15.8.26

Kỷ niệm về một tờ báo (2/2)

Nguyễn Duy

Tiếp theo phần 1/2

Chùm thơ từ mặt trận

Mặt trận Quảng Trị, mùa hè năm 1972

Với tư cách là phóng viên chiến trường, tôi theo một đơn vị Thông tin của Sư đoàn 308 vào chiến dịch. Bom đạn nhiều tới mức không thể tả lại bằng lời. B.52 "toạ độ" suốt ngày đêm. Máy bay phản lực cứ từng đàn, từng đàn. Khủng khiếp nhất vẫn là pháo, pháo bầy, pháo tăng, pháp hạm đủ cỡ: 105, 175, 270, cả 406mm từ tàu chiến Niu Giơ-đi dội vào. Những mỏm đồi ở Đông Hà, đặt bàn chân nào cũng là đặt lên mảnh đạn pháo, tôi có cảm giác, đó là những mảnh sân phơi khoai thái lát. Hôm tôi tới thôn Tây Trì (Đông Hà), cả ban chỉ huy Trung đoàn 56 bị tử trận vì một quả đại bác rót trúng hầm. Đại uý Bằng Lâm, nhà quay phim của xưởng phim quân đội cũng hy sinh tại đây. Quân ta tổn thất khá nặng vì hoả lực vô cùng mạnh của địch. Điều quyết định là chúng ta đã thắng. Và tôi đã được gặp dân, lần đầu tiên gặp những người dân ở bờ Nam sông Bến Hải.

Trong căn hầm chữ A dã chiến, đung đưa như đưa võng dưới bom và đạn đại pháo, tôi làm được hơn chục bài thơ ngắn, làm nhẩm, rồi tì cuốn sổ tay nhàu nát, ngồi co ro tựa vào vách hầm mà chép ra. Theo đường thông hào mù mịt khói và bụi, tôi lần tới hầm tổng đài của sư đoàn, từ đó gọi về tổng đài Bộ chỉ huy chiến dịch.

- Một trăm... A lô, một trăm... cho xin hai trăm...

"Hai trăm" là tổng đài Bộ Tổng Tư lệnh ở Hà Nội. Và, từ xa tít tắp, một giọng con gái rất trong trẻo:

- 4430 à? Báo Văn nghệ à? Ở đâu xin?

- Quảng Trị. Xin 4430...

- Ai xin?

- Tổng Cóc đây. Đọc bài cho báo, gấp lắm.

Hồi đó, tôi có làm một bài độc tấu rất vui, về một anh chàng giữ kho thông tin biệt danh là "Tổng Cóc", và tự tôi nhảy lên khua khoắng trên sân khấu Văn nghệ của bộ đội Thông tin. Nhiều anh chị em ở Bộ tư lệnh không biết tên tôi, vẫn gọi là "Tổng Cóc". Xưng cái danh này, tôi hy vọng mấy cô trực tổng đài có thể nhớ ra và ưu tiên cho tôi. Quả như vậy thật.

- Chào cụ Tổng Cóc! Ở mặt trận khoẻ chứ?...

- Khoẻ. Nhưng suốt ngày ở hầm...

- Tổng Cóc thì ở hầm là đúng chỗ rồi. Có 4430 đó, nói đi!

Đầu dây đằng kia là Hữu Nhuận, cán bộ biên tập báo Văn nghệ. Anh không thể ngờ được rằng anh đang nói chuyện trực tiếp với người ở giữa chiến hào mặt trận Quảng Trị, bằng đường dây trần xuyên Trường Sơn có hệ thống các trạm tăng âm hiện đại. Hữu Nhuận chuyển máy cho anh Phạm Hổ. Rồi bác Hoài Thanh. Hỏi thăm nhau vài câu, tôi đề nghị toà soạn chép thơ ngay. Bác Hoài Thanh chuyển máy nói cho Hữu Nhuận. Phía này là mặt trận đang ầm ầm bom đạn. Phía kia là Hà Nội, chắc là một buổi sáng yên tĩnh. Không biết ngoài đó có nghe những tiếng nổ rung chuyển mặt đất vọng vào ống nói, nhưng những câu thơ tôi đọc thì nghe được rất rõ. Anh Phạm Hổ và anh Hữu Nhuận thay nhau chép, sau đó còn đọc lại cho tôi nghe xem có đúng không. Bác Hoài Thanh nói thêm, báo Văn nghệ đang lên khuôn ở nhà in, sẽ có ngay chùm thơ của tôi trong số này... "Tôi rất xúc động - lời bác Hoài - vì những dòng thơ này, từ mặt trận đi thẳng tới mặt báo..."

Chúng tôi đang nói dở dang thì tổng đài cắt liên lạc. "Tổng Cóc ơi – tiếng trong trẻo của cô gái trực đài - hết giờ ưu tiên cho ông rồi. Khoẻ nhé!..."

Hai ngày sau đó, tôi về Cùa, chợt nghe ra-đi-ô giới thiệu báo Văn nghệ, và đọc chùm thơ của tôi in trong số báo ấy. Đó là chùm thơ từ mặt trận Quảng Trị.

Hoa đào năm ấy

Cuộc chiến tranh đi qua...

Thế là xong! Tôi thở phào nhẹ nhõm khi trút bộ quân phục để chuyển ngành về làm biên tập viên cho tờ Văn nghệ giải phóng. Lúc đó là đầu năm 1976. Năm 1977 tờ Văn nghệ giải phóng sáp nhập vào tờ Văn nghệ trung ương, tôi trở thành biên tập viên thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh của tờ báo vốn có nhiều kỷ niệm sâu sắc với mình. Cứ ngỡ rằng đã "vĩnh biệt vũ khí", nào ngờ, tháng 6 năm 1978, tôi - phóng viên báo Văn nghệ lại lặn lội trong chiến hào ở Tây Ninh cùng với các bạn lính trẻ của Quân đoàn 4. Chiến dịch biên giới phía Tây-Nam Tổ quốc đang thời kỳ ác liệt nhất. Quân Pôn Pốt tràn sang dọc biên giới Việt Nam - Campuchia, tàn sát rất dã man đồng bào ta, từ Tây Ninh qua Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang. Quân ta đánh chặn và chuẩn bị tổng công kích... Lại những bài thơ chiến trận gửi về toà soạn báo Văn nghệ.

Qua mấy năm im tiếng súng, nhìn lại quãng đường bom đạn và đèo dốc dài dằng dặc phía sau lưng mình mà ngại ngùng. Cứ ngỡ rằng, đã quen hơi phố phường rồi, nếu phải đi trở lại con đường chiến tranh vừa qua, chắc là không đi nổi. Nhưng khi việc đã tới, giặc đã ở trước mặt, thật lạ, có một nguồn sức lực từ đâu đó trong con người mình bỗng khởi phát, xốc mình đi, những bước đi mạnh mẽ nguyên vẹn của người lính năm nào...

Nguồn sức lực ấy lại khởi phát một lần nữa trong tôi vào đầu xuân năm 1979. Sau chiến dịch biên giới Tây Nam, tôi tự thưởng cho mình một chuyến nghỉ phép, về ăn Tết ở quê nhà - thị xã Thanh Hóa. Ngày 15 tháng 2 năm 1979, tôi ra Hà Nội để chờ máy bay trở lại miền Nam. Sáng 17 tháng 2, chiến tranh bùng nổ trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Nhóm phóng viên xung kích của báo Văn nghệ, gồm năm người vốn xuất thân từ lính, được cử lên mặt trận. Đồng chí lái xe Đào Ngọc Chi cũng vốn là lính chiến.

Chiếc xe Rumaini tổng tộc của chúng tôi hoà vào đoàn xe chở lính lên phía Bắc. Tới thị trấn Đồng Mỏ chúng tôi bắt đầu làm việc với trạm phẫu, với thương binh, với đồng bào các dân tộc chạy giặc từ mấy huyện biên giới về. Ga Đồng Mỏ đặc kín người. Đường số 1 tắc nghẽn. Hầm Núi đá (do quân Trung Quốc đào, hồi họ sang "giúp" ta chống Mỹ) thì dành cho người bị thương nặng. Đêm ấy, chúng tôi ngủ ở chợ Đồng Mỏ cùng với đồng bào chạy giặc. Tôi và Phạm Tiến Duật nằm chung cái bạt võng, trước vỉa hè nhà bưu điện. Anh Hoài An ngủ trên xe với Đào Ngọc Chi. Anh Hồng Phi cùng với Đỗ Chu leo lên cái bàn bán thịt trong lều chợ không có mái. Tiếng đại pháo từ Lạng Sơn vọng về ùng ình suốt đêm. Những trang viết về mặt trận của nhóm chúng tôi bắt đầu từ đêm đó.

Lạng Sơn, 18 tháng 2. Thị xã vắng ngắt. Trời se lạnh. Hoa đào phai thấp thoáng trong sương mù. Đại pháo dội sang từ phía Bằng Tường, tiếng đạn rít veo véo, tiếng nổ lộng óc. Xe chúng tôi băng qua cầu Kỳ Lừa, lao về hướng Đồng Đăng.

Theo giới thiệu của Ban chỉ huy Sư đoàn Sao Vàng, chúng tôi sẽ tới Trung đoàn An Lão đang chặn giặc ở nam Đồng Đăng. Có một chiến sĩ liên lạc của trung đoàn An Lão dẫn đường. Ga Tam Lung hiện ra trước mặt. Chiếc xe của bệnh viện Lạng Sơn vừa bị bắn lật, xe hồng thập tự. Tiếp đó, chiếc xe của xưởng phim Quân đội trúng đạn (chiến sĩ Như Đạt, quay phim, đã hy sinh tại chỗ). Cối 81 của địch nhằm vào xe chúng tôi. Nhanh như cắt, Đào Ngọc Chi quặt xe vào con đường rẽ. Quân Trung Quốc từ các cao điểm gần đó nã cối theo tới tấp...

Hầm chỉ huy trung đoàn An Lão nằm trên sườn cao điểm 417. Vừa gặp chúng tôi, Chính uỷ trung đoàn đã đề nghị "các nhà văn trở về Lạng Sơn ngay cho. Chiến sự đang ác liệt, đơn vị không thể bảo đảm an toàn cho các anh được..."

Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Cái bề ngoài của mỗi người quả là xa lạ với thực tế trận mạc. Tôi mặc chiếc áo trắng có hoa đen, quần loe, kính cận, máy ảnh toòng teeng trên vai. Anh Hồng Phi, râu tóc bờm xờm, áo len, quần dạ, đôi dép sam-bô cao đế. Phạm Tiến Duật và Đỗ Chu thì đúng là bạch diện thư sinh, mảnh khà mảnh khảnh.

- Xin các đồng chí cứ yên lòng. Hồng Phi nói với Chính uỷ trung đoàn - chúng tôi đều con nhà lính, quen thuốc súng đạn cả. Chúng tôi sẽ ở đây theo dõi các trận đánh, và nếu có thể, xin các đồng chí phát vũ khí...

Đồng chí Biền, Chính uỷ, nói về tình hình chiến sự. Căn hầm thỉnh thoảng lại rung lên, đạn cối của địch vẫn rơi xuống quanh đấy, tiếng nổ nhức tai, và khói, bụi sặc sụa.

Những ngày ở Tam Lung, chúng tôi đã viết các bài in trên báo Văn nghệ dạo đó.

... Nhóm phóng viên chúng tôi xuôi về thị xã Lạng Sơn nghỉ đêm trong nhà khách tỉnh uỷ đã bỏ trống, cùng với tổ tự vệ của giáo viên trường Đông Kinh Phố. Trang thơ về mặt trận của tôi được hoàn chỉnh trong đêm này. Chúng tôi chụm đầu đọc thơ cho nhau nghe, rồi hát trắng đêm. Đêm chia tay, đêm tạm biệt những cây đào nở muộn. Tiếng súng bộ binh đã nổ rát ngoài rìa thị xã.

Mờ sáng hôm sau, tổ Công an vũ trang bảo vệ khu nhà khách tới giục chúng tôi rời đi, họ nhận được lệnh phải rút ngay ra khỏi thị xã. Chúng tôi thong thả chụp vài tấm ảnh cuối cùng với vườn đào, rồi chặt những cành đào đẹp nhất cắm đầy chung quanh xe. Chiếc xe Rumani của tuần báo Văn nghệ lần đầu tiên được nguỵ trang hoàn toàn bằng hoa đào. Lái xe Đào Ngọc Chi phải yêu cầu bỏ bớt hai cành cắm phía trước để còn trông thấy đường.

Trên chiếc xe hoa đào ấy, chúng tôi ngoái nhìn thị xã. Chào Lạng Sơn. Chào chợ Kỳ Lừa và dòng sông Kỳ Cùng, chào thành Tiên Xây và núi Vọng Phu... Thị xã đẹp mê hồn trong sương mù. Không một bóng người. Chỉ có cây với nhà, và hoa đào. Mấy con chó tìm chủ chạy lững thững dọc những phố nhỏ lặng ngắt. Pháo từ phía Bằng Tường bất chợt gầm lên, súng bộ binh đồng loạt nổ rền bên kia cầu Kỳ Lừa...

Chúng tôi đã mang về toà soạn những trang viết chưa ráo mực cùng những cành đào còn ướt nhựa nơi vết cắt. Cành đào phai lớn nhất được cắm trong cái bình đất nung đặt ở phòng khách toà báo. Những cành nhỏ hơn, chúng tôi chia ra, phân phát cho bạn bè. Bài viết của chúng tôi dồn dập in trên báo Văn nghệ, cùng lúc những nụ đào muộn mằn dồn dập nở, những cành đào Lạng Sơn vẫn còn tươi thắm giữa lòng Hà Nội. Và, mãi mãi tươi thắm trong tôi, cái màu hồng kỳ diệu của hoa đào năm ấy...

Hết

N.D.

3-1983

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

14.8.26

Tin buồn

Chi hội Long Biên-Gia Lâm, Hội truyền thống Thông tin Hà Nội vô cùng thương tiếc báo tin:

Đồng chí Đại tá TRẦN THANH DUNG

Sinh năm 1927; quê quán: Xã Diên Sanh, tỉnh Quảng Trị; trú quán: Số nhà 11, ngách 109/73, phố Nguyễn Sơn, phường Bồ Đề, TP Hà Nội; đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; hội viên Chi hội Long Biên-Gia Lâm, Hội truyền thống Thông tin Hà Nội; cán bộ tiền khởi nghĩa, nguyên Hiệu trưởng Trường Đảng, thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc; đã nghỉ hưu.

Huân chương Chiến công hạng Ba; Huân chương Chiến thắng hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng.

Đồng chí đã từ trần hồi 17 giờ 15 phút ngày 11-8-2026, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Lễ viếng tổ chức từ 7 giờ 30 phút đến 8 giờ 30 phút ngày 17-8-2026, tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng (số 5 Trần Thánh Tông, phường Hai Bà Trưng, TP Hà Nội). Lễ truy điệu và đưa tang tổ chức hồi 8 giờ 30 phút ngày 17-8-2026; hỏa táng tại Đài hóa thân Hoàn Vũ Văn Điển; an táng cùng ngày tại Nghĩa trang Gò Táo, Lâm Du, phường Bồ Đề, TP Hà Nội.

Chi hội Long Biên-Gia Lâm, Hội truyền thống Thông tin Hà Nội kính báo. 

13.8.26

Kỷ niệm về một tờ báo (1/2)

Nguyễn Duy

Những bài thơ đầu tiên

Tờ Văn nghệ (tờ báo của Hội Nhà văn Việt Nam) có ba mươi lăm tuổi, thì tôi cũng có hai mươi năm kỷ niệm với nó.

Cái kỷ niệm đầu tiên là: gửi bài mà không được in. Tôi đã gửi thơ cho báo Văn nghệ nhiều lắm, gửi cả tập giấy mỗi lần, gửi liên lạc từ năm 1962, cho tới 1972 mới được đăng bài đầu. Từ hồi còn đi học ở trường cấp ba Lam Sơn (Thanh Hóa), tôi đã "làm thơ" và lẳng lặng gửi, chỉ gửi cho báo Văn nghệ thôi, tôi nghĩ, đó là tờ báo đáng tin cậy về "tiêu chuẩn nghệ thuật". Và, cố nhiên là tôi cứ lẳng lặng mà chờ đợi... Lại lẳng lặng chép, lẳng lặng gửi, và lẳng lặng chờ... Nhưng ai lại đi in cái thứ mà tôi gọi là "thơ" của mình hồi đó. Thí dụ:

Người vợ của tôi

Tôi hình dung người vợ của tôi

da thịt bằng gang, tim gan bằng chì và ruột bằng cứt sắt

cái mặt nửa đỏ, nửa đen

răng lợn lòi chìa ra nhọn hoắt

đôi mắt là đôi đèn pha phòng không sáng quắc

khi trợn lên - mắt thiên hạ nhắm liền

nụ cười dịu hiền ngoác ra như hố bom

khi xuất hiện thì miệng đời méo xệ

và, giọng nói là xe tăng gầm ré

khi cất lên - tất cả phải im hơi...

Bởi rất yêu người vợ của tôi

nên tôi phải hình dung như thế.

(1965)

Tiếc thay, hồi đó tôi đã cho rằng đấy là thơ, thơ hay nữa là khác, ít ra thì cũng hiện đại! Tôi cũng đã tốn mất mấy năm mò mẫm theo cái cách làm thơ mà tôi cho là "hiện đại" này, để rồi chán nản, để rồi oán ban biên tập báo Văn nghệ là vô trách nhiệm với bạn viết...

Chiến tranh. Tôi nhập ngũ. Vẫn cặm cụi viết, gửi bài đi và chờ đợi. Cuối năm 1967 tôi mới được in bài thơ đầu tiên, trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, rồi sau đó được xuất hiện khá thường xuyên trên báo Quân đội nhân dân. Còn báo Văn nghệ thì chưa, cũng chưa có lấy một câu nhắn trả lời của toà soạn. Tôi càng oán báo Văn nghệ nhiều hơn trước. Càng oán, càng cay cú, càng gửi, bao thư trang trọng, giấy trắng, chép nắn nót, thỉnh thoảng lại có cả thư "kính thưa ban biên tập" đàng hoàng, kèm luôn cả bao thư dán tem sẵn để báo trả lời cho tiện nữa... Vẫn không ai trả lời tôi.

Có lần, tôi đánh bạo xông thẳng tới toà soạn báo Văn nghệ, định bụng sẽ hỏi cho ra nhẽ, nhưng vừa tới cổng thì sự hăng hái ban đầu cũng vừa tiêu tan hết, tôi lẳng lặng đi qua, đi lại, nhìn vào, rồi lại đi qua, đi lại... Rồi phát chán, bỏ về. Cũng may là tôi chưa chán viết và cũng chưa chán gửi. Tôi xoay lối viết theo cách chơi đồ cổ, làm thơ lục bát với những chi tiết thực, gần gũi với mình. Cứ "hiện đại hóa" mãi hóa tắc tị.

Sau một chuyến đi "B-ngắn, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), tôi có được mươi bài thơ mới. Tôi viết thoải mái hơn, có khá hơn - tôi tự nghĩ vậy. Tôi nảy ra ý định đổi bút hiệu. Họ và tên tôi gồm ba chữ số lẻ, nghe chừng xui xẻo quá, thôi, bỏ cái tên đi, giữ lấy cái họ, họ kép, thế là còn hai chữ. Có thể gặp may đây! Rồi một đêm, tình cờ tôi nghe đài, cụ Hoài Thanh đang "tán" về tính dân tộc trong thơ hiện đại... Tôi khoái quá, vì những điều cụ Hoài nói sao mà "hợp ý mình thế!" Tôi chép liền một bài, bài "Khúc dân ca", gửi tới "ông Hoài Thanh - nhờ Đài Tiếng nói Việt Nam chuyển". Tôi không hề có ý định gửi bài thơ này cho báo Văn nghệ, nó quê quê thế nào. Bất ngờ, mấy hôm sau, tôi nhận được thư của anh Phạm Hổ, đề nghị "cho báo Văn nghệ in bài "Khúc dân ca" do bác Hoài Thanh chuyển tới" và "đồng chí, nếu có thể được, gửi cho chúng tôi mấy bài thơ khác nữa, để báo Văn nghệ chọn in trong các số sau..." Tôi ngẩn cả người, vừa mừng, vừa lấy làm lạ. Lúc tôi gửi bài như điên thì họ không trả lời, lúc tôi không gửi thì họ lại đề nghị cho in. Cố nhiên là tôi rất sung sướng, chép gửi ngay. Không được cẩn thận như những lần trước, mấy bài thơ mới cùng mấy bài thơ cũ đã chép gửi đến chai cả tay. Tôi lại nhận được một văn bản đánh máy, dấu báo Văn nghệ đỏ tươi như hoa đào. Anh Vũ Tú Nam - thư ký toà soạn ký, mời tôi tới toà soạn chơi, và trao đổi về việc báo sẽ in cho tôi hẳn một chùm thơ. Chao ôi, tôi có bao giờ mong được như thế đâu!

Tôi xúng xính trong bộ quần áo lính mới toanh, rộng thùng thình, lần đầu tiên bước qua bậc cửa toà soạn báo Văn nghệ gặp ai cũng chào một cách cung kính và e dè. Ấy là lần đầu tiên tôi biết mặt anh Vũ Tú Nam, anh Phạm Hổ; lần đầu tiên tôi nhìn thấy chị Ngọc Tú, chị Xuân Quỳnh... Đến đó tôi mới biết là bác Hoài Thanh làm chủ nhiệm báo hiện bị ốm, ở nhà. Anh Phạm Hổ hẹn tôi tới thăm bác vào buổi tối. Tôi nhớ mãi cái buổi tối cuối đông năm 1971, gió bấc, rét căm căm và lất phất mưa phùn, anh Phạm Hổ ho nhiều, mặc dù đã quấn chiếc khăn len to xù, đạp cái xe Liên Xô cao lêu đêu mà từ xa đã nghe tiếng lọc xọc, lạch xạch. Anh đưa tôi tới nhà bác Hoài Thanh ở cùng phố với toà soạn. Bác Hoài Thanh, rất gầy, giọng nói yếu ớt, nói chậm, nói ít, nhưng lượng thông tin trong câu chuyện lại nhiều. Từng lời, từng chữ, cân nhắc và chính xác, bác nhận xét về những bài thơ của tôi mà bác đã đọc trên bản thảo, qua đó, đoán về tâm tính của người viết, tôi càng ngẫm về sau, càng thấy bác "bói" đúng quá. Sau ít phút trao đổi với anh Phạm Hổ, bác nói báo Văn nghệ sẽ in cho tôi hai bài trong số Tết sắp tới (tháng giêng năm 1972), sau đó in tiếp một trang, sau đó nữa, là bài phê bình của Hoài Thanh về một số bài thơ của tôi... Tôi lại ngẩn người, ngỡ là mình nghe lầm. Nhưng mọi việc đã diễn ra tuần tự đúng như lời bác nói.

Vậy là, bài thơ đầu tiên của tôi được in trên báo Văn nghệ cách bài thơ đầu tiên tôi gởi tới báo Văn nghệ đúng mười năm trời - mười năm lẳng lặng viết, lẳng lặng gửi, và lẳng lặng chờ đợi.

Người thầy đầu tiên

Người đầu tiên của toà soạn báo Văn nghệ mà tôi được gặp, cũng chính là người thầy đầu tiên dạy và dỗ tôi làm thơ một cách độc đáo nhất, là anh Trang Nghị.

Tháng 8 năm 1966, tôi là lính Thông tin, binh nhất, giữ đường dây liên lạc quân sự ở Hải Phòng. Nhà báo Trang Nghị tới đơn vị tôi để viết bài. Tôi thuộc loại chiến sĩ đang nổi, có thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu, bí thư chi đoàn, được đơn vị chọn ra để làm "nhân vật" cho nhà văn, nhà báo. Nhà văn, nhà báo quần tôi một ngày ròng, nào là "bối cảnh" các trận máy bay Mỹ oanh kích ác liệt nhất, nào là băng qua bom đạn nối đường dây liên lạc thế nào, tâm tư tình cảm ra sao, rồi lý lịch, quê hương bản quán... cho đến khi chả còn gì để mà khai báo nữa, tôi mới hỏi: nhà báo làm ở báo nào vậy? Văn nghệ! Ôi trời ơi, thế là tôi tóm được một ông Văn nghệ đây rồi! Tôi liền trút bầu tâm sự, ca cẩm... Anh Trang Nghị ôn tồn giải thích" bài vở gởi về toà soạn nhiều vô kể, biên tập viên không tài nào đọc cho xuể, bạn viết phải thông cảm cho báo, và nên kiên nhẫn gởi bài cho báo, gởi tiếp đi... Tôi quần lại ông Văn nghệ bằng cách đọc liền tù tì một thôi một hồi những bài thơ mà tôi sắp gởi tiếp cho báo Văn nghệ đây. Anh Trang Nghị cười hớ, hớ, hớ... Tiếng cười thật hồn nhiên, sảng khóai. Giọng Nam bộ thật diễn cảm: "Thơ chú mày dở ẹt!" Tôi đề nghị anh dạy cho tôi vài bí quyết, làm sao cho thơ hay lên được? Anh Trang Nghị gãi gãi vành tai, nói thản nhiên như không: "Dễ thôi mà, mày cứ đọc báo Văn nghệ ba năm liền là thơ của mày sẽ hay lên liền" và anh lại cười một tràng dài hớ, hớ, hớ...

Từ đó, tôi không gặp lại anh nữa. Cũng không thấy bài viết của anh đâu. Nghĩ mà buồn, mình muốn làm tác giả trên báo Văn nghệ đã không được, làm nhân vật trên báo Văn nghệ cũng không xong, thôi thì cứ theo lời khuyên của "thầy" Trang Nghị mà làm bạn đọc của báo Văn nghệ vậy. Khốn nỗi, cũng không có báo Văn nghệ mà đọc nữa. Tôi lang thang nay đây mai đó theo các tuyến đường dây liên lạc, hoạ hoằn mới vớ được một số Văn nghệ đã cũ rích.

Mãi cho tới cuối năm 1973, khi được tặng giải nhất cuộc thi thơ 1972- 1973 (cho trang thơ đầu tiên của tôi in trên Văn nghệ), tôi mới mò tới toà soạn lĩnh tặng phẩm, bất ngờ gặp lại anh Trang Nghị. Anh bắt tay chúc mừng tôi trúng giải. Tôi hỏi, anh có nhớ tôi không? "Không! - Anh Trang Nghị nói, tao đã gặp mày hồi nào đâu mà nhớ". Tôi kể lể: "Cái hồi ở Hải Phòng..." "A a... Tao nhớ ra rồi, nhớ ra rồi... đúng rồi... Tao phải đãi chú mày một chầu bia mới được". Anh kéo tôi ra quán bia hơi góc đường Trần Hưng Đạo - Phố Huế, lấy cái nắp hầm cá nhân làm mâm, bày lên đó mấy vại bia sủi bọt cùng một đĩa lạc rang húng lìu. Chúng tôi ngồi xổm, vừa uống bia hơi vừa ôn lại cái thời Hải Phòng bị oanh kích ác liệt, và tôi kể anh nghe công việc của tôi lúc này... Sau vài vại bia, anh Trang Nghị sôi nổi hẳn lên: "Mày thấy chưa, anh mày nói có đúng không nào, cứ đọc báo Văn nghệ ba năm là nên người". Anh lại cười một tràng dài hớ, hớ, hớ...

Năm 1976, tôi lại cùng anh Trang Nghị làm việc cho tờ Văn nghệ giải phóng, cùng ở một chung cư. Bây giờ tôi là bạn nhậu của anh rồi, thỉnh thoảng hai thầy trò gật gù với nhau, nhắc lại cái ngày xửa ngày xưa, cái lần gặp gỡ ở Hải Phòng, cứ ngỡ là thoảng qua, mà hóa ra một kỷ niệm thật nhiều ý nghĩa.

Còn nữa

N.D.

3-1983

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

 

11.8.26

Thông báo mời họp

Kính mời:

-  Các đồng chí trong Thường trực Ban liên lạc.

-  Các đồng chí chi hội trưởng (hoặc phó) các chi hội thuộc Hội truyền thống Thông tin liên lạc khu vực Hà Nội.

Thường trực Ban liên lạc Hội kính mời các đồng chí chi hội trưởng (hoặc phó) đến nhận bằng – quà - thiệp chúc thọ và thiệp – quà chúc Tết Xuân Đinh Mùi -  2027 của Đảng ủy Bộ tư lệnh Binh chủng Thông tin và của Hội truyền thống Bộ đội Thông tin khu vực Hà Nội.

Thời gian : 9 giờ 00, ngày 15/8/2026.

Địa điểm: Tại d76/L205 BCTT (vào cổng 210 đường Hào Nam, Hà Nội).

Vậy kính mời các đồng chí chi hội trưởng (hoặc phó) tới nhận về tổ chức cấp bằng – quà – thiệp mừng thọ và chúc Tết  cho các hội viên (theo quy chế) nhân kỷ niệm lần thứ 81 năm Ngày truyền thống vẻ vang của Bộ đội TTLL Anh hùng.

Hội cũng trân trọng mời các đồng chí Trưởng – Phó Ban liên lạc và các đồng chí Ủy viên thường trực Hội cùng dự để cuối buổi có hội ý Thường trực Ban liên lạc Hội chuẩn bị cho một số hoạt động cuối năm 2026, đầu năm 2027.

TRƯỞNG BAN LIÊN LẠC

Vũ Dương Nghi

10.8.26

Chiếc kẻng làng tôi

Đặng Trường Lưu

Quả bom này cô đội trưởng moi lên

Trong trận đánh dạo làng tôi thi cấy

Quả bom câm, từ đấy

Nói cười...

 

Chiếc kẻng làng tôi

Sáng chưa tỏ mặt người

Đã gọi mây trời bừng tươi vụ gặt

Âm vang như nỗi niềm của đất

Giục đường cày mùa gieo vãi sinh sôi

Trong ngõ nhỏ ngợi ngời

Đàn em đi học

Dự kiến tương lai xếp đầy nơi cặp sách

 

Chiếc kẻng là người lính gác

Mắt dõi nhìn đi xa xôi

Báo đạn lên nòng

Báo giặc bị bắn rơi...

 

Khi kẻng báo yên rồi

Trời xanh hơn trong hố bom đầy nước

Bóng cô dân quân soi mình sửa tóc

Máy lại cày, đồng trước giục đồng sau.

 

Tiếng kẻng khua vào đêm sâu

Già trẻ gái trai tụ đầy sân đội

Chuyện cần bàn

Như thóc về sân chật chội:

Thóc sân nào đã quạt sạch phơi khô

Chuyển ra tiền phương gấp!

Trai làng ai khỏe nhất

Tòng quân!

Giống lúa nào cấy trước? Mạ cần ngâm!

Xây nhà trẻ, cử thêm người trực chiến...

Bao nhiêu chuyện ùn ùn kéo đến

Khi tiếng kẻng khua vào trong đêm

 

Tiếng kẻng là con đường không tên

Nối làng tôi với mọi chiến trường

Là nhịp cầu, nhịp thang hối hả

Cho cuộc đời đi lên

 

Chiếc kẻng là quả bom câm

Treo lủng lẳng cành đa bom phạt cụt

Chiếc kẻng ngày ngày nói hết

Những gì làng tôi đang làm và đang nghĩ suy!

Tháng 12 năm 1971

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

8.8.26

Kỷ niệm nhỏ về phòng Hồ Chí Minh

Nguyễn Việt Hồng

Năm 1963 tôi được cử sang Liên Xô học. Với vốn tiếng Nga "tàm tạm", sau giờ học tôi hay "lang thang" vào các thư viện, nhà bảo tàng của thành phố Kiev - nơi tôi chuyên tu - thủ đô của Ukraine. Tôi còn đến các câu lạc bộ sĩ quan, một số phân đội của Trường Sĩ quan Thông tin - Bộ Quốc phòng Liên Xô - mang tên Kalinin, vùng Pa Đôn, trên bờ sông Đơ-nhi-ép. Tại các đơn vị này, tôi thấy có một "phòng Lênin". Với một không gian khoảng trên dưới trăm mét vuông, "phòng Lênin" được trưng bày các tranh, ảnh về tiểu sử, hoạt động của Lênin, tác phẩm của Người, lối dạy của Người đối với thanh niên, học sinh, chiến sĩ... Trên bàn, có rất nhiều báo. Trong tủ, xếp không ít các sách viết về truyền thống quân đội, về chiến tranh giữ nước vĩ đại, về lịch sử đơn vị...

Phòng thu hút khá đông học viên, chiến sĩ đến đọc báo, sách và thường xuyên được bổ sung nguồn tư liệu. Đôi lúc tôi còn được thấy gia đình học viên đến thăm vào phòng này tìm hiểu một vấn đề gì đó, chụp ảnh chung dưới chân dung Lênin...

Mãn khóa học, về nước tôi được cấp trên giao "làm" Bảo tàng Thông tin. Tôi nào đâu phải cán bộ văn hóa, hơn nữa là cán bộ bảo tàng - một ngành khoa học nghiêm túc. Nhưng đại đội trưởng cũ của tôi từ năm 1949, Tư lệnh Thông tin Hoàng Niệm cũng học ở Liên Xô về, biết tôi đã từng được tham quan Bảo tàng Nghệ thuật Tạo hình Nga, Bảo tàng Lực lượng vũ trang Ukraine, Bảo tàng Septrenko... Ở Kiev, lại có cả mấy bộ bưu ảnh. Ông bảo: "học rồi làm, vừa học vừa làm, vừa làm vừa học".

Tôi "bổ nháo bổ nhào" đi quan sát các bảo tàng ở Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Thái Nguyên. Tôi xin được dự học lớp bồi dưỡng cán bộ văn hóa của Bộ Văn hóa... Công việc đang tiến hành, thiết kế, viết đề cương chính trị... thì xảy ra chiến tranh biên giới. Mọi việc đành gác lại. Tôi lại chuyển sang đơn vị khác.

Năm 1985, nhân kỷ niệm 40 năm Bộ đội Thông tin, tôi trở lại "làm" Bảo tàng Thông tin. Bảo tàng đã được khánh thành đúng hẹn vào ngày 9 tháng 9 cùng năm.

Hết nợ "bảo tàng" tôi suy nghĩ đến phòng Lênin ở Liên Xô. Khó có thể xây dựng bảo tàng, nhà truyền thống cho mọi đơn vị, nhất là ở các cấp tiểu đoàn, đại đội, trạm... là những phân đội cơ sở, phân tán của bộ đội Thông tin. Một "dạng" nhà truyền thống "con" mang dáng dấp như "phòng Lênin" có thể vận dụng vào Việt Nam được không? Đặt tên là gì? Nội dung ra sao? Nguồn tư liệu, tài liệu, cơ sở vật chất, kinh phí, biên chế sẽ thế nào?

Nhân một lần đi họp "trên" Tổng cục Chính trị, tôi báo cáo sơ qua suy nghĩ của mình với Phó Chủ nhiệm Đặng Vũ Hiệp. Đồng chí Hiệp nói: "về làm đề cương đi".

Sau khi làm đề cương, được Bộ tư lệnh Thông tin thông qua, tôi gửi lên Tổng cục Chính trị và được hồi âm là "cho phép làm thử".

Tôi bắt tay thực hiện ngay tại một phòng khoảng 50 mét vuông của Bảo tàng Thông tin. Phòng này có tên là "phòng Hồ Chí Minh" gồm có mấy nội dung như sau:

1. "Đất nước Việt Nam tươi đẹp, Tổ quốc ta anh hùng, ta phải xứng đáng là con dân đất Việt"

Nội dung này có các tranh ảnh về đất nước, chân dung các vị anh hùng cứu nước, các danh nhân văn hóa...

2. "Đảng ta rất vĩ đại”

Trong phần này có các ảnh chụp, bút tích, hiện vật phục chế, truyền đơn... kể về hoạt động của Bác Hồ, về các lãnh tụ, chiến sĩ cách mạng, những tháng năm nô lệ dưới thời Pháp thuộc, phong trào cách mạng - yêu nước của nhân dân ta để giành chính quyền, thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược...

3. "Quân đội ta rất anh hùng"

Được thể hiện bằng sơ đồ phát triển lực lượng vũ trang, chân dung một số anh hùng, chân dung tất cả các Anh hùng Thông tin kèm theo chú thích tiểu sử, một số thư từ, bài báo ca ngợi thành tích, bản sao lời tuyên dương các đơn vị Thông tin anh hùng.

Ba nội dung này được đưa lên diện tích trưng bày trên tường, số rất ít còn lại được bố trí trong mấy tủ nhỏ, thấp, vừa tầm đọc.

Trong "phòng Hồ Chí Minh" còn bố trí một số bàn ghế, trên có báo Tiền Phong, Phụ nữ, Quân đội nhân dân, Nhân dân, báo Thông tin, tập san in rônêô hay viết tay... của các đơn vị Thông tin, báo tường, báo tranh... được giải thưởng sau các kỳ thi từ các đơn vị Thông tin gửi lên. Các sách viết về thông tin như: "Giữ vững đường dây", "Giao liên trên tuyến đầu Tổ quốc"... được treo trên "dây sách" có thể lấy ra, đặt vào dễ dàng. Giữa "phòng Hồ Chí Minh" đặt một tượng bán thân Bác Hồ, trên nền cờ Tổ quốc. Cạnh đấy là một đài thu thanh, khi cần phát tin tức, hoặc truyền đi các bài hát, bản nhạc nhẹ. Một số lượng không ít các sách, báo văn hóa, văn nghệ được đặt trên giá sách đặt ở cuối "phòng". Một lọ hoa, với những bông hoa đẹp, cắt từ vườn hoa đơn vị ra, được đặt dưới tượng Bác, một số "đĩa hoa" đặt trên các bàn.

"Phòng Hồ Chí Minh" được giao cho một đoàn viên xuất sắc, ưu tú của chi đoàn đứng ra quản lý, giới thiệu.

Sau một thời gian chuẩn bị, hoàn thành, chúng tôi được đồng chí Đặng Vũ Hiệp đến kiểm tra.

Đồng chí xem tỉ mỉ từng bức ảnh, tấm tranh, đọc kỹ những câu chú thích, hỏi cảm tưởng, suy nghĩ của một số cán bộ chiến sĩ được mời lên thăm quan. Quay lại phía tôi, đồng chí hỏi:

- Một phòng thế này hết bao nhiêu kinh phí?

Tôi trình bày là chủ yếu tiền dùng vào việc mua ảnh, tài liệu. Còn "công xá" trang trí, vẽ tranh là do Đoàn thanh niên làm, sách báo xin ở thư viện vốn đã có kinh phí... Tổng số ước chừng...

Đồng chí Đặng Vũ Hiệp nói:

- Có thể chấp nhận được "phòng Hồ Chí Minh" với kinh phí, nội dung, tổ chức này. Bây giờ "mình" (đồng chí thân mật bảo tôi) cho cậu ít tiền làm thử ở một số đơn vị, tính chất khác nhau, xong, tổng hợp báo cáo lên. Nếu Tổng cục thông qua cho tiến hành trong toàn quân, sẽ đặc cách phong cậu làm "tiến sĩ".

Đầu năm sau và tiếp sau đó chừng hết năm, tôi và một số đồng chí trợ lý bảo tàng đã đi xây dựng "phòng Hồ Chí Minh" tại một tiểu đoàn học viên Trường Kỹ thuật Thông tin, tại Bệnh xá Thông tin, một đơn vị quân bưu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, một đơn vị vô tuyến điện hoạt động trên đất bạn, một số phân đội thông tin Phòng không - Không quân, Quân khu 7 và một đơn vị ở Phnôm Penh.

Cuối năm 1986, sau khi nhận được báo cáo tổng kết và cử người đi kiểm tra, Tổng cục Chính trị đã có chỉ thị bước đầu, lần lượt tổ chức "phòng Hồ Chí Minh" tại một số đơn vị thí điểm, sau đó tiến hành nhân rộng khắp trong toàn quân.

Trong mấy năm gần đây, tôi có dịp được đến thăm các "phòng Hồ Chí Minh" ở một số đơn vị bộ đội đóng quân tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cao Bằng, Đồng Tháp, Cần Thơ, Quảng Bình... đều thấy tổ chức khá phong phú, đã có thêm tivi, có nơi còn kết hợp đọc báo hàng ngày vào buổi tối cho đơn vị, làm lễ kết nạp đoàn viên, đảng viên, chụp ảnh các chiến sĩ thi đua, kể chuyện truyền thống, tiếp đón đại biểu nhân dân địa phương. Cũng còn có "phòng" sơ sài, và nội dung hoạt động còn nghèo nàn... chắc chắn sẽ được uốn nắn, bổ sung và hy vọng sẽ "giàu, đẹp" hơn.

Hẳn là "phòng Hồ Chí Minh" có mang lại một "cái gì đó" trong giáo dục lòng yêu nước, tự hào về truyền thống của cha, anh... có đóng góp ít nhiều vào sức mạnh văn hóa, chiến đấu của chiến sĩ, nên đã được coi như một "biên chế chính thức".

Phải chăng nơi đây đã mang tính chất một "điểm văn hóa" trong tế bào cơ sở của lực lượng vũ trang, một sức mạnh tinh thần của nhân dân ta để chiến thắng nhiều kẻ thù trang bị vật chất hơn ta? Phải chăng "nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh" thêm một bước nữa, đã đến với các thế hệ chiến sĩ trẻ trong quân đội Người đã sáng lập, rèn luyện, dẫn dắt đến chiến thắng hoàn toàn.

Trở lại lời hứa của Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp. Có lần gặp Thượng tướng, tôi có nhắc lại lời hứa ấy. Thượng tướng đập tay vào vai tôi nói:

- Nhớ dai thế! Mình nghe cậu là tiến sĩ rồi cơ mà.

Tôi vẫn cố nài:

- Thưa anh, mới có "phun thuốc sâu"1 thôi ạ!

N.V.H.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

-------------------------------------------

1 Viết tắt pts, câu nói vui chỉ phó tiến sĩ. 

6.8.26

Đi từ một tờ tin Binh chủng

Nguyễn Thụy Kha

Khi tôi từ bộ binh chuyển sang Binh chủng Thông tin làm lính vì được phát hiện là kỹ sư thông tin thì tờ tin của Binh chủng đã khá vững chãi. Tôi nhanh chóng biết đến những tên tuổi đại diện cho "nền văn minh Binh chủng" này. Đó là anh Nguyễn Văn Khoan, thường hay ký Việt Hồng, linh hồn của tờ tin từ ngày khởi sự. Anh Khoan bây giờ đã về hưu và thường cộng tác với tạp chí Xưa và Nay. Đó là Nguyễn Duy nổi tiếng với những bài ca dao về đường dây và tấu "Cóc", tấu "Cáp". Con người thấp bé nhỏ thó ấy khi diễn tấu, cái duyên nở bung ra như ngô rang. Khi tôi gặp Duy, anh đã được giải thưởng thơ và đang theo học... Tổng hợp Văn. Ở chiến trường, tôi nghe phong thanh Duy bị "dính" cái nạn vì bài thơ nào đó, rất nguy hiểm. Và Duy cứ long đong như thế cho đến những ngày đầu giải phóng, mãi mới kiếm được chỗ cư trú ở Sài Gòn. Bây giờ, khi tôi viết những dòng này thì Duy đang ở Mỹ cùng Văn Lê, Cao Tiến Lê và Chu Lai. Mới thấy cái  nghiệp văn, nghiệp báo nó... ghê cả người. Đó là Phạm Đức, với những bài thơ ngắn mơ màng tình rừng, tình biển, hun hút dọc tuyến thông tin. Số phận của Đức long đong cũng không kém, long đong vì một cái gì không rõ rệt. Nhưng đến khi ra khỏi Quân đội, chân dung của Đức là một khối im lặng thu mình trong bộ quần áo xanh bạc phếch, đầu đội mũ nan. Ra khỏi Quân đội, Đức cũng thôi làm báo và chuyển sang làm xuất bản cho tới hôm nay và đã tươi vui hơn xưa. Đó là Phạm Khắc Vinh tài hoa - chàng trai Bình Định - thường gọi là Vinh "lé". Vinh "lé" sùng sục viết tin, làm thơ, viết văn xuôi và... viết ca khúc. Vì tài viết ca khúc mà Vinh "lé" rời khỏi bản tin về làm tuyên truyền văn hóa. Trong chống Mỹ, Vinh đã nổi tiếng với bài "Em nguyện làm cầu nối bến anh qua" và truyện ngắn "Chuyện tình cờ". Anh là một trong không nhiều các nhạc sĩ ở Binh chủng biết phối khí dàn nhạc mãi cho tới 1985 đột ngột quay lại viết văn và giật ngay giải nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ với truyện "Trái chín". Vinh "lé" rời Binh chủng vào Quân khu 7 hồi 1984 và ra đi khỏi cõi đời quá sớm trong cuối thu 1991. Không chỉ có "hồng nhan bạc phận" mà "tài hoa cũng... bạc phận" lắm. Hôm nghe Thu Bồn báo tin Vinh "lé" mất cùng lúc ở Hà Nội đưa đám Tô Hà, cổ họng tôi chợt đắng ngắt. Một giọt nước mắt chia về hai phía mất mát.

Người gắn bó với tờ tin khá lâu và trở thành người phụ trách nó, đó là Quang Chuyền. Thời kỳ ấy, bản tin cũng có vẻ thịnh vượng nhất. Chúng tôi gồm: Lương Văn Tăng, Nguyễn Văn Tâm, Trường Lưu, Trung Tín (nhiếp ảnh), Nguyễn Văn Bồng, Nguyễn Bá Tòng, Nguyễn Bắc Việt (3 chàng này bây giờ là những "sếp" chương trình ở Truyền hình Việt Nam). Thanh Hải - nữ phóng viên duy nhất bản tin và tôi. Bản tin ngoài in các tin tức thông tin trong Binh chủng còn in thơ và nhạc nữa. Nhiều tên tuổi hôm nay cũng bắt đầu từ những bài in ở bản tin này. Đó là Nguyễn Quang Lập, Lê Mạnh Tuấn, Nguyễn Ngọc Phú, Lê Như Tiến, Ngọc Hoà, Huy Thiêm v.v... Cũng có một đường thông, một lối đi là từ bản tin này nhập vào báo Quân đội. Đó là lối đi của Quang Thống, Hồng Đào, Trung Tín, Huy Thiêm v.v... Riêng Hồng Diệu thì từ những tin kỹ thuật lại trở về làm lý luận văn học ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Bây giờ, Quang Chuyền đã cư trú ở Sài Gòn. Hình như đã về hưu. Lâu không được đọc thơ anh. Còn trụ lại ở bản tin trong cái năm kỷ niệm 70 năm Báo chí Cách mạng và 50 năm thành lập Binh chủng chỉ còn Lương Văn Tăng và Thanh Hải. Dù đây là một thực tế phù hợp, vẫn thấy trống trải.

Đi từ một tờ tin Binh chủng, có biết bao tên tuổi lớn lên, trưởng thành và đã... già đi. Thời hôm nay, chắc chẳng bao giờ còn lối đi đó nữa. Ngoái lại, mới thấy quý cái truân chuyên mà không dễ thời nào cũng có được của cái nghề làm báo, dù chỉ là làm báo ở một tờ tin khiêm tốn của Binh chủng, của sư đoàn xưa kia.

N.T.K.

Lao động 20-6-1995

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005) 

4.8.26

Nhà văn Vũ Bão đi chiến trường với các chiến sĩ quân bưu

Phạm Đình Trọng

Báo Gia đình - Xã hội số 90 ngày 27 tháng 6 năm 2004 có đăng bài viết của Trần Thanh Hà: "Nhà văn Vũ Bão nửa đời viết văn chui", một bài viết vui, giống như cách nói, cách kể chuyện rất vui, rất hóm của nhà văn Vũ Bão về một thời có nhiều chuyện cười ra nước mắt. Nhưng có lẽ vì thời gian, vì tuổi tác, vì trí nhớ giảm sút sau cơn tai biến mạch máu não, hoặc cũng có thể nhà văn có dụng ý tạo thêm tình huống cười, thêm một cái "chui" cho câu chuyện thêm vui mà kể rằng: "Biết Vũ Bão muốn đi B mà chưa có nơi nào nhận, Hồ Phương liền giới thiệu với một đơn vị Thông tin. Vũ Bão theo đơn vị này vào Nam, lúc vượt sông Bến Hải và Khe Tre giáp biên giới Việt - Lào, giáp với Thừa Thiên, chỉ huy đơn vị mới biết Vũ Bão không có tên trong danh sách đi B, lại chẳng có tiêu chuẩn cơm gạo chăn màn gì cả. Hóa ra là một anh B chui! Vội vã báo ra Bắc, thì Vũ Bão đã lỡ ở trong B rồi. Hồ Phương bị Bộ tư lệnh Thông tin chất vấn cho một mẻ... Là người lính thông tin đã dẫn nhà văn Vũ Bão về đơn vị đi B, tôi còn nhớ rõ sự việc đó.

Hồi đó cơ quan Chính trị Bộ tư lệnh Thông tin rất ưu ái mời chào biệt đãi các văn nghệ sĩ về với Thông tin, sáng tác về Thông tin. Hầu hết các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, hoạ sĩ sống ở Hà Nội đều đã được mời đi thực tế ở các đơn vị Thông tin. Đặc biệt Tiểu đoàn 78 Quân bưu như ngôi nhà, như đơn vị công tác của nhiều nghệ sĩ. Biên đạo múa Ngọc Canh, nhạc sĩ Vũ Trọng Hối đã sống ở Tiểu đoàn hàng năm trời. Các bài hát "Anh quân bưu vui tính", "Đường ta đi dài theo đất nước” đã ra đời từ đó.

Từ trong thành Cột Cờ, Bộ tư lệnh Thông tin sơ tán ra Toà án Nhân dân tối cao còn đám lính làm tuyên truyền chúng tôi thì được bố trí ở và làm việc tại trường cấp ba Lý Thường Kiệt đang bỏ trống vì thầy trò đã đi sơ tán khỏi Hà Nội. Một buổi sáng chúng tôi được cơ quan Chính trị điện cho biết có nhà văn Vũ Bão xin đi chiến trường với Thông tin, nhiệm vụ của chúng tôi phải đón ông và dẫn ông xuống giới thiệu với Tiểu đoàn 78 Quân bưu. Lát sau một người đàn ông khắc khổ đi chiếc xe đạp cà tàng đến tự giới thiệu là Vũ Bão. Tôi đã đọc tiểu thuyết "Sắp cưới" của Vũ Bão từ hồi còn đi học nên tỏ ra như đã quen biết ông, thân thiết với ông. Không riêng gì tôi, cả đám lính Thông tin làm tuyên truyền đang tập tọng viết lách chúng tôi là Thượng sĩ Phạm Khắc Vinh, Hạ sĩ Nguyễn Duy Nhuệ (nay là nhà thơ Nguyễn Duy), Trung sĩ Phạm Đức (nay là nhà văn, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Thanh niên), Trung sĩ Phạm Đình Trọng, Hạ sĩ Quang Thống (nay là Thiếu tướng, Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân) đều tỏ cảm tình quý mến ông. Và tôi được phân công lấy chiếc xe đạp "năm không"1 đưa ông xuống đơn vị. Vì muốn được nói chuyện với ông, tôi đi khá chậm. Nhưng đến bây giờ tôi vẫn nhớ sự dè dặt, ít nói của ông hồi đó.

Đến trường Chu Văn An ở đầu đường Thụy Khuê, nơi Tiểu đoàn 78 sơ tán, tôi dẫn ông vào gặp Đại uý, Chính trị viên tiểu đoàn Ngô Văn Chương, truyền đạt lại ý kiến của Bộ tư lệnh đề nghị Tiểu đoàn tiếp nhận và bố trí cho nhà văn Vũ Bão đi chiến trường. Chấp hành lệnh của Bộ tư lệnh Thông tin, Tiểu đoàn 78 Quân bưu đã tổ chức cho nhà văn Vũ Bão đi theo đường dây quân bưu đưa công văn, tài liệu và cả sách báo vào chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên.

Dải đất hẹp cán xoong Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh đang bị đánh phá ác liệt. Cuộc sống ở đây đã quân sự hóa cao, rất khắt khe và đầy khó khăn. Từ Hà Nội vào đến thượng nguồn sông Bến Hải phải qua nhiều cung nhiều trạm, bằng nhiều phương tiện, trong nhiều ngày, nếu không được tổ chức chặt chẽ và trang bị cá nhân đầy đủ sẽ không thể đi nổi! Chỉ riêng việc bảo vệ bí mật các hoạt động quân sự trên con đường chiến lược và bảo vệ nội bộ các đơn vị cũng không thể có người ngoài danh sách hành quân đi theo đơn vị vào đến tận Bến Hải được!

Cũng như mọi văn nghệ sĩ đi thực tế, nhà văn Vũ Bão được Tiểu đoàn 78 Quân bưu đón nhận và tổ chức đi chiến trường như một chiến sĩ của đơn vị. Sau đó một thời gian, đường dây quân bưu lại chuyển đến cho chúng tôi cùng với một ống pháo sáng bên trong có cuộn to những bức tranh màu nước và mực nho của hoạ sĩ Quang Thọ là một bì thư dày đựng hai bài bút ký "Hương Hóa ở đấy có nhiều rừng", "Khe Tre" của tác giả Thích Phong Tùng. Đầu tiên chúng tôi không biết Thích Phong Tùng là ai nên gọi đùa là ông Thích Phóng Túng. Sau mới biết đó là bút danh ở chiến trường của nhà văn Vũ Bão. Lúc đó nhà văn Vũ Bão mới có đứa con trai đầu tên là Tùng và Phong là tên vợ ông. Đi trong dằng dặc nỗi nhớ vợ con, nhà văn Vũ Bão đã gọi tên nỗi nhớ ấy bằng một bút danh của mình: Thích Phong Tùng. Với bút danh ấy ông còn như muốn nói rằng đây là những ngày khổ hạnh đi tu của ông.

Những bức tranh vẽ cảnh sinh hoạt của chiến sĩ Thông tin, bộ binh, giao liên ở cung đường Trường Sơn rất sinh động của hoạ sĩ Quang Thọ, chúng tôi chuyển về phòng Văn nghệ quân đội. Còn hai bài bút ký có bối cảnh là cuộc sống của chiến sĩ Thông tin ngoài mặt trận của Thích Phong Tùng, thủ trưởng cơ quan Chính trị Bộ tư lệnh Thông tin không chấp nhận tên tác giả lại mang vẻ thoát tục, yếm thế và đòi đổi tên tác giả. Ai đã đổi tên thì tôi không biết nhưng tôi nhớ rằng sau đó bài bút ký in trên báo Văn nghệ với tên tác giả là Vũ Văn Bảo, Bảo chứ không phải Bão!

Trong những năm tháng gian nan vất vả, nhà văn Vũ Bão đã đến với bộ đội Thông tin và bộ đội Thông tin đã hồ hởi đón nhận nhà văn, đưa nhà văn vào chiến trường như một người lính Thông tin đi B làm nhiệm vụ, hoàn toàn không phải là nhà văn Vũ Bão đi B chui!

P.Đ.T.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

------------------------------------------

1 Không chuông, không phanh, không chắn bùn... 

1.8.26

Chú em Bình Định

Đặng Trường Lưu

Có đồng chí nhỏ mười lăm

Một đêm cùng giải phóng quân công đồn

Trong cơn mưa đạn dập dồn

Một chân gẫy nát vẫn còn xông lên

 

“Anh à! Bình Định quê em

Dừa xiêm rợp bóng trùm lên thôn làng

Mời anh cứ đến Tam Quan

Hòa Nhơn biển lộng nắng vàng dừa xiêm

 

Nằm cùng một lán đêm đêm

Lại nghe em kể quê em xanh dừa

Em còn má với em thơ

Ba em ngã dưới bóng cờ đấu tranh

 

Giặc về cháy cả dừa xanh

Có bao cô bác hy sinh cùng dừa

Máu loang đỏ đất quê nhà

Đau thương gọi những mầm dừa vươn mau

 

Em theo du kích phá cầu

Mỹ càn diệt Mỹ hố sâu chông đầy

Rừng dừa nay đã “ra tay”

Máu quân cướp nước ngấm đầy vườn, sân

 

Đêm rừng gió thoảng mênh mông

Bên nhà con suối reo trong tiếng người

Nhìn trong đôi mắt sáng ngời

Tôi như thấy cả biển trời quê em

Tháng ngày ngọt nước dừa xiêm

Ngọt như lòng mẹ khắp miền đó đây

 

Một chiều nắng đọng vườn cây

Má gạt nước mắt cầm tay không rời

Tiễn con má dặn mấy lời

“Khó khăn phải ráng theo đòi anh em”

 

Xa rồi bóng má đêm đêm

Nhớ sao ngụm nước dừa xiêm quê nhà

 

Đêm ngày trên bước đường xa

Lại nghe lời má hiền hòa bên tai

Vượt qua núi thẳm sông dài

Cùng quân giải phóng diệt loài xâm lăng

 

Em cười trắng nở hàm răng

Lập lòe ánh lửa tôi châm sáng giường

Anh à! Mấy ảnh rất thương

Cứ nhè “Thằng nhỏ Hòa Nhơn” trêu đùa

 

Trăng khuya lên tự bao giờ

Rừng sâu bệnh viện giấc mơ chập chờn

Ngắm hoài chú bé Hòa Nhơn

Cười trong giấc ngủ rập rờn thảnh thơi

 

Hôm nay mất một chân rồi

Ngày mai sẽ lại về nơi xứ dừa

Nuối nhìn khuôn mặt trẻ thơ

Mà lòng tê tái, trăng mờ khi nao

 

Chắc trong giấc ngủ ngọt ngào

Em đang nghe tiếng rì rào dừa reo.

Tháng 7- 1968

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

30.7.26

Thường trực Ban liên lạc Hội thăm sức khỏe đồng chí Nguyễn Đăng Đằng

Chiều 29/7/2026, sau khi nghe tin đồng chí Nguyễn Đăng Đằng, Chi hội trưởng Chi hội truyền thống Thông tin Thanh Trì bị tai nạn trong khi đi xe đạp tập thể dục, phải cấp cứu tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đồng chí Vũ Dương Nghi, Trưởng ban liên lạc Hội truyền thống Thông tin Hà Nội cùng các đồng chí trong Thường trực Ban liên lạc đã đến thăm, động viên đồng chí Nguyễn Đăng Đằng và gia đình tại nhà riêng đồng chí Đằng.

Chuyến thăm thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Ban liên lạc đối với đồng chí, đồng đội theo truyền thống tốt đẹp của Hội truyền thống Thông tin Hà Nội.

Thường trực Ban liên lạc thăm sức khỏe đồng chí Đằng

Bên giường bệnh tại gia đình, đồng chí Trưởng ban liên lạc đã ân cần thăm hỏi tình hình sức khỏe, đồng thời động viên đồng chí Đằng giữ vững tinh thần lạc quan, tuân thủ phác đồ điều trị, phối hợp tốt với lực lượng y tế để sớm hồi phục sức khỏe, sớm trở lại sinh hoạt bình thường cùng gia đình.

Không chỉ dành sự quan tâm tới đồng chí Đằng, đồng chí Trưởng ban liên lạc còn thăm hỏi, động viên gia đình đã nỗ lực vượt qua khó khăn, chăm sóc sức khỏe trong quá trình cấp cứu tại bệnh viện và điều trị sau khi ra viện cho đồng chí Đằng.

Công tác thăm hỏi, động viên hội viên lúc khó khăn của Ban liên lạc Hội không chỉ mang lại niềm vui cho bản thân đồng chí Đằng trong khi đang nằm bất động trên giường bệnh mà còn là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với gia đình, tiếp thêm động lực để đồng chí Đằng sớm phục hồi sức khỏe, đem lại niềm hạnh phúc cho gia đình và niềm vui cho đồng chí, đồng đội, thể hiện truyền thống tốt đẹp của Hội truyền thống Thông tin Hà Nội.

Quang Hưng