyền hình Việt Nam). Thanh Hải - nữ phóng viên duy nhất bản tin và tôi. Bản tin ngoài in các tin tức thông tin trong Binh chủng còn in thơ và nhạc nữa. Nhiều tên tuổi hôm nay cũng bắt đầu từ những bài in ở bản tin này. Đó là Nguyễn Quang Lập, Lê Mạnh Tuấn, Nguyễn Ngọc Phú, Lê Như Tiến, Ngọc Hoà, Huy Thiêm v.v... Cũng có một đường thông, một lối đi là từ bản tin này nhập vào báo Quân đội. Đó là lối đi của Quang Thống, Hồng Đào, Trung Tín, Huy Thiêm v.v... Riêng Hồng Diệu thì từ những tin kỹ thuật lại trở về làm lý luận văn học ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Bây giờ, Quang Chuyền đã cư trú ở Sài Gòn. Hình như đã về hưu. Lâu không được đọc thơ anh. Còn trụ lại ở bản tin trong cái năm kỷ niệm 70 năm Báo chí Cách mạng và 50 năm thành lập Binh chủng chỉ còn Lương Văn Tăng và Thanh Hải. Dù đây là một thực tế phù hợp, vẫn thấy trống trải.

Đi từ một tờ tin Binh chủng, có biết bao tên tuổi lớn lên, trưởng thành và đã... già đi. Thời hôm nay, chắc chẳng bao giờ còn lối đi đó nữa. Ngoái lại, mới thấy quý cái truân chuyên mà không dễ thời nào cũng có được của cái nghề làm báo, dù chỉ là làm báo ở một tờ tin khiêm tốn của Binh chủng, của sư đoàn xưa kia.

N.T.K.

Lao động 20-6-1995

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)