14.10.26

Những cơn mưa cuối mùa

Đặng Trường Lưu

Tháng mười Tây Trường Sơn vẫn mưa

Những cơn mưa cuối mùa dai dẳng

Rừng đội cả vòm mây sũng nặng

Suối hung hăng vung sóng đỏ lừ.

 

Lũ chúng tôi dầm mình trong mưa

Đóng sứ luồn rừng kéo dây mải miết

Như thể con tàu lao về phía trước

Toa dài - khoảng cột nối vào nhau.

 

Những cơn mưa đưa mõ gõ trên đầu

Quần áo ướt nụ cười tím ngắt

Trèo lên cây mấy lần trơn tuột

Nghi ngóp nằm hàn nối giữa lòng thung.

 

Thường quên cơm nắm cơm đùm

Thấy mặt trời đâu mà tầm với bữa!

Mưa thì lạnh lòng cồn cào lửa

Dây có thông trong đầu mùa khô?

 

Công việc bộn bề vào cả cơn mơ

Tiếng súng dồn tiếng mưa kêu gọi

Nắn gấp đoạn đường bom dội

Độ chùng trời mưa phải lấy căng hơn!

 

Thư nhà ngọn lửa hơ chung

Mưa ướt nhòe trang giấy mỏng

Khói thuốc quẩn niềm trông đợi nắng

Thèm tiếng trẻ tròn trưa thật trong

 

Như voi đi thậm thịch chân rừng

Dòng suối dòng sông chảy xiết

Những sư đoàn trẩy vào chiến dịch

Giục giã gậy khua

 

Âm thâm rừng cao tiếng hò

Vạch mưa con đường hối hả

Cuối nẻo kia mùa khô giận dữ

Mong chờ...

 

Và lạ thay như hẹn tự bao giờ

Đường dây thông vừa khi rừng lên nắng

Lòng lại nhớ từng cơn mưa dai dẳng

Chúng tôi đi mở tiếp tuyến đường.

Hạ Lào, 1971

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

12.10.26

Nhớ

Đặng Trường Lưu

Một buổi kéo dây đêm

Vượt qua đồng Ngàn Phố

Gió Lào như hun lửa

Đất bom rơi gập ghềnh

 

Chè vườn quê mát lành

Em mời anh “đọi” nước

Những ngôi sao trong mắt

Nâng trời lên mông mênh...

 

Đi qua thời chiến tranh

Có bao điều quên nhớ

Riêng từ đêm Ngàn Phố

Để lòng tôi vơi đầy

 

Nào đã quen giọng nói

Đâu đã kịp cầm tay

Mà vô tình tháng ngày

Đưa đường dây xa mãi...

                 * * *

Trên đỉnh cột đêm nay

Gió rừng rào rạt thổi

Vẫn ngôi sao ngày ấy

Lắt lay xanh đợi người.

Hương Sơn, 1970

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021)

8.10.26

Ở một đoạn đường dây cửa ngõ mặt trận

Đặng Trường Lưu

I

Những lá cờ đỏ rực làm hồng lên cả gian nhà Ban chỉ huy đại đội, hồng lên những khuôn mặt của chủ và khách. Có lẽ màu cờ đã làm tăng thêm vẻ trang nghiêm mà ấm áp, náo nhiệt mà đầy khí thể của buổi đầu tiên về đơn vị. Tôi nghĩ: - Tất cả đã bắt nguồn từ màu đỏ này đây! Đó là cái màu tượng trưng cho sức mạnh của một đơn vị Quyết thắng.

Tôi nâng niu những lá cờ ấy với tình cảm thiêng liêng nhất. Đây là máu và mồ hôi của tất cả những ngày qua. Tôi sực nhớ tới tháng ngày lăn lộn ở chiến trường: Lào và mùa khô cháy bỏng! Trị Thiên Huế và những ngày dựng đường dây tổng tấn công, trút bão lửa lên đầu giặc... Cho đến bây giờ, các chiến sĩ Đại đội 6 vẫn còn kể lại nhiều mẩu chuyện ăn cháo nằm hầm, dựng đường dây trong lòng địch ở mặt trận bắc Quảng Nam. Những câu chuyện bình thường mà đầy vẻ tự hào. Niềm tự hào ấy đang ánh lên trong màu đỏ lá cờ của Trung ương Đảng tặng, lấp lánh trên tấm Huân chương Chiến công giải phóng - phần thưởng cao quý của mặt trận giải phóng. Phải! Niềm tự hào ấy thuộc về những người đi trước, luôn đứng ở đầu sóng ngọn gió của đường dây với danh hiệu “Xung Kích”. Vấn đề chính là phải nắm chắc cán cờ mà phất cho màu đỏ của nó càng rực lên chói lọi. Tổ khúc chèo “Giữ Cờ” của Đại đội 6 đã nói lên điều đó. Và Đại đội 6 đang làm việc đó, náo nức, khẩn trương đầy khí thế hào hùng.

II

Tôi đã gặp Tạ Văn Cửa, một cán bộ tận tuỵ, đầy nhiệt tình và trách nhiệm. Anh kể cho chúng tôi nghe những ngày phục vụ ở chiến trường. Hồi đó anh là cán bộ tiểu đội, tiểu đội của anh khi nhận nhiệm vụ đã vấp phải bao nhiêu khó khăn trở ngại. Nhưng tinh thần trách nhiệm và sức sáng tạo của tập thể đã vượt lên trên hết. Ở chiến trường, có khi chỉ ăn 4 lạng gạo một ngày, tôi hiểu vì sao anh có sức mạnh để làm một nhiệm vụ không phải của anh, vác những bì gạo rơi trên đường vào kho, mặc dù biết rằng vùng này địch đánh phá vô cùng ác liệt. Tôi hiểu vì sao anh đã dũng cảm cùng tổ xung kích dọn sạch bom mìn, mở đường cho đồng đội vận chuyển hơn chục tấn vật liệu đường dây trong tầm đạn địch. Hiện nay trung đội của anh đang giữ lá cờ khá nhất.

Ngô Quang Tráng, một chiến sĩ mới, trẻ và khoẻ như một “ông voi”. Đó là danh thủ chuyển vận của Đại đội 6. Một năm làm nhiệm vụ vận chuyển vật liệu ở chiến trường, mưa nắng Trường Sơn đã làm cho người anh sắt lại. Thời gian cho anh niềm tự hào truyền thống. Chính vì thế mà trước sự khẩn trương cấp bách của nhiệm vụ, anh lao vào phấn đấu như trách nhiệm của chính mình. Đường dốc, không thể gánh, anh gùi 12 xà gỗ, trong khi chỉ tiêu quy định là 6 đến 8 xà. 12 xà gỗ trên vai và thêm 1 thanh xà làm gậy chống để vượt dốc. Câu chuyện quả là thú vị mà ở Đại đội 6, không ai quên được. Chỉ tiêu 2 người khiêng 1 cột sắt trên đoạn đường 2km, mình anh chuyển được 9 cột, vượt 6 cột một ngày.

Đồng chí Lê Thanh Bạt, trưởng bếp B9 dáng người thấp, cái miệng lúc nào cũng tươi. Bếp của anh khá nhất trong đại đội, bữa ăn thường là 4 đến 5 món có hôm tới 6 món. Vất vả là thế mà vẫn tham gia sinh hoạt với đội văn nghệ một cách đều đặn. Anh làm việc tận tuỵ, tất bật với những nỗi lo toan như người chị cả trong nhà. Lửa trời, lửa bếp, lửa lòng hầu như lúc nào cũng rừng rực trong anh.

Đội văn nghệ đang sinh hoạt để chuẩn bị cho chương trình biểu diễn tối nay. Những tiếng hát âm vang đang làm sống lại những ngày tháng dựng đường dây lịch sử. Cứ nhìn lực lượng trẻ và hùng hậu này, thấy ngay được khả năng phát triển của phong trào văn nghệ đơn vị. Đại đội 6 đã chú ý một cách đặc biệt đến những mầm mống đó. Các tiết mục chủ yếu là tự biên. Qua những ngày tranh thủ tập luyện, đến nay, Đại đội 6 đã có thể biểu diễn hẳn một đêm mà vẫn còn dư tiết mục. Đồng chí phụ trách văn hoá văn nghệ của tiểu đoàn bảo tôi: “Đội tuyên truyền văn hoá xung kích của tiểu đoàn thành lập nay mai, chủ yếu nhìn vào lực lượng của Đại đội 6!”.

Ở đây, điều nổi bật là ý thức làm chủ tập thể, vì tập thể mà vun đắp cho truyền thống chung. Cái khí thế bừng bừng “Quyết giữ cờ Đảng” toát ra từ những câu khẩu hiệu trong nhà ban chỉ huy đại đội “...vươn lên giành danh hiệu Anh Hùng…”, trong nhà hậu cần: “Nuôi quân giỏi quản lý tốt, Đại đội 6 quyết tâm thực hiện, mỗi cán bộ và chiến sĩ là một hậu cần viên”, đến những câu khẩu hiệu trong nhà ở của anh em B8 về phong trào rèn luyện 4 tốt và 3 quản...v.v. Cái khí thế ấy, sáng bóng trên những khẩu súng và trang bị được lau chùi thường xuyên đặt trên giá ở nhà ăn B7, toát ra từ những bảng theo dõi thi đua được trang trí trịnh trọng như một tấm bằng khen. Tinh thần công tác qua từng ngày biểu thị bằng màu đỏ hoặc màu xanh của lá cờ nhỏ xíu. Đồng chí Ngọc, tiểu đội phó A8, sau khi sinh hoạt tiểu đội, đang vẽ cờ vào bảng theo dõi thi đua, nói với tôi bằng một giọng băn khoăn: “Trong tuần, tiểu đội tôi bị 2 lá cờ xanh... qua nét mặt anh và không khí buổi họp ban nẫy, tôi thấy được quyết tâm của tiểu đội anh trong những tuần tới.

III

Buổi sáng, trời trong và mịn như má một cô gái. Không khí oi oi báo hiệu một ngày nắng lửa. Tiếng hô khẩu hiệu “Chào mừng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, chào mừng kỷ niệm ngày sinh nhật Bác, quyết tâm giành danh hiệu dũng sĩ điểm cao 409” rung vang cả xóm nhỏ bên rừng, đập vào vách đá chan chan như từng đợt sóng. Cờ, khẩu hiệu, quang sắt, đòn khiêng tua tủa. Đại đội 6 đã mở đầu cho ngày đột kích đưa vật liệu xây dựng đường dây lên điểm cao 409 bằng một cuộc cổ động suốt dọc đường ra tuyến.

Từ đêm qua tôi đã được dự cuộc họp của ban chấp hành liên chi đoàn lần cuối bàn về việc đột kích đồi 409. Tất cả đã được chuẩn bị đầy đủ như một trận đánh. Ai đưa bệ xi măng và cột sắt cắm vào mốc cao nhất trên đồi 409 sẽ là dũng sĩ và được gắn hoa hồng. Đồng chí đại đội phó, đồng thời là bí thư liên chi đoàn tuyên bố “Đợt tiến công bắt đầu!”

Theo hướng tay chỉ của người cán bộ đại đội, tôi nhìn lên 409: đỉnh núi cao vòi vọi kia đã bắt đầu loé nắng. Những đám lá khô của tuyến đường dây mới phát ánh lên màu vàng của nắng. Tiếng hò dô khiêng bệ vượt đồi chốc chốc lại dồn lên. Bốn người khiêng một bệ xi măng, hai người khiêng một cột sắt, tất cả lao lên như một cơn gió chiếm lĩnh đồi cao.

Tôi đã dự ngày đột kích lên đỉnh 409 phía bên kia của Đại đội 4, nhưng so với Đại đội 4, đoạn đường của Đại đội 6 còn hiểm trở gấp bội phần. Từ chân lên đỉnh, quãng đường dài 3km ấy lúc chênh vênh bên sườn đồi cháy nắng, lúc lao xuống vực thẳm, lúc vượt lên dựng đứng tựa bức tường. Các chiến sĩ Đại đội 6, những người từng làm đường dây lên Bắc về Nam, khi đi phát tuyến, cũng đã phải lắc đầu lè lưỡi trước đoạn đường xương xẩu này. Chính vì khó khăn ấy mà mấy ngày trước đây, Ban chỉ huy Đại đội 6 đã vắt óc tìm kế hoạch thực hiện. “Nếu như tiến độ thi công trong bình thường thì một ngày chỉ đưa được một bệ xi măng vào mốc là cố gắng”. Đợt phát động đã mở ra với nội dung đầy tính chất lịch sử của cách mạng hiện tại. Những con người Đại đội 6 có bao giờ chùn bước trong khó khăn.

Hăm hở, xốc tới. Từ dáng điềm đạm không giấu nổi sốt sắng của đồng chí Đại đội phó Nguyễn Thành Lưu đến những bước chân hăm hở của đồng chí Truy, B phó B8 hay đồng chí Biện Phó bí thư liên chi, từ nội dung câu khẩu hiệu cắm dọc tuyến đường đến những hơi thở và bước chân gấp gáp của các tổ khiêng bệ, vác cột, tất cả như rung lên trong nhịp điệu của một cuộc sống vừa được hồi sinh. Nguyễn Đức Ngọc! Quyết tâm thư của anh còn tươi rói những dòng chữ trên tờ báo tường kia đã biến thành sức mạnh, chắp cho anh đôi cánh vượt đồi, đưa một cột sắt đặt vào mốc 140 - tột đỉnh của điểm cao 409. Nguyễn Văn Cảnh hôm qua vừa mới sốt dậy, hôm nay đã dũng mãnh đặt một cột sắt vào mốc 133.

Các dũng sĩ khiêng bệ, áo quần vắt ra nước, tì chặt cánh tay đòn, quyết đưa bệ vào mốc một cách an toàn. Các tổ khiêng bệ của B7 đêm qua vừa họp để thảo ra quyết tâm vượt đồi. Đồng chí Hưng giáo viên văn hoá, cũng trong đêm qua còn chậm rãi đọc cho học viên lớp 3 của mình viết chính tả, tài liệu viết và đọc là cuốn sách Vì nước vì dân...

Nắng bốc lửa ném vào mặt. Nóng hầm hập. Bệ xi măng văn theo người nhích dần từng bước. Các chiến sĩ chia nhau từng ngụm nước, từng điếu thuốc lào. Đứng trên đỉnh cao tràn đầy phấn khởi, những nụ cười như hoa nắng trên vai. Đồng chí Đại đội phó và Tiểu đoàn trưởng đứng ở mốc 133 quan sát “trận đánh”. Một kết quả thật không ngờ: mặc dù ngày phát động đột kích chưa kết thúc, 8 bệ xi măng và 8 cột sắt đã ngự vào trong mốc của đoạn đường khó nhất. Nắng trưa chói chang trong màu cờ đỏ.

IV

Đợt chiến đấu vẫn còn tiếp tục trên cao điểm và suốt tuyến đường dây. Những người chiến sĩ Đại đội 6, trong phong trào xây dựng đơn vị mạnh, toàn diện đang vươn lên với một khí thế chưa từng có. Ở đơn vị này, truyền thống và những niềm vui thường đọng lại thành một chuỗi âm thanh, ngân vang trong tim người chiến sĩ. Họ đang lớn lên theo nhịp bước của toàn tiểu đoàn, trung đoàn, vượt ngàn khó khăn để dành lấy danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. Con người và cuộc sống. Khí thế và chiến công ở Đại đội 6 trong những ngày rực lửa là thế đó. Từ những tiếng hát đường dây vang lên trong khó khăn đến những bài bích báo nóng hổi, từ cái bếp quyết tâm xây dựng tốt đến câu khẩu hiệu và những khẩu súng sáng bóng kia, từ những miếng vườn rau tăng gia, cái xà đơn, hố nhảy đến bảng theo dõi thi đua của từng tiểu đội, từ nỗi băn khoăn vì thiếu cán bộ của ban chỉ huy đến tiếng hò dô dựng cột của anh em... Tất cả đều đang ánh lên một vẻ đẹp của những con người hăng say chiến đấu và xây dựng. Lửa của nắng, lửa những ngày dựng đường dây trên Trường Sơn, lửa từ màu đỏ chói của lá cờ Trung ương Đảng tặng đã và đang tôi họ thành sắt thép.

Quyết giữ cờ Đảng, giữ trọn màu đỏ của chiến công. Đó là mục đích của tất cả những tâm tư và hành động. Đứng vững trên điểm cao quyết thắng vươn tới điểm cao anh hùng, Đại đội 6, của Tiểu đoàn 8 Trung đoàn Thông tin xây dựng đường dây 132 hôm nay là như vậy đó.

Tháng 5 năm 1969

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

3.10.26

Sông lửa

Đặng Trường Lưu

Con đường lầm lũi Trường Sơn

Lúc vắt ngang mây khi nằm đáy suối

Chúng tôi đi qua

Chiều dài bom dội

 

Những mùa khô nước cuốn mù trời

Là lớp bụi khét nồng cháy đỏ

Những mùa mưa sùi sụt đất đai

Bùn nhão nhoét quánh như màu lửa

Ôi dòng sông vất vả chiến tranh

Dòng lính, dòng xe nén lửa trong mình.

 

Sông lửa

Chỉ sau vài phút

Nơi ta qua bom đạn chồng nhau.

Đau rừng cây cụt đầu

Toe dăm gỗ tạc lên trời nhọn hoắt

 

Quân thù đâu cản được

Nước trăm nguồn băng băng.

Chào em cô gái bám đường

Mỗi chuyến xe thông

Phập phồng ngực thở

Tóc rụng đầy vai

Áo quần nham nhở

Giấc ngủ vạc cò trên đỉnh chon von.

Không thể tính ở đây một giá trị tròn

Cho những chuyến hàng vượt ngầm vào trận.

 

Nơi nụ cười thấm qua nước mắt

Vầng trăng ơi lời em mênh mang...

Sao trời soi bóng nước hố bom

Lá cơm nếp đưa mùa vào buồng lái

Tiếng ve sôi như mẹ già kéo sợi

Sông chảy qua đội ngũ mầm măng

Mộc nhĩ hồng ngóng hướng đoàn quân...

Miền Tây Thừa Thiên, 1969

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

1.10.26

Núi quê

Đặng Trường Lưu

“Cháu ạ! Xưa làng ta khổ

Nên Thần giúp đuổi xâm lăng

Giặc tan Người về chốn cũ

Ngựa thành dãy núi quê hương.”

 

Dãy núi sau làng từ chuyện của ông

Rong ruổi dập dồn ký ức

Sớm nắng phơi vàng đỉnh biếc chiến

Sao hôm viền tím lưng chiều

 

Tan học ùa theo cánh diều

Tuổi thơ cười nghiêng ngả núi

Núi tung vó gió tung lời gọi

Lòng còn mơ bay trời xôn xao...

 

“Muốn nhìn xa trông rộng phải lên cao”

Lời ông nội giục cháu con lên núi

Khi “Thần Sấm”, “Con Ma” đền tội

Cả bầu sao ghé núi chia mừng.

 

Núi Ngựa

Núi Đồn

Vời vợi yêu thương.

Thần lại giúp ta những ngày gian khó

Người gọi lớn bao trai làng vạm vỡ

Cầm súng đi, bóng rợp núi quê nhà.

 

Núi xòe cánh ô che chở lời ca

Núi mở lòng hầm

Ru đàn con chiến thắng

Núi thấp núi cao liên hồi kỳ trận

Núi nào cũng dáng ngựa phi.

 

Mơ ước ngày nào từ đỉnh xa kia

Hóa niềm tin khắp nẻo đường kháng chiến

Chúng tôi đi suốt chiều dài kỷ niệm

Bởi núi quê nhà liền mạch Trường Sơn.

Cầu Giát, 1969

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

29.9.26

Trưa nắng trên đường dây

Đặng Trường Lưu (kính tặng Trung đoàn 132 của tôi)

Trưa nắng trên đường dây

Bóng chiến sĩ ôm tròn ngọn cột

Bầy ong say nhụy vàng sắc mật

Tiếng ve sầu sôi trong rừng mây

 

Trưa nắng trên đường dây

Buổi thông tầm hối hả

Kìm siết chặt. Sợi dây vàng lấp lóa

Mồ hôi rơi mặn chát nụ cười

 

Câu hò như lụa vắt ngang trời

Nắng bỗng chơi vơi tuyến đường căng hãm

Lòng xao xuyến ruổi theo lời bạn

Nghe thời gian trỗi dậy tim mình...

 

Quê anh xanh đến là xanh

Dòng sông tựa yếm làng trước gió

Tình quê kiểng thắm làn môi Quan họ

Mảnh trăng treo vò võ đợi ai về.

 

Quê tôi nung đỏ lời thề

Trống Xô Viết rung trời nổi dậy

Mắt em nhìn tiễn đưa ngày ấy

Thao thức hoài suốt dải miền Trung.

 

Xôn xao mùi đất hăng nồng

Seo cầy nghiêng bật mùa gieo vãi

Tháng tám đi qua nắng vàng trái bưởi

(Má hồng em có che khăn?)

 

Mỗi người đi từ nẻo xa xăm

Trăm giọng nói trăm nỗi niềm khác biệt

Buổi đường dây băng vào chiến dịch

Chuông rền ai cũng thỏa lòng vui.

 

Ôi đường dây nối những phương trời

Đường dây chở niềm vui thế hệ

Đường dây như mối tình chung thủy

Chẳng bao giờ lỗi hẹn ngàn quê.

 

Từ nơi đây năm tháng đi về

Mạch máu chảy đều trong cơ thể

Chiến sĩ nghe dư âm bền bỉ

Tiếng lòng mình vang trong nắng trưa.

Bái Thượng, 8-1970

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

26.9.26

Tâm sự

Đặng Trường Lưu

Từ cuối dải Trường Sơn

Ta viết dòng thư gửi bạn

Dưới chân ta con suối dài bất tận

Và miên man là nắng ở trên đầu

 

Ôi lòng ta bỗng thấy xôn xao

Khi nghe tận rừng cao chú gà lên tiếng

Cái rẫy cái nương gợi đồng lúa chín

Đêm sao trời giục hối hả bàn chân

 

Hỡi xóm thôn ta đi từ dạo ấy

Vẫn nhớ đồng xanh nhớ những đường vào

Bao cô gái giỏi tay cày tay hái

Súng bên mình canh giữ trời cao

 

Có còn không? Chín mươi chín giếng xây

Giếng nước xưa phượng hoàng từng soi bóng

Ngụm nước giữa trời trưa lộng nắng

Nhớ ánh mắt người yêu trong gầu nước vơi đầy

 

Ta biết quê ta hiền lành dũng cảm

Một trái bom thù không giết nổi đồng xanh

Một đau thương gọi đồng lên năm tấn

Một tiếng mẹ ru hời gọi lớp lớp đi nhanh

 

Và mẹ của ta ơi mẹ thương yêu

Ngày con đi mẹ không hề khóc

Những buổi trưa hè gió Lào gay gắt

Tan học về cơm chan ngọt canh riêu

 

Mẹ muốn con vào trường đại học

(Được nên người, bằng chị bằng anh)

Con muốn máu quân thù phải đổ

Cho quê hương thảm lúa rờn xanh

 

Ôi quê hương hiện dần trong tâm trí

Mỗi bước đường mỗi bước ta đi

Trên đầu ta trời xanh ánh mắt

Dưới chân ta suối hát thầm thì

 

Ơi con sông Sê Pôn

hay Sê Băng Hiêng hai bờ cát trắng

Rừng tre xanh biếc giấc ngủ trưa

Sao giống dòng Mai quê nhà ta quá

Trăng lành vời vợi đò đưa

 

Có đồng chí giao liên bao năm rồi phục vụ

Thuộc Trường Sơn như thuộc ngả bàn tay

Nghe tiếng Từ Quy nhiều đêm không ngủ

Nhớ làng quê thơm mùi đất luống cày

 

Ta vẫn đi và Trường Sơn lùi lại

Bao bản làng xuân nở trắng mùa ban

Người Vân Kiều da đen màu xứ sở

Khổ đau nhiều đời vẫn hát chứa chan

 

Nhớ hôm nao trong giờ địa lý

Nhìn bản đồ đất nước, đấy! Trường Sơn

Có biết đâu tự bao nhiêu thế kỷ

Mỗi dốc đèo cao như chí hờn căm

 

Ta vẫn nhớ mái trường xưa thân thuộc

Tiếng đọc bài thao thức bờ tre

Nên mỗi lúc giáp quân thù phía trước

Bao người giục xốc thẳng đường lê

 

Và khi bóng thù kia ngã xuống

Ta lại nghe tiếng hát dậy mái trường

Ơi có phải tháng năm tròn thương nhớ

Đường hành quân lồng lộng quê hương

 

Hôm nay cuối dãy Trường Sơn

Ta viết dòng tâm tình gửi bạn

Muốn gửi quê ta cả niềm vui bất tận

Nào bắt đầu:

“Ơi bạn mến thân!”

Đường vào Trị Thiên Huế

Bên bờ sông Sê Pôn tháng 4-1968

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

23.9.26

Một mùa xuân nhớ mãi

Đặng Trường Lưu

Tôi và Thiềng phải nằm lại trạm giao liên T5 do một cơn sốt rét đột ngột. Sau khi bàn giao chúng tôi cho trạm, đơn vị phải hành quân gấp vào tuyến trong. Đó là những ngày cuối năm 1967, một mùa khô dữ dội đã lại bắt đầu từ bên kia dãy núi...

Chỉ một tuần sau Thiềng cắt sốt. Tôi thì cũng đã có thể chống gậy lần từng bậc theo anh xuống bếp ăn, tuy biết trong người còn yếu lắm, vì chiều đến, hai đứa vẫn phải bí mật trùm chăn mà nhảy đến vã mồ hôi, ngăn không cho cơn sốt tai quái chỉ chực quay trở lại. Chúng tôi vẫn luôn đề nghị được rời trạm càng sớm càng tốt để đuổi theo đơn vị. Không thể nằm chờ đến lúc khoẻ hẳn trong khi hàng giờ, chúng tôi linh cảm về một chiến dịch lớn sắp mở màn. Ngày nào cũng lên nhà ban chỉ huy trạm trình bày, thấy chúng tôi khẩn khoản xin đi quá, trạm đành chấp nhận.

Từ T5 về T6, đường ngắn và tương đối phẳng với những khoảng rừng già, thi thoảng lộ ra mảnh trời xanh biếc. Với niềm vui sắp gặp anh em, lại thêm nụ cười lấp loá khi ẩn khi hiện của cô giao liên xinh đẹp khiến chúng tôi bước băng băng và bao nhiêu mệt nhọc dường như rơi rụng cả phía sau mình. Đến trạm thì trời mới non trưa, cô giao liên quay lại cáng thương binh về tuyến sau. Chúng tôi hỏi dò anh em vừa đi qua thì được biết, đoạn đường T6 về T7 cũng gần và ít dốc. Không chờ để ngày mai có giao liên dẫn đường đi tiếp, chúng tôi quyết định vượt trạm trong ngày.

Hỡi ôi! Chỉ vì nôn nóng đuổi theo chiến dịch, chúng tôi đã quên một điều quan trọng mà mỗi người lính trong chiến trường phải nhớ, rằng phải tuân thủ quy định của các trạm giao liên trên đường hành quân, rằng các trạm giao liên, để giữ bí mật đã chẳng bao giờ ở nguyên một chỗ, rằng đường vào mỗi trạm chỉ những người giao liên mới thuộc,v.v...

Và thế là chúng tôi đã không tìm ra T7. Loay hoay, mò mẫm, bươn chải, mãi đến nửa đêm thì chúng tôi hoàn toàn tuyệt vọng trước một vùng đồi mênh mông cỏ tranh xào xạc. Không còn một mẩu lương khô, không còn một ngụm nước uống, trong khi lẽ ra, chúng tôi phải dừng ở T6 để nhận bổ sung mới đi tiếp được. Hai đứa lần xuống chân đồi mong tìm một vài giọt nước. Khe suối cạn khô và những tảng đá lớn nhỏ hầm hập hơi nóng của ngày, nghiệt ngã chứng kiến hai tấm thân chúng tôi gần như đổ sụp.

Trong chập chờn nửa mê nửa tỉnh của khát, của đói, của mệt mỏi bơ phờ, chúng tôi bỗng nghe nhiều tiếng động lạ. Tôi áp tai vào mặt đất, tiếng động rõ dần, rõ dần, như âm thanh của đoàn tàu đang tiến đến. Ngỡ mình đã ở cạnh đường xe vận tải chiến lược, và như thế thì đơn vị chắc đã ở đâu đây. Khi ngẩng lên thì... Trời ơi! Trước mắt chúng tôi là những bóng đen như trái núi nhấp nhô chuyển động - một đàn voi lớn đang rầm rập băng qua chỗ chúng tôi nằm.

Không còn biết tôi và Thiềng đã bỏ chạy, đã trốn như thế nào? Khi hoàn hồn thấy mình nằm trong hõm sâu dưới chân một tảng đá lớn, khẩu súng ép vào mạng sườn đau đến tê dại. Đàn voi rừng đã cuốn theo cả ba lô chúng tôi, để lại một vệt cỏ tranh nhầu nát như con đường lớn kéo tận đỉnh đồi.

Hai đứa ngồi bó gối nhìn nhau. Bốn con mắt ráo hoảnh đẫn đờ trong đêm không tài nào khóc được. Tiếng chim Từ Quy não nuột từ một nẻo nào xa lắm gọi nhau, khiến chúng tôi bàng hoàng, nghĩ đến chặng đường sắp tới và không khỏi ân hận bởi sự nôn nóng thiếu kỷ luật của mình.

Cơn sốt lại ập đến với tôi. Thiềng phải nằm đè lên, mong truyền chút hơi ấm thân mình cho đến khi trời rạng sáng.

Không thể ngồi chờ chết. Thiềng để tôi nằm trong hốc đá, quyết định đi tìm nước uống. Tôi không biết anh đã đi bao lâu và bao nhiêu cơn sốt đã quật đi quật lại thân thể tôi trong khoảng thời gian chờ đợi ấy. Phải sống! Tôi phải sống để tìm về đơn vị. Với địa hình thế này, tôi biết mặt trận đã ở gần lắm rồi... Trong tâm can sâu thẳm của mình, có tiếng nói chân tình dội lên như thế. Cả những khi cơn sốt vật vã nhất, tôi vẫn phải nhủ mình không được phép ngất đi. Hai hàm răng tôi nghiến chặt đến mức không còn cảm giác đau đớn. Nguôi cơn sốt, tôi lại bò ra xung quanh, run rẩy lật từng tảng đá, mong tìm một làn hơi nước toả ra từ lòng đất ẩm, mong tìm một chồi cỏ bất ngờ trồi lên.

Thiềng ơi! Anh ở đâu? Làm sao tìm ra nước giữa vùng cỏ tranh vây bủa và lúc nào cũng có thể bùng cháy dưới cái nắng gớm ghiếc mùa khô thế này? Và, biết đâu, những cơn sốt rừng tai ác của anh lại cũng đang vật mình trỗi dậy...

Tôi cứ lảm nhảm gọi tên anh như thế, tên đồng đội như thế, tên những người thân nơi quê nhà của tôi như thế giữa bao lần nóng, rét, giữa bao lần bò đi bò lại để chứng tỏ là mình còn sống; giữa bao lần áp mặt vào lòng đất sỏi cắn dưới chân từng hòn đá, để mong tìm... Không, tôi phải sống! Như có một ngọn gió từ đâu quất thẳng vào suy nghĩ của tôi, tôi ôm súng bật dậy. Nhưng không được, tôi ngã xuống trong tối tăm mặt mũi. Cả bầu trời đang xanh ngăn ngắt kia, cả những quả đồi cỏ tranh mênh mông tít tắp kia bỗng dưng đổ xuống đầu tôi. Và đàn voi, tôi thoáng thấy cả đàn voi như đoàn tàu sầm sập đè lên người. Tôi ú ớ gọi Thiềng. Trong cơn mê sảng, tôi kịp nhận ra những luồng khói trắng của tốp máy bay B52 vừa bay qua. Thì ra, sau này tôi mới biết, mình đã lại sống sót từ thảm bom của giặc.

* * *

Một cái gì đó mơn man, mát rượi, bắt đầu từ làn môi khô cằn, lan đến đầu lưỡi rồi cổ họng, rồi cứ thế, cứ thế khiến tôi tỉnh dần. Tôi mở mắt, nhận ra cái đầu vàng cháy với khuôn mặt đen nhẻm hốc hác của Thiềng. Anh đang nhai và mớm cho tôi chút nước ngầy ngậy của những cọng rau má gầy còm, có được sau hai ngày lùng sục. Giữa khi tuyệt vọng, anh tìm thấy những cây rau mọc lên từ nền đất một bản cũ người Tà Ôi cháy trụi tự bao giờ.

Cổ họng tôi nhấp nháy liên hồi bởi những giọt nước kỳ diệu mà Thiềng đang chuyền cho. Trong những giọt ấy, có vị mặn của nước mắt. Thì ra anh đang khóc. Tôi bỗng nghẹn lại, dường như tắc thở. Rồi tôi cũng oà lên khóc theo. Tiếng khóc đàn ông của hai đứa vỡ ra trong buổi chiều ngùn ngụt những đồi tranh đang cháy. Mùi khét của thú rừng bị thiêu trong lửa, mùi đất nồng nông và tất cả như xộc vào mũi, khiến cho nước mắt chúng tôi càng thêm giàn giụa. Hai đứa cứ ôm nhau khóc mãi. Những giọt nước mắt của nghĩa tình đồng chí mà những ngày qua anh đã ghìm nén, tôi cũng ghìm nén và mong đợi...

* * *

Thế rồi trong bóng chiều chạng vạng, giữa rừng cỏ tranh phập phồng khói lửa ấy, chúng tôi nghe tiếng súng ì ầm phía trời xa dội lại. Anh em đang gọi! Chiến dịch Mậu Thân trên toàn miền Nam đã bùng nổ. Tôi và Thiềng dìu nhau đứng lên. Mùa xuân đang về. Với riêng tôi, mùa xuân đến sớm hơn một chút, ấy là khi dòng nước rau má ngai ngái, mằn mặn, ngọt lừ từ miệng người đồng đội chuyền sang cho mình.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

21.9.26

Dòng sông quê

Đặng Trường Lưu

Ơi con sông Sê Pôn

Chảy về đâu về đâu

Mang trong lòng sắc biếc

Của trời xanh trên đầu

 

Ta đứng trên ghềnh đá

Nhìn dòng nước trôi mau

Nhớ sao ngày thơ ấu

Vẫy vùng dòng sông sâu

 

Cứ mỗi chiều bóng ngả

Thả trâu sang vũng đằm

Chạy ra sông hối hả

Chơi “diệt đồn xâm lăng”

 

Chừng lâu bà nóng ruột

Gọi cháu um cổng làng

Lo bà gào khản giọng

Cháu rời sông vội vàng

 

Đâu những buổi rạng đông

Nghe bà vừa gọi thức

Thả trâu dọc triền sông

Cháu ngắm hoài nước mát

 

Ôi dòng sông dòng sông

Ngọt lành như dòng sữa

Chim kêu mùa đỏ đồng

Quê ta mềm dải lụa

 

Ôi dòng sông muôn thuở

Của những đôi hẹn hò

Những mối tình tươi trẻ

Đẹp như là mộng mơ

 

Bom gầm - quân xâm lược

Máu người hòa sông quê

Dài như bao dòng nước

Trập trùng người ra đi

 

Ôi dòng sông xóm quê

Chảy giữa lòng thao thiết

Mà tháng ngày ta nghe

Như mối thù truyền kiếp

    * * *

Ta đứng trên ghềnh đá

Bâng khuâng nhìn Sê Pôn

Ngày mai đi lại nhớ

Đâu cũng tình quê hương.

Tháng 7 -1968

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

Bàn tay thị xã

Đặng Trường Lưu

Thị xã nhỏ như bàn tay em

Ơi cô gái súng trường đi trên phố

Bóng nghiêng nghiêng trùm lên căn nhà đổ

Mái tóc dài bay rối lòng anh

Và rồi cả mùa thu thổn thức

 

Đường phố bồi hồi lắng nghe em bước

Như từng lắng nghe tiếng súng hiệp đồng

Đất nước là em

Và trận địa phòng không...

 

Thị xã này là bàn tay em

Bàn tay hồng như hoa xòe nở

Bàn tay hát ca là bàn tay múa

Cuộc sống đơm đầy sắc đỏ phù sa

Và khi xác thù nát vụn ở quê ta

Sơn Tây, tháng 10/1972

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021)