Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng
KHQS
Ngay sau ngày ký Hiệp định Giơnevơ, để đảm bảo sự chỉ
đạo của Xứ ủy Nam Bộ, một đường dây giao liên đã được thành lập. Theo Quyết nghị
của Xứ ủy, các đồng chí Nguyễn Bá Bội, Nguyễn Văn Thược phụ trách tuyến miền Đông
Nam Bộ; đồng chí Nguyễn Văn Tươi, tuyến miền Trung, đồng chí Trần Văn Thẩm, tuyến
miền Tây. Các tuyến đường dây này tiếp tục kế thừa địa bàn và cơ sở của các đường
giao liên đã có từ trong kháng chiến chống Pháp, nay được tổ chức lại cho phù hợp
với tình hình mới.
Từ các tổng trạm giao liên từng miền, hệ thống giao liên
phát triển tới các tỉnh, huyện, xã, tới chi bộ. Giao liên có hai bộ phận: bí mật
và công khai, hoạt động biệt lập nhau, bộ phận này, người này không biết hoạt động
của nhau trong cùng một bộ phận hay khác bộ phận.
Do nhận thức được "giao thông là công việc quan
trọng bậc nhất trong công tác cách mạng", cùng với vô tuyến điện, giao bưu
là một trong hai phương tiện liên lạc cơ bản của cách mạng miền Nam. Trong trường
hợp vô tuyến điện gặp khó khăn và chưa đáp ứng được yêu cầu, giao liên còn là
phương tiện liên lạc duy nhất giữa Xứ ủy Nam Bộ và các cấp.
Trong những năm 1955 - 1956, ở miền Nam có nhiều biến
động. Xứ ủy Nam Kỳ vẫn trụ tại một cơ sở giao liên Sài Gòn, cùng với nhiều cơ
quan khác của Đảng. Từ đây, các đường giao liên mật và công khai nối thông liên
lạc đến các tỉnh, lên miền Đông, miền Tây, đến khu căn cứ và sang nước bạn, xuống
Vũng Tàu - Bà Rịa, nối với các tỉnh Trung Bộ, tiếp với mạng của Khu 5 ra Trung
ương. Con đường mới này được tổ chức lại sẽ là một con đường vận chuyển vũ khí,
khí tài từ miền Bắc chi viện cho miền Nam.
Tại nhà truyền thống của lực lượng vũ trang Quân khu 7,
ngày nay khách tham quan dễ nhận ra số biển xe VNN952 do chiến sĩ giao liên
Nguyễn Hữu Ích đã giả xe Bộ trưởng Nội vụ trong Chính phủ Ngô Đình Diệm, đưa Bí
thư Khu ủy Sài Gòn Nguyễn Văn Linh đi công tác tại Châu Đốc. Cũng chính các chiến
sĩ giao liên Sài Gòn đã đưa một nhà báo nước ngoài đến gặp Bí thư Sài Gòn - Chợ
Lớn ngay giữa đô thành... Nữ giao liên Nguyễn Thị Loan đã chuyển các tài liệu của
đồng chí Lê Duẩn từ nhà số 29 Huỳnh Khương Ninh (Sài Gòn) về các cơ sở...
Sau khi Trung ương Cục miền Nam được thành lập với sự
ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam, tình hình đòi hỏi phải có một
tổ chức giao thông liên lạc lớn mạnh hơn. Vì vậy, ngành giao bưu vận miền
Nam được chính thức thành lập từ ngày 2 tháng 6 năm 1962, do đồng chí Nguyễn
Quyết làm Trưởng ban, hai đồng chí Trần Văn Thâm và Trần Nam Thông làm Phó ban.
Ngành giao bưu vận mới này vẫn kế tục nhiệm vụ ngành
giao liên cũ và đảm nhiệm thêm nhiệm vụ bưu chính vận tải, trước kia chưa có,
hoặc đôi lúc có tiến hành nhưng chưa thành nhiệm vụ chính thức.
Tháng 1 năm 1963, Phòng thông tin Miền Nam (R) được
thành lập mang bí danh J3-X20 do đồng chí Tư lệnh Trần Văn Trà trực tiếp chỉ
huy. Trong biên chế của phòng có các ngành vô tuyến điện, quân bưu, xưởng sửa
chữa, trường huấn luyện và giao bưu vận. Tổ chức này tồn tại cho tới ngày 30
tháng 4 năm 1975. Các trạm được chuyển tên gọi là đoàn. Tổng trạm của Miền tên
cũ là B1 trở thành Đoàn 49. Các đoàn: Đoàn 20 phục vụ ngoại ô, Đoàn 43 đón quân
Miền Bắc, liên lạc chặt chẽ với các T (trạm các tỉnh). Quân số các đoàn đã được
tăng cường. Riêng khu Gia Định - Sài Gòn (T4) có tới trên 300 cán bộ, chiến sĩ giao
bưu phụ trách các tuyến đường trong khu và vươn xa tới Phnôm Pênh, Băng Cốc.
Những ngày đầu mới thành lập, dưới sức ép của kẻ thù ở
vùng rừng núi, trạm giao bưu có thể chỉ là một hòn đá một gốc cây... Sau này mới
có lán, trại hoặc ở một căn nhà của đồng bào. Chiến sĩ giao bưu một mình một trạm,
1 dao xoi đường, 1 xà léc (túi) nhỏ, 1 gùi nặng trên lưng. Dần dần mới có đôi
ba người rồi một tổ, một đội... Họ nhận hàng ở một địa điểm mật, lội suối trèo
đèo... giao hàng cũng ở một nơi kín đáo... Cách mạng càng phát triển, gùi hàng
trên lưng họ càng nặng lên. Nữ đồng chí Y Hà, Y Ngân đã cõng trên lưng có chuyến
tới 100, 110 kilôgam. Dũng sĩ Nguyễn Bồi, ba ngày liền gùi trên cả vai, lưng mỗi
ngày 105 kilôgam...2. Các chiến sĩ giao bưu ở các thành phố cũng hoạt
động rất đắc lực. Năm 1960, đồng chí Tư Bao đã đưa đồng chí Võ Văn Kiệt an toàn
qua vùng Bến Sóc. Trong mùa Xuân Mậu Thân 1968, chiến sĩ giao bưu đã vận chuyển
hàng ngàn vũ khí, đạn dược vào Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn. Trong chiến dịch Hồ Chí
Minh 1975, cũng chính các chiến sĩ giao bưu đã đón các mũi quân ta vào giải
phóng các thành phố.
Có những chiến sĩ giao lưu trong biên chế, nhưng cũng có
rất nhiều chiến sĩ giao bưu là thanh niên xung phong, là thường dân được huy động
từng chuyến, từng mùa, từng chiến dịch. Phần lớn những chiến sĩ giao bưu này lại
là phụ nữ, từ những bà má, em học sinh, cô bán trái cây trên đường phố, đến các
nữ thanh niên người dân tộc ở các làng bản heo hút. Nhiều người bị tù đày, cùm
kẹp, tra tấn nhưng không hề lộ bí mật đường dây trước quân thù. Nhiều bà, chị,
em gái đã được Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Dũng sĩ với nhiều huân chương cao quý. Chỉ
xin nêu tên một số phụ nữ tiêu biểu như: Chị Nam Chiến giao liên của đồng chí
Lê Duẩn, má Hai Khởi giao liên của cô Ba Định, bà Bưng Cần Thơ giả điên dại 20 năm
trời để làm giao liên; rồi các chị: Trần Thị Ba, Mạch Đào, Võ Thị Xem, Nguyễn
Thị Ren, Phạm Thúy Phương, Dư Huệ Liên, má Tư Huynh, Hồ Thị Thu, Ngô Thị Tuyến,
Hoàng Thị Kiến, Y Găm, Y Dàng, Y Hoan, Bảy Thường, Ngô Thị Hoa, Nguyễn Thị
Đùng, Tuyết Mai, v.v... Không phải duy nhất chỉ có "phái nữ" là làm
công tác giao bưu nhưng phải nói rằng hình ảnh các bà và các chị là hình ảnh tiêu
biểu nhất của giao bưu nhân dân miền Nam.
Các tuyến đường giao bưu, trạm và các chiến sĩ giao bưu
trong kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã phải đối mặt với ba đối
phương ghê gớm nhất.
Trước hết là đối với bản thân. Sinh hoạt vật chất ở vùng
đồng bằng, đô thị còn khá hơn, còn nếu ở vùng cao thì đói cơm, đói muối là chuyện
thường xuyên, kéo dài không phải một, hai tháng mà nhiều tháng. Dù đôi lúc có xe,
có ngựa, có voi giúp sức nhưng phần lớn là dựa vào sức người là đôi chân, đôi
vai cộng với sức mạnh của ý chí quyết tâm. Sự hy sinh của giao liên ở cả ba
vùng hoạt động rừng núi, đồng bằng, đô thị là thường ngày. Ở vùng Đồng Tháp Mười,
có thời gian gần như 2 trong 3 chuyến đưa khách đều có giao liên hy sinh. Thế
nhưng điều đáng nói là trải qua trên 20 năm chiến đấu, số chiến sĩ giao bưu đào
ngũ vì không có đủ tinh thần chịu đựng là không đáng kể.
Thiên nhiên với nước nổi, lũ lụt, dốc cao, suối sâu, rừng
dày, thú dữ, rắn độc, bệnh tật, với gió "phớn" - một loại gió đặc biệt
của Trường Sơn, cũng là một kẻ thù rất nguy hiểm cho các tuyến giao liên và chiến
sĩ giao bưu. Không ít lần, các chiến sĩ giao bưu có đi mà không về vì một cơn
lũ bất chợt, vì sốt rét ác tính, vì động rừng, vì chất độc màu da cam, vì sông
nước Tháp Mười, sông Tiền, sông Hậu.
Song kẻ thù thứ ba, kẻ thù nguy hiểm độc ác nhất vẫn là
Mỹ - ngụy. Thoạt đầu, chúng đánh giá thấp khả năng liên lạc truyền tin của ta.
Như Mắc Ga, trưởng phái đoàn MAAG tại Sài Gòn cho rằng: "Nhược điểm thông
thường thứ 6 của du kích "Việt cộng là thiếu thốn khả năng giao thông liên
lạc". Theo Mỹ, căn cứ vào việc trang bị 5000 điện đài cho 1 sư đoàn bộ
binh Mỹ, thì quả là Việt cộng không thể có được sức mạnh về thông tin liên lạc.
Nhưng sau đó, thực tế chiến trường đã làm chúng phải thay đổi nhận thức. Đại tá
ngụy Đỗ Ngọc Nhận - Phó Tổng cục trưởng Quân huấn, trong cuốn sách "Vấn
đề chỉ đạo chiến lược trong chiến trường Việt Nam" xuất bản năm 1970,
đã viết rằng: "Cộng sản coi giao thông liên lạc là một chiến lược" vì
"chính nó đã đảm bảo cho sự chỉ đạo thống nhất từ trên Trung ương xuống
các địa phương. Đó là một yếu tố rất quan trọng, có tính chất then chốt bảo đảm
sự thành bại trong âm mưu thôn tính miền Nam của Cộng sản hiện nay". Và Nhận
kêu gào “phải triệt hạ hệ thống giao liên Cộng sản" coi đó là một nhu cầu
chiến lược, là góp phần phá vỡ hệ thống chỉ đạo chiến tranh của Cộng sản, là
phá vỡ toàn bộ hệ thống vận chuyển lưu thông tiếp tế và cơ động lực lượng của Cộng
sản. Sau khi nhận biết được tính chất nguy hiểm, chiến lược và khả năng giao
bưu vận của ta, Mỹ và ngụy đã giở đủ mọi thủ đoạn để làm tê liệt ngành giao
thông - giao bưu. Chúng đánh phá3, tung biệt kích, bắt bớ các chiến
sĩ, cài người vào hàng ngũ giao liên, kêu gọi đầu thú, đầu hàng, lập ấp chiến
lược "tát cạn ao bắt cá", rải "cây nhiệt đới", làm hàng rào
điện tử để chăn bước chân của chiến sĩ giao bưu.
Song song với việc loại trừ các tuyến giao bưu, Mỹ đã xây
dựng lần đầu tiên không phải trên đất Mỹ mà là ở Việt thống thông tin mang tên
ICS (Integrated Communications System) với 20.000 nhân viên kỹ thuật truyền tin
Mỹ dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng J.Ơn-bơ-rai (Jack Albrigth). Với hệ thống
này, quân Mỹ có thể hành quân, bình định, ném bom theo sự đánh dấu và bắt người
ở bất cứ địa điểm nào ở miền Nam mà vẫn liên lạc được với Sài Gòn, Manila, Băng
Cốc, với nước Mỹ, đến tận bàn tiệc hay thuyền dạo mát của Tổng thống Hoa Kỳ.
Nhưng vượt qua mọi hiểm nguy và mọi thủ đoạn đánh phá của địch, những con đường
giao liên vẫn mở rộng, nối dài, các chiến sĩ giao bưu vẫn gan góc, kiên trì hoạt
động, góp phần cùng quân và dân miền Nam lập nên những chiến công; Phong trào Đồng
khởi 1960, Tết Mậu Thân 1968, Quảng Trị 1972 và cuối cùng là Đại thắng mùa Xuân
1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Không kể hàng vạn lần dẫn đường
đưa đón cán bộ, chỉ riêng về thành tích vận chuyển tài liệu, năm 1965, giao bưu
miền Nam đã chuyển 171 tấn thư từ, công văn, báo chí cho "Hải Yến"
(tên mật của Trung ương cục miền Nam) và cho các "Dì Hai", "Dì Ba",
"Dì Tư" (các cơ quan của Đảng, Dân, Chính). Năm 1974, Tiểu đoàn quân
bưu Bộ Quốc phòng chuyển vào miền Nam gần 31 tấn công văn, thư từ, tài liệu4.
Mỹ-ngụy không thể triệt phá được những tuyến đường giao
bưu, các trạm và các chiến sĩ giao bưu, vì con đường đi của giao bưu là đi
trong lòng dân, trạm giao bưu cũng ở trong lòng dân, chiến sĩ giao bưu là nhân
dân chiến đấu trong một cuộc chiến tranh toàn dân.
Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, toàn miền
Nam đã có trên 4500 liệt sĩ giao bưu, trong đó có hàng chục cán bộ lãnh đạo của
Ban giao lưu, Ban Thông tin Miền, khu, tỉnh, huyện xã. 2000 chiến sĩ giao bưu
là thương binh và còn hàng trăm chiến sĩ giao bưu khác mất tích chưa tìm được dấu
vết.
Năm 1994, tại Tây Ninh, nơi đóng căn cứ của Ban giao bưu
Miền, tượng đài liệt sĩ "Nam nữ thông tin giao bưu" được xây dựng để
tưởng nhớ tới 173 liệt sĩ giao bưu thuộc Trung ương cục miền Nam, đã hy sinh
cho hệ thần kinh, mạch máu của Đảng, của Quân đội...
Giao bưu miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
đã hoàn thành vẻ vang, xuất sắc nhiệm vụ của mình trong những điều kiện khó
khăn, gay go nhất, chưa từng có trong lịch sử của ngành giao thông - thông tin,
liên lạc nước ta.
Đăng bởi Quang Hưng
(nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)
---------------------------------------
1 Danh từ
"Giao bưu" xuất hiện tại miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước,
là viết tắt và rút gọn cụm từ: giao liên, bưu chính, vận tải. Giao liên đón,
đưa, dẫn đường cho "khách". Bưu chính thực chất là bưu tá, chuyển vận
công văn, thư từ, văn kiện. Vận tải là mang vác, chuyên chở tất cả các hàng
hóa, lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược, vũ khí, thương binh, di vật của
liệt sĩ... Giao bưu miền Nam không phải là giao liên của Đoàn 559. Giao bưu là
một ngành của Thông tin liên lạc miền Nam bên cạnh ngành vô tuyến điện và hữu
tuyến điện.
2 Trần
Đình Trực, Báo Quân giải phóng, xuất bản tại Miền Nam, số 4, tháng 11
năm 1964.
3 Ở Trạm A
120 (Vĩnh Long) riêng 3 tháng đầu năm 1974, địch đã phục kích 43 lần.
4 Theo "Trung đoàn 130”, Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc , 1990, tr. 92.





