Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)
Tiếp theo phần 4/8
36. Nhớ lời Bác dạy
Một ngày đầu thu năm 1959, Bác Hồ đến thăm một đơn vị
hải quân. Tôi có vinh dự được góp phần điều khiển con tàu đưa Bác đi thăm một số
đảo ở vùng Đông Bắc.
Đúng 8 giờ sáng, Bác đến. Bác đội mũ cứng, mặc bộ quần
áo ka ki bạc màu, chân đi dép cao su. Bác lướt nhìn chúng tôi trìu mến, dịu
dàng như một người cha. Đôi mắt sáng hiền từ, da dẻ hồng hào, chòm râu trắng
như cước của Bác rung rinh trước gió.
Tôi nhớ mãi câu hỏi đầu tiên của Bác:
- Các chú có khỏe không? Đã chuẩn bị đi biển chưa?
- Dạ, thưa Bác, chúng cháu khỏe, mời Bác xuống tàu đi ngay ạ. Tôi thưa với Bác như vậy.
![]() |
| Bác Hồ thăm bộ đội Hải quân (1959). |
Bác nhìn chúng tôi cười rất vui. Chúng tôi đón Bác xuống tàu. Bác đi một lượt từ nhà bếp, khoang ngủ của chiến sĩ đến đài chỉ huy, khoang máy... Bác khen bộ đội hải quân ăn ở ngăn nắp, gọn gàng, giữ gìn tàu sạch sẽ. Đến buồng lái, Bác hỏi:
- Phòng này là phòng gì?
- Thưa Bác, đây là buồng hàng hải ạ!
- Hàng hải là gì?
- Thưa Bác là “buồng lái” ạ. Tôi ngập ngừng đáp lại.
Bác nhìn tôi âu yếm:
Sao không gọi là buồng lái cho dễ hiểu.
Tôi còn đang bối rối chưa trả lời được, Bác hỏi tiếp:
- Chú giới thiệu với Bác xem trên tàu có những bộ phận
gì?
- Dạ thưa Bác, trên tàu có 5 ngành chính: hàng hải, súng
pháo, thông tin, cơ điện và thủy vũ ạ,
Bác nhìn tôi cười và hỏi bằng một giọng rất vui:
- “Thủy vũ” có phải là nơi để cho bộ đội nhảy múa ở dưới
nước không?
- Thưa Bác, thủy vũ bao gồm những dụng cụ và vũ khí dưới
nước như: thủy lôi, bom chìm và dụng cụ cắt lôi ạ.
Tôi vừa nói dứt lời, Bác nhìn chúng tôi ân cần căn dặn:
- Các chú xây dựng hải quân thì phải học tập các nước anh em là đúng, nhưng không phải học thế nào
thì làm y nguyên như thế, mà phải biết vận dụng vào điều kiện nước ta sao cho
thích hợp, kể cả việc dùng chữ. Chữ của ta giàu lắm, chứ ta không thiếu chữ
đâu.
Chúng tôi đứng lặng nghe Bác nói.
Vâng theo lời Bác, chúng tôi đã sửa lại một số danh từ
kỹ thuật nước ngoài cho hợp với tiếng nói của ta. Trong công tác giảng dạy,
chúng tôi đã cố gắng nghiên cứu và biên soạn những tài liệu kỹ thuật, chiến thuật
mang màu sắc riêng của Hải quân Việt Nam.
Bây giờ nghĩ lại, chúng tôi càng thấy thấm thía những lời
dạy của Bác năm đó.
(Theo đồng chí Nguyễn Thế Chinh)
37. Cuộc gặp gỡ trong khu rừng già
Năm 1950, sau những chiến thắng liên tiếp, bộ đội Liên
khu 3 được cử một đoàn đại biểu lên Việt Bắc dự Đại hội chiến sĩ thi đua toàn
quân.
Trong đoàn có chị Tám là thương binh, người gầy yếu nên
mỗi lần qua suối, các anh du kích Zét tê (giao liên) người Tày bảo để các anh
cõng, nhưng chị lại ngượng. Một anh nói:
- Đồng chí còn phong kiến lắm. Bác Hồ dạy chúng ta phải
coi đồng chí như anh em ruột thịt mà...
Đoàn cứ ngày đi đêm nghỉ. Lúc mệt quá thì lại “hò
lơ hó lơ” hoặc động viên nhau “cố lên, sắp được gặp Bác rồi”...
Một buổi trưa, anh chị em phải leo lên một dốc cao... Người
thì túi, người thì ba lô, kẻ quang gánh ì ạch leo dốc. Bỗng phía đầu dốc có tiếng
ồn ào, chân người chạy rầm rập, chen vai xô lấn ngược lên...
Có một cụ già, mặc bộ quần áo nâu, đội mũ lá cọ vành rộng,
vai vắt khăn nhuộm màu xanh “phòng không” để che mắt máy bay, tay cầm một
cái quạt cắt từ lá cọ ra đang phe phẩy... chân đi đôi guốc mộc đã mòn vẹt...
đang nhanh nhẹn đi về phía đoàn.
Bỗng ai đó hô lên:
- Bác Hồ! Đúng Bác Hồ rồi...
Thế là cả đoàn đổ xô đến. Bác hỏi đoàn tỉnh này tỉnh kia
rồi nhắc:
- Đoàn Thái Bình đâu?
- Thưa Bác kia ạ...
Bác không chờ anh chị em đến mà tự đi tới. Nguyễn Thị
Chiên vừa đặt đôi sọt xuống thì Bác đã đứng trướcmặt, bắt tay từng người, hỏi:
- Cháu Chiên đâu?
Không hiểu sao, chị Chiên bàng hoàng cả người, run lên
rồi òa khóc, khóc rất to:
- Thưa Bác, cháu đây ạ, cháu là Chiên đây ạ!
Thế rồi chị khuỵu xuống, ôm lấy chân Bác nức nở.
Các anh trong đoàn nói với nhau:
- Đánh giặc thì gan lì, bị địch bắt, tra tấn cũng
không khóc, thế mà nay lại khóc như trẻ con...
Bác cúi xuống, nâng chị Chiên, mắt đỏ hoe, ôn tồn nói:
- Cháu nín đi, nín đi! Đừng khóc nữa! Đứng dậy, đứng dậy
nào...
Bác khẽ vuốt mái tóc chị, hỏi
- Bố mẹ cháu mất rồi, cháu ở với ai ở quê bây giờ?
Thế là chị Chiên lại nấc lên, khóc nữa. Một đồng chí khác
phải trả lời thay chị.
Bác bảo:
- Thôi, lau nước mắt đi. Cháu đội nón vào. Nắng ở đây không
như ở đồng bằng đâu.
Và hình như để cho không khí đỡ “nặng nề” và như chính
là để cho anh chị em vui lên, Bác đội mũ lên đầu, cười hỏi anh chị em:
- Thế nào? Bác đội mũ trông khác trong ảnh các cháu thấy
chứ...
Bác bắt tay từng người rồi nói:
- Đi nắng về, không được xuống suối tắm vội. Bây giờ vào
cơ quan nghỉ ngơi, ăn cơm, ngủ cho đẫy giấc... Bác phải đi làm việc đây...
Tất cả anh chị em trong đoàn đứng nhìn theo Bác cho đến
lúc Bác đi khuất không nhìn thấy nữa mới thôi. Đôi mắt chị Chiên vẫn chưa ráo
nước...
(Theo lời kể của chị Nguyễn Thị Chiên - Anh hùng Lực
lượng vũ trang nhân dân)
38. “Của bụt ăn một đền mười”
Vào một ngày đẹp trời đầu tháng 2 năm ấy, Bác Hồ đến
thăm một đơn vị pháo cao xạ, Bác đội chiếc mũ “cát”, mặc áo khoác rộng,
cổ quàng chiếc khăn bông, chân đi dép lốp.
Đồng chí Trần Thọ Vệ, quyền đại đội trưởng báo cáo với
Bác tình hình của đơn vị. Bác tươi cười căn dặn mọi người phải đoàn kết nội bộ,
đoàn kết quân dân, yên tâm công tác, ra sức học tập và bắn rơi nhiều máy bay địch.
Sau đó, Bác cầm tút thuốc lá thơm đưa cho đồng chí Bùi Văn Số, quyền chính trị
viên đại đội và bảo:
- Đại đội chú có bao nhiêu người? Bác tặng các chú mỗi
người hai điếu kể cả các chú đi vắng.
Cử chỉ thân mật và lời nói chân tình của Bác đã làm cho
chúng tôi mạnh dạn hẳn lên. Rồi Bác lấy mấy túi bánh đưa cho cán bộ đại đội
chia cho mọi người. Anh em nhận quà xong, Bác mới nói:
- Các chú đã nghe câu “Của Bụt ăn một đền mười”
chưa? Các chú nhận quà của Bác thì phải hứa với Bác bắn rơi nhiều máy bay địch,
các chú có quyết tâm không?
Khắp hàng quân, vang lên những tiếng hô rắn rỏi, phấn khởi: Quyết tâm! Quyết tâm!
![]() |
| Bác thăm bộ đội phòng không bảo vệ Hà Nội (1966). |
Sau ngày Bác đến thăm, đại đội 612 chúng tôi bừng lên một khí thế thi đua tự giác và sôi nổi chưa từng có. Chỉ sau một tháng, đại đội chúng tôi đã bắn rơi máy bay Mỹ.
(Theo Mai Đông Hải)
39. Tấm lòng người cha
Đầu năm 1947, biết tin con trai của bác sĩ Vũ Đình Tụng
vừa hy sinh trong một trận chiến đấu, Bác Hồ viết thư gửi bác sĩ:
“Thưa Ngài,
Tôi được báo cáo rằng: con giai của Ngài đã oanh liệt hy
sinh cho Tổ quốc.
Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con
cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con
cháu tôi. Mất một thanh niên, thì hình như tôi đứt một đoạn ruột”.
Còn nữ phóng viên báo Pháp “Humanité Dimanche”1
- Chị Madeleine Riffaud lại được Bác nhận làm con gái nuôi trong hoàn cảnh khác. Chị kể lại: lần đầu tiên chị được gặp Bác tại Hội nghị Fontainebleau, qua sự giới thiệu của André Viollis, tác giả quyển “Đông Dương SOS”. Lúc ấy, chị đang tập sự làm báo. Với kinh nghiệm của người thầy, tấm lòng của người cha, Bác nói: “Tốt lắm, con gái của Bác. Sau này khi ra trường, con sẽ đến thăm đất nước của Bác”.
![]() |
| Thư Bác Hồ gởi bác sĩ Vũ Đình Tụng, 1947. |
Thế rồi tương lai của nữ nhà báo trẻ này đã có phần diễn ra đúng như lời dự đoán của Bác. Sau hội nghị Genève, Madeleine Riffaud đã sống nhiều tháng ở Việt Nam, đã được Bác tiếp nhiều lần. Những lần phỏng vấn, những cuộc gặp gỡ với Người đã để lại cho chị nhiều bài học, nhiều kỷ niệm sâu sắc. “Trong những buổi làm việc với Bác, không bao giờ Bác nhắc lại những nỗi khổ do thực dân Pháp gây ra cho nhân dân Việt Nam trước đây - những khổ đau to lớn mà tôi đã khám phá ra trong từng bước đi trên mảnh đất mà tôi đang đặt chân đến. Tôi hết sức mang ơn Bác về điều này, tôi muốn nói với Bác, nhưng Bác ngăn tôi lại và kể cho tôi nghe quãng đời của Bác lúc ở Pháp.
Những ngày đế quốc Mỹ thách thức đất nước Việt Nam, đe
dọa đưa đất nước này trở về thời kỳ đồ đá thì trong vườn hoa quanh nhà của Bác
Hồ vẫn nở đầy hoa trái. Và cứ lần nào cũng vậy, sau khi chấm dứt cuộc phỏng vấn,
Bác hái tặng “con gái của Bác” - nữ phóng viên báo Pháp - một bông hồng
nhỏ, trước khi Người quay vào tiếp tục làm việc.
-----------------------------------------
1 “Nhân đạo chủ nhật”.
40. Hai loại bút, hai thời kỳ
Trong kháng chiến chống Pháp, tại một cuộc họp Hội đồng
Chính phủ, một cán bộ cấp cao thấy Bác có một hộp xếp đầy bút đặt trên bàn, tò
mò hỏi:
- Thưa Bác, Bác có nhiều bút quá.
Bác gật đầu, nói:
- Bác viết báo. Tòa soạn trả tiền nhuận bút, một thân một
mình, chẳng tiêu gì nên Bác mua bút này.
Người quay lại các vị trong Hội đồng:
- Hôm nay tôi xin tặng các cụ, các chú, mỗi người một cây
bút “Anh hùng”.
Tháng 9 năm 1963, nhân dịp Quốc khánh, cũng trong một
phiên họp Hội đồng Chính phủ, Bác lại mang đến một hộp bút.
Người nói:
- Hôm nay tôi xin tặng các vị, các chú mỗi người một cây
bút để làm việc.
Bác đưa tận tay từng Bộ trưởng, từng Ủy viên. Mọi người nhìn lên nắp bút thấy hàng chữ Bác cho thuê khắc “Bút chống quan liêu” – 2/9/1963.
Không biết cho đến nay có còn ai giữ được cây bút “chống
quan liêu” mà Bác đã tặng cách đây hơn nửa thế kỷ?
41. Đón vua hay đón Bác?
Năm 1953, Trung ương Hội phụ nữ mời Bác đến thăm. Chị
em hô hào quét nhà trong, vườn ngoài, đầu cổng sạch sẽ. Các chị căng một khẩu
hiệu cắt dán chữ “Hồ Chí Minh muôn năm” nhưng không dán các dấu. Lại làm
một cổng chào kết lá, cài hoa rừng... Ai cũng bảo nhau mặc quần áo thật đẹp rồi
xếp hai hàng từ cổng vào nhà như kiểu “hàng rào danh dự”, hồi hộp, chờ đợi...
Sương sớm Việt Bắc đã tan, trời đã đẹp. Chờ mãi
khôngthấy khách đến. Chủ tịch Hội đã sốt ruột tự nghĩ: - Ông Cụ có bao giờ sai
hẹn đâu? Sao thế nhỉ?
Đi ra, lại đi vào, ngóng xa rồi ngóng gần. Bỗng có tiếng
báo:
- Chị Xuyến ơi! Bác ở trong này rồi!...
Thế là hàng rào danh dự tan! Ùa vào trong nhà đã thấy
Bác đang thăm vườn rau, giếng nước... Bác bước ra cổng, Bác nói:
- Chào các cô, các cháu. Vào nhà thấy vắng, Bác đoán ngay
là tất cả ở ngoài này.
Nhìn lên khẩu hiệu, Bác cười:
- Tiếng Việt ta có dấu, phát âm rất hay, phân biệt rõ ràng.
Dán chữ thế này, đọc thế nào cũng được, sai ý của mình đi.
(Sau này các chị mới nghe các anh kể rằng, từ sau đó, Bác
cứ nói đùa: “Hồ Chủ tịch muốn nằm”... là có ý nhại cái khẩu hiệu ấy).
Vào đến Hội trường Bác hỏi:
- Các cô đón ai thế.
Mọi người ngớ ra, không rõ ý Bác là thế nào.
- Thưa Bác, đón Bác đấy ạ!
Bác ôn tồn nói:
- À ra thế. Các cô đón Bác, chứ có phải đón ông vua ông
quan nào đâu mà sửa soạn trang trí cầu kỳ như thế...
Nghĩ thương các chị mất vui, Bác “rẽ” sang chuyện khác
khen:
- Sạch sẽ, gọn gàng thường xuyên hay chỉ được hôm nay
thôi đấy!...
Bấy giờ các chị em mới dám “bắt chuyện”:
- Dạ thưa Bác, thường xuyên ạ.
(Theo chị X và
các anh H.Đ)
42. Không có việc gì khó
Năm 1928, với tên gọi Thầu Chín, Bác Hồ sống và hoạt động
trong kiều bào Việt Nam ở Xiêm cho đến cuối năm 1929. Đây là một trong những thời
gian Người sống lâu nhất với đồng bào, trước năm 1945.
Sau khi đặt chân đến Phi Chịt, Người nêu ý kiến đi ra
U Đon để tìm gặp Việt kiều. Từ Phi Chịt đến U Đon phải đi bộ, băng rừng hằng
tháng. Mỗi người đi đường đều gánh theo hai thùng sắt tây đựng quần áo, đồ dùng
lặt vặt, có nắp đậy để tránh mưa núi, vắt rừng. Thức ăn mang đi cũng là 10 ký gạo
và một ống “chẻo” (thịt gà hoặc sườn lợn băm nhỏ rang muối. Sau này, năm 1945
khi đi Côn Minh, Bác cũng mang theo một ống “chẻo” nhưng đặt tên là “muối Việt
Minh”).
Thầu Chín cùng một số anh em ra đi vào dịp mùa thu. Cây
rừng đang rụng lá. Trời nắng to, đường đi đá sỏi gập ghềnh, mọi người đều mệt mỏi.
Thấy Thầu Chín không quen gánh, có người muốn giúp đỡ, nhưng Thầu Chín không chịu.
Ít ngày sau, đôi bàn chân của Thầu Chín đã sưng lên, rớm máu, tấy đỏ. Anh em lại
yêu cầu Thầu Chín nhường gánh. Thầu Chín nói: “Thánh hiền đã dạy “thiên hạ vô
nan sự, nhân tâm tự bất kiên”, ý nói là dưới trời này không có việc gì dễ, chỉ sợ lòng người không
kiên trì...” cứ cố gắng, để thế vài hôm nữa sẽ quen đi... Quả nhiên mấy ngày
sau nữa, bước chân Thầu Chín đã nhanh, gọn, đôi thùng đung đưa có vẻ đã nhẹ
nhàng. Mấy tháng sau, có lần từ U Đon đến Xa Vang đường dài hơn 70 kilômét. Thầu
Chín chỉ đi hết một ngày.
Hơn 20 năm sau, vào cuối đông 1950, trong một lần gặp
gỡ với thanh niên xung phong làm đường ở Đèo Khế, Thái Nguyên, Bác Hồ đã đọc tặng
bốn câu thơ:
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên
Bốn câu thơ ấy, tuy là mượn ý của “thánh hiền” nhưng đã
được kiểm nghiệm trong thực tế cuộc sống của Bác Hồ mấy chục năm trước đó...
43. Bó hoa tặng bạn
Đầu năm 1954, Wilfred Burchett, nhà báo Australia nổi
tiếng quốc tế đến Việt Nam. Cuộc gặp gỡ giữa nhà báo với Chủ tịch Hồ Chí Minh
diễn ra trên Việt Bắc khi Người, gậy cầm tay, áo vắt vai, từ trong rừng bước
ra, tay mảnh dẻ dang rộng, đón chào khách.
Burchett kể:
“Tôi không thể nào quên được buổi gặp gỡ đầu tiên đó,
với vẻ ấm cúng và thông minh trong đôi mắt nâu thẫm của Người, đúng một tuần kể
từ khi tôi rời Khai Thành nghỉ vài ngày ở thủ đô Trung Quốc... Đầu tiên, Cụ Hồ
Chí Minh hỏi thăm sức khỏe của tôi, không phải để xã giao lịch sự mà thực sự là
để xem tôi có bị kiệt sức sau nhiều năm ở Triều Tiên và sau chuyến đi dài ngày từ
Bắc Kinh đến không?”
Burchett còn nhiều dịp đến Việt Nam và có lần đã để gia đình lưu nhiều năm ở Hà Nội để đi vào vùng giải phóng miền Nam, đến cả Củ Chi, giáp Sài Gòn.
![]() |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng chụp ảnh cùng vợ chồng nhà báo Wilfred Burchett, Hà Nội năm 1966. |
Trong nhiều kỷ niệm về Việt Nam, về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Burchett khó quên nhất là lần gặp Bác ở Moscow năm 1957.
Năm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm chính thức Liên
Xô, Moscow đã thay mặt cả Liên bang đón chào khách quý với 21 phát đại bác, quốc
ca hai nước, diễu hành đội danh dự, giới thiệu các vị chủ nhà, đoàn ngoại giao,
đoàn báo chí, các em thiếu nhi, lưu học sinh Việt Nam ở Liên Xô... Bỗng Bác
trông thấy vợ chồng Burchett đứng ở hàng thứ ba trong khối báo chí, Người rời
hàng danh dự của những người đang đứng đón chào mình, bước đến chỗ Burchett, đặt
bó hoa lớn mà Người đã nhận khi bước xuống máy bay vào tay chị Vesselina... Các
đồng chí Việt Nam khác trong đoàn cũng đặt tiếp những bó hoa vào tay vợ chồng
nhà báo... Tất cả các nhân viên ngoại giao, lễ tân và an ninh đều ngạc nhiên...
Có người không hiểu người được tặng hoa là “thế nào” với Chủ tịch?
Câu chuyện trên lại gần giống một chuyện khác:
Đó là lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm chính thức Trung
Quốc. Lần ấy khi máy bay hạ cánh, trời bỗng nổi cơn giông và bắt đầu mưa. Bước
xuống chân cầu thang máy bay, trông thấy bà Tống Khánh Linh (phu nhân Tôn Trung
Sơn), Người tiến lại phía bà, lấy chiếc mũ trên đầu mình đội cho bà và nói:
- Tôn phu nhân đội để khỏi ướt đầu. Năm 1933, ở Thượng
Hải, tiền hết, bắt liên lạc không được, nếu không được phu nhân giúp đỡ thật là
khó khăn...
Sau đó Người mới đi đến chỗ các nhà lãnh đạo Đảng và Chính phủ Trung Quốc đang đợi Người...
Còn nữa
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)









.jpg)

