21.3.26

Tin buồn

Chi hội truyền thống Phòng Quân lực – Hội truyền thống Thông tin Hà Nội vô cùng thương tiếc báo tin:

Đồng chí Đại tá PHẠM THỊNH

Sinh năm 1933; nguyên quán: Xã Minh Thuận, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay là xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình); trú quán: Số nhà 14, ngõ 20, phố Trần Quý Kiên, phường Cầu Giấy, TP Hà Nội; đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; hội viên Chi hội truyền thống Phòng Quân lực, Hội truyền thống Thông tin Hà Nội; nguyên Trưởng ban Quân số, Phòng Quân lực, Bộ Tham mưu Binh chủng Thông tin liên lạc; đã nghỉ hưu.

Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Đồng chí đã từ trần hồi 13 giờ 25 phút ngày 20-3-2026, tại Bệnh viện E Hà Nội. Lễ viếng từ 07 giờ đến 08 giờ 30 phút ngày 22-3-2026, tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng (số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội). Lễ truy điệu và đưa tang từ 08 giờ 30 phút đến 09 giờ ngày 22-3-2026; an táng cùng ngày tại Công viên nghĩa trang Thiên Đức, tỉnh Phú Thọ.

Chi hội truyền thống Phòng Quân lực – Hội truyền thống Thông tin Hà Nội kính báo. 

Mật hiệu

Thanh Thảo

Cô giao liên nhắc lại lần cuối cùng

"Các đồng chí chú ý

Mật hiệu đêm nay: "Bé Bảy"!.

 

Chúng tôi mới từ xa về đây

Cái gì nghe cũng lạ

"Bé Bảy"

Chắc là tên cô giao liên

Cô gái chắc xinh và hiền

Thành khẩu lệnh trang nghiêm đêm vượt lộ

 

Tôi sẽ gọi tên em khi súng nổ

Khi giặc kích lạc đường

Tôi sẽ gọi tên em mà nhận ra đồng đội

Trong bóng tối

Tôi sẽ gọi tên em

"Bé Bảy".

 

Chúng tôi mới từ xa về đây

Đêm kín đáo che gương mặt người em gái

Vùng đất phía nam

Em sẽ dẫn chúng tôi về nơi ấy.

 

Các đồng chí chú ý

Mật hiệu đêm nay

"Bé Bảy!"

Nghe thanh thanh tiếng cô giao liên

Nhắc bằng giọng thật hiền.

 

Chúng tôi nhớ rồi em

Dù có phút nào quên

Suốt đời chúng tôi xin nhớ!

Năm 1977

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

Thuở ấy một bài ca

Đào Xuân Mai

Lại về thắp nén hương lòng

Ấm tình người, giữa mùa đông đất trời.

Tháng năm, năm tháng đầy vơi

Ơi anh, ơi chị sương rơi mái đầu

Giữa đô thành nhớ rừng sâu

Gian lao một thuở chung câu quân hành.

Hoa ngàn đỏ, cỏ ngàn xanh

Điệp trùng non núi đã thành bài ca.

Một thời máu, một thời hoa

Một thời gian khổ thiết tha tình đời

Một thời chung khóc, chung cười

Chung đau, chung đói, chung lời đồng ca

Che nhau bằng thịt bằng da

Thư vợ một lá, cũng là thư chung

Chung nhau cơn sốt rét rừng

Một viên thuốc đắng đã từng sẻ san

Gập ghềnh đèo dốc non ngàn

Vai gầy chung gánh gian nan thuở nào

Vai người thợ những nhịp cầu

Nâng đồng đội vượt sông sâu thác ghềnh.

Phải chăng hỡi chị, hỡi anh

Nặng sâu tình nghĩa nên thành lớn cao?

Bài ca viết thuở gian lao

Vút lên từ giữa chiến hào bom rơi

Một bài ca, một cuộc đời

Mỗi gương mặt một mặt trời yêu thương

Sáng cho nhau mọi nẻo đường

Ấm cho nhau những đêm trường tái tê,

Săn gân vững dạ ta đi

Vai nâng nhà máy hướng về tương lai.

Ngàn cân chặng đường dài

Đồng đội hỡi, máu xương ai mở đường.

Xin về trong ngát khói hương

Nghĩa tình đồng đội yêu thương mở lòng.

Trái tim anh búp sen hồng

Chắt chiu hương để thơm nồng hôm nay

Vẫn xoay cuộc sống tháng ngày

Rừng ơi men vẫn ủ say trong hồn

Một thời chân cứng đá mòn

Hoa lên từ sỏi vẫn còn đâu đây

Đá thành ao đá dựng xây

Hương đời lên giữa bàn tay thợ thuyền...

Đường xa nặng nghĩa trăm miền

Tấm lòng dân chẳng bạc tiền đổi trao.

Trung du tình mẹ ngọt ngào

Thẳm sâu biển cả, vút cao non ngàn

Che bom đạn, sẻ gian nan

Dành cho con cả muôn vàn yêu thương.

Bấy nhiêu năm một chặng đường

Nuôi ta lớn, giữa phố phường hôm nay.

Bài ca thuở ấy còn đây

Nào ai nối nhịp chung tay hát cùng!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

18.3.26

Có một dòng suối văn hóa thông tin

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS

Vào những năm kháng chiến chống Pháp rất ít người trong nhân dân ta, xã hội ta biết đến anh lính thông tin. Nếu là báo vụ, cơ yếu, anh được bảo vệ tại những nơi bí mật. Nếu là liên lạc chạy chân, anh cũng là quần áo bà ba, áo vải thô nhuộm chàm, vượt đường số 6 vai bị, tay gậy như "bờ lờ" (buôn lậu). Và dù cả trên đường Trường Sơn cũng khó khăn nhận ra anh là ai, da tái mét vì sốt rét, đi về đâu, trừ đồng đội anh ở hai đầu trạm.

Hòa bình trên nửa nước có thêm hình ảnh anh lính thông tin "trồng cây leo cột", "tích tà, tích tích". Nhưng thanh niên làm nghĩa vụ quân sự thì lại thích sang pháo binh oai hùng, mơ gì đến anh lính báo vụ "bẹp tai, chai đít". Các cô khoe "gái công trường như hoa thiên lý", và chế “trai thông tin như khỉ leo dây"...

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, các o thanh niên xung phong Quảng Bình lại khá cay nghiệt, khi hát: "Bao giờ thổi tắt đèn pin thì... em mới lấy lính thông tin làm chồng...". Hò lơ...

Chí ít, thì anh lính của binh chủng này chẳng được "người ta" hiểu biết cho "ra ngô, ra khoai".

Thế mà, chỉ vài năm âm thầm tạo dựng, có lẽ lấy mốc từ ngày 28-1-1969, khi Bác Hồ gửi thư khen cán bộ, chiến sĩ thông tin, thì tình hình khác hẳn.

Nhân dân được thông báo qua đài "Tiếng nói Việt Nam" qua buổi "Phát thanh quân đội nhân dân", về thành tích của bộ đội thông tin. Rồi đọc trên báo thấy thông tin, xem phim, càng thương yêu "những cô gái thông tin K6 như Tuyết Lan, Việt Hồng, Dương Thị Lệ Phái...", hiểu rõ hơn lao động vất vả của anh lính xây dựng trong phim "Đường dây quyết thắng". Rồi lại được nghe đài, truyền đi những buổi "Văn nghệ ca hát nghiệp dư" do các đội tuyên truyền văn hóa từ chiến trường trở về của đoàn M30, M34, H05... vừa ca hát, vừa khôi phục thông tin liên lạc, sửa chữa máy móc và khâu vá quần áo cho chiến sĩ, tự biên, tự diễn hoặc thừa hưởng những sáng tác của các nhạc sĩ chuyên nghiệp, quần chúng về anh lính "hải đảo thông tin"... về "Bài ca đường dây" hay "Tích tích tà tà" và các bài ca khúc khác của các nhạc sĩ Huy Du, của Văn An, Đôn Truyền, Vũ Trọng Hối, Nguyễn Đức Toàn, Huy Thục, cả tấu "cóc" của Nguyễn Duy... cả "Vác dây lên gõ cổng trời" của Phạm Huy Thưởng.

Những tổ bảo vệ đường dây hẻo lánh trên biên giới Việt-Lào, những trạm, đài lưu động ven sông Tiền, sông Hậu, ở rừng đước Đồng Tháp Mười Nam bộ, đêm đêm, sáng sáng vẫn được biết đến những thành tích của đồng nghiệp mình trên các mặt trận...

Rồi một loạt sách về gương "người tốt, việc tốt" ra đời, dễ đến vài ba chục cuốn bên cạnh các sách "Tiếng hát thông tin", "Thơ thông tin"... lần lượt xuất hiện các tác giả và tác phẩm: Nguyễn Duy với "Cát trắng", rồi Phạm Đức, Phạm Khắc Vinh, Quang Chuyền, Phạm Phú Nhân, Thụy Kha, Đình Tính, và Nguyễn Cảnh Hưng - gần đây nhất với "Giã từ lời nói dối".

Báo "Thông tin" là một sợi dây đoàn kết, có lẽ vì xinh xắn mà 300 cộng tác viên trong toàn quân đã để ý tới, viết bài, nhận xét, phát hành cho. Báo đã "lần mò" vào tận B2 và đã cung cấp cho làng báo những cái tên mới như: Anh Ngọc, Trung Thu, Quang Thống, Hồng Đào, Huy Thiêm, Lương Văn Tăng, Lê Như Tiến, Phạm Đình Trọng... và hai cô nhà báo: Thanh Hải, Thúy Minh. Bộ đội thông tin nhờ các họa sĩ Văn Đa, Nguyễn Thụ... đã mở đầu toàn quân về một phong trào vẽ, tổ chức triển lãm đầu tiên "Chiến sĩ thông tin vẽ" tháng Mười năm 1969, đã được đồng chí Trường Chinh đến thăm, xem tranh và khen ngợi. Những họa sĩ điêu khắc, giáo viên hội họa sau này có "chân" trong Hội nghệ sĩ tạo hình là những chàng trai đã một thời mặc áo lính, phù hiệu cánh sóng như Nguyễn Cương, Phạm Ngọc Liệu, Duy Độ, Thế Dân, Trường Lưu... và có người "chuyển nghề" như Xuân Hạnh, Minh Chải, Mỹ Bình.

Nhà sáng tác nhạc "Cây nhà lá vườn" gần như trọn đời gắn bó với đề tài thông tin là Phạm Khắc Vinh. Anh đã để lại cho bộ đội thông tin một gia tài không nhỏ về tinh thần mà nay chỉ có thể tìm thấy trong trái tim đồng đội.

Có thể là anh lính thông tin có văn hóa - thấp là lớp 7, vừa phải là lớp 10, 12, cao hơn là sinh viên đại học... Có cả những thầy giáo cấp 2, cấp 3 cũng đã từng là lính thông tin - nên trong sinh hoạt lối sống hàng ngày từ cách ăn nói thanh cao, xưng hô lịch thiệp đến cách sử dụng thời gian nghỉ ngơi giữa hai buổi ca kíp lấy sách ra đọc, học ngoại ngữ, viết nhật ký... xem ra họ "văn hóa lắm"! - đấy là lời khen của dân với bộ đội thông tin Cụ Hồ.

Dù chỉ có một góc rừng, dù chỉ là một không gian ít ỏi trên mặt vách chiếc xe tiếp sức, vẫn thấy họ treo ảnh Bác Hồ, cắm vài bông hoa nhỏ, dán đôi ba tấm ảnh các cô gái xinh đẹp. Doanh trại của họ không nơi nào là không có vườn cây, luống hoa, chuồng trại chăn nuôi, nơi thì dăm con gà, chốn thì vài chú lợn, gây cho khách tham quan một "cái" gì đó “vừa truyền thống, vừa hiện đại", vừa quân đội chính quy, vừa gia đình êm ấm...

Tự hào về truyền thống của cha anh và của thế hệ mình, lần đầu tiên trong quân đội ở các đơn vị cơ sở bộ đội thông tin có Phòng Hồ Chí Minh. Ở trung đoàn, nhà máy, trường học có nhà truyền thống. Bộ đội thông tin đã có một loạt sách viết về lịch sử truyền thống ngành giao thông liên lạc, mà tiêu biểu là cuốn "Lên đường hạnh phúc" của một thầy giáo, một huynh trưởng Hướng Đạo, nguyên Cục trưởng đầu tiên của Cục Thông tin: Hoàng Đạo Thúy... Và từ lâu họ đã chuẩn bị cho một cuốn sử hiện vật: Bảo tàng Thông tin đã mở cửa đón khách đúng vào ngày Bộ đội Thông tin kỷ niệm 40 năm truyền thống, ngày 9 tháng 9 năm 1985.

Danh sách những bộ phim truyện nói về thông tin bắt đầu từ những phim huấn luyện, rồi chuyển sang các phim thời sự "Đường dây quyết thắng", "Những cô gái thông tin K6" (được giải thưởng quốc tế) rồi tiếp theo là những phim về gương người tốt, việc tốt. Sau ngày thống nhất nước nhà, hàng loạt phim truyền thống ra đời. Tuy có đôi ba phim có tính chất như cho "đủ mâm, đủ bát" nhưng dù sao cũng nói lên những hình ảnh pha lẫn quá khứ và hiện đại, nhắn nhủ những người đi sau cần làm thế nào để khỏi phụ lòng cha anh đi trước.

Lính thông tin đâu phải chỉ có ở Bộ Tổng? Họ có mặt ở quân khu, quân chủng, binh chủng, biên giới, hải đảo. Có anh lính thông tin đi mây về gió, có cô thông tin vượt sóng ngàn khơi, có o giao liên mây trắng Trường Sơn quện chặt đôi chân rớm máu... Thế thì làm sao tâm hồn họ không phơi phới... Ngay dù bị câu thúc ngồi trực một mình ở tổng đài, đêm khuya thanh vắng, họ vẫn hòa nhịp đập với trái tim toàn quân, cả nước. Cô gái nhìn hàng “phích" tưởng tượng ra một đội quân chỉnh tề, chuẩn bị diễu hành qua Lăng Bác. Mơ mộng và cũng hiện thực biết bao!

Trước, có người ghét, ghét cái nghề thông tin, ghét lây sang anh em, chị em chiến sĩ thông tin. Dần dần, công luận đã nhận ra cái quý báu của các chị, các anh là giữ im lặng, đứng sau những chiến thắng vẻ vang của đồng đội khi mỗi một - rồi hàng ngàn chiếc máy bay địch rơi – khi cả nước biết đến một Tết Mậu Thân 1968 "thần kỳ", một ngày "30 tháng 4 năm 1975" lịch sử. Hình như các anh, chị vẫn đứng đâu đó e ấp, ngại ngần không muốn nói đến mình.

Nhân dân đã yêu anh chị chiến sĩ thông tin, đã tự hào về con em mình ở một binh chủng đầy chiến công mà vẫn văn hóa, khiêm tốn, nhịn nhường. Các cô gái thành thị đã bị những mũi tên tình yêu thông tin chạm vào cặp mắt xanh của mình vì cảm động nhận được bức thư dán những "5 con tem" như nhạc sĩ Vũ Trọng Hối đã mách nước.

Người ta bảo nhau: thông tin có tình, có nghĩa. Điều này bắt nguồn từ một công tác hiệp đồng tập thể. Riêng một lính, một đài, một máy thông tin chẳng làm nên cơm cháo gì. Chiến tích của anh, chị ghép đôi với của bạn, với người anh em kết nghĩa là bưu điện. Tình nghĩa thông tin đó là những trại trẻ, bệnh xá, nhà an dưỡng, trường văn hóa trong chống Mỹ, đến chút quà vật chất, tinh thần cho các gia đình thương binh, liệt sĩ, cán bộ về hưu, một chuyến xe đi hàng trăm cây số của chính ủy Lê Cư đến thăm một ông lính già đánh máy... Dù sau đó cái việc này có ít nhiều giảm đi, "xuống cấp" đi, nhưng nhìn chung cả một quá trình, bộ đội thông tin "ăn ở" với nhau, với dân, với bạn bè có thể nói là có nghĩa, có tình.

Bộ đội thông tin là một bộ đội có văn hóa giống như bộ đội của toàn quân, nhưng có một cái gì đó khang khác, phải chăng họ hiểu được nguồn gốc sâu xa, tự hào về lời dạy của Bác Hồ: "Việc liên lạc là một công việc quan trọng bậc nhất". Phải chăng cái Tình, cái Nghĩa, cái Tâm, cái Đức, và cả cái Lễ, cái Văn ở bộ đội thông tin đã tạo nên một dòng suối, dòng suối văn hóa thông tin? Bác Hồ đã dặn "Thông tin như mạch máu đừng để vi trùng thâm nhập vào".

Dòng chảy văn hóa thông tin không nên và chẳng nên bao giờ có những gì làm vẩn đục làn nước trong xanh của con suối đó.

Có cái gì đó về vật chất, vi-la (biệt thự), lâu đài, vàng, bạc, danh vọng, chức tước rồi cũng có thể theo thời gian mà "yên nghỉ", nhưng nhân bản của con người, văn hóa của một cộng đồng chắc sẽ tồn tại vĩnh hằng.

Mong làm sao, nếu có thực một dòng suối văn hóa thông tin, dòng suối đó luôn luôn hãy được tiếp nhận thêm những nhánh suối, mạch ngầm mới, luôn luôn trong và mát lành như mạch máu đỏ hồng cầu mà không có vi trùng thâm nhập...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997) 

16.3.26

Báo vụ hành quân

Hoàng Bích Thuỷ

Sương đậu kín lá ngụy trang nóc máy

Chúng tôi bắt đầu nhận lệnh hành quân

Nơi ra đi và nơi sẽ dừng chân

Không được nói chỉ âm thầm lặng lẽ.

Lính báo vụ đến, đi rất nhẹ,

Đôi tai nghe tín hiệu từ xa

Xôn xao trong gió bụi tre ngà

Theo nhịp trống năm ba mươi Đảng gọi!

Hôm nay chúng con hành quân về Hà Nội

Để được gần bên Bác nhiều hơn

Vẫn như cha anh thuở trước Trường Sơn

Khi phát sóng là tấn công diệt giặc

Dẫu mái tóc có ken đầy sợi bạc,

Vẫn cháy lòng vì Tổ quốc bình yên

Trận địa đây rồi, mau chóng dựng đài lên

Bắt ngọn gió phải ngỡ ngàng đứng lại

Lính báo vụ hành quân, hành quân mãi

Tháng năm cùng sóng điện thân thương

Tần số nào cũng để giữ quê hương

Và thắp sáng những chiến công thế kỷ

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

Giọng hát riêng

Tạ Hữu Yên

Tiếng mõ trâu thưa thớt đồi khuya

Bản làng không ai ngủ

Những nòng súng quáng quàng chớp lửa

Những bàn chân quờ quạng đường rừng

Biên giới đêm nay - đêm chiến trận

Núi choàng màu áo lính trên lưng.

 

Xuyên qua tia chớp rạch đầy trời

Vượt Kỳ Cùng mùa nước cuộn sôi

Một giọng hát riêng, không nhầm lẫn

Giọng hát này là của em tôi.

 

"Hoàng Liên Sơn đợi khách sang phà

Ai lên rừng ngắt mấy chùm hoa..."

Lời ca không có trong bài hát

Đấy tiếng chim rừng gửi sóng bay xa.

Đi cùng lưỡi lê vào trận đánh

Cùng nòng pháo đằm trong sương lạnh

Cùng đôi dép cao su đế mòn

 

Cánh sóng bay chon von đầu non

Giọng hát dấy lên luồng gió mạnh

Lời ca là mệnh lệnh

Từ tổng đài thầm thì bốn bề đêm.

 

Em tôi giấu tên

Cái tên có thể trùng một loài hoa thường gặp

Không hiểu sao cánh lính trẻ đôi khi vẫn nhắc

Và đoán mò sau trận đánh thẳng căng

Là Sim, Nhài, Huệ hay Hồng?

Thương cảm thế tấm lòng đồng đội

Chưa thấy khuôn mặt em qua những ngày dữ dội

Nhưng mà yêu cái giọng mát như trăng.

 

Trận đánh chưa dừng, phía ấy - Đồng Đăng

Núi tiếp núi đứng chung đội ngũ

Giọng hát riêng góp vào cơn lũ

Dìm kẻ thù trong lớp sóng trào dâng.

Mùa xuân, năm 1980

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

13.3.26

Cuộn dây trên vai

Nguyễn Trọng Tạo - tặng chiến sĩ đường dây

Trên vai

một cuộn dây đồng bọc nhựa

một cuộn dây

từng mở ra hàng trăm mét, hàng trăm cây số

trên vai

trăng lên bỡ ngỡ

sương phủ phập phồng hương lúa

sao mai...

 

Trên vai

nơi in dấu bàn tay mẹ

từng mọc mặt trời hai mươi tuổi trẻ

những sợi nắng, những sợi gió

chăng qua không gian

chăng qua thời gian

chăng qua xanh trời, nâu đất

chẳng qua sự sống cái chết

chăng qua áo lính bạc màu.

 

Trên vai

một cuộn dây đồng bọc nhựa

nối ngọn dốc này với dòng thác nọ

nối gần bao cuộc chia tay

nối công sự với luống cày

nối căn hầm với mái phố

nối căm hờn và thương nhớ

đảo xa, rừng núi tìm nhau.

 

Trên vai, một cuộn dây

nối bình yên với biến động

nối những tổng kho với những nơi hết đạn

nối ngày thiếu gạo với đồng được mùa

nổi đám mây nắng với đám mây mưa

nối nơi xuất quân với nơi xung trận

nối vị chỉ huy với từng người lính

hy sinh và chiến công.

 

Trên vai, trên vai trĩu nặng ước mong

trĩu nặng lửa khói

trĩu nặng đất đá

sau trận bom bất chợt của quân thù

trên vai

cuộn dây thấm máu

rừng đông lá đỏ rơi đầy

tiếng nói truyền qua vai nhỏ

chạm vào vệt máu còn tươi...

 

Lại vẫn đôi vai lay động nền trời

vẫn trĩu trên vai cuộn dây bọc nhựa

cuộn dây

sẽ mở ra hàng trăm mét, hàng trăm cây số

nối hoàng hôn với bình minh

nối chiến tranh với hòa bình

nối những mầm cây với mùa trĩu quả.

 

Trên vai

một cuộn dây đồng bọc nhựa

nối trái tim với Tổ quốc mình.

Năm 1980

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

Cung đàn ca ngợi

Đặng Trường Lưu

Điệp khúc sớm chiều ca ngợi mùa xuân

Ơi cung đàn đường dây đất nước

Mặt trời đỏ hôn lên chùm sứ bạc

Mỗi chùm hoa là một mặt người.

 

Mỗi chùm hoa là một mặt trời

Bình minh chảy suốt chiều bán đảo

Để một thời chúng ta chiến đấu

Còn nở hồng trên nấm mộ các anh.

 

Để đất đai này là đất đai xanh

Ta đã qua bao cánh rừng tuổi trẻ

Bỗng một ngày như dòng sông gặp bể

Ta gặp lại ta một thuở ban đầu.

 

Một thuở vô tư, một thuở gian lao

Ta tạc mình trên từng thân cột

Bẻ nửa năm cơm, chụm chung mồi thuốc

Lòng bỗng rung như sợi dây rung.

 

Lòng ta mắc võng lại cánh rừng

Ngày sum họp vẫn cùng nhau hát

Tên bè bạn cứ sóng về khao khát

Điệp khúc này chuông điện thoại dư âm.

 

Những đường dây trên đỉnh núi dòng sông

Chảy dọc cùng lịch sử

Mỗi khoảng cột mấy khoảng đời chiến sĩ

Sợi đồng, sợi thép mãi ngân vang.

 

Sẽ kể về các anh người lính dây trần

Vai gùi nặng chân đạp qua chia cắt

Nối nhớ. Nối thương. Nối nam. Nối bắc.

Điệp khúc này trầm bổng giữa mênh mông.

 

Điệp khúc này anh có thấy không?

Năm 1977

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

11.3.26

Lời cây cột ăng-ten

Quang Chuyền

Như một đóa hoa xinh

Xòe ra năm cánh mở

Tôi giơ bàn tay mở

Vẫy mãi về phía em.

 

Loang mãi vào lặng im

Những trùng trùng sóng điện

Nối hai nhịp trái tim

Hai đầu trời trò chuyện.

 

Lòng chứa chan thương mến

Tôi chia đều hai bên

Tôi như là nốt nhạc

Bài tình ca không tên.

 

Tôi nhận từ phía em

Những sắc màu sông núi

Em đón tình tôi gửi

Có khi nào xốn xang.

 

Cơn gió của thời gian

Có bao giờ dừng lại

Cứ thổi qua đời tôi

Những tháng ngày từng trải

 

Vầng trăng như ai gửi

Thương mến vào tay tôi

Vầng trăng vàng trái bưởi

Tôi đỡ trăng cao vời.

 

Khi hướng tôi định rồi

Búp sóng thành bám trụ

Dù có ngày bom rơi

Mặt đất chành nghiêng ngửa.

 

Khi hướng tôi định rồi

Trời không còn xa nữa

Như trong nhà trong cửa

Em luôn về bên tôi.

 

Mãnh liệt đầu ngọn gió

Tôi là cột ăng-ten

Như ngọn bút chỉ lên

Trang sách trời để ngỏ.

 

Giữa hai người báo vụ

Điều này ai hay chăng?

Thức giữa trời không ngủ

Tôi như người lính canh...

Trường Lâm, 1980

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

9.3.26

Ấm tình đồng đội

Lê Tiến Phú

Chiến tranh đã lùi xa

Nhưng nỗi niềm còn đó

Những năm dài gian khổ

Đâu đã dễ quên ngay

 

Hôm nay tôi đến đây

Với nghĩa tình đồng đội

Để thắp mấy nén nhang

Lên mộ mười cô gái

 

Tổ quốc gọi thiêng liêng

Các chị đã lên đường

Tuổi thanh xuân phơi phới

Xông pha mọi chiến trường

 

Đường dây ra tuyến lửa

Thông tin luôn kịp thời

Mặc đạn bắn, bom rơi

Tất cả vì chiến thắng

 

Chiến tranh đã lùi xa

Cùng những năm gian khổ

Cùng mất mát hy sinh

Nhưng đâu quên tất cả

 

Mười cô gái Đồng Lộc

Vang danh đến muôn đời

Mười cô gái "Thông tin”

Vẫn âm thầm lặng lẽ

 

Thắp nén nhang cho cô

Thắp nén nhang cho chị

Thắp nén nhang cho em

Ấm mãi tình đồng đội

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)