11.5.26

Hội Truyền thống Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin họp mặt mừng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân và kỷ niệm 61 năm Ngày truyền thống

Hòa trong không khí hào hùng của những ngày tháng Năm lịch sử, sáng 10/5/2026 tại Sở chỉ huy Lữ đoàn 205, Hội Truyền thống Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường Hạ sĩ quan (HSQ) Thông tin đã họp mặt mừng đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân và kỷ niệm 61 năm Ngày truyền thống (06/5/1965 - 06/5/2026).

Đến dự buổi họp mặt có các đồng chí: Đại tá Tô Hồng Quân - Phó Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc (TTLL); Thiếu tướng Vũ Dương Nghi – nguyên Chính ủy Binh chủng, Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội; các đồng chí Thiếu tướng Ngô Kim Đồng, Thiếu tướng Trần Minh Tâm - nguyên Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc; các đồng chí thủ trưởng đại diện cho các cơ quan Tham mưu, Chính trị và Hậu cần - Kỹ thuật Bộ tư lệnh Thông tin, các đồng chỉ thủ trưởng đại diện cho các đơn vị Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin, Lữ đoàn 205, và Thường trực Ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội.

Về phía Hội Truyền thống Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin có các đồng chí: Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Nhân dân Hoàng Mạnh An - Phó Chủ tịch Hội Ghép tạng Việt Nam, Trưởng ban liên lạc; Thiếu tướng Nguyễn Văn Tín - nguyên Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn/Tổng cục Chính trị, Phó Trưởng ban liên lạc; Thiếu tướng Lê Hữu Vững - nguyên Chính ủy Cục Tác chiến điện tử/BTTM; Đại tá Hà Thành Đồng - cán bộ Cục Quân huấn - Nhà trường/BTTM; GS.TS.NGƯT. Nguyễn Hữu Khiển, nguyên Phó Giám đốc điều hành Học viện Hành chính Quốc gia, Hiệu trưởng Trường Đại học Thành Tây; ông Trần Mạnh Toàn - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Thiết bị Công nghệ Việt Thái Holdings; các đồng chí ủy viên thường trực, Ban liên lạc cùng hơn 300 hội viên Hội Truyền thống Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin từ các tỉnh, thành trong cả nước cũng về dự.

Đồng chí Thiếu tướng Hoàng Mạnh An – Trưởng ban liên lạc chủ trì buổi Họp mặt.

Trước khi bắt đầu chương trình Họp mặt, các đại biểu được thưởng thức chương trình văn nghệ đặc sắc, mang đậm tính nghệ thuật và sắc thái riêng của các hội viên Đoàn 4 và các lẵng hoa chúc mừng ngày Họp mặt của các tổ chức, cá nhân đến dự.

Đồng chí Thượng tá Thân Ngọc Thúy - Trưởng ban tổ chức tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu đến dự buổi Họp mặt.

Báo cáo tại buổi Họp mặt, đồng chí Thiếu tướng Hoàng Mạnh An - Trưởng ban liên lạc rất phấn khởi, tự hào trang trọng thông báo: Trường Báo vụ miền (H19) - Đoàn 4 báo vụ - Trường Kỹ thuật Thông tin được Đảng, Nhà nước, Quân đội vinh danh, trao tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng LLVT nhân dân vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước đối với những đóng góp, thành tích tiêu biểu, những cống hiến vượt bậc, đặc biệt xuất sắc của một số lực lượng thông tin, trong đó nòng cốt là lực lượng báo vụ. Danh hiệu cao quý này đã được Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin long trọng tổ chức đón nhận vào ngày 24/3/2026, đúng trong dịp kỷ niệm 59 năm ngày thành lập Nhà trường.

Các đại biểu dự Họp mặt trong hội trường.

Ra đời những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trường Báo vụ miền Nam làm nhiệm vụ đào tạo báo vụ và các loại hình thông tin phục vụ tại chỗ. Dù điều kiện vô cùng gian khổ, khó khăn, thường xuyên di chuyển, bị đánh phá ác liệt, Trường vẫn nỗ lực vượt lên, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Năm 1965, Đoàn 4 báo vụ được thành lập để làm nhiệm vụ đào tạo gấp rút báo vụ, cơ công cho chiến trường. Trường Báo vụ miền (H19) có thêm nhiệm vụ - trở thành nơi đón nhận, tập huấn, quán triệt nhiệm vụ và gửi lớp lớp báo vụ từ miền Bắc đưa vào tới các mặt trận, đáp ứng đòi hỏi cấp bách của các chiến trường. Ở chiều ngược lại, nhiều cán bộ, báo vụ viên giàu kinh nghiệm chiến đấu về H19 đã được điều ra Đoàn 4 để đào tạo báo vụ, truyền thụ kinh nghiệm, đáp ứng kịp thời và sát hợp với đòi hỏi của chiến trường. Năm 1967, do yêu cầu nhiệm vụ có bước phát triển mới, đại đội đào tạo cơ công từ Đoàn 4 tiếp tục được điều động để cùng với một số đơn vị khác thành lập nên Trường Kỹ thuật Thông tin. Có thể nói: ngay từ những ngày đầu, các đơn vị tiền thân của Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin hôm nay đã có sự gắn kết tự nhiên, mật thiết, bền chặt, cùng hướng tới chiến trường, cùng lập công và chiến thắng. Đó cũng là truyền thống xứng đáng để tiếp nối, để tiếp tục làm rạng rỡ truyền thống Anh hùng của Binh chủng Thông tin Anh hùng.

Quang cảnh buổi Họp mặt.

Nhìn lại 61 năm đã qua, ngày 06/5/1965, giữa lúc cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ quyết liệt nhất; trước yêu cầu mới, Đoàn 4 được quyết định thành lập trên cơ sở từ Tiểu đoàn 4 thông tin thuộc Lữ đoàn 338 và 3 đại đội của Cục Thông tin liên lạc. Cho dù hiện nay, theo yêu cầu của tình hình mới, Đoàn 4 đã không tồn tại. Dẫu vậy, cái tên Đoàn 4 vẫn hiện hữu, vẫn trường tồn. Không chỉ có sách sử mà là trong tiềm thức của nhiều người, danh xưng Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin vẫn ngời sáng. Điều đó có được là bởi vì:

Thứ Nhất, Đoàn 4 đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ lịch sử giao phó. Sứ mệnh vẻ vang mà Đoàn 4 được đảm nhận đó là đào tạo báo vụ và đài trưởng 15W, cơ công chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong 10 năm (1965 - 1975) Đoàn 4 chính là nơi đào tạo những chiến sĩ có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, và đặc biệt là phải có ý chí sẵn sàng lên đường vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từ cái nôi Đoàn 4 – đã có hàng ngàn báo vụ, hàng trăm cơ công có mặt ở hầu khắp các chiến trường, tham gia chiến đấu trên rất nhiều mặt trận. Báo vụ được đào tạo từ Đoàn 4 ở mọi chiến trường, mọi mặt trận đều đã khẳng định được bản lĩnh và trình độ chuyên môn tốt, tạo nên một thương hiệu “Báo vụ Đoàn 4”, được chỉ huy các mặt trận tin tưởng và đánh giá rất cao.

Đoàn 4 đã là tiền thân của một Đơn vị Anh hùng. Đoàn 4 cũng đã sản sinh ra nhiều Anh hùng LLVT nhân dân, trong đó có Anh hùng liệt sĩ Hà Đình Hàn khóa 1967-1968 khi bị địch bao vây đã kiên cường chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, thà hy sinh, quyết không để vũ khí, khí tài thông tin rơi vào tay quân thù. Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin là cái nôi đào tạo ra nhiều cán bộ cho Quân đội, cho Binh chủng, cho các cơ quan, bộ, ngành. Rất nhiều người thành đạt, nhiều người đã trở thành cán bộ cấp cao, thành tướng lĩnh Quân đội.

Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin cũng đã đào tạo ra rất nhiều những báo vụ viên, chiến sỹ cơ công, đài trưởng giỏi. Báo vụ viên Nguyễn Bá Líu (về nhận công tác tại Lữ đoàn 205) là người vinh dự là người đầu tiên phát bức điện nổi tiếng của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi tới chiến trường: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”

Thứ Hai, Đoàn 4 nổi bật về chất lượng tuyển chọn cán bộ, chiến sỹ. Nhờ sự ưu ái trong tuyển quân, hầu hết chiến sĩ về đoàn 4 đều cơ bản có trình độ văn hóa lớp 10. Bởi vậy, hiệu quả học tập luôn thể hiện rất tốt; dù là khóa học 12 tháng hay rút gọn chỉ 9 tháng song vẫn đảm bảo chất lượng tốt nghiệp cao; các báo vụ viên hội đủ các yếu tố để sẵn sàng ra mặt trận.

Thứ Ba, Đoàn 4 được ghi nhớ bởi trình độ tổ chức và năng lực sáng tạo. Huấn luyện của Đoàn 4 luôn gắn liền với thực tiễn chiến trường. Nhiều báo vụ đã trực tiếp chiến đấu ở các mặt trận, nhiều vận động viên phát báo nhanh có thành tích toàn quân, toàn quốc... được đưa về làm giáo viên, làm quản lý bộ đội, được biên chế trực tiếp từ cấp trung đội, tiểu đội. Bởi vậy, những kinh nghiệm lọc nhiễu, kinh nghiệm nghe tín hiệu, kinh nghiệm dò sóng tìm đài, kinh nghiệm sửa lỗi ngượng tay, kinh nghiệm đặt từng ngón tay trên mặt núm ma níp, kinh nghiệm giữ cữ cánh tay phát báo, kinh nghiệm bám sát chỉ huy, ngụy trang tổ đài, kinh nghiệm ứng xử khi bắt đầu phát sóng bị địch phát hiện v.v. đều được truyền tải cặn kẽ tới từng học viên và đưa các tổ đài đến các nơi dày nhiễu để rèn luyện; những buổi hành quân, báo động, mang sọt đá, sọt “cay đất” trên vai, hợp luyện sức dẻo dai và khả năng cơ động... Chính những vùng đất tình người, những nét bút chì thanh đậm, những tín hiệu tịch tà, những chữ đúc nghiệp vụ RQ, BQ, cùng với ý thức “vào hầm đài là vào vị trí chiến đấu” đã gắn bó “nghiệp” báo vụ và đeo đẳng "nghiệp" đó tới suốt cả cuộc đời. Chặng đường Yên Dũng – Bắc Sơn – Tràng Định đã đi vào bài hát truyền thống “Bài ca 36 đèo” của cố nhạc sỹ Trần Sênh cả Đoàn 4 không thể nào quên. Bài hát ấy đã nâng bước chân các đoàn báo vụ, đã gia nhập các trạm và cùng đồng hành tới các ngóc ngách chiến trường.

Thứ Tư, Đoàn 4 luôn có ý thức trách nhiệm cao và tinh thần học tập, rèn luyện bền bỉ. Do đòi hỏi khẩn trương của chiến trường, đơn vị phải gấp rút, khẩn trương trong đào tạo. Bộ đội đóng quân ở đâu là dựng hội trường dã chiến ở đó, vừa học lắng nghe tín hiệu, vừa rèn đôi tay. Mọi hình thức cấp tốc, mọi cách dạy hay, học giỏi được phát huy. Bất kể ngày đêm, cứ thức giấc là rộn ràng tiếng còi tre học tín hiệu, tiếng trao đổi giữa các tổ ba người.

Thứ Năm, Đoàn 4 nổi danh với truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân. Do đặc thù của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các đơn vị luôn gắn với bản làng, bộ đội cơ bản đóng quân trong dân, sinh hoạt cùng dân, luôn được dân mến, dân yêu, dân đùm bọc, che chở. Đoàn 4 trở thành mẫu mực của Binh chủng về công tác dân vận. Những hoạt động kết nghĩa, những sẻ chia giúp đỡ các gia đình khó khăn, ý thức tham gia những công việc mà địa phương có yêu cầu “ở đâu khó có lính Đoàn 4”... Hình ảnh các chiến sỹ báo vụ tay trong tay tạo thành dòng người ngăn dòng nước lũ để đặt rồng tre hàn khẩu trong vụ vỡ đê Trí Yên vẫn mãi in đậm trong lòng dân Yên Dũng, Bắc Ninh.

Thứ Sáu, Đoàn 4 là đơn vị có môi trường văn hóa tiêu biểu, truyền thống đoàn kết thống nhất. Là người Đoàn 4, anh em luôn gắn bó, yêu thương “miếng cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”. Đoàn 4 nổi bật với thương hiệu của một đơn vị có đời sống văn hóa tinh thần rất phong phú, sôi động. Tập san Sông Thương hoạt động đều đặn hàng tháng. Sinh hoạt đơn vị là nơi để các giọng ca chưa bao giờ lên sân khấu trổ tài, những khúc hát chèo, những câu ví dặm và những lời quan họ, những bài thơ bút tre... đã trở thành “đặc sản” của nhiều đơn vị. Đội văn nghệ xung kích Đoàn 4 nổi danh với những dàn kịch mục phong phú; những màn hòa tấu nhạc cụ, những tiết mục tấu nói, những giọng ca đi cùng năm tháng, đã phục vụ bộ đội và nhân dân với hàng trăm buổi, tiếng thơm còn để lại đến tận ngày nay.

Trường Báo vụ miền (H19) - Đoàn 4 báo vụ - Trường HSQ Thông tin và hiện nay là Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin. Đó là các đơn vị của hàng ngàn những con người đã cống hiến, hy sinh; hàng ngàn “những bước chân xẻ dọc Trường Sơn”. Đó là nơi anh em cùng nhập ngũ, đã sinh sống, đã học tập, công tác và cũng đã cùng nhau tổ chức nhiều cuộc gặp mặt đồng đội. Nơi đó sẽ không bao giờ mất đi bởi nó vẫn luôn nhận được sự quan tâm, dõi theo của các thế hệ lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan BTL TTLL. Nó sẽ mãi trường tồn bởi từ khi được vinh danh, nó là thành viên của một tập thể Anh hùng. Còn với những thành viên Đoàn 4, nó là ký ức, là hoài niệm và là nơi ta thuộc về.

Có được niềm vui hôm nay, từ đáy lòng, thay mặt cho các cựu chiến binh Đoàn 4, đồng chí Trưởng ban liên lạc gửi lời biết ơn trân trọng tới Đảng, Nhà nước, Quân ủy TW, Bộ Quốc phòng; cảm ơn các cơ quan, đơn vị nơi đã bao bọc, giúp đỡ các chiến sỹ báo vụ; đặc biệt cám ơn sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, BTL Binh chủng TTLL; cảm ơn Đảng ủy, chỉ huy Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin trong quá trình làm hồ sơ đề nghị đơn vị anh hùng.

Đồng chí Trưởng ban liên lạc cũng tỏ lòng thành kính tri ân và tưởng nhớ những cống hiến thầm lặng và sự hy sinh anh dũng của các anh hùng, liệt sỹ. Ghi nhớ công lao và biết ơn các thế hệ lãnh đạo, chỉ huy qua các thời kỳ. Tưởng nhớ các thủ trưởng, đồng chí đồng đội đã mất vì bệnh tật và tuổi tác. Các thủ trưởng, các đồng chí vẫn còn sống mãi trong tâm trí của cựu chiến binh Đoàn 4.

Buổi Họp mặt rất xúc động được nghe bác Vũ Lực, nguyên là Chủ nhiệm Chính trị Đoàn 4, một trong những cán bộ đầu tiên từ Lữ đoàn 338 về thành lâp Đoàn 4 thông tin, ôn lại những ngày đầu gian khó trong kháng chiến chống Mỹ của Đoàn 4.

Bác Vũ Lực - nguyên Chủ nhiệm Chính trị Đoàn 4 phát biểu.

Đại tá Tô Hồng Quân - Phó Chính ủy Binh chủng phát biểu.

Phát biểu với các đại biểu tại buổi Họp mặt, đồng chí Đại tá Tô Hồng Quân – Phó Chính ủy Binh chủng bày tỏ sự vui mừng và trân trọng cảm ơn các đại biểu hội viên Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin đã luôn ủng hộ, giúp đỡ và cống hiến xây dựng Binh chủng trong suốt 60 năm qua. Đồng thời, đồng chí  Phó Chính ủy cũng thông tin với các đại biểu về một số nhiệm vụ chính của Binh chủng trong giai đoạn hiện nay.

Buổi Họp mặt mừng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân và kỷ niệm 61 năm Ngày truyền thống Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường Hạ sĩ quan Thông tin được tổ chức trang trọng, ấm áp tình đồng đội đã thực sự cổ vũ, động viên hội viên các thế hệ đoàn kết xây dựng truyền thống của  Binh chủng ngày càng phát triển.

Một số hình ảnh buổi Họp mặt:

Đồng chí Phó Chính ủy tặng hoa của Đảng ủy, Thủ trưởng BTL cho Hội truyền thống. Ảnh Trương Quốc Việt.

Đ/c Thiếu tướng Vũ Dương Nghi - Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội tặng hoa cho Hội Truyền thống.

Đồng chí Phó Lữ đoàn trưởng 205 tặng hoa cho Hội truyền thống.
Đồng chí Chính ủy Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin tặng hoa cho Hội truyền thống.
Đồng chí Trưởng ban liên lạc Hội truyền thống Đoàn 4, Trường Báo vụ, Trường HSQTT phía Nam tặng hoa cho Hội truyền thống.
Đồng chí phụ trách CLB ca múa nhạc Đoàn 4 phía Nam tặng hoa cho Hội truyền thống.
Ông Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Việt Thái Holdings tặng hoa cho Hội truyền thống.







Một số tiết mục văn nghệ.
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm.
Tin, ảnh Quang Hưng





9.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (4/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 3/8

26. Bỏ một mâm, lấy một đĩa

Ðồng chí Vũ Uy kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện mà đồng chí nhớ mãi.

“Đó là vào dịp cuối năm 1950, sau Chiến dịch Biên giới. Tôi được trên phân công lái xe đưa Bác đi công tác. Một tối, trên đường từ Ngân Sơn đi Cao Bằng, qua đèn chiếu tôi thấy một hòn đá giữa đường. Vốn là lái xe to, quen tay, tôi đưa xe vào giữa hòn đá, nghĩ bụng sẽ lọt thôi. Nào ngờ hòn đá tai ác bật lên chạm két nước. Nhảy xuống xe tôi phát hiện ra là két bị thủng rồi. Nguy quá. Tôi cuống lên.

Bác đến bên, chiếu đèn pin cho tôi, rồi nói:

- Cứ bình tĩnh mà chữa. Chữa cho cẩn thận.

Bác không hỏi vì sao xe hỏng, cũng không góp ý phê bình gì.

Vì trên xe có đồng chí Chủ, thợ máy đi theo nên chẳng mấy chốc lỗ thủng két nước đã hàn xong. Chúng tôi lại đưa Bác lên đường đi tiếp, đến địa điểm an toàn.

Nghỉ ngơi xong, Bác hỏi tôi:

- Xe làm sao thế?

- Thưa Bác, cháu quen lái xe tải, nên thấy hòn đá tưởng có thể vượt qua được, không ngờ nó lại kẹt vào thùng nên bị thủng...

Bấy giờ Bác mới nói:

- Đáng lẽ ra chú nên cho xe dừng. Ta lăn hòn đá xuống vực rồi tiếp tục đi. Có lâu cũng chỉ dăm ba phút không phải dừng lại đến gần nửa tiếng mà lại giúp các xe đi sau khỏi gặp nạn. Chú đã “bỏ một mâm mà chỉ lấy một đĩa”.

Tôi nhận lỗi và xin hứa với Bác rút kinh nghiệm, sửa chữa cách nghĩ, cách làm...

Cứ như ý tôi sáu chữ Bác dạy “bỏ một mâm lấy một đĩa” có thể áp dụng trong tất cả công tác cách mạng. Phải nghĩ tới cái lớn, cái lâu dài, cái chung. Phải cẩn thận chứ không nên vội vàng, hấp tấp, nghĩ tới cái nhỏ, cái hẹp, cái thiển cận...

 

27. Hỏi chú Việt ấy!

Trong kháng chiến chống Pháp để sẵn sàng để phòng sự bất trắc, tuy đã ở trong A.T.K (an toàn khu) nhưng cán bộ của Phủ Chủ tịch và Văn phòng Trung ương Đảng vẫn luôn luôn phải “quân sự hóa”, có thời gian phần lớn cán bộ đều phải ngủ đêm tập trung, đôi lúc còn bị “báo động thử”, điểm danh, mang ba lô tập hành quân.

Một lần đồng chí Việt có vợ lên thăm. Cơ quan cho phép đồng chí ra “chiêu đãi sở”1 trao đổi công việc gia đình với chị Việt. Được vài hôm thì có lệnh tập trung. Đêm hôm ấy có báo động thật. Điểm danh không thấy đồng chí Việt đâu. Anh em lo quá, báo cáo lên Bác. Bác nói:

- Ta cứ hành quân thôi. Yên tâm.

Sau đó mới biết rằng đêm ấy đồng chí Việt xuống làng, đến “chiêu đãi sở”. Anh em cũng “thông cảm” bỏ qua cho, nhưng cũng không quên nhắc nhở đồng chí Việt.

Ít lâu sau, trong một lần sinh hoạt học tập về quân sự, có người đề nghị Bác giảng dạy thêm về lối đánh du kích của Nga, của Trung Quốc, của ta.

Bác kể các mẩu chuyện nhỏ của các đội quân ngầm Hồng quân Liên Xô, của Bát Lộ Quân... Trong các vùng bị địch tạm thời chiếm đóng. Khi thời gian học đã gần hết, Bác nói:

- Về cách đánh du kích của ta, Bác sẽ nói sau. Ai muốn tìm hiểu trước thì hỏi chú Việt ấy...

Đồng chí Việt nói lại với chúng tôi:

- Ông cụ phê bình tế nhị, thân tình mà vẫn nghiêm khắc, nhẹ nhàng nhưng mình xấu hổ quá. Từ đó về sau, “cạch” không dám vi phạm nội quy nữa...

-------------------------------------------

1 Là nơi dành để đón gia đình vợ, con cán bộ đến thăm.

 

28. “Nhà máy có khỉ”

Sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với chủ đề Hà Nội do Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội in vào dịp tháng 5 năm 1985, trang 22 có viết:

Ngày 19 tháng 5 năm 1955, Hồ Chủ tịch thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm.Người căn dặn “Muốn thi đua có kết quả thì mọi người phải biết đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau...”

Đến thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, Bác nhắc nhở công nhân, cán bộ phát huy truyền thống cách mạng của Nhà máy, ra sức xây dựng miền Bắc, ủng hộ miền Nam.

Một công nhân trẻ Nhà máy sau này còn được nghe kể lại một mẩu chuyện nhỏ trong dịp Bác thăm lần ấy.

Năm 1955, Hà Nội mới giải phóng được một năm, Nhà máy bấy giờ còn có tên là “Nhà máy Cơ khí Gia Lâm”. Cái biển treo trước cổng nhà máy kẻ chữ to, đẹp nhưng không đánh dấu sắc chữ “i”. Không có “mũ chữ “â”, chữ “ơ” không có râu...

Đến thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, Bác nhắc nhở công nhân, cán bộ phát huy truyền thống cách mạng của Nhà máy, ra sức xây dựng miền Bắc, ủng hộ miền Nam.

Bác vào Nhà máy, gặp anh chị em công nhân, bỗng Bác hỏi:

- Nhà máy các cô, các chú có khỉ à?

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu câu chuyện thế nào mà lại sinh ra “khỉ” thế này. Giám đốc ra hiệu hỏi thư ký công đoàn, thư ký công đoàn hỏi bí thư thanh niên. Không ai trả lời được. Bác lại giục:

- Thế nào, biển đề “có khỉ” mà.

- Dạ, thưa có đâu ạ.

Bác cười:

- Có đấy!

- Biển Nhà máy Cơ khí Gia Lâm của các cô, các chủ viết bằng tiếng mẹ đẻ mà không đánh dấu. Vì vậy mà Bác đọc nhầm là “Nhà máy có khỉ mà khỉ lại “già lắm”...

Mọi người ngẩn ra... được một bài học đích đáng nhé...

 

29. “Qua kin mẹo”

Thời gian ở Xiêm năm 1927 - 1928, Bác thấy Việt kiều ta thỉnh thoảng vẫn “đánh đụng” chung nhau ăn “mộc tồn”1. Vì người Thái kiêng không ăn loại thịt này nên Việt kiều thường nói khác là thịt “mèo”, anh em nói lái ra “qua kin mẹo” (nghĩa là quạ ăn mèo) để diễn đạt: “keo kin mạ” (người Keo - người Việt ăn thịt cầy).

Tuy Thầu Chín không “tham gia” nhưng thấy anh em vui vẻ Người cũng vui lây...

Năm 1949, có một đoàn đại biểu ở Xiêm về nước báo cáo tình hình hoạt động yêu nước của kiều bào với Hồ Chủ tịch và Chính phủ, trong khi chờ ngày Hội đồng Chính phủ tiếp, Bác chủ động đến thăm anh em.

Trông thấy đồng chí Nhu, đồng chí Kiệt và một số kiều bào quen biết cũ, trong lúc các đồng chí này đang lúng túng không biết nên báo cáo thế nào với Chủ tịch nước, thì Bác đã tươi cười hỏi:

- Anh em mình vẫn mạnh giỏi cả chứ. Vẫn “qua kin mẹo” chứ?

Tất cả cười vang lên trong một không khí gia đình của những người thân thích ruột thịt xa nhau, lâu ngày mới được gặp lại và không thấy có gì ngăn cách giữa mình với Bác.

(Theo lời kể của đồng chí Hòa)

-----------------------------------

1 “Mộc” tiếng Hán là “cây”. “tồn” tiếng Hán là “còn”, “cây còn” nói lái ra là “con cầy” tức món thịt cầy, thịt chó (TG).

 

30. Phải đánh được bài “Kết đoàn”

Có một cán bộ cao cấp rất yêu thích văn học nghệ thuật. Trong năm đồng chí ấy đã tập đánh đàn dương cầm vừa để giải trí xen kẽ những giờ lao động trí óc mệt nhọc vừa thưởng thức những âm thanh huyền diệu của cây đàn.

Một lần, Bác đến thăm và yêu cầu đồng chí dạo một bản nhạc tự chọn để Bác nghe. Ngồi vào bàn đồng chí ấn phím và bài “Chiến thắng Điện Biên” hùng tráng vang lên. Dứt bản nhạc Bác hỏi:

- Chú có chơi các bài dân ca không?

Những phím đàn lại đưa Bác về với vùng quan họ với bài Trống cơm, rồi Trẩy hội đêm rằm...

Nghe xong, Bác tiến lại gần đồng chí cán bộ hỏi:

- Chú có biết đánh bài Kết đoàn không? Bài Kết đoàn ai cũng biết. Nếu chưa đánh được bài ấy thì chưa giỏi.

Bác bắt nhịp bài Kết đoàn trong buổi hòa nhạc mừng Đại hội Đảng năm 1960

Đồng chí cán bộ đành thú thật với Bác là chưa đánh được bài Kết đoàn.

(Theo đồng chí H.D)

 

31. Dân chủ mà thành “quan chủ”

Ngay từ khi chưa giành được chính quyền, Bác Hồ đã dự báo trước căn bệnh “quan liêu” sẽ xuất hiện, sẽ làm xói mòn “cơ thể” một số cán bộ, một số cơ chế tổ chức, dẫn đến tai hại cho cả một xã hội.

Hôm đầu tiên về Hà Nội, tháng 8 năm 1945, Bác đã nhắc khéo một vài “quý vị” rằng “đã ra vẻ người thành phố, ra vẻ cán bộ rồi đấy”.Trong kháng chiến chống Pháp trong sách Sửa đổi lối làm việc, mỗi khi có hội nghị, gặp gỡ cán bộ cấp cao ở Trung ương, cấp cuối cùng ở thôn xã, bao giờ Bác cũng nhắc “cán bộ là đầy tớ của nhân dân”. Bác nghiêm khắc phê bình lối làm việc “quan liêu mệnh lệnh, xa rời dân chúng”, lên mặt quan cách mạng, “khắc hai chữ cộng sản lên trán” ra vẻ ta đây...

Hòa bình lập lại trên miền Bắc được vài năm, ở Hà Nội xuất hiện chế độ tem phiếu. Những bà nội trợ trong thời gian ấy cứ bù đầu lên vì những phiếu, những số A, B, C, 1, 2, 3... Có những ông chồng giáo sư, bác sĩ... cứ nghe “đức phu nhân” trình bày “giá trị, tác dụng” của các ô giấy nhỏ ấy cũng lắc đầu lảng tránh “Tôi xin chịu... không hiểu nổi, không nhớ nổi”...

Có phiếu bìa đỏ mua ở cửa hàng cung cấp cho cán bộ “cao”, bìa xanh cho cán bộ “vừa”, bìa trắng cho nhân dân... Lại có bìa mua ở cửa hàng đặc biệt. Lại còn bìa dành cho cán bộ được mua ở các cửa hàng quốc tế mặc dù có cán bộ “cả đời” cũng không bước chân vào xem trong đó có gì - có thể vì không thích, vì không đủ tiền; trong khi đó có một loại “con buôn” lại vào, ra “thì thọt” kiếm chác được!

Tháng 5 năm 1969, trong một lần làm việc với một nhà khoa học, những vấn đề tem phiếu cho các cấp “quan cán bộ” ấy đã được Bác lắng nghe. Bác yêu cầu cho dẫn chứng cụ thể các thể thức bán hàng, phục vụ quá phiền phức tại Hà Nội.

Bác không vui, quay lại hỏi Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Nội thương. Bác lại hỏi Bí thư Thành ủy Hà Nội. Biết chắc chắn tình hình đã có, đã có khá lâu, Bác lắc đầu: - Dân chủ mà thành ra quan chủ. Hà Nội mà còn nhiều quan như vậy sao!

Tất cả từ Thủ tướng đến nhà khoa học, ngồi im nghẹn ngào, xúc động không trả lời được Bác.

(Theo lời kể của giáo sư Hoàng Tụy)

 

32. Chiếc áo ấm

Một đêm mùa đông năm 1951, gió bấc tràn về mang theo những hạt mưa lâm thâm làm cho khí trời càng thêm lạnh giá. Thung lũng bản Ty co mình lại trong yên giấc, trừ một ngôi nhà sàn nhỏ còn phát ra ánh sáng. Ở đây, Bác vẫn thức, vẫn làm việc khuya như bao đêm bình thường khác.

Bỗng cánh cửa nhà sàn hé mở, bóng Bác hiện ra. Bác bước xuống cầu thang, đi thẳng về phía gốc cây, chỗ tôi đang đứng gác:

- Chú làm nhiệm vụ ở đây có phải không?

- Thưa Bác, vâng ạ!

- Chú không có áo mưa?

Tôi ngập ngừng nhưng mạnh dạn đáp:

Dạ thưa Bác, cháu không có ạ!

Bác nhìn tôi từ đầu đến chân ái ngại:

- Gác đêm, có áo mưa, không ướt, đỡ lạnh hơn.

Sau đó Bác từ từ đi vào nhà, dáng suy nghĩ...

Một tuần sau, anh Bảy cùng mấy người nữa đem đến cho chúng tôi 12 chiếc áo dạ dài chiến lợi phẩm. Anh nói:

- Bác bảo phải cố gắng tìm áo mưa cho anh em. Hôm nay có mấy chiếc áo này, chúng tôi mang lại cho các đồng chí.

Được một chiếc áo như thế này là một điều quý, nhưng đối với chúng tôi còn quý giá và hạnh phúc hơn khi Bác trực tiếp chăm lo, săn sóc với cả tấm lòng yêu thương của một người cha.

Sáng hôm sau, tôi mặc chiếc áo mới nhận được đến gác nơi Bác làm việc. Thấy tôi, Bác cười và khen:

- Hôm nay chú có áo rồi.

- Dạ thưa Bác, đây là áo anh Bảy đem đến cho tiểu đội chúng cháu mỗi người một chiếc ạ.

Nghe tôi thưa lại, Bác rất vui. Bác ân cần dặn dò thêm:

- Trời lạnh, chú cần giữ gìn sức khỏe và cố gắng làm tốt công tác.

Dặn dò xong, Bác trở lại ngôi nhà sàn để làm việc.

Lòng tôi xiết bao xúc động. Bác đã dành áo ấm cho chúng tôi trong lúc Bác chỉ mặc một chiếc áo bông mỏng đã cũ. Đáng lẽ chúng tôi phải chăm lo cho Bác nhiều hơn, còn Bác, Bác lại lo nghĩ đến chúng tôi nhiều quá.

Từ đấy, chúng tôi cũng trân trọng giữ gìn chiếc áo Bác cho như giữ lấy hơi ấm của Bác. Hơi ấm ấy đã truyền thêm cho chúng tôi sức mạnh trong mỗi chặng đường công tác.

(Theo lời kể của đồng chí Tiện)

 

33. Thế có nước mắm ớt không?

Đầu năm 1967, nhân dịp Tết Bính Ngọ, Bác Hồ đến thăm trận địa trung đội súng máy cạnh bờ đê Mai Lĩnh. Từ xa, các chiến sĩ đã nhận ra ngay cụ già từ trong chiếc xe sau bước xuống là Bác Hồ vô cùng kính yêu của họ. Không nén được vui mừng, cả trung đội cùng reo lên: Bác Hồ!

Mặc dù trời mưa, đường trơn, Bác vẫn nhanh nhẹn đi vào trận địa. Chỉ trong giây lát, cả trung đội đi vòng quanh Bác. Chân đi dép lốp, đầu đội mũ vải, Bác cứ đứng dưới mưa phùn nói chuyện với anh em. Giọng Bác ấm áp, hiền từ như một người ông nói với đàn cháu nhỏ. Bác hỏi:

- Các chú khỏe chứ. Có đủ ấm không? Các chú ăn tết có những gì?

Anh em đồng thanh đáp:

- Thưa Bác nhiều lắm ạ.

Một đồng chí cán bộ thay mặt đơn vị báo cáo:

- Dạ thưa Bác, chúng cháu khỏe, đủ ấm, Tết chúng cháu có bánh chưng, có thịt, có giò, có cả thịt gà nữa...

Bác lại hỏi:

- Thể có nước mắm ớt không?

Câu hỏi của Bác làm cả trung đội cười ầm lên thích thú và cảm động. Nghe những câu hỏi của Bác, nhìn cặp mắt hiền từ của Bác, càng thấy tấm lòng yêu thương của Bác đối với bộ đội như người mẹ hiền.

(Theo hồi ký của Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu)

 

34. Bữa cơm ở bản

Bác và đồng chí Phù Sấn thoát khỏi bốt gác Đôn Chương thì đi thẳng đến trạm Nà Mạ. Mới đặt khăn gói, chưa kịp nghỉ ngơi thì được tin: có tên tổng đoàn lên khám mạng một vụ giết người cướp của ở Kèo Già. Để đảm bảo an toàn, các đồng chí đưa Bác lánh vào một cái hang sau làng Nà Mạ, chờ đến tối sẽ đưa Bác vào làng ăn cơm. Trước khi vào hang tránh, Bác dặn làm thịt con gà mà tỉnh ủy Cao Bằng cho mang theo khi Bác cải trang đi đường.

Chiều hôm ấy, chủ nhà không thịt gà như Bác đã dặn mà thịt con vịt béo của nhà mình để làm cơm mời khách. Chủ nhà lọc riêng nạc với gan cho ra một đĩa và đặt sang mâm Bác.

Ngồi vào ăn, Bác nhìn mâm cơm và hỏi:

- Ai làm bữa cơm này?

- Thưa Bác, chủ nhà ạ!

Chỉ vào đĩa thịt nạc, Bác bảo:

- Sao lại làm như vậy?

- Thưa Bác, đó là phong tục địa phương đối với khách ạ.

Bác lắc đầu nói:

- Không được, phong gì thì phong tục gì thì tục, chủ xẻ đĩa thịt này sang mâm kia để gia đình cùng ăn.

Mọi người làm theo lời Bác.

 

35. Vận trù học

Dù đã đi bốn phương trời, tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ sau bao nhiêu năm xa cách Tổ quốc, Bác vẫn không bao giờ quên những âm nói riêng của “Xứ Nghệ”, nhớ thương, xúc động khi ở đất Thái, quê người, bỗng nghe bà Quỳnh Anh một đêm hè “ru con” bằng lối ru của những người mẹ hiền ở quê mẹ...

Ngành ngôn ngữ nước ta chắc sẽ không bao giờ quên, nhờ có Bác mà có thêm được những danh từ rất Việt Nam không kém trang trọng “bác học” mà vẫn “dân gian”. Một đoàn “ca vũ” Tổng cục chính trị, một hội “Hồng thập tự”, một lớp “phi công”, các “cung ứng hỏa xa viên”... đều đã được Bác đổi tên cho thành “Đoàn ca múa”, “Hội chữ thập đỏ”, “chiến sĩ lái”, “Đội phòng cháy, chữa cháy, nhân viên phục vụ”, rồi cho cả “vùng trời vùng biển”...

Nhà toán học Hoàng Tụy có chuyện kể rằng:

“Khoảng tháng 5 năm 1969, chỉ vài tháng trước lúc đi xa, trong một lần nào đó, Bác thấy nhân dân thủ đô phải “rồng rắn” xếp hàng dài trước các cửa hàng, nhất là ở các quán bia. Bác băn khoăn và trao đổi việc này với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ngày 30 tháng 7 cùng năm, nhà toán học được mời đến gặp Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ yêu cầu áp dụng khoa học trong việc phân phối hàng hóa, góp phần giải quyết tình trạng “xếp đuôi dài” trước các cửa hiệu. Nhà toán học đã phát biểu về khả năng áp dụng vận trù học trong ngành thương nghiệp để giải tỏa “rồng rắn”. Bác nêu việc người mua bia, bán bia và nói:

- Chú thử cố gắng áp dụng lý thuyết “vận trù học” của chú để cải tiến việc này.

Biết là Bác phê bình khéo ba chữ “vận trù học”, vì nhà khoa học đã đoán biết thế nào Chủ tịch nước cũng “nhắc nhở” về nhóm chữ này, nên đồng chí Hoàng Tụy thưa:

- Thưa Bác, chúng cháu chưa tìm ra được chữ khác...

Bác nói:

- Nên tìm chữ gì dễ hiểu hơn, chứ “vận trù học” thì Chủ tịch nước cũng không hiểu nổi!

Ngừng một lát, Bác lại hỏi:

- Thế chú có biết nguồn gốc chữ “vận trù học” ở đâu mà ra không?

Nhà toán học, mẹ đẻ ra đứa con yêu - danh từ “vận trù học”, xấu hổ quá, báo cáo thật:

- Thưa Bác, không ạ...

Bác nói:

- Đó là câu của Trương Lương “vận trù duy ác chi trung, quyết thắng thiên lý chi ngoại”. Vận trù cũng là tham mưu. Bộ đội ta có nhiều người không học tính toán được nhiều mà làm “vận trù” cũng khá, là nhờ cái này (Bác chỉ vào ngực, phía quả tim...).

Nghe thế, nhưng nhà toán học cho đến nay vẫn còn “nợ” chưa tìm được ba chữ gì thay cho “vận trù học”.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019) 

7.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (3/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 2/8

17. Chú ngã có đau không?

Vào đầu năm 1954, tiết trời đã sang xuân, nhưng ở Việt Bắc vẫn còn rét. Gió bấc thổi mạnh, mưa phùn lâm râm gây nên cái lạnh buốt, Bác vẫn làm việc rất khuya. Bác khoác chiếc áo bông đã cũ, miệng ngậm điếu thuốc lá thỉnh thoảng lại hồng lên, tiếng máy chữ lách tách, lách tách đều đều...

Trời lạnh, nhưng được đứng gác bên Bác, tôi thấy lòng mình như được sưởi ấm lên. Tôi nhẹ nhàng bước chân đi vòng quanh lán. Một lần vừa đi, vừa nghĩ, tôi bị thụt chân xuống một cái hố tránh máy bay. Tôi đang tìm cách để lên khỏi hố, chợt nghe có tiếng bước chân đi về phía mình. Có tiếng hỏi:

- Chú nào ngã đấy?

Chưa kịp nhận ra ai, thì tôi đã thấy hai tay Bác luồn vào hai nách, chòm râu của Bác chạm vào má tôi. Tôi cố trấn tĩnh lại để nói một lời thì giật mình khi thấy Bác không khoác áo bông, Bác đi tất một chân có guốc, một chân không, nước mắt tôi trào ra. Vừa kéo, Bác vừa hỏi:

- Chú ngã có đau không?

Bác sờ khắp người tôi, nắn chân, nắn tay tôi. Rồi Bác nói:

- Chú ngã thế đau lắm. Chú cứ ngồi xuống đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống!

Tôi bàng hoàng cả người, không tin ở tại mình nữa. Có thật là Bác nói như vậy không! Bác ơi! Bác thương chúng cháu quá!

Tôi trả lời Bác:

- Thưa Bác, cháu không việc gì ạ. Rồi tôi cố gắng bước đi để Bác yên lòng.

Bác cười hiền hậu và căn dặn: “Bất cứ làm việc gì chú cũng phải cẩn thận”. Rồi Bác quay vào.

Tôi đứng nhìn theo Bác cho đến lúc lại nghe tiếng máy chữ của Bác kêu lên lách tách, đều đều trên nhà sàn giữa đêm Việt Bắc.

(Theo lời kể của Ngô Văn Núi)

 

18. Câu chuyện về ba chiếc ba lô

Trong những ngày sống ở Việt Bắc, mỗi lần Bác đi công tác, thường có hai đồng chí đi cùng. Vì sợ Bác mệt, nên hai đồng chí định mang hộ ba lô cho Bác, nhưng Bác nói:

- Đi đường rừng, leo núi ai mà chẳng mệt, tập trung đồ vật cho một người mang đi thì người đó càng chóng mệt. Cứ phân ra mỗi người mang một ít.

Khi mọi thứ đã được phân ra cho vào ba chiếc ba lô, Bác còn hỏi thêm:

- Các chú đã chia đều rồi chứ?

Hai đồng chí trả lời:

- Thưa Bác, rồi ạ.

Ba người lên đường, qua một chặng, mọi người dừng chân. Bác đến chỗ đồng chí bên cạnh, xách chiếc ba lô lên.

- Tại sao ba lô của chú nặng mà của Bác lại nhẹ?

Sau đó, Bác mở cả ba chiếc ba lô ra xem thì thấy ba lô của Bác nhẹ nhất chỉ có chăn, màn. Bác không đồng ý và nói:

- Chỉ có lao động thật sự mới đem lại hạnh phúc cho con người.

Hai đồng chí kia lại phải san đều các thứ vào ba chiếc ba lô.

 

19. Chủ tịch nước cũng không có đặc quyền

Đầu năm 1946, cả nước tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên. Gần đến ngày bầu cử, tại Hà Nội - là nơi Bác Hồ ra ứng cử - có 118 vị Chủ tịch Ủy ban nhân dân và đại biểu các giới hàng xã đã công bố một bản đề nghị: “Yêu cầu cụ Hồ Chí Minh không phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi suy tôn và ủng hộ vĩnh viễn cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Từ nhiều nơi trong cả nước, đồng bào viết thư đề nghị Bác không cần ra ứng cử ở một tỉnh nào, nhân dân cả nước đồng thanh nhất trí cử Bác vào Quốc hội.

Trước tình cảm tin yêu đó của nhân dân, Bác viết một bức thư ngắn cảm tạ đồng bào và đề nghị đồng bào để Bác thực hiện quyền công dân của mình: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của Tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa. Xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới.

Sau ngày hòa bình lập lại, có lần Bác đi thăm một ngôi chùa cổ, vị sư trụ trì ra đón và khẩn khoản xin Bác đừng cởi dép khi vào trong chùa. Bác không đồng ý và lặng lẽ làm đúng những quy định như khách thập phương đến lễ chùa. Trên đường từ chùa về, khi vào đến thành phố, xe Bác đến một ngã tư thì vừa lúc đèn đỏ bật. Sợ phố đông, xe dừng lâu, đồng chí bảo vệ định chạy lại đề nghị đồng chí công an giao thông bật đèn xanh để Bác đi. Bác hiểu ý ngăn lại:

- Các chú không được làm như thế, phải tôn trọng và gương mẫu chấp hành luật lệ giao thông. Không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên riêng cho mình.

 

20. Câu chuyện về một con đường

Trong kháng chiến chống Mỹ, một hôm đi thăm nơi ăn, chốn ở của một đơn vị thông tin, trước khi ra về, Bác bảo đồng chí chỉ huy tập trung bộ đội lại.

Bác nói:

- Muốn làm tốt được nhiệm vụ, các chú phải đoàn kết nội bộ, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân địa phương, thường xuyên thăm hỏi, động viên giúp đỡ nhân dân, làm cho nhân dân tin yêu, giúp đỡ bảo vệ quân đội. Chỉ có dựa vào nhân dân, đoàn kết với nhân dân mới bảo vệ được mình, che mắt địch và đánh thắng được chúng.

Chợt Bác chỉ tay ra phía đường cái hỏi:

- Thế các chú cấm con đường kia thì nhân dân đi lại bằng đường nào?

- Thưa Bác... đi vòng theo các bờ ruộng ngoài kia ạ.

Nghe đồng chí chỉ huy trả lời thế, Bác phê bình:

- Như vậy là không được. Các chú cấm đường để phòng kẻ gian, đảm bảo bí mật quân sự là đúng, nhưng phải đắp con đường khác cho nhân dân đi chứ. Có như vậy mới đúng là quân dân đoàn kết, Bác nói thế có đúng không?

Chúng tôi cùng trả lời:

- Thưa Bác, đúng ạ!

Vâng lời Bác, đơn vị đã tự phê bình trước nhân dân và cùng nhân dân đắp xong con đường mới sớm hơn thời gian dự định.

 

21. Từ chiếc đồng hồ của Bác

Cuối năm 1954, Bác Hồ đến thăm một đơn vị pháo binh đóng ở Bạch Mai đang luyện tập để chuẩn bị cho cuộc duyệt binh đón mừng chiến thắng Điện Biên Phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thủ đô Hà Nội.

Sau khi đi thăm nơi ăn, chốn ở của bộ đội, Bác đã dành một thời gian dài để nói chuyện với anh em. Bác lấy ở túi ra một chiếc đồng hồ quả quít và kể rằng, đây là vật kỷ niệm của một đồng chí lãnh tụ một Đảng Cộng sản tặng. Bác âu yếm nhìn mọi người rồi chỉ vào từng chiếc kim, từng chữ số và hỏi anh em về tác dụng của từng bộ phận. Mọi người đều trả lời đúng cả. Song chưa ai hiểu tại sao Bác lại hỏi như vậy?

Bác vui vẻ nói tiếp: “Đã bao nhiêu năm nay, chiếc kim đồng hồ vẫn chạy để chỉ cho ta biết giờ giấc, chữ số trên mặt vẫn đứng yên một chỗ, bộ máy vẫn hoạt động đều đặn bên trong. Tất cả đều nhịp nhàng làm việc theo sự phân công ấy”. Ngừng một lát Bác nói tiếp:

- Thế mà ngày nay, bỗng nhiên cái kim kêu lên: tôi chạy mãi hết ngày này qua tháng khác, mỏi chân lắm rồi, phải cho tôi nghỉ. Chữ số thì đua nhau la lớn: tôi đứng mãi một chỗ, chùn chân lắm, phải cho tôi chạy. Bộ máy bên trong thì than thở: tôi ở mãi trong này, chẳng ai biết đến công việc âm thầm của tôi, phải cho tôi ra ngoài. Thế là kim thì đứng, chữ số thì chạy linh tinh theo sở thích, bộ máy bên trong thì nhảy ra ngoài. Các cô, các chú thử tưởng tượng xem, nếu như vậy có còn là chiếc đồng hồ nữa không? Có giúp ích gì cho chúng ta nữa không?

Mọi người đáp: “Thưa Bác, không ạ!”

Anh chị em đều hiểu ý Bác dạy: Việc gì cách mạng phân công phải yên tâm hoàn thành. Không được “đứng núi này trông núi nọ”.

 

22. “Ông kiến” nhà sàn của Bác

Năm 1958, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh được Văn phòng Phủ Chủ tịch mời lên gặp Bác.

Hôm ấy, Bác mặc bộ quần áo bà ba, chân đi đôi guốc mộc. Sau khi mời đồng chí Ninh ngồi, Bác nói ý kiến của mình về ngôi nhà mà Trung ương đã quyết định xây để Bác ở. Bác dặn nhà mới sẽ làm theo kiểu nhà sàn Việt Bắc, loại gỗ gì, tầng dưới thế nào, chỗ làm việc của Bác ra sao, cặn kẽ, cụ thể. Khi nói đến hành lang quanh sàn, Bác bê chiếc ghế mây ra để ngang, giơ tay làm cữ, nói:

- Hành lang chú làm rộng cho Bác như thế này, để khi Bác ngồi đọc sách, có ai qua lại đều thuận lợi. Ý kiến chú thế nào? Có được không?

Đồng chí Ninh thưa với Bác là “được” và xin phép ra về. Bác dặn thêm là phải hết sức tiết kiệm.

Sau đợt đi công tác ngắn ngày về, ngôi nhà đã xong. Bác đến xem nhưng không ai nghe thấy Bác nói gì. Hôm sau, Bác bỏ tiền riêng của mình nhờ Văn phòng tổ chức một buổi liên hoan ngọt. Bác mời đồng chí Ninh và một số công nhân làm nhà cho Bác tới dự ngay gian dưới ngôi nhà sàn mới dựng xong. Đấy là bữa tiệc đầu tiên “khánh thành công trình” nhà sàn của Chủ tịch nước. Bác giục mọi người ăn kẹo, uống nước. Bác tặng mỗi người một huy hiệu hình Bác. Đến lượt đồng chí Ninh, Bác nói:

- Các chú làm như thế là nhanh, tốt, nhưng còn một khuyết điểm. Chú có biết khuyết điểm gì không?

Đồng chí Ninh thưa với Bác

- Thưa Bác, so với lời Bác dặn thì có tốn kém hơn đôi chút ạ.

Bác gật đầu:

- Chú nói đúng. Nước ta chưa giàu, dân ta còn chưa đủ nhà ở. Bác ở thế là tốt lắm rồi...

Sau bữa tiệc, Bác mời anh em ra chụp ảnh chung với Bác. Nhìn quanh, thấy đồng chí Ninh, Bác vẫy:

- Còn “ông kiến” nữa, đến đây!

Tất cả cười ồ lên, vui vẻ, phấn khởi trong niềm hạnh phúc riêng của mình...

Đồng chí Ninh kể lại: “Ban đầu tôi cho rằng mình là “kiến trúc sư” nên Bác gọi là “ông kiến” cho gọn, cho vui. Mãi về sau có người nói rằng gọi “ông kiến” là tiết kiệm được hai chữ “trúc sư” Mà Kiến là hay leo, leo thang. Tôi đã “leo thang” trong việc xây nhà sàn cho Bác, không tiết kiệm, nên Bác gọi thế!”1

(Theo lời kể của đồng chí Ninh)

-------------------------------------------

1 Cuối năm ấy, Bác tự tay gửi một con cá trong “Ao cá Bác Hồ”, nhờ đồng chí bảo vệ đem đến tận nhà “tặng và cảm ơn kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh”.

 

23. Đôi chân Bác

Đôi chân Bác là đôi chân ngàn ngàn dặm. Chẳng có ai trong thời đại Bác lại đi nhiều đến thế. Chỉ nói riêng trong thời gian chống Pháp, ở Việt Bắc, Bác đi rất nhiều. Anh em bảo vệ phục vụ Bác kể: Bác đi khiếp lắm, toàn đi bộ, thỉnh thoảng mới đi ngựa. Thoắt đã từ Tân Trào sang Thái, thoắt đã lên Tuyên, thoắt ngược Bắc Cạn... Vừa đi vừa làm việc, viết báo, viết sách. Cánh thanh niên theo được Bác còn đến “Tết”.

Thời gian ở Xiêm có ngày Bác đã đi bộ hơn 70 kilômét đường rừng. Bác đi quen, sải chân đều, đúng giờ là nghỉ, hết giờ nghỉ lại đi, dù mưa bão, hễ đã định đến đâu là đến bằng được, ít khi lỡ độ đường vì chủ quan. Ai đi theo Bác, mệt mỏi, Bác mách cho cách xoa bóp chân, bóp chân bằng nước tiểu, nấu canh lá lốt rừng ăn cho đỡ. Còn đôi chân Bác thì cứ như là chân thép.

Nhưng Bác lại hay thương anh em phải đứng lâu, đi nhiều.

Một lần, các chiến sĩ quân đội được vào thăm Bác, xin Bác được chụp ảnh chung. Bác đồng ý. Bác mời đồng chí chụp ảnh tới. Để đảm bảo “ăn chắc”, nhà ảnh xin phép Bác lấy chân máy ảnh đặt máy lên chụp. Chờ mãi mới mang được chân máy ra, Bác nói:

- Chú tìm được chân máy thì chân Bác gãy rồi...

Ai nấy đều vui vẻ hẳn lên, quên cả thời gian chờ đợi.

Lần khác, nhân dịp Bộ Quốc phòng chiêu đãi đoàn đại biểu quân sự Liên Xô do Đại tướng Pavel Batov dẫn đầu, Bác có tới dự. Đồng chí Tổng tham mưu trưởng1 quân đội ta đọc bài diễn văn bằng tiếng Việt một đoạn rồi ngừng. Một cán bộ đối ngoại dịch ra tiếng Nga nên mất nhiều thời gian.

Bác quay sang đồng chí Bộ trưởng Quốc phòng:

- Bài dài quá, mình đứng rục cả chân.

Đồng chí Văn2 phân trần:

- Thưa Bác, hôm nay có đoàn đại biểu quốc tế, có Ủy ban giám sát đình chiến nên xin phép Bác...

Sau đó đồng chí Văn nói riêng với một cán bộ. Đồng chí này viết trên một tờ giấy nhỏ chuyển tới đồng chí Tổng tham mưu trưởng. Từ đấy, chỉ đọc bản tiếng Nga. Cuối cùng đồng chí Tổng tham mưu trưởng mới nói lại bằng tiếng Việt, cám ơn quan khách.

Tiếng vỗ tay chưa dứt, Bác đã cầm một cốc rượu nhanh nhẹn đi chúc mừng những người đứng xung quanh. Sau đó, Người cầm cái nĩa, giơ lên nói

- Bắt đầu thôi! Không thì mỏi chân lắm...

Thật ra là Bác nói hộ mọi người.

-------------------------------------

1 Đại tướng Văn Tiến Dũng.

2 Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

 

24. Bác phục vụ dân chứ không phải dân phục vụ Bác

Suốt cuộc đời mình, dù đã đi bốn phương trời, qua nhiều nước, tiếp nhận và gạn lọc tinh hoa nghệ thuật của nhiều dân tộc, nhưng Bác vẫn trân trọng nghệ thuật cổ truyền Việt Nam, trong đó có câu hát phường vải và hò ví dặm của quê hương  Nghệ An.

Các đoàn, các đội văn nghệ ở Trung ương và các địa phương vẫn thường được Bác mời vào Phủ Chủ tịch biểu diễn, tiếng là để Bác xem và cho ý kiến, nhưng - như anh em trong cơ quan thường nói “chủ yếu là Bác cho chúng tôi xem thôi”.

Lần về thăm Nghệ An, sau khi đội văn nghệ tỉnh nhà biểu diễn, Bác bước lên sân khấu, giơ cao một chiếc lẵng mây, nói:

- Các cháu diễn tốt, Bác thưởng kẹo. Kẹo trong lẵng này này.

Khi đoàn trình diễn vở “Cô gái sông Lam”, trước giờ mở màn, Bác vào phòng hóa trang. Với anh Nghĩa quê Nghi Lộc, Bác nhại tiếng: “Nghi Lộc hả, con “méo” phải không?”. Anh Ngoạn trưởng đoàn trả lời Bác quê mình là Thừa Thiên, Bác nói: “Rứa là không phải Nghệ An nhà choa rồi”...

Lần khác nữa, Bác lại mời đoàn ca múa Nghệ An vào Phủ Chủ tịch biểu diễn. Nhưng sau đó biết tin đoàn đang tiếp tục chương trình phục vụ đồng bào Hà Nội tại Văn Miếu, Bác báo cho đồng chí giúp việc điện sang Bộ Văn hóa hoãn lại. Bác nói:

- Để đồng bào thưởng thức trước, Bác xem sau. Bác phục vụ dân chứ không phải dân phục vụ Bác.

(Theo Minh Huệ)

 

25. Yêu ai yêu bằng cả tấm lòng

Lần Bác sang thăm nước Cộng hòa dân chủ Đức, các đồng chí ở Bộ Y tế nước bạn mời Bác đi thăm một số bệnh viện, trường đại học y khoa và cơ sở nghiên cứu khoa học ở Berlin. Đến một phòng học, các bác sĩ giới thiệu với Hồ Chủ tịch mô hình một người thủy tinh trong suốt, có đầy đủ các bộ phận cơ thể và có thể lấy ra đặt vào phục vụ cho việc nghiên cứu bài giải phẫu.

Khi cầm que chỉ vào trái tim, đồng chí bác sĩ nước bạn nói vui:

- Trái tim này còn chứa đựng bao nhiêu tình yêu...

Bác cười nói với đồng chí người Đức:

- Ở nước chúng tôi, người ta không nói yêu nhau bằng trái tim đâu. Đố đồng chí biết đấy!

Bác sĩ xin chịu.

Cầm lấy que chỉ, Bác khoanh một vòng tròn vào bụng người mẫu thủy tinh, rồi nói:

- Chúng tôi yêu ai, yêu bằng cả tấm lòng này này.

Mọi người cười rộ lên...

(Theo đồng chí Song Tùng)

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)