15.9.26

Nhớ

Đặng Trường Lưu

Đêm hành quân giữa lưng đèo

Xa nghe nao nức suối reo

Bỗng thấy trời sao lấp lánh

Như ngàn ánh mắt nhìn theo

 

Quê hương hiện dần trong trí

Cánh đồng hương lúa trời sao

Vẫn dòng sông xanh thuở ấy

Rập rờn cò trắng vời chao

 

Có phải bóng người ta yêu

Vẫn tiếng hò đêm kéo nước

Suối reo hay lòng thổn thức

Ôi ngày đầu đẹp bao nhiêu

 

Ta rời quê hương buổi ấy

Theo đoàn quân bước dập dồn

Ơi người theo ta đưa vẫy

Chắc lòng em những hứa thầm

 

Con mương hợp tác chưa xong

Luống cày buổi mai còn dở

Bao nhiêu việc nhà việc cửa

Việc làng, việc nước chờ mong

 

Quê ta chắc đổi thay nhiều

Dân quân bao nhiêu “tay” giỏi

Em đà biết bắn máy bay

Đường cày thẳng như nam giới


Đêm trăng quê ta vui hội

Đào mương đắp đập khơi ngòi

Tiếng nước đồng xa đang gọi

Em đi lơi lả giọng cười

 

Ơi người em gái thân thương

Em như bóng hình quê hương

Chứa chan trong lồng ngực trẻ

Bao tình gửi tới tiền phương

 

Đêm nay đi giữa lưng đèo

Xa nghe nao nức suối reo

Mải nhìn trời sao lấp lánh

Ngỡ ngàn ánh mắt nhìn theo

Trời sao Hạ Lào, tháng 4 - 1968

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

13.9.26

Nắng tươi

Đặng Trường Lưu

Có con chim nhỏ xanh xanh

Rộn ràng nắng mới nghiêng mình hót vui

Hành quân đi giữa nắng tươi

Ngỡ đang ngụp lặn tháng mười quê ta

 

Đất Lào rộn tiếng chim ca

Trời xa vòi vọi chan hòa suối reo

Đâu đây thấp thoáng lưng đèo

Lào Thơng trỉa rẫy nhìn theo quân mình

 

Ngụy trang cài nắng rung rinh

Niềm vui nâng bước trường chinh dập dồn

Quân vô như thác muôn trùng

Lời ca bật dậy nẻo rừng nắng tươi.

Hạ Lào, tháng 3-1968

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

11.9.26

Tiếng cười trong đêm

Đặng Trường Lưu

Có ai cười trong thăm thẳm kia

Át tiếng bom rung dội vào vách đá

Mà thấp thoáng mặt người quen lạ

Bồi hồi cửa mở trời đêm...

 

Tiếng cười thanh niên xung phong

Sáng lên như vầng trăng bạc

Như cánh diều chao trên đồng khuya khoắt

Tiếng cười thơm ngát bờ dâu

Những tiếng cười biết chôn vùi xác giặc

Càng yêu sắc biếc trên đầu...

Có phải từ đấy em đi

Kháng chiến mấy mùa

Dài theo đường em mở?

 

Ta đã qua những nẻo đường bỏng lửa

Nghe cuốc em đào thậm thịch trong đêm

Vẫn tiếng cười xưa

Mẹ bảo “vô duyên”

Thành nhịp cầu nối hai bờ sự sống

Đêm Trường Sơn như dây cung căng thẳng

Có phải em làm một mũi tên lao

Những đoàn xe vượt bom về đâu

Kính vỡ còn in nụ cười rớm máu.

 

Em giấu trọn cả những gì đau đáu

Để tiếng cười lay lắt bầu sao

Riêng tư suối nhỏ thì thào

Dồn lại vang dòng sông hát

 

Ôi tiếng cười dư vang Trường Sơn

Ngọt như lúa đương vào hạt

Như hẹn biển thề non dào dạt

Như thủy như chung lặng lắng trăm miền

Quên mệt mỏi giữa trập trùng sáng tối

Tiếng cười mở lối

Tiếng cười gọi lên!

 

Ta uống say tiếng cười của em

Thêm rạo rực niềm tin chín đỏ

Mai vào trận, súng nở ngàn hoa lửa

Có tiếng cười em gieo suốt đêm nay...

Đường 15, tháng 10 năm 1967

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

8.9.26

Binh chủng Thông tin liên lạc đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất

Sáng 8-9, tại Hà Nội, Binh chủng Thông tin liên lạc tổ chức Lễ đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất và kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc (9-9-1945 / 9-9-2026). Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị dự và phát biểu chỉ đạo.

Mời các đồng chí xem toàn văn bài viết Lễ đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất và kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc (9-9-1945 / 9-9-2026) được đăng trên báo Quân đội nhân dân theo đường link sau:

https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/tin-tuc/binh-chung-thong-tin-lien-lac-don-nhan-huan-chuong-bao-ve-to-quoc-hang-nhat-1056250

Đăng bởi Quang Hưng 

7.9.26

Hương lúa

Đặng Trường Lưu

Xe hỏa trôi trong màu vàng của lúa

Chiến sĩ ngồi ngây ngất tựa say hương

Giá hương lúa hóa nghìn viên đạn lửa

Mang thêm phần bạn ở chiến trường

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

Ánh sao

Đặng Trường Lưu

Đoàn quân ra trận trong đêm

Trăng sao chẳng có ánh đèn cũng không

Qua làng qua bãi qua sông

Qua truông qua rú bước không chệch đường

Mặc mưa gió mặc sương buông

Sao trên đầu mũ sáng đường quân đi.

1965

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

4.9.26

Một bài ca dao đáng nhớ

Đặng Trường Lưu

Sáng nay ngược đỉnh đèo cao

Lắng nghe thư Bác vọng vào trời xuân

Đường xa như xích lại gần

Mồ hôi thấm áo mấy lần vẫn vui

Ta đi trồng cột lưng trời

Gọi hoa sứ nở theo lời thư xuân

(Việt Nguyên - Nghe thư Bác)

Đây là bài cao dao in ở trang đầu tập sách "Hương thơm hoa sứ" của cán bộ, chiến sĩ Đoàn Thông tin Lam Sơn đầu năm 1969. Bài ca dao này cũng lại xuất hiện trên báo Thông tin của Binh chủng, số đầu tiên, ra đời sau đó vài tháng. Ở những tuyển tập thơ ca Binh chủng và Quân đội xuất bản trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bài "Nghe thư Bác" luôn được góp mặt như sự khẳng định vị trí của mình bởi giá trị nội dung và hình thức biểu hiện. Bài ca dao này được viết sau sự kiện Binh chủng Thông tin liên lạc mở "Đại hội thi đua lập công, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", và vinh dự đón nhận thư khen của Bác Hồ ngày 28 tháng 01 năm 1969. Sự kiện chính trị này đã tạo nên cảm hứng tuyệt vời, chắp cánh cho bài ca dao bay thẳng vào lòng người chiến sĩ, suốt những năm dài chiến tranh ác liệt và chiến thắng vẻ vang. Cũng có thể nói, đây là một trong những tác phẩm báo hiệu sự nở rộ sau này của dòng thơ ca Thông tin và đội ngũ những người làm nghệ thuật trưởng thành từ lính của Binh chủng Thông ttin liên lạc.

Không gian, hoàn cảnh mà bài ca dao nói đến đã khắc hoạ rất rõ tính chất công việc và tâm trạng người lính, nỗi vất vả gian nan khi dựng đường dây băng qua núi cao vực thẳm. Khi được nghe thư khen của Bác Hồ, lòng chiến sĩ rung lên bao âm điệu mới, ngỡ lời Bác vang vọng đâu đây nơi đất trời cao rộng. Người chiến sĩ như được tiếp thêm sức mạnh, quên cả "đường xa" nhọc nhằn, "mồ hôi thấm áo mấy lần", lạc quan vươn tới hoàn thành nhiệm vụ. Đó là ý nghĩa nội dung và cũng là cấu tứ của tác phẩm, khi tác giả sử dụng hình ảnh "trời xuân", "thư xuân" rất thực, tác động lên nhau, làm sáng lên hình ảnh mùa xuân thứ ba ẩn chứa trong cụm từ "gọi hoa sứ nở". Hình ảnh gợi cảm và sinh động này, thêm một lần, lắng sâu vào lòng người những giá trị vừa hiện thực vừa lãng mạn.

Trong thơ ca, việc sử dụng hình tượng này đắp chồng lên hình tượng kia với nhiều tầng ngữ nghĩa để tạo hiệu quả khái quát cho một hình tượng khác nữa là một thủ pháp thông dụng. Có điều ở bài ca dao "Nghe thư Bác", tác giả đã áp dụng kỹ thuật này thật hài hoà, thật nhuyễn, không một manh nha của bài trí, sắp đặt. Dường như cảm hứng và thi pháp xuất hiện cùng thời khắc nên hình ảnh và ngôn từ cứ thế hiện lên.

Từ câu mở đầu như lời kể chuyện nhẹ nhàng:

Sáng nay ngược đỉnh đèo cao cao

Lắng nghe thư Bác vọng vào trời xuân

khiến ta ngỡ mùa xuân thiên nhiên đến trước, nhưng khi đọc đến câu cuối:

Ta đi trồng cột lưng trời

Gọi hoa sứ nở theo lời thư xuân

mới vỡ ra một điều hiển nhiên: chính lời thư ân tình của Bác đã khiến đất trời thay da đổi thịt. Chính bởi cái nhìn lạc quan từ trong tâm tưởng mà những tích sứ vô tri vô giác cũng hóa thành bông hoa bừng nở. Sức cảm hóa từ lời thư khen ngợi của Bác khiến cho lòng ai cũng phấn chấn tràn trề, đường dây cũng nở hoa chiến công và mùa xuân trở về sớm hơn thường lệ.

Bài ca dao gồm sáu câu lục bát đã vẽ ra cả một không gian rộng với cảnh lao động của người lính Thông tin, gian truân mà phơi phới niềm vui. Cảm hứng có tính nhân văn đã đưa những câu ca dao mộc mạc, gọn gàng ấy lên tầm hoành tráng. Từ ngữ dung dị, gần gũi cho ta cảm nhận cái hay của thể loại ca dao truyền thống: "Đường xa như xích lại gần", ấy là cách nói mang sắc màu dân dã. Câu ca dao này cho ta nhớ về một bài ca dao khác cũng của người lính xây dựng đường dây,  được phổ nhạc thành bài hát truyền thống, đó là bài "Chịu lính đường dây" với câu mở đầu đậm đà kịch tính: "Cưỡi mây lên gõ cổng trời" và câu kết: "Lên tận cổng trời, chịu lính đường dây". Mới hay, cái ngôn từ thậm xưng đã nói được phần nào phẩm chất riêng biệt đầy cá tính, của những con người quanh năm ngày tháng đi xây dựng công trình thông tin chiến lược. Hơn thế, bài ca dao "Nghe thư Bác" còn cho ta dư vị ngọt ngào, mới mẻ của không khí thơ ca hiện đại. Khi tác giả "gọi hoa sứ nở" chính là khi tác giả - người lính, trong thăm thẳm tâm hồn đã ngập tràn xuân mới.

Cô đọng, khúc chiết và hứng cảm. Bài ca dao "Nghe thư Bác" là tâm tình, là niềm lạc quan, là ý chí quyết vượt qua mọi gian khó để hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng với lời khen ngợi và những bài học sâu sắc mà Bác Hồ kính yêu dành cho bộ đội Thông tin.

35 năm qua, đã có bao tác phẩm thơ ca chiến sĩ Thông tin nói về chiến công của mình và lòng nhớ ơn Bác Hồ vô vàn yêu quý. Nhiều bài thơ và ca dao đã vượt qua không gian, thời gian để đọng mãi trong lòng người đọc. "Nghe thư Bác" của Việt Nguyên là một tác phẩm như thế. Tác giả đã có nhiều đóng góp cho nền văn nghệ Binh chủng, Quân đội và Nhà nước. Việt Nguyên là một trong những bút danh của nhà thơ Quang Chuyền hiện nay.

Ɖ.T.L.

Tháng 12-2003

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005) 

2.9.26

Chiếu phim cho một chiến sĩ xem

Tống Choan - Đào Nhạc

Trước năm 1968, khi còn là Cục Thông tin liên lạc, nếu muốn cho bộ đội, ví dụ Trung đoàn Thông tin 205 xem phim, Phòng Chính trị Cục phải có kế hoạch trước một tháng trình đội chiếu bóng của Bộ Tổng Tham mưu mới hy vọng được giải quyết.

Sau năm 1968, bấy giờ đã là Bộ tư lệnh Thông tin, Ban Tuyên huấn chúng tôi đã được trang bị máy nổ, máy chiếu "độc lập, tự do". Không gì quý bằng. Vừa xin máy chiếu 35 ly, một bộ 2 máy, chúng tôi còn xin thêm một máy chiếu 16 ly, máy này có thể chiếu các phim ngắn 50-60 phút, không phải thay phim. Nếu phim dài hơn, người xem phải đợi ít phút mới xem tiếp tục được.

Máy móc của đội chiếu bóng chúng tôi được chất lên một xe Gát 69 Liên Xô - gọi là xe "đít vuông". Bỏ đi một bên ghế, chỉ để lại đủ chỗ cho ba, bốn người ngồi, còn lại trong xe là máy nổ, máy chiếu, xẻng, cuốc, dây cáp, dây thừng, ván (để chống lầy...). Phông và cọc bó chặt buộc dọc theo xe. Biên chế của đội gồm một lái xe, một phụ trách máy chiếu, một thuyết minh. Tuy là phân công trách nhiệm, nhưng anh em đều thực hiện "giỏi một việc, biết nhiều việc" để thay thế nhau. Đội trưởng Tống Choan kiêm thuyết minh, thợ máy Đồng Quang Tiến có thể vừa thuyết minh và khi cần cũng "to gan" lái vài chục mét xe ô tô... Còn các bạn "cán bộ đường lối" lái xe Nguyễn Quang Thích, Đào Văn Nhạc có thể kiêm phục trách máy nổ.

Trước, chỉ những đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn đóng quân tập trung mới được xem phim. Còn các tổ, trạm vô tuyến, hữu tuyến, quân bưu đóng quân trên núi cao, rải quân dọc Trường Sơn, 2-3 người một tổ, việc được xem phim dù một lần trong một năm vẫn là "dream"- mơ ước.

Đội của Tống Choan đi chiếu cho một tổ đường dây có ba chiến sĩ - hai đi trên đường, một ở nhà lo cơm nước, chăn gà lợn, trực máy. Anh chàng này một mình được xem trước gần hai tiếng, chạy ra, chạy vào. Xế chiều, hai chiến sĩ trên đường về, chưa cơm nước gì, vào xem cho đủ "tiêu chuẩn". Cán bộ địa phương nhiều nơi thấy có đội "điện ảnh" đến, thiết tha yêu cầu bộ đội chiếu phim phục vụ nhân dân. Uỷ ban và xã đội phân công phụ trách gác máy bay, ban ngày, ban đêm, bố trí súng máy trên núi đồi, kẻng báo động để bảo vệ buổi chiếu. Người xem phim phải ngụy trang kín bằng lá cây tươi, trông như một bãi cỏ, bãi cây xanh... Có đơn vị kết hợp huấn luyện bộ đội đi B, đeo ba lô gạch hành quân đến địa điểm xem phim, rất phấn khởi, rồi lại hành quân trở về... Có lần đội đi phục vụ bội đội ở Quân khu 4, qua Quán Hành huyện Nghi Lộc, Nghệ An tránh bom đạn, trú quân trong làng. Uỷ ban biết tin, đề nghị đội chiếu phim cho dân xem. Thế là đội bố trí màn ảnh vào trong đình, dân đến xem từ 9 giờ đêm cho đến 5 giờ sáng hôm sau. Uỷ ban lệnh, ai cũng chỉ được xem một lần, nhường cho người khác (trực canh, trực nhà, trực báo động,...). Nhưng có anh có chị xem "lậu" suốt mấy buổi chẳng "rút lui" cho.

Lần chiếu cho một trạm quân bưu gần A72 (Trường Sơn), xe chỉ đỗ được ở ngoài suối, anh em bộ đội được tin, lội suối ra "gánh" máy vào. Hai nhân viên chiếu phim, vì phải trông xe, ốm mệt, không vào được trạm, dù chỉ cách 4-5 km, nên đội trưởng Tống Choan phải "đào tạo cấp tốc" mấy chiến sĩ lắp phim, sử dụng máy chiếu. Trạm này ngoài hơn một chục chiến sĩ, còn có các anh, các chị thanh niên xung phong, gần một trung đội và một tổ Công an đóng quân gần đấy. Nghe tin có "đội chiếu bóng" về, mọi người đều đến thương lượng, xin xem "ghẹ"... Đêm ấy, tổ chiếu phim "Công phá Bá Linh". Hết phim, đồng bào, bộ đội, thanh niên xung phong, công an không chịu về, đòi xem nữa, đội lại phải "phục vụ" cho đến khi mặt trời lên, máy bay đã ù ù trên đầu...

Tiếng lành đồn xa, một đội không đủ khả năng phục vụ bộ đội Thông tin, phục vụ bộ đội bạn, làm "đối ngoại" nên từ một đội đã phải thành lập thêm ba đội nữa. Các anh "nhập đội" tiếp như Nguyễn Thanh Thản (sau là giám đốc Công ty Vinexad Hà Nội), Hoàng Đức Điềm, Doãn Từ, Nguyễn Văn Cậu, Nguyễn Văn Nguyên, Nguyễn Văn Phú...

Trong hoàn cảnh chiến đấu, đơn vị toàn thanh niên nam, đội đã kết hợp đào tạo thêm hai cô thợ máy Thái Thị Thanh Tâm, Nguyễn Thị Ngà vừa "đi chiếu bóng", vừa ca hát động viên chiến sĩ, nhân dân, "gọi là" có tiếng con gái Hà Nội (thực ra là người Thái Bình quê lúa).

Một kỷ niệm sâu sắc của đội chiếu bóng là vào những ngày tổ chức tang lễ Bác, đội được điều động vào Hội trường Ba Đình. Liên đội trưởng Tống Choan và Đồng Quang Tiến sử dụng hai máy chiếu Đức, đưa luồng ánh sáng qua một lỗ nhỏ bằng chân kim, để tạo ra một vùng sáng trải rộng khoảng 3cm đường kính lên đôi mắt thi hài Bác. Giữa tiếng khóc của đồng bào, thiếu nhi,... dưới ánh sáng của các ngọn đèn khác trong phòng hơn mấy trăm oát, đội trưởng Choan và Tiến đổ mồ hôi như tắm, bỏ cả cơm trưa, phục vụ cho công việc ghi hình, tận tối mới được "về nhà".

Lần bộ đội Thông tin bàn giao đường dây cho một đơn vị Giải phóng quân Trung Quốc tại Lào Cai, đội đã đem phục vụ bộ đội, nhân dân vùng biên giới bộ phim "Những cô gái Thông tin K6" và "Đường dây quyết thắng" được hoan nghênh nhiệt liệt. Bạn Trung Quốc mời đội dự bữa cơm nhưng đội chỉ có một người, máy lấy ở tỉnh đội Lào Cai, xe tỉnh đội đón nhân viên thuyết minh... nên đành phải khéo léo từ chối. Chẳng ai nghĩ là có đội chiếu bóng nào lại ít người đến thế.

Năm 1969, để chuẩn bị cho "Đại hội Thi đua quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ", đội chiếu phim vào Khu 4, khi trở ra, xe bị lầy giữa rừng, không thoát được, ăn hết lương khô, mãi mới "may quá" được một xe tải kéo cho, đến nông trường cam ở Nghệ An, các cô gái nông trường đến ôm choàng các chàng trai của đội thơm lấy thơm để rồi tặng cho một xe cam, ăn đi đường về đến Hà Nội vẫn còn. Lượt ấy, đi qua cầu Ninh Bình bị máy bay Mỹ đuổi, bom bị bươm bướm nổ lẹt đẹt sau xe, phải mở hết tốc độ 100km/h mới thoát "chết". Khi đi qua ga Khoa Trường, đội phải "van lạy" mãi các o thanh niên xung phong mới "cho phép" xe đi, vì các o này bắt xe phải ở lại qua đêm chiếu phim cho các o xem... Cuối cùng, chàng cán bộ lái xe Nguyễn Quang Thích phải chịu "phạt", giơ má ra cho gần chục o  "chút chút"...

Cái "Liên đội chiếu phim" này của bộ đội Thông tin đã trở nên "huyền thoại"!

Thế mà đã gần 40 năm!

T.C-Đ.N

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005) 

31.8.26

Một thời để nhớ (3/3)

 Nguyễn Trọng Tân

Tiếp theo phần 2/3

Tiến mệt mỏi trở về quê. Chỉ còn chút trông đợi mỏng manh từ những lá thư bạn bè mà anh nhờ trước đây. Sự chờ đợi trở nên hết sức nặng nề. Chiều chiều mới thấy anh linh hoạt lên khi tiếng cọc cạch phát ra từ chiếc xe đạp cà khổ của người bưu tá già. Xe chưa đến ngõ, anh đã vọt ra. Biết nỗi lòng anh, bác đưa thư nhoẻn cười từ xa rồi an ủi:

- Bác với anh cứ phải kiên trì. Thế nào bác cũng lôi được cô ấy về cho anh.

Tiến cảm ơn bác, lòng buồn rượi trở vào nhà. Bố mẹ anh nhìn con thẫn thờ, thương lắm, nhưng không biết khuyên gì. Cuối đợt phép, trước hôm Tiến về đơn vị, mẹ anh kéo anh ra đầu nhà thì thầm:

- Mẹ hỏi thật con, các con gặp nhau, đã hứa hẹn gì chưa?

- Chúng con có với nhau những kỷ niệm còn sâu sắc hơn mọi lời thề nguyền mẹ ạ.

- Ừ thì mẹ hỏi anh thế. Bây giờ lạc nhau. Nó thì người thiên hạ, bóng chim tăm cá... Mà con gái mỗi tuổi lại đuổi xuân đi. Liệu nó có nghĩ như anh, hay đã chồng con đề huề rồi, mà anh thì cứ đêm ngày sầu héo?...

- Con tin Hà My. Những ngày con thập tử nhất sinh, Hà My vừa thay mẹ, vừa là chị gái, em gái chăm sóc, cứu con thoát chết. Con không thể phản bội cô ấy.

Mẹ Tiến khóc. Bao giờ nói chuyện tình duyên của anh, mẹ anh cũng khóc, Tiến thương mẹ, rất dễ mềm lòng trước nước mắt của mẹ.

Thôi thì tuỳ con. Bố, mẹ già rồi. Ý mẹ là muốn con lấy vợ ở quê nhà để được cậy nhờ.

- Lòng Tiến quặn thắt. Anh biết bố mẹ đặt rất nhiều hy vọng vào anh. Nhà cửa đất đai của tổ tiên, mồ mả ông bà, vợ chồng anh phải có trách nhiệm trông nom phụng thờ. Cả một đời nuôi con, đến lúc cha già mẹ héo, anh là người gách vác chính. Lấy vợ đi thoát ly, nghĩa là thoái thác bổn phận thiêng liêng của mình. Sự yên ổn, vui vầy của tuổi già nơi những người sinh hạ ra anh, sẽ bị xáo trộn. Dân làng sẽ cười chê. Mà người chịu tiếng ấy chính lại là mẹ anh.

Quê hương thiêng liêng và nhung nhớ, với Tiến đó là cái làng quê bé teo hẻo như đoạn ruột thừa bị kẹp giữa nơi tế dòng của con sông Hồng dữ tợn. Chiều chiều cái bến sông lầy thụt đất thịt pha cát, sục ngầu bởi đám trẻ chăn trâu đen đủi và nghèo đói. Chúng khuấy đảo, lặn ngụp một cách đầy thích thú trong làn nước phù sa đó đọc. Phía dưới kia nơi doi cát nhô mái đầu bạc phếch ra như một cái lá chắn, đám con gái lớn thẹn thò đứng ngâm mình dưới nước, vừa kì cọ, vừa e ấp đưa mắt về phía tụi con trai đang nô đùa như quỷ sứ. Cả trai lẫn gái đứa nào da dẻ cũng như lá chuối nướng. Tắm xong, nơi nhân trung, nơi hõm cằm cứ bờ lên một lượt phù sa, lại chạy vội vào vạt điền thanh thay quần áo. Nhóm nào, nhóm ấy theo con đường riêng về làng.

Đã bao năm rồi, cái làng bé nhỏ ấy dường như không hề đổi thay. Vẫn vẻn vẹn trên trăm nóc nhà, mà có tới hơn chục ngôi đền, miếu, đình chùa. Dòng họ nào cũng còn gia phả, bản đồ gia hệ. Phi nội, tắc ngoại, ngẫm ra có lẽ cặp việc nào cũng có họ xa với nhau. Dòng máu chảy trong người lớp con, cháu, chắt suy ra đều có cùng một cội gốc. Cái căn nguyên sâu xa ấy khiến quan niệm sống của làng Tiến vừa bền chắc vừa thủ cựu đến khó bề lay chuyển. Nhất cử nhất động của mỗi con người đều gắn với láng giềng, phải chịu mọi sự chi phối của dư luận cộng đồng. Cái riêng của mỗi người không thể đặt ra ngoài nền đời ấy. Bất luận thế nào, cứ phải ngấm ngầm tuân thủ những quy chế bất thành văn, mà bền chặt, kín bưng từ bao đời đã trở thành tập tục của làng.

Lấy vợ thiên hạ. Đó là sự thách thức và đối đầu với bao nhiêu điều tiếng, và vượt qua vô số ràng buộc đã trở thành luật lệ của làng. Nội một chuyện nộp cống cho làng - giờ gọi tên mới là đóng góp xây dựng quê hương - đặt ra cho ai lấy vợ thiên hạ: dâu trưởng năm trăm; thứ, thiếp ba trăm viên gạch chỉ để xây đường làng. Tất cả đều do nhà chồng phải lo, ngầm bị coi đây là nỗi nhục, là một kiểu nộp "vạ" mà cha mẹ dòng họ phải gánh chịu do không bảo được con trai.

Những điều đó đè nặng tâm trí Tiến trên đường trở lại đơn vị. Rồi một chồng thư bạn bè trả lời đầy thất vọng. Không ai biết Lê Hà My ở đâu. Tiến đã nghĩ đến cả một bất hạnh to lớn: Hay em đã nằm lại đâu đó trong chiến trường? Chiến tranh vẫn đè nặng trong anh nỗi hiểm hoạ. Ý nghĩa đó càng về sau càng choán ngợp tâm trạng anh.

Cuối năm ấy Tiến nhận được quyết định chuyển về học tại khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Anh lại về quê. Tin tức Hà My vẫn mịt mù vô vọng. Một tháng ở nhà, anh phải trực diện với những thúc bách quyết liệt của bố mẹ và họ tộc. Anh hốt hoảng thật sự khi mẹ anh cứ kiên tâm thúc ép anh:

- Kỳ này anh phải lấy xong vợ, mẹ mới cho đi. Mọi thứ lo sắm đủ rồi. Trong làng trong xã, chấm chỉ cô nào, gật một cái là xong. Làng mình giờ cũng tiến bộ lắm, cả hỏi lẫn cưới chỉ nửa tháng là xong, rõ gọn xoét.

Tiến bật cười, mẹ anh cười theo mắng yêu "Cha tổ bố anh chứ, còn bé bỏng gì cho cam. Tồng ngồng mãi, làng xóm người ta chửi cho". Rồi bà kéo ghế lại ngồi cạnh anh vẻ đầy bí mật: "Nhà bà Xuyến có con cái Mây, trông đến là kháu. Mỏng mày, hay hạt mà lại ngoan nết. Nó là bạn con Hằng nhà mình đấy. Từ dạo con về, nó cũng có ý tứ cả đấy. Mẹ nhắn rồi, tối nó lên chơi..."

Tiến như chạm phải nọc bò cạp:

- Chết, mẹ làm thế nhỡ...?

- Dào ôi, nhỡ với chả nhàng. Anh cứ gặp, cứ tìm hiểu, ai đã đóng gông anh vào mà lo.

Tiến thực sự phải lâm trận. Một trận đánh mà phía anh thì hết sức đơn độc. Vũ khí cuối cùng là những lời thề hẹn với Hà My cũng trở nên thật yếu ớt mỏng manh trong chính tâm linh anh. Mẹ anh, rồi họ hàng bè bạn hối thúc, động viên anh bằng một quyết tâm bền bỉ hiếm thấy.

"Ôi Hà My! Lúc này em ở đâu? Em còn sống hay đã chết? Em có cảm nhận trong sâu thẳm lòng mình chút nào nỗi buốt đau, lo sợ đến cháy bỏng về anh về em?"

Hình ảnh và tấm tình người con gái ấy cứ khắc khoải vừa như hạnh phúc tuyệt đỉnh vừa khiến anh thảng thốt, lo sợ như đứng trước một tai ương đời mình. Có lúc nó như sức mạnh tiếp cho anh vùng vẫy vứt bỏ tất cả, chối từ tất cả để chờ đợi, săn tìm cô. Song, mỗi đêm nghe tiếng thở nặng nhọc của mẹ, Tiến lại thấy mình nhẫn tâm, vô ơn thế nào.

Và một đêm, trong "hội nghị bất thường" của cha chú trong tộc hộ, anh đã tặc lưỡi. Cái tặc lưỡi tưởng như giản đơn ấy đã trói buộc Tiến gắn bó cuộc đời với một người con gái khác. Tiến không còn biết mình vui hay buồn. Người anh bải hoải. Mọi ý nghĩ cứ như của người khác. Điều an ủi duy nhất là khi anh bằng lòng đánh đổi hạnh phúc của riêng mình cho hạnh phúc chung của gia đình. Bố mẹ anh đã vui mừng đến ngần nào...

Hết

N.T.T

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

29.8.26

Một thời để nhớ (2/3)

Nguyễn Trọng Tân

Tiếp theo phần 1/3

Dương Văn Minh buộc phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện vào lúc đơn vị phối thuộc của Tiến còn cách Sài Gòn ngót trăm cây số. Mẩu tin ngắn nghe không trọn vẹn, bởi chiếc máy thu thanh ậm ạch, câm tịt từ sáng, chẳng ai buồn ngắt pin, chợt ré lên- phát tiếng.

Chiếc Jeép, chiến lợi phẩm cũ kỹ mà tổ trinh sát của Nguyễn Tiến "nhặt" được ở cửa Thuận An, lúc này cũng đang gắng gỏi bươn về phía trước. Trước và sau, bên cạnh nó, đoàn xe quân sự đủ kiểu lao như gió cuốn. Trên thùng xe, bệ pháo, người lính mặt mày đen nhẻm, nhưng không kìm nổi niềm vui sướng. Họ huơ mũ, giơ súng, la hét trêu chọc mỗi khi vượt qua cái xe Jeép cà khổ.

- Nhanh lên chứ! Dương Văn Minh dọn tiệc rồi...

- Bĩnh ra đường thế, bao giờ mới tới hả...

Quanh đường vẫn cuồn cuộn những cột khói đen bốc cao. Đạn phòng không thi thoảng nở như hoa súng trên nền trời xanh lơ, và cả tiếng ầm ào nổ xa của đại pháo 130 ly... Nhưng dường như không một ai quan tâm tới nữa. Trong đầu óc Nguyễn Tiến cũng chỉ mường tượng về một Sài Gòn lần đầu biết đến. Nó sẽ hiện ra thế nào nhỉ qua tấm kính chắn gió nham nhở vết bùn đã khô trắng toé ra tựa hoa cà, hoa cải.

... Chập choạng tối, cách Sài Gòn hai chục cây số, xe phải chạy chữ chi giữa những đụn thép gai ngổn ngang. Từng bãi áo quần, súng đạn của lính nguy trút bỏ. Cả những xác người còn vắt mình trên công sự. Đêm, Sài Gòn mộng mị trong vầng sáng nhợt nhạt của đèn huỳnh quang. Chiếc xe Jeép thành điểm chú ý của các ông bố, bà mẹ. Họ vây quanh nhìn ngó, hỏi han. Một bà cụ lưng còng gập, bàn tay nhăn nheo, khô khốc run rẩy sờ lên áo, lên mặt Tiến, tay kia giờ ra tấm hình đã ổ vàng, nhợt nhạt.

- Mấy chú có thấy ông Tư nhà tui vô đây không? - Tất cả tốp chiến sĩ lặng đi - Sao các chú im lặng hå. Ô mà thôi các chú không biết ổng, thì tui đi hỏi nơi khác hỉ...

Bà má đi rồi, Tiến quay nhìn các bạn. Hình như ai cũng khóc. Những giọt nước mắt hiếm hoi của người lính lặng lẽ chảy. Chẳng ai nỡ ngăn lại, lau đi...

*

Cuối năm, mấy trường đại học ở Sài Gòn mở cửa lại, Nguyễn Tiến nộp đơn thi và trúng tuyển vào khoa Văn, Đại học Tổng hợp. Anh chuẩn bị cho chuyến đi Bắc thăm gia đình rồi trở lại đó học tập. Trước ngày lên đường, Tiến nhận được lá thư khá dài của cha anh. Ông cụ khuyên anh ra miền Bắc học tập. Anh là con trai duy nhất trong nhà, nên có trách nhiệm trông nom cha mẹ. Bổn phận đó ngàn đời đã đặt lên vai những đứa con như anh. Rồi chuyện vợ con của anh, tương lai của đứa em gái út, gần hai mươi tuổi rồi nhưng nó chưa dám nhận lời ai vì nước có chảy, bèo mới trôi. Cái lý của quê hương, của cha mẹ là vậy. Nếu cuộc chiến tranh còn tiếp diễn thì khác, nhưng bây giờ đã hoà bình. Bao nhiêu dự định, bao lời hẹn hò, thề thốt đều nhằm tới cái đích: ngày đất nước thống nhất. Bây giờ anh chẳng còn lý do gì để nấn ná.

Đọc thư bố, Tiến mất ngủ một đêm. Suốt mấy tháng sau ngày về Sài Gòn, anh đã đi tìm Lê Hà My, nhưng nàng biệt vô âm tín như chưa bao giờ nàng có mặt trên thế gian này vậy. Những ngày ở rừng có lúc giống như một giấc chiêm bao, khiến cho anh phải giật mình xót xa.

Trên chuyến ô tô ra Bắc, hy vọng tìm được lại Hà My lại làm anh bồn chồn và có lúc hứng khởi. Ở mỗi chặng nghỉ, Nguyễn Tiến lại tung đi những lá thư cho bạn bè, nhờ họ tìm Hà My về cho anh. Nhưng vẫn bặt vô âm tín. Tiến chỉ còn hy vọng vào lá thư anh gửi về phòng Bưu điện huyện Ứng Hòa. Anh đã mất khá nhiều thời gian để viết lá thư đầy những lời giải thích dài dòng:

"Thưa các đồng chí kính mến!

Tôi là một người lính trở về từ chiến trường. Qua thư này, tôi cầu mong các đồng chí tìm giúp cô Lê Hà My, 21 tuổi, chiến sĩ Thông tin mặt trận B1. Quê huyện Ứng Hoà. Tôi không nhớ tên xã, nghe nói nhà cô gần chợ Cháy... Nhận dạng: người nhỏ nhắn, tầm thước, mặt trái xoan. Đặc biệt tóc rất dày, đen, trên gò má bên trái có một cái sẹo duyên rất mờ, nhỏ chạy dài..."

Nửa tháng sau đó Tiến khổ sở vì chờ đợi. Chiều nào anh cũng lục tìm trong hộp thư ở phòng Văn thư đơn vị. Nhưng ý nghĩ tốt đẹp và giản đơn ấy của người lính không có hồi âm.

Hết đợt tập huấn, Tiến về quê. Trong bao nhiêu niềm vui và cảm động nhận được từ quê hương, đêm đêm hình ảnh Hà My vẫn hiển hiện trong anh. Ngày thứ năm của đợt phép, Tiến mượn xe đạp về Ứng Hoà. Đến cơ quan huyện đội, rồi vào bưu điện Tiến mới thấy hết nỗi khó khăn. Vùng quê Hà My thật trù phú. Xóm làng san sát biết hỏi thăm về đâu. Tiến lang thang suốt một ngày từ Vân Đình đến chợ Cháy. Đúng phiên chính, anh căng mắt nhìn khắp mặt những cô gái đi chợ ngày hôm đó. Từ cụ già đến em nhỏ, đều ái ngại lắc đầu trước cái địa chỉ hết sức mù mờ mà anh đem ra hỏi thăm về cô. Một bà cụ phúc hậu mời anh về nhà nghỉ lại. Hôm sau anh dắt xe theo một chị phụ nữ chỉ đường cho anh tới một xóm giữa đồng. Nhưng nỗi hân hoan bỗng xẹp ngay khi cô My thứ nhất không phải Hà My của anh. Bà con trong cái xóm đồng heo hút ấy xúm lại an ủi, cố nhớ ra những người quen biết, hướng dẫn anh tìm thêm hai địa chỉ nữa trong vùng. Tận chiều tối hôm ấy, cả ba cô gái tên My, cùng đi bộ đội về, ở ba xã khác nhau, đều phải tiếp chuyện anh, đều không giúp anh thêm được chút hy vọng nào.

Còn nữa

N.T.T

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)