Đặng Trường Lưu
Tôi và Thiềng phải nằm lại trạm giao liên T5 do một
cơn sốt rét đột ngột. Sau khi bàn giao chúng tôi cho trạm, đơn vị phải hành
quân gấp vào tuyến trong. Đó là những ngày cuối năm 1967, một mùa khô dữ dội đã
lại bắt đầu từ bên kia dãy núi...
Chỉ một tuần sau Thiềng cắt sốt. Tôi thì cũng đã có thể
chống gậy lần từng bậc theo anh xuống bếp ăn, tuy biết trong người còn yếu lắm,
vì chiều đến, hai đứa vẫn phải bí mật trùm chăn mà nhảy đến vã mồ hôi, ngăn
không cho cơn sốt tai quái chỉ chực quay trở lại. Chúng tôi vẫn luôn đề nghị được
rời trạm càng sớm càng tốt để đuổi theo đơn vị. Không thể nằm chờ đến lúc khoẻ
hẳn trong khi hàng giờ, chúng tôi linh cảm về một chiến dịch lớn sắp mở màn.
Ngày nào cũng lên nhà ban chỉ huy trạm trình bày, thấy chúng tôi khẩn khoản xin
đi quá, trạm đành chấp nhận.
Từ T5 về T6, đường ngắn và tương đối phẳng với những
khoảng rừng già, thi thoảng lộ ra mảnh trời xanh biếc. Với niềm vui sắp gặp anh
em, lại thêm nụ cười lấp loá khi ẩn khi hiện của cô giao liên xinh đẹp khiến
chúng tôi bước băng băng và bao nhiêu mệt nhọc dường như rơi rụng cả phía sau
mình. Đến trạm thì trời mới non trưa, cô giao liên quay lại cáng thương binh về
tuyến sau. Chúng tôi hỏi dò anh em vừa đi qua thì được biết, đoạn đường T6 về
T7 cũng gần và ít dốc. Không chờ để ngày mai có giao liên dẫn đường đi tiếp, chúng
tôi quyết định vượt trạm trong ngày.
Hỡi ôi! Chỉ vì nôn nóng đuổi theo chiến dịch, chúng
tôi đã quên một điều quan trọng mà mỗi người lính trong chiến trường phải nhớ,
rằng phải tuân thủ quy định của các trạm giao liên trên đường hành quân, rằng
các trạm giao liên, để giữ bí mật đã chẳng bao giờ ở nguyên một chỗ, rằng đường
vào mỗi trạm chỉ những người giao liên mới thuộc,v.v...
Và thế là chúng tôi đã không tìm ra T7. Loay hoay, mò
mẫm, bươn chải, mãi đến nửa đêm thì chúng tôi hoàn toàn tuyệt vọng trước một
vùng đồi mênh mông cỏ tranh xào xạc. Không còn một mẩu lương khô, không còn một
ngụm nước uống, trong khi lẽ ra, chúng tôi phải dừng ở T6 để nhận bổ sung mới
đi tiếp được. Hai đứa lần xuống chân đồi mong tìm một vài giọt nước. Khe suối cạn
khô và những tảng đá lớn nhỏ hầm hập hơi nóng của ngày, nghiệt ngã chứng kiến
hai tấm thân chúng tôi gần như đổ sụp.
Trong chập chờn nửa mê nửa tỉnh của khát, của đói, của
mệt mỏi bơ phờ, chúng tôi bỗng nghe nhiều tiếng động lạ. Tôi áp tai vào mặt đất,
tiếng động rõ dần, rõ dần, như âm thanh của đoàn tàu đang tiến đến. Ngỡ mình đã
ở cạnh đường xe vận tải chiến lược, và như thế thì đơn vị chắc đã ở đâu đây.
Khi ngẩng lên thì... Trời ơi! Trước mắt chúng tôi là những bóng đen như trái
núi nhấp nhô chuyển động - một đàn voi lớn đang rầm rập băng qua chỗ chúng tôi
nằm.
Không còn biết tôi và Thiềng đã bỏ chạy, đã trốn như
thế nào? Khi hoàn hồn thấy mình nằm trong hõm sâu dưới chân một tảng đá lớn, khẩu
súng ép vào mạng sườn đau đến tê dại. Đàn voi rừng đã cuốn theo cả ba lô chúng
tôi, để lại một vệt cỏ tranh nhầu nát như con đường lớn kéo tận đỉnh đồi.
Hai đứa ngồi bó gối nhìn nhau. Bốn con mắt ráo hoảnh đẫn
đờ trong đêm không tài nào khóc được. Tiếng chim Từ Quy não nuột từ một nẻo nào
xa lắm gọi nhau, khiến chúng tôi bàng hoàng, nghĩ đến chặng đường sắp tới và
không khỏi ân hận bởi sự nôn nóng thiếu kỷ luật của mình.
Cơn sốt lại ập đến với tôi. Thiềng phải nằm đè lên,
mong truyền chút hơi ấm thân mình cho đến khi trời rạng sáng.
Không thể ngồi chờ chết. Thiềng để tôi nằm trong hốc
đá, quyết định đi tìm nước uống. Tôi không biết anh đã đi bao lâu và bao nhiêu
cơn sốt đã quật đi quật lại thân thể tôi trong khoảng thời gian chờ đợi ấy. Phải
sống! Tôi phải sống để tìm về đơn vị. Với địa hình thế này, tôi biết mặt trận
đã ở gần lắm rồi... Trong tâm can sâu thẳm của mình, có tiếng nói chân tình dội
lên như thế. Cả những khi cơn sốt vật vã nhất, tôi vẫn phải nhủ mình không được
phép ngất đi. Hai hàm răng tôi nghiến chặt đến mức không còn cảm giác đau đớn.
Nguôi cơn sốt, tôi lại bò ra xung quanh, run rẩy lật từng tảng đá, mong tìm một
làn hơi nước toả ra từ lòng đất ẩm, mong tìm một chồi cỏ bất ngờ trồi lên.
Thiềng ơi! Anh ở đâu? Làm sao tìm ra nước giữa vùng cỏ
tranh vây bủa và lúc nào cũng có thể bùng cháy dưới cái nắng gớm ghiếc mùa khô
thế này? Và, biết đâu, những cơn sốt rừng tai ác của anh lại cũng đang vật mình
trỗi dậy...
Tôi cứ lảm nhảm gọi tên anh như thế, tên đồng đội như
thế, tên những người thân nơi quê nhà của tôi như thế giữa bao lần nóng, rét,
giữa bao lần bò đi bò lại để chứng tỏ là mình còn sống; giữa bao lần áp mặt vào
lòng đất sỏi cắn dưới chân từng hòn đá, để mong tìm... Không, tôi phải sống! Như
có một ngọn gió từ đâu quất thẳng vào suy nghĩ của tôi, tôi ôm súng bật dậy.
Nhưng không được, tôi ngã xuống trong tối tăm mặt mũi. Cả bầu trời đang xanh
ngăn ngắt kia, cả những quả đồi cỏ tranh mênh mông tít tắp kia bỗng dưng đổ xuống
đầu tôi. Và đàn voi, tôi thoáng thấy cả đàn voi như đoàn tàu sầm sập đè lên người.
Tôi ú ớ gọi Thiềng. Trong cơn mê sảng, tôi kịp nhận ra những luồng khói trắng của
tốp máy bay B52 vừa bay qua. Thì ra, sau này tôi mới biết, mình đã lại sống sót
từ thảm bom của giặc.
* * *
Một cái gì đó mơn man, mát rượi, bắt đầu từ làn môi
khô cằn, lan đến đầu lưỡi rồi cổ họng, rồi cứ thế, cứ thế khiến tôi tỉnh dần.
Tôi mở mắt, nhận ra cái đầu vàng cháy với khuôn mặt đen nhẻm hốc hác của Thiềng.
Anh đang nhai và mớm cho tôi chút nước ngầy ngậy của những cọng rau má gầy còm,
có được sau hai ngày lùng sục. Giữa khi tuyệt vọng, anh tìm thấy những cây rau
mọc lên từ nền đất một bản cũ người Tà Ôi cháy trụi tự bao giờ.
Cổ họng tôi nhấp nháy liên hồi bởi những giọt nước kỳ
diệu mà Thiềng đang chuyền cho. Trong những giọt ấy, có vị mặn của nước mắt.
Thì ra anh đang khóc. Tôi bỗng nghẹn lại, dường như tắc thở. Rồi tôi cũng oà
lên khóc theo. Tiếng khóc đàn ông của hai đứa vỡ ra trong buổi chiều ngùn ngụt những
đồi tranh đang cháy. Mùi khét của thú rừng bị thiêu trong lửa, mùi đất nồng
nông và tất cả như xộc vào mũi, khiến cho nước mắt chúng tôi càng thêm giàn giụa.
Hai đứa cứ ôm nhau khóc mãi. Những giọt nước mắt của nghĩa tình đồng chí mà những
ngày qua anh đã ghìm nén, tôi cũng ghìm nén và mong đợi...
* * *
Thế rồi trong bóng chiều chạng vạng, giữa rừng cỏ
tranh phập phồng khói lửa ấy, chúng tôi nghe tiếng súng ì ầm phía trời xa dội lại.
Anh em đang gọi! Chiến dịch Mậu Thân trên toàn miền Nam đã bùng nổ. Tôi và Thiềng
dìu nhau đứng lên. Mùa xuân đang về. Với riêng tôi, mùa xuân đến sớm hơn một
chút, ấy là khi dòng nước rau má ngai ngái, mằn mặn, ngọt lừ từ miệng người đồng
đội chuyền sang cho mình.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021)




