12.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (5/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 4/8

36. Nhớ lời Bác dạy

Một ngày đầu thu năm 1959, Bác Hồ đến thăm một đơn vị hải quân. Tôi có vinh dự được góp phần điều khiển con tàu đưa Bác đi thăm một số đảo ở vùng Đông Bắc.

Đúng 8 giờ sáng, Bác đến. Bác đội mũ cứng, mặc bộ quần áo ka ki bạc màu, chân đi dép cao su. Bác lướt nhìn chúng tôi trìu mến, dịu dàng như một người cha. Đôi mắt sáng hiền từ, da dẻ hồng hào, chòm râu trắng như cước của Bác rung rinh trước gió.

Tôi nhớ mãi câu hỏi đầu tiên của Bác:

- Các chú có khỏe không? Đã chuẩn bị đi biển chưa?

- Dạ, thưa Bác, chúng cháu khỏe, mời Bác xuống tàu đi ngay ạ. Tôi thưa với Bác như vậy.

Bác Hồ thăm bộ đội Hải quân (1959).

Bác nhìn chúng tôi cười rất vui. Chúng tôi đón Bác xuống tàu. Bác đi một lượt từ nhà bếp, khoang ngủ của chiến sĩ đến đài chỉ huy, khoang máy... Bác khen bộ đội hải quân ăn ở ngăn nắp, gọn gàng, giữ gìn tàu sạch sẽ. Đến buồng lái, Bác hỏi:

- Phòng này là phòng gì?

- Thưa Bác, đây là buồng hàng hải ạ!

- Hàng hải là gì?

- Thưa Bác là “buồng lái” ạ. Tôi ngập ngừng đáp lại.

Bác nhìn tôi âu yếm:

Sao không gọi là buồng lái cho dễ hiểu.

Tôi còn đang bối rối chưa trả lời được, Bác hỏi tiếp:

- Chú giới thiệu với Bác xem trên tàu có những bộ phận gì?

- Dạ thưa Bác, trên tàu có 5 ngành chính: hàng hải, súng pháo, thông tin, cơ điện và thủy vũ ạ,

Bác nhìn tôi cười và hỏi bằng một giọng rất vui:

- “Thủy vũ” có phải là nơi để cho bộ đội nhảy múa ở dưới nước không?

- Thưa Bác, thủy vũ bao gồm những dụng cụ và vũ khí dưới nước như: thủy lôi, bom chìm và dụng cụ cắt lôi ạ.

Tôi vừa nói dứt lời, Bác nhìn chúng tôi ân cần căn dặn:

- Các chú xây dựng hải quân thì phải học tập các nước  anh em là đúng, nhưng không phải học thế nào thì làm y nguyên như thế, mà phải biết vận dụng vào điều kiện nước ta sao cho thích hợp, kể cả việc dùng chữ. Chữ của ta giàu lắm, chứ ta không thiếu chữ đâu.

Chúng tôi đứng lặng nghe Bác nói.

Vâng theo lời Bác, chúng tôi đã sửa lại một số danh từ kỹ thuật nước ngoài cho hợp với tiếng nói của ta. Trong công tác giảng dạy, chúng tôi đã cố gắng nghiên cứu và biên soạn những tài liệu kỹ thuật, chiến thuật mang màu sắc riêng của Hải quân Việt Nam.

Bây giờ nghĩ lại, chúng tôi càng thấy thấm thía những lời dạy của Bác năm đó.

(Theo đồng chí Nguyễn Thế Chinh)

 

37. Cuộc gặp gỡ trong khu rừng già

Năm 1950, sau những chiến thắng liên tiếp, bộ đội Liên khu 3 được cử một đoàn đại biểu lên Việt Bắc dự Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quân.

Trong đoàn có chị Tám là thương binh, người gầy yếu nên mỗi lần qua suối, các anh du kích Zét tê (giao liên) người Tày bảo để các anh cõng, nhưng chị lại ngượng. Một anh nói:

- Đồng chí còn phong kiến lắm. Bác Hồ dạy chúng ta phải coi đồng chí như anh em ruột thịt mà...

Đoàn cứ ngày đi đêm nghỉ. Lúc mệt quá thì lại “hò lơ hó lơ” hoặc động viên nhau “cố lên, sắp được gặp Bác rồi”...

Một buổi trưa, anh chị em phải leo lên một dốc cao... Người thì túi, người thì ba lô, kẻ quang gánh ì ạch leo dốc. Bỗng phía đầu dốc có tiếng ồn ào, chân người chạy rầm rập, chen vai xô lấn ngược lên...

Có một cụ già, mặc bộ quần áo nâu, đội mũ lá cọ vành rộng, vai vắt khăn nhuộm màu xanh “phòng không” để che mắt máy bay, tay cầm một cái quạt cắt từ lá cọ ra đang phe phẩy... chân đi đôi guốc mộc đã mòn vẹt... đang nhanh nhẹn đi về phía đoàn.

Bỗng ai đó hô lên:

- Bác Hồ! Đúng Bác Hồ rồi...

Thế là cả đoàn đổ xô đến. Bác hỏi đoàn tỉnh này tỉnh kia rồi nhắc:

- Đoàn Thái Bình đâu?

- Thưa Bác kia ạ...

Bác không chờ anh chị em đến mà tự đi tới. Nguyễn Thị Chiên vừa đặt đôi sọt xuống thì Bác đã đứng trướcmặt, bắt tay từng người, hỏi:

- Cháu Chiên đâu?

Không hiểu sao, chị Chiên bàng hoàng cả người, run lên rồi òa khóc, khóc rất to:

- Thưa Bác, cháu đây ạ, cháu là Chiên đây ạ!

Thế rồi chị khuỵu xuống, ôm lấy chân Bác nức nở.

Các anh trong đoàn nói với nhau:

- Đánh giặc thì gan lì, bị địch bắt, tra tấn cũng không khóc, thế mà nay lại khóc như trẻ con...

Bác cúi xuống, nâng chị Chiên, mắt đỏ hoe, ôn tồn nói:

- Cháu nín đi, nín đi! Đừng khóc nữa! Đứng dậy, đứng dậy nào...

Bác khẽ vuốt mái tóc chị, hỏi

- Bố mẹ cháu mất rồi, cháu ở với ai ở quê bây giờ?

Thế là chị Chiên lại nấc lên, khóc nữa. Một đồng chí khác phải trả lời thay chị.

Bác bảo:

- Thôi, lau nước mắt đi. Cháu đội nón vào. Nắng ở đây không như ở đồng bằng đâu.

Và hình như để cho không khí đỡ “nặng nề” và như chính là để cho anh chị em vui lên, Bác đội mũ lên đầu, cười hỏi anh chị em:

- Thế nào? Bác đội mũ trông khác trong ảnh các cháu thấy chứ...

Bác bắt tay từng người rồi nói:

- Đi nắng về, không được xuống suối tắm vội. Bây giờ vào cơ quan nghỉ ngơi, ăn cơm, ngủ cho đẫy giấc... Bác phải đi làm việc đây...

Tất cả anh chị em trong đoàn đứng nhìn theo Bác cho đến lúc Bác đi khuất không nhìn thấy nữa mới thôi. Đôi mắt chị Chiên vẫn chưa ráo nước...

(Theo lời kể của chị Nguyễn Thị Chiên - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân)

 

38. “Của bụt ăn một đền mười”

Vào một ngày đẹp trời đầu tháng 2 năm ấy, Bác Hồ đến thăm một đơn vị pháo cao xạ, Bác đội chiếc mũ “cát”, mặc áo khoác rộng, cổ quàng chiếc khăn bông, chân đi dép lốp.

Đồng chí Trần Thọ Vệ, quyền đại đội trưởng báo cáo với Bác tình hình của đơn vị. Bác tươi cười căn dặn mọi người phải đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, yên tâm công tác, ra sức học tập và bắn rơi nhiều máy bay địch. Sau đó, Bác cầm tút thuốc lá thơm đưa cho đồng chí Bùi Văn Số, quyền chính trị viên đại đội và bảo:

- Đại đội chú có bao nhiêu người? Bác tặng các chú mỗi người hai điếu kể cả các chú đi vắng.

Cử chỉ thân mật và lời nói chân tình của Bác đã làm cho chúng tôi mạnh dạn hẳn lên. Rồi Bác lấy mấy túi bánh đưa cho cán bộ đại đội chia cho mọi người. Anh em nhận quà xong, Bác mới nói:

- Các chú đã nghe câu “Của Bụt ăn một đền mười” chưa? Các chú nhận quà của Bác thì phải hứa với Bác bắn rơi nhiều máy bay địch, các chú có quyết tâm không?

Khắp hàng quân, vang lên những tiếng hô rắn rỏi, phấn khởi: Quyết tâm! Quyết tâm!

Bác thăm bộ đội phòng không bảo vệ Hà Nội (1966).

Sau ngày Bác đến thăm, đại đội 612 chúng tôi bừng lên một khí thế thi đua tự giác và sôi nổi chưa từng có. Chỉ sau một tháng, đại đội chúng tôi đã bắn rơi máy bay Mỹ.

(Theo Mai Đông Hải)


39. Tấm lòng người cha

Đầu năm 1947, biết tin con trai của bác sĩ Vũ Đình Tụng vừa hy sinh trong một trận chiến đấu, Bác Hồ viết thư gửi bác sĩ:

“Thưa Ngài,

Tôi được báo cáo rằng: con giai của Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.

Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên, thì hình như tôi đứt một đoạn ruột”.

Còn nữ phóng viên báo Pháp “Humanité Dimanche”1

- Chị Madeleine Riffaud lại được Bác nhận làm con gái nuôi trong hoàn cảnh khác. Chị kể lại: lần đầu tiên chị được gặp Bác tại Hội nghị Fontainebleau, qua sự giới thiệu của André Viollis, tác giả quyển “Đông Dương SOS”. Lúc ấy, chị đang tập sự làm báo. Với kinh nghiệm của người thầy, tấm lòng của người cha, Bác nói: “Tốt lắm, con gái của Bác. Sau này khi ra trường, con sẽ đến thăm đất nước của Bác”.

Thư Bác Hồ gởi bác sĩ Vũ Đình Tụng, 1947.

Thế rồi tương lai của nữ nhà báo trẻ này đã có phần diễn ra đúng như lời dự đoán của Bác. Sau hội nghị Genève, Madeleine Riffaud đã sống nhiều tháng ở Việt Nam, đã được Bác tiếp nhiều lần. Những lần phỏng vấn, những cuộc gặp gỡ với Người đã để lại cho chị nhiều bài học, nhiều kỷ niệm sâu sắc. “Trong những buổi làm việc với Bác, không bao giờ Bác nhắc lại những nỗi khổ do thực dân Pháp gây ra cho nhân dân Việt Nam trước đây - những khổ đau to lớn mà tôi đã khám phá ra trong từng bước đi trên mảnh đất mà tôi đang đặt chân đến. Tôi hết sức mang ơn Bác về điều này, tôi muốn nói với Bác, nhưng Bác ngăn tôi lại và kể cho tôi nghe quãng đời của Bác lúc ở Pháp.

Những ngày đế quốc Mỹ thách thức đất nước Việt Nam, đe dọa đưa đất nước này trở về thời kỳ đồ đá thì trong vườn hoa quanh nhà của Bác Hồ vẫn nở đầy hoa trái. Và cứ lần nào cũng vậy, sau khi chấm dứt cuộc phỏng vấn, Bác hái tặng “con gái của Bác” - nữ phóng viên báo Pháp - một bông hồng nhỏ, trước khi Người quay vào tiếp tục làm việc.

-----------------------------------------

1 “Nhân đạo chủ nhật”.

 

40. Hai loại bút, hai thời kỳ

Trong kháng chiến chống Pháp, tại một cuộc họp Hội đồng Chính phủ, một cán bộ cấp cao thấy Bác có một hộp xếp đầy bút đặt trên bàn, tò mò hỏi:

- Thưa Bác, Bác có nhiều bút quá.

Bác gật đầu, nói:

- Bác viết báo. Tòa soạn trả tiền nhuận bút, một thân một mình, chẳng tiêu gì nên Bác mua bút này.

Người quay lại các vị trong Hội đồng:

- Hôm nay tôi xin tặng các cụ, các chú, mỗi người một cây bút “Anh hùng”.

Tháng 9 năm 1963, nhân dịp Quốc khánh, cũng trong một phiên họp Hội đồng Chính phủ, Bác lại mang đến một hộp bút.

Người nói:

- Hôm nay tôi xin tặng các vị, các chú mỗi người một cây bút để làm việc.

Bác đưa tận tay từng Bộ trưởng, từng Ủy viên. Mọi người nhìn lên nắp bút thấy hàng chữ Bác cho thuê khắc Bút chống quan liêu” – 2/9/1963.

Không biết cho đến nay có còn ai giữ được cây bút “chống quan liêu” mà Bác đã tặng cách đây hơn nửa thế kỷ?

 

41. Đón vua hay đón Bác?

Năm 1953, Trung ương Hội phụ nữ mời Bác đến thăm. Chị em hô hào quét nhà trong, vườn ngoài, đầu cổng sạch sẽ. Các chị căng một khẩu hiệu cắt dán chữ “Hồ Chí Minh muôn năm” nhưng không dán các dấu. Lại làm một cổng chào kết lá, cài hoa rừng... Ai cũng bảo nhau mặc quần áo thật đẹp rồi xếp hai hàng từ cổng vào nhà như kiểu “hàng rào danh dự”, hồi hộp, chờ đợi...

Sương sớm Việt Bắc đã tan, trời đã đẹp. Chờ mãi khôngthấy khách đến. Chủ tịch Hội đã sốt ruột tự nghĩ: - Ông Cụ có bao giờ sai hẹn đâu? Sao thế nhỉ?

Đi ra, lại đi vào, ngóng xa rồi ngóng gần. Bỗng có tiếng báo:

- Chị Xuyến ơi! Bác ở trong này rồi!...

Thế là hàng rào danh dự tan! Ùa vào trong nhà đã thấy Bác đang thăm vườn rau, giếng nước... Bác bước ra cổng, Bác nói:

- Chào các cô, các cháu. Vào nhà thấy vắng, Bác đoán ngay là tất cả ở ngoài này.

Nhìn lên khẩu hiệu, Bác cười:

- Tiếng Việt ta có dấu, phát âm rất hay, phân biệt rõ ràng. Dán chữ thế này, đọc thế nào cũng được, sai ý của mình đi.

(Sau này các chị mới nghe các anh kể rằng, từ sau đó, Bác cứ nói đùa: “Hồ Chủ tịch muốn nằm”... là có ý nhại cái  khẩu hiệu ấy).

Vào đến Hội trường Bác hỏi:

- Các cô đón ai thế.

Mọi người ngớ ra, không rõ ý Bác là thế nào.

- Thưa Bác, đón Bác đấy ạ!

Bác ôn tồn nói:

- À ra thế. Các cô đón Bác, chứ có phải đón ông vua ông quan nào đâu mà sửa soạn trang trí cầu kỳ như thế...

Nghĩ thương các chị mất vui, Bác “rẽ” sang chuyện khác khen:

- Sạch sẽ, gọn gàng thường xuyên hay chỉ được hôm nay thôi đấy!...

Bấy giờ các chị em mới dám “bắt chuyện”:

- Dạ thưa Bác, thường xuyên ạ.

(Theo chị  X và các anh H.Đ)

 

42. Không có việc gì khó

Năm 1928, với tên gọi Thầu Chín, Bác Hồ sống và hoạt động trong kiều bào Việt Nam ở Xiêm cho đến cuối năm 1929. Đây là một trong những thời gian Người sống lâu nhất với đồng bào, trước năm 1945.

Sau khi đặt chân đến Phi Chịt, Người nêu ý kiến đi ra U Đon để tìm gặp Việt kiều. Từ Phi Chịt đến U Đon phải đi bộ, băng rừng hằng tháng. Mỗi người đi đường đều gánh theo hai thùng sắt tây đựng quần áo, đồ dùng lặt vặt, có nắp đậy để tránh mưa núi, vắt rừng. Thức ăn mang đi cũng là 10 ký gạo và một ống “chẻo” (thịt gà hoặc sườn lợn băm nhỏ rang muối. Sau này, năm 1945 khi đi Côn Minh, Bác cũng mang theo một ống “chẻo” nhưng đặt tên là “muối Việt Minh”).

Thầu Chín cùng một số anh em ra đi vào dịp mùa thu. Cây rừng đang rụng lá. Trời nắng to, đường đi đá sỏi gập ghềnh, mọi người đều mệt mỏi. Thấy Thầu Chín không quen gánh, có người muốn giúp đỡ, nhưng Thầu Chín không chịu. Ít ngày sau, đôi bàn chân của Thầu Chín đã sưng lên, rớm máu, tấy đỏ. Anh em lại yêu cầu Thầu Chín nhường gánh. Thầu Chín nói: “Thánh hiền đã dạy “thiên hạ vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên”, ý nói là dưới trời này  không có việc gì dễ, chỉ sợ lòng người không kiên trì...” cứ cố gắng, để thế vài hôm nữa sẽ quen đi... Quả nhiên mấy ngày sau nữa, bước chân Thầu Chín đã nhanh, gọn, đôi thùng đung đưa có vẻ đã nhẹ nhàng. Mấy tháng sau, có lần từ U Đon đến Xa Vang đường dài hơn 70 kilômét. Thầu Chín chỉ đi hết một ngày.

Hơn 20 năm sau, vào cuối đông 1950, trong một lần gặp gỡ với thanh niên xung phong làm đường ở Đèo Khế, Thái Nguyên, Bác Hồ đã đọc tặng bốn câu thơ:

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên

Bốn câu thơ ấy, tuy là mượn ý của “thánh hiền” nhưng đã được kiểm nghiệm trong thực tế cuộc sống của Bác Hồ mấy chục năm trước đó...

 

43. Bó hoa tặng bạn

Đầu năm 1954, Wilfred Burchett, nhà báo Australia nổi tiếng quốc tế đến Việt Nam. Cuộc gặp gỡ giữa nhà báo với Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn ra trên Việt Bắc khi Người, gậy cầm tay, áo vắt vai, từ trong rừng bước ra, tay mảnh dẻ dang rộng, đón chào khách.

Burchett kể:

“Tôi không thể nào quên được buổi gặp gỡ đầu tiên đó, với vẻ ấm cúng và thông minh trong đôi mắt nâu thẫm của Người, đúng một tuần kể từ khi tôi rời Khai Thành nghỉ vài ngày ở thủ đô Trung Quốc... Đầu tiên, Cụ Hồ Chí Minh hỏi thăm sức khỏe của tôi, không phải để xã giao lịch sự mà thực sự là để xem tôi có bị kiệt sức sau nhiều năm ở Triều Tiên và sau chuyến đi dài ngày từ Bắc Kinh đến không?”

Burchett còn nhiều dịp đến Việt Nam và có lần đã để gia đình lưu nhiều năm ở Hà Nội để đi vào vùng giải phóng miền Nam, đến cả Củ Chi, giáp Sài Gòn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng chụp ảnh cùng vợ chồng nhà báo Wilfred Burchett, Hà Nội năm 1966.

Trong nhiều kỷ niệm về Việt Nam, về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Burchett khó quên nhất là lần gặp Bác ở Moscow năm 1957.

Năm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm chính thức Liên Xô, Moscow đã thay mặt cả Liên bang đón chào khách quý với 21 phát đại bác, quốc ca hai nước, diễu hành đội danh dự, giới thiệu các vị chủ nhà, đoàn ngoại giao, đoàn báo chí, các em thiếu nhi, lưu học sinh Việt Nam ở Liên Xô... Bỗng Bác trông thấy vợ chồng Burchett đứng ở hàng thứ ba trong khối báo chí, Người rời hàng danh dự của những người đang đứng đón chào mình, bước đến chỗ Burchett, đặt bó hoa lớn mà Người đã nhận khi bước xuống máy bay vào tay chị Vesselina... Các đồng chí Việt Nam khác trong đoàn cũng đặt tiếp những bó hoa vào tay vợ chồng nhà báo... Tất cả các nhân viên ngoại giao, lễ tân và an ninh đều ngạc nhiên... Có người không hiểu người được tặng hoa là “thế nào” với Chủ tịch?

Câu chuyện trên lại gần giống một chuyện khác:

Đó là lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm chính thức Trung Quốc. Lần ấy khi máy bay hạ cánh, trời bỗng nổi cơn giông và bắt đầu mưa. Bước xuống chân cầu thang máy bay, trông thấy bà Tống Khánh Linh (phu nhân Tôn Trung Sơn), Người tiến lại phía bà, lấy chiếc mũ trên đầu mình đội cho bà và nói:

- Tôn phu nhân đội để khỏi ướt đầu. Năm 1933, ở Thượng Hải, tiền hết, bắt liên lạc không được, nếu không được phu nhân giúp đỡ thật là khó khăn...

Sau đó Người mới đi đến chỗ các nhà lãnh đạo Đảng và Chính phủ Trung Quốc đang đợi Người...

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)  

11.5.26

Hội Truyền thống Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin họp mặt mừng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân và kỷ niệm 61 năm Ngày truyền thống

Hòa trong không khí hào hùng của những ngày tháng Năm lịch sử, sáng 10/5/2026 tại Sở chỉ huy Lữ đoàn 205, Hội Truyền thống Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường Hạ sĩ quan (HSQ) Thông tin đã họp mặt mừng đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân và kỷ niệm 61 năm Ngày truyền thống (06/5/1965 - 06/5/2026).

Đến dự buổi họp mặt có các đồng chí: Đại tá Tô Hồng Quân - Phó Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc (TTLL); Thiếu tướng Vũ Dương Nghi – nguyên Chính ủy Binh chủng, Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội; các đồng chí Thiếu tướng Ngô Kim Đồng, Thiếu tướng Trần Minh Tâm - nguyên Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc; các đồng chí thủ trưởng đại diện cho các cơ quan Tham mưu, Chính trị và Hậu cần - Kỹ thuật Bộ tư lệnh Thông tin, các đồng chỉ thủ trưởng đại diện cho các đơn vị Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin, Lữ đoàn 205, và Thường trực Ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội.

Về phía Hội Truyền thống Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin có các đồng chí: Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Nhân dân Hoàng Mạnh An - Phó Chủ tịch Hội Ghép tạng Việt Nam, Trưởng ban liên lạc; Thiếu tướng Nguyễn Văn Tín - nguyên Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn/Tổng cục Chính trị, Phó Trưởng ban liên lạc; Thiếu tướng Lê Hữu Vững - nguyên Chính ủy Cục Tác chiến điện tử/BTTM; Đại tá Hà Thành Đồng - cán bộ Cục Quân huấn - Nhà trường/BTTM; GS.TS.NGƯT. Nguyễn Hữu Khiển, nguyên Phó Giám đốc điều hành Học viện Hành chính Quốc gia, Hiệu trưởng Trường Đại học Thành Tây; ông Trần Mạnh Toàn - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Thiết bị Công nghệ Việt Thái Holdings; các đồng chí ủy viên thường trực, Ban liên lạc cùng hơn 300 hội viên Hội Truyền thống Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin từ các tỉnh, thành trong cả nước cũng về dự.

Đồng chí Thiếu tướng Hoàng Mạnh An – Trưởng ban liên lạc chủ trì buổi Họp mặt.

Trước khi bắt đầu chương trình Họp mặt, các đại biểu được thưởng thức chương trình văn nghệ đặc sắc, mang đậm tính nghệ thuật và sắc thái riêng của các hội viên Đoàn 4 và các lẵng hoa chúc mừng ngày Họp mặt của các tổ chức, cá nhân đến dự.

Đồng chí Thượng tá Thân Ngọc Thúy - Trưởng ban tổ chức tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu đến dự buổi Họp mặt.

Báo cáo tại buổi Họp mặt, đồng chí Thiếu tướng Hoàng Mạnh An - Trưởng ban liên lạc rất phấn khởi, tự hào trang trọng thông báo: Trường Báo vụ miền (H19) - Đoàn 4 báo vụ - Trường Kỹ thuật Thông tin được Đảng, Nhà nước, Quân đội vinh danh, trao tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng LLVT nhân dân vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước đối với những đóng góp, thành tích tiêu biểu, những cống hiến vượt bậc, đặc biệt xuất sắc của một số lực lượng thông tin, trong đó nòng cốt là lực lượng báo vụ. Danh hiệu cao quý này đã được Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin long trọng tổ chức đón nhận vào ngày 24/3/2026, đúng trong dịp kỷ niệm 59 năm ngày thành lập Nhà trường.

Các đại biểu dự Họp mặt trong hội trường.

Ra đời những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trường Báo vụ miền Nam làm nhiệm vụ đào tạo báo vụ và các loại hình thông tin phục vụ tại chỗ. Dù điều kiện vô cùng gian khổ, khó khăn, thường xuyên di chuyển, bị đánh phá ác liệt, Trường vẫn nỗ lực vượt lên, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Năm 1965, Đoàn 4 báo vụ được thành lập để làm nhiệm vụ đào tạo gấp rút báo vụ, cơ công cho chiến trường. Trường Báo vụ miền (H19) có thêm nhiệm vụ - trở thành nơi đón nhận, tập huấn, quán triệt nhiệm vụ và gửi lớp lớp báo vụ từ miền Bắc đưa vào tới các mặt trận, đáp ứng đòi hỏi cấp bách của các chiến trường. Ở chiều ngược lại, nhiều cán bộ, báo vụ viên giàu kinh nghiệm chiến đấu về H19 đã được điều ra Đoàn 4 để đào tạo báo vụ, truyền thụ kinh nghiệm, đáp ứng kịp thời và sát hợp với đòi hỏi của chiến trường. Năm 1967, do yêu cầu nhiệm vụ có bước phát triển mới, đại đội đào tạo cơ công từ Đoàn 4 tiếp tục được điều động để cùng với một số đơn vị khác thành lập nên Trường Kỹ thuật Thông tin. Có thể nói: ngay từ những ngày đầu, các đơn vị tiền thân của Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin hôm nay đã có sự gắn kết tự nhiên, mật thiết, bền chặt, cùng hướng tới chiến trường, cùng lập công và chiến thắng. Đó cũng là truyền thống xứng đáng để tiếp nối, để tiếp tục làm rạng rỡ truyền thống Anh hùng của Binh chủng Thông tin Anh hùng.

Quang cảnh buổi Họp mặt.

Nhìn lại 61 năm đã qua, ngày 06/5/1965, giữa lúc cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ quyết liệt nhất; trước yêu cầu mới, Đoàn 4 được quyết định thành lập trên cơ sở từ Tiểu đoàn 4 thông tin thuộc Lữ đoàn 338 và 3 đại đội của Cục Thông tin liên lạc. Cho dù hiện nay, theo yêu cầu của tình hình mới, Đoàn 4 đã không tồn tại. Dẫu vậy, cái tên Đoàn 4 vẫn hiện hữu, vẫn trường tồn. Không chỉ có sách sử mà là trong tiềm thức của nhiều người, danh xưng Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin vẫn ngời sáng. Điều đó có được là bởi vì:

Thứ Nhất, Đoàn 4 đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ lịch sử giao phó. Sứ mệnh vẻ vang mà Đoàn 4 được đảm nhận đó là đào tạo báo vụ và đài trưởng 15W, cơ công chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong 10 năm (1965 - 1975) Đoàn 4 chính là nơi đào tạo những chiến sĩ có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, và đặc biệt là phải có ý chí sẵn sàng lên đường vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từ cái nôi Đoàn 4 – đã có hàng ngàn báo vụ, hàng trăm cơ công có mặt ở hầu khắp các chiến trường, tham gia chiến đấu trên rất nhiều mặt trận. Báo vụ được đào tạo từ Đoàn 4 ở mọi chiến trường, mọi mặt trận đều đã khẳng định được bản lĩnh và trình độ chuyên môn tốt, tạo nên một thương hiệu “Báo vụ Đoàn 4”, được chỉ huy các mặt trận tin tưởng và đánh giá rất cao.

Đoàn 4 đã là tiền thân của một Đơn vị Anh hùng. Đoàn 4 cũng đã sản sinh ra nhiều Anh hùng LLVT nhân dân, trong đó có Anh hùng liệt sĩ Hà Đình Hàn khóa 1967-1968 khi bị địch bao vây đã kiên cường chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, thà hy sinh, quyết không để vũ khí, khí tài thông tin rơi vào tay quân thù. Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin là cái nôi đào tạo ra nhiều cán bộ cho Quân đội, cho Binh chủng, cho các cơ quan, bộ, ngành. Rất nhiều người thành đạt, nhiều người đã trở thành cán bộ cấp cao, thành tướng lĩnh Quân đội.

Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin cũng đã đào tạo ra rất nhiều những báo vụ viên, chiến sỹ cơ công, đài trưởng giỏi. Báo vụ viên Nguyễn Bá Líu (về nhận công tác tại Lữ đoàn 205) là người vinh dự là người đầu tiên phát bức điện nổi tiếng của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi tới chiến trường: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”

Thứ Hai, Đoàn 4 nổi bật về chất lượng tuyển chọn cán bộ, chiến sỹ. Nhờ sự ưu ái trong tuyển quân, hầu hết chiến sĩ về đoàn 4 đều cơ bản có trình độ văn hóa lớp 10. Bởi vậy, hiệu quả học tập luôn thể hiện rất tốt; dù là khóa học 12 tháng hay rút gọn chỉ 9 tháng song vẫn đảm bảo chất lượng tốt nghiệp cao; các báo vụ viên hội đủ các yếu tố để sẵn sàng ra mặt trận.

Thứ Ba, Đoàn 4 được ghi nhớ bởi trình độ tổ chức và năng lực sáng tạo. Huấn luyện của Đoàn 4 luôn gắn liền với thực tiễn chiến trường. Nhiều báo vụ đã trực tiếp chiến đấu ở các mặt trận, nhiều vận động viên phát báo nhanh có thành tích toàn quân, toàn quốc... được đưa về làm giáo viên, làm quản lý bộ đội, được biên chế trực tiếp từ cấp trung đội, tiểu đội. Bởi vậy, những kinh nghiệm lọc nhiễu, kinh nghiệm nghe tín hiệu, kinh nghiệm dò sóng tìm đài, kinh nghiệm sửa lỗi ngượng tay, kinh nghiệm đặt từng ngón tay trên mặt núm ma níp, kinh nghiệm giữ cữ cánh tay phát báo, kinh nghiệm bám sát chỉ huy, ngụy trang tổ đài, kinh nghiệm ứng xử khi bắt đầu phát sóng bị địch phát hiện v.v. đều được truyền tải cặn kẽ tới từng học viên và đưa các tổ đài đến các nơi dày nhiễu để rèn luyện; những buổi hành quân, báo động, mang sọt đá, sọt “cay đất” trên vai, hợp luyện sức dẻo dai và khả năng cơ động... Chính những vùng đất tình người, những nét bút chì thanh đậm, những tín hiệu tịch tà, những chữ đúc nghiệp vụ RQ, BQ, cùng với ý thức “vào hầm đài là vào vị trí chiến đấu” đã gắn bó “nghiệp” báo vụ và đeo đẳng "nghiệp" đó tới suốt cả cuộc đời. Chặng đường Yên Dũng – Bắc Sơn – Tràng Định đã đi vào bài hát truyền thống “Bài ca 36 đèo” của cố nhạc sỹ Trần Sênh cả Đoàn 4 không thể nào quên. Bài hát ấy đã nâng bước chân các đoàn báo vụ, đã gia nhập các trạm và cùng đồng hành tới các ngóc ngách chiến trường.

Thứ Tư, Đoàn 4 luôn có ý thức trách nhiệm cao và tinh thần học tập, rèn luyện bền bỉ. Do đòi hỏi khẩn trương của chiến trường, đơn vị phải gấp rút, khẩn trương trong đào tạo. Bộ đội đóng quân ở đâu là dựng hội trường dã chiến ở đó, vừa học lắng nghe tín hiệu, vừa rèn đôi tay. Mọi hình thức cấp tốc, mọi cách dạy hay, học giỏi được phát huy. Bất kể ngày đêm, cứ thức giấc là rộn ràng tiếng còi tre học tín hiệu, tiếng trao đổi giữa các tổ ba người.

Thứ Năm, Đoàn 4 nổi danh với truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân. Do đặc thù của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các đơn vị luôn gắn với bản làng, bộ đội cơ bản đóng quân trong dân, sinh hoạt cùng dân, luôn được dân mến, dân yêu, dân đùm bọc, che chở. Đoàn 4 trở thành mẫu mực của Binh chủng về công tác dân vận. Những hoạt động kết nghĩa, những sẻ chia giúp đỡ các gia đình khó khăn, ý thức tham gia những công việc mà địa phương có yêu cầu “ở đâu khó có lính Đoàn 4”... Hình ảnh các chiến sỹ báo vụ tay trong tay tạo thành dòng người ngăn dòng nước lũ để đặt rồng tre hàn khẩu trong vụ vỡ đê Trí Yên vẫn mãi in đậm trong lòng dân Yên Dũng, Bắc Ninh.

Thứ Sáu, Đoàn 4 là đơn vị có môi trường văn hóa tiêu biểu, truyền thống đoàn kết thống nhất. Là người Đoàn 4, anh em luôn gắn bó, yêu thương “miếng cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”. Đoàn 4 nổi bật với thương hiệu của một đơn vị có đời sống văn hóa tinh thần rất phong phú, sôi động. Tập san Sông Thương hoạt động đều đặn hàng tháng. Sinh hoạt đơn vị là nơi để các giọng ca chưa bao giờ lên sân khấu trổ tài, những khúc hát chèo, những câu ví dặm và những lời quan họ, những bài thơ bút tre... đã trở thành “đặc sản” của nhiều đơn vị. Đội văn nghệ xung kích Đoàn 4 nổi danh với những dàn kịch mục phong phú; những màn hòa tấu nhạc cụ, những tiết mục tấu nói, những giọng ca đi cùng năm tháng, đã phục vụ bộ đội và nhân dân với hàng trăm buổi, tiếng thơm còn để lại đến tận ngày nay.

Trường Báo vụ miền (H19) - Đoàn 4 báo vụ - Trường HSQ Thông tin và hiện nay là Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin. Đó là các đơn vị của hàng ngàn những con người đã cống hiến, hy sinh; hàng ngàn “những bước chân xẻ dọc Trường Sơn”. Đó là nơi anh em cùng nhập ngũ, đã sinh sống, đã học tập, công tác và cũng đã cùng nhau tổ chức nhiều cuộc gặp mặt đồng đội. Nơi đó sẽ không bao giờ mất đi bởi nó vẫn luôn nhận được sự quan tâm, dõi theo của các thế hệ lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan BTL TTLL. Nó sẽ mãi trường tồn bởi từ khi được vinh danh, nó là thành viên của một tập thể Anh hùng. Còn với những thành viên Đoàn 4, nó là ký ức, là hoài niệm và là nơi ta thuộc về.

Có được niềm vui hôm nay, từ đáy lòng, thay mặt cho các cựu chiến binh Đoàn 4, đồng chí Trưởng ban liên lạc gửi lời biết ơn trân trọng tới Đảng, Nhà nước, Quân ủy TW, Bộ Quốc phòng; cảm ơn các cơ quan, đơn vị nơi đã bao bọc, giúp đỡ các chiến sỹ báo vụ; đặc biệt cám ơn sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, BTL Binh chủng TTLL; cảm ơn Đảng ủy, chỉ huy Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin trong quá trình làm hồ sơ đề nghị đơn vị anh hùng.

Đồng chí Trưởng ban liên lạc cũng tỏ lòng thành kính tri ân và tưởng nhớ những cống hiến thầm lặng và sự hy sinh anh dũng của các anh hùng, liệt sỹ. Ghi nhớ công lao và biết ơn các thế hệ lãnh đạo, chỉ huy qua các thời kỳ. Tưởng nhớ các thủ trưởng, đồng chí đồng đội đã mất vì bệnh tật và tuổi tác. Các thủ trưởng, các đồng chí vẫn còn sống mãi trong tâm trí của cựu chiến binh Đoàn 4.

Buổi Họp mặt rất xúc động được nghe bác Vũ Lực, nguyên là Chủ nhiệm Chính trị Đoàn 4, một trong những cán bộ đầu tiên từ Lữ đoàn 338 về thành lâp Đoàn 4 thông tin, ôn lại những ngày đầu gian khó trong kháng chiến chống Mỹ của Đoàn 4.

Bác Vũ Lực - nguyên Chủ nhiệm Chính trị Đoàn 4 phát biểu.

Đại tá Tô Hồng Quân - Phó Chính ủy Binh chủng phát biểu.

Phát biểu với các đại biểu tại buổi Họp mặt, đồng chí Đại tá Tô Hồng Quân – Phó Chính ủy Binh chủng bày tỏ sự vui mừng và trân trọng cảm ơn các đại biểu hội viên Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường HSQ Thông tin đã luôn ủng hộ, giúp đỡ và cống hiến xây dựng Binh chủng trong suốt 60 năm qua. Đồng thời, đồng chí  Phó Chính ủy cũng thông tin với các đại biểu về một số nhiệm vụ chính của Binh chủng trong giai đoạn hiện nay.

Buổi Họp mặt mừng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân và kỷ niệm 61 năm Ngày truyền thống Đoàn 4 - Trường Báo vụ - Trường Hạ sĩ quan Thông tin được tổ chức trang trọng, ấm áp tình đồng đội đã thực sự cổ vũ, động viên hội viên các thế hệ đoàn kết xây dựng truyền thống của  Binh chủng ngày càng phát triển.

Một số hình ảnh buổi Họp mặt:

Đồng chí Phó Chính ủy tặng hoa của Đảng ủy, Thủ trưởng BTL cho Hội truyền thống. Ảnh Trương Quốc Việt.

Đ/c Thiếu tướng Vũ Dương Nghi - Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội tặng hoa cho Hội Truyền thống.

Đồng chí Phó Lữ đoàn trưởng 205 tặng hoa cho Hội truyền thống.
Đồng chí Chính ủy Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông tin tặng hoa cho Hội truyền thống.
Đồng chí Trưởng ban liên lạc Hội truyền thống Đoàn 4, Trường Báo vụ, Trường HSQTT phía Nam tặng hoa cho Hội truyền thống.
Đồng chí phụ trách CLB ca múa nhạc Đoàn 4 phía Nam tặng hoa cho Hội truyền thống.
Ông Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Việt Thái Holdings tặng hoa cho Hội truyền thống.







Một số tiết mục văn nghệ.
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm.
Tin, ảnh Quang Hưng





9.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (4/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 3/8

26. Bỏ một mâm, lấy một đĩa

Ðồng chí Vũ Uy kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện mà đồng chí nhớ mãi.

“Đó là vào dịp cuối năm 1950, sau Chiến dịch Biên giới. Tôi được trên phân công lái xe đưa Bác đi công tác. Một tối, trên đường từ Ngân Sơn đi Cao Bằng, qua đèn chiếu tôi thấy một hòn đá giữa đường. Vốn là lái xe to, quen tay, tôi đưa xe vào giữa hòn đá, nghĩ bụng sẽ lọt thôi. Nào ngờ hòn đá tai ác bật lên chạm két nước. Nhảy xuống xe tôi phát hiện ra là két bị thủng rồi. Nguy quá. Tôi cuống lên.

Bác đến bên, chiếu đèn pin cho tôi, rồi nói:

- Cứ bình tĩnh mà chữa. Chữa cho cẩn thận.

Bác không hỏi vì sao xe hỏng, cũng không góp ý phê bình gì.

Vì trên xe có đồng chí Chủ, thợ máy đi theo nên chẳng mấy chốc lỗ thủng két nước đã hàn xong. Chúng tôi lại đưa Bác lên đường đi tiếp, đến địa điểm an toàn.

Nghỉ ngơi xong, Bác hỏi tôi:

- Xe làm sao thế?

- Thưa Bác, cháu quen lái xe tải, nên thấy hòn đá tưởng có thể vượt qua được, không ngờ nó lại kẹt vào thùng nên bị thủng...

Bấy giờ Bác mới nói:

- Đáng lẽ ra chú nên cho xe dừng. Ta lăn hòn đá xuống vực rồi tiếp tục đi. Có lâu cũng chỉ dăm ba phút không phải dừng lại đến gần nửa tiếng mà lại giúp các xe đi sau khỏi gặp nạn. Chú đã “bỏ một mâm mà chỉ lấy một đĩa”.

Tôi nhận lỗi và xin hứa với Bác rút kinh nghiệm, sửa chữa cách nghĩ, cách làm...

Cứ như ý tôi sáu chữ Bác dạy “bỏ một mâm lấy một đĩa” có thể áp dụng trong tất cả công tác cách mạng. Phải nghĩ tới cái lớn, cái lâu dài, cái chung. Phải cẩn thận chứ không nên vội vàng, hấp tấp, nghĩ tới cái nhỏ, cái hẹp, cái thiển cận...

 

27. Hỏi chú Việt ấy!

Trong kháng chiến chống Pháp để sẵn sàng để phòng sự bất trắc, tuy đã ở trong A.T.K (an toàn khu) nhưng cán bộ của Phủ Chủ tịch và Văn phòng Trung ương Đảng vẫn luôn luôn phải “quân sự hóa”, có thời gian phần lớn cán bộ đều phải ngủ đêm tập trung, đôi lúc còn bị “báo động thử”, điểm danh, mang ba lô tập hành quân.

Một lần đồng chí Việt có vợ lên thăm. Cơ quan cho phép đồng chí ra “chiêu đãi sở”1 trao đổi công việc gia đình với chị Việt. Được vài hôm thì có lệnh tập trung. Đêm hôm ấy có báo động thật. Điểm danh không thấy đồng chí Việt đâu. Anh em lo quá, báo cáo lên Bác. Bác nói:

- Ta cứ hành quân thôi. Yên tâm.

Sau đó mới biết rằng đêm ấy đồng chí Việt xuống làng, đến “chiêu đãi sở”. Anh em cũng “thông cảm” bỏ qua cho, nhưng cũng không quên nhắc nhở đồng chí Việt.

Ít lâu sau, trong một lần sinh hoạt học tập về quân sự, có người đề nghị Bác giảng dạy thêm về lối đánh du kích của Nga, của Trung Quốc, của ta.

Bác kể các mẩu chuyện nhỏ của các đội quân ngầm Hồng quân Liên Xô, của Bát Lộ Quân... Trong các vùng bị địch tạm thời chiếm đóng. Khi thời gian học đã gần hết, Bác nói:

- Về cách đánh du kích của ta, Bác sẽ nói sau. Ai muốn tìm hiểu trước thì hỏi chú Việt ấy...

Đồng chí Việt nói lại với chúng tôi:

- Ông cụ phê bình tế nhị, thân tình mà vẫn nghiêm khắc, nhẹ nhàng nhưng mình xấu hổ quá. Từ đó về sau, “cạch” không dám vi phạm nội quy nữa...

-------------------------------------------

1 Là nơi dành để đón gia đình vợ, con cán bộ đến thăm.

 

28. “Nhà máy có khỉ”

Sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với chủ đề Hà Nội do Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội in vào dịp tháng 5 năm 1985, trang 22 có viết:

Ngày 19 tháng 5 năm 1955, Hồ Chủ tịch thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm.Người căn dặn “Muốn thi đua có kết quả thì mọi người phải biết đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau...”

Đến thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, Bác nhắc nhở công nhân, cán bộ phát huy truyền thống cách mạng của Nhà máy, ra sức xây dựng miền Bắc, ủng hộ miền Nam.

Một công nhân trẻ Nhà máy sau này còn được nghe kể lại một mẩu chuyện nhỏ trong dịp Bác thăm lần ấy.

Năm 1955, Hà Nội mới giải phóng được một năm, Nhà máy bấy giờ còn có tên là “Nhà máy Cơ khí Gia Lâm”. Cái biển treo trước cổng nhà máy kẻ chữ to, đẹp nhưng không đánh dấu sắc chữ “i”. Không có “mũ chữ “â”, chữ “ơ” không có râu...

Đến thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, Bác nhắc nhở công nhân, cán bộ phát huy truyền thống cách mạng của Nhà máy, ra sức xây dựng miền Bắc, ủng hộ miền Nam.

Bác vào Nhà máy, gặp anh chị em công nhân, bỗng Bác hỏi:

- Nhà máy các cô, các chú có khỉ à?

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu câu chuyện thế nào mà lại sinh ra “khỉ” thế này. Giám đốc ra hiệu hỏi thư ký công đoàn, thư ký công đoàn hỏi bí thư thanh niên. Không ai trả lời được. Bác lại giục:

- Thế nào, biển đề “có khỉ” mà.

- Dạ, thưa có đâu ạ.

Bác cười:

- Có đấy!

- Biển Nhà máy Cơ khí Gia Lâm của các cô, các chủ viết bằng tiếng mẹ đẻ mà không đánh dấu. Vì vậy mà Bác đọc nhầm là “Nhà máy có khỉ mà khỉ lại “già lắm”...

Mọi người ngẩn ra... được một bài học đích đáng nhé...

 

29. “Qua kin mẹo”

Thời gian ở Xiêm năm 1927 - 1928, Bác thấy Việt kiều ta thỉnh thoảng vẫn “đánh đụng” chung nhau ăn “mộc tồn”1. Vì người Thái kiêng không ăn loại thịt này nên Việt kiều thường nói khác là thịt “mèo”, anh em nói lái ra “qua kin mẹo” (nghĩa là quạ ăn mèo) để diễn đạt: “keo kin mạ” (người Keo - người Việt ăn thịt cầy).

Tuy Thầu Chín không “tham gia” nhưng thấy anh em vui vẻ Người cũng vui lây...

Năm 1949, có một đoàn đại biểu ở Xiêm về nước báo cáo tình hình hoạt động yêu nước của kiều bào với Hồ Chủ tịch và Chính phủ, trong khi chờ ngày Hội đồng Chính phủ tiếp, Bác chủ động đến thăm anh em.

Trông thấy đồng chí Nhu, đồng chí Kiệt và một số kiều bào quen biết cũ, trong lúc các đồng chí này đang lúng túng không biết nên báo cáo thế nào với Chủ tịch nước, thì Bác đã tươi cười hỏi:

- Anh em mình vẫn mạnh giỏi cả chứ. Vẫn “qua kin mẹo” chứ?

Tất cả cười vang lên trong một không khí gia đình của những người thân thích ruột thịt xa nhau, lâu ngày mới được gặp lại và không thấy có gì ngăn cách giữa mình với Bác.

(Theo lời kể của đồng chí Hòa)

-----------------------------------

1 “Mộc” tiếng Hán là “cây”. “tồn” tiếng Hán là “còn”, “cây còn” nói lái ra là “con cầy” tức món thịt cầy, thịt chó (TG).

 

30. Phải đánh được bài “Kết đoàn”

Có một cán bộ cao cấp rất yêu thích văn học nghệ thuật. Trong năm đồng chí ấy đã tập đánh đàn dương cầm vừa để giải trí xen kẽ những giờ lao động trí óc mệt nhọc vừa thưởng thức những âm thanh huyền diệu của cây đàn.

Một lần, Bác đến thăm và yêu cầu đồng chí dạo một bản nhạc tự chọn để Bác nghe. Ngồi vào bàn đồng chí ấn phím và bài “Chiến thắng Điện Biên” hùng tráng vang lên. Dứt bản nhạc Bác hỏi:

- Chú có chơi các bài dân ca không?

Những phím đàn lại đưa Bác về với vùng quan họ với bài Trống cơm, rồi Trẩy hội đêm rằm...

Nghe xong, Bác tiến lại gần đồng chí cán bộ hỏi:

- Chú có biết đánh bài Kết đoàn không? Bài Kết đoàn ai cũng biết. Nếu chưa đánh được bài ấy thì chưa giỏi.

Bác bắt nhịp bài Kết đoàn trong buổi hòa nhạc mừng Đại hội Đảng năm 1960.

Đồng chí cán bộ đành thú thật với Bác là chưa đánh được bài Kết đoàn.

(Theo đồng chí H.D)

 

31. Dân chủ mà thành “quan chủ”

Ngay từ khi chưa giành được chính quyền, Bác Hồ đã dự báo trước căn bệnh “quan liêu” sẽ xuất hiện, sẽ làm xói mòn “cơ thể” một số cán bộ, một số cơ chế tổ chức, dẫn đến tai hại cho cả một xã hội.

Hôm đầu tiên về Hà Nội, tháng 8 năm 1945, Bác đã nhắc khéo một vài “quý vị” rằng “đã ra vẻ người thành phố, ra vẻ cán bộ rồi đấy”.Trong kháng chiến chống Pháp trong sách Sửa đổi lối làm việc, mỗi khi có hội nghị, gặp gỡ cán bộ cấp cao ở Trung ương, cấp cuối cùng ở thôn xã, bao giờ Bác cũng nhắc “cán bộ là đầy tớ của nhân dân”. Bác nghiêm khắc phê bình lối làm việc “quan liêu mệnh lệnh, xa rời dân chúng”, lên mặt quan cách mạng, “khắc hai chữ cộng sản lên trán” ra vẻ ta đây...

Hòa bình lập lại trên miền Bắc được vài năm, ở Hà Nội xuất hiện chế độ tem phiếu. Những bà nội trợ trong thời gian ấy cứ bù đầu lên vì những phiếu, những số A, B, C, 1, 2, 3... Có những ông chồng giáo sư, bác sĩ... cứ nghe “đức phu nhân” trình bày “giá trị, tác dụng” của các ô giấy nhỏ ấy cũng lắc đầu lảng tránh “Tôi xin chịu... không hiểu nổi, không nhớ nổi”...

Có phiếu bìa đỏ mua ở cửa hàng cung cấp cho cán bộ “cao”, bìa xanh cho cán bộ “vừa”, bìa trắng cho nhân dân... Lại có bìa mua ở cửa hàng đặc biệt. Lại còn bìa dành cho cán bộ được mua ở các cửa hàng quốc tế mặc dù có cán bộ “cả đời” cũng không bước chân vào xem trong đó có gì - có thể vì không thích, vì không đủ tiền; trong khi đó có một loại “con buôn” lại vào, ra “thì thọt” kiếm chác được!

Tháng 5 năm 1969, trong một lần làm việc với một nhà khoa học, những vấn đề tem phiếu cho các cấp “quan cán bộ” ấy đã được Bác lắng nghe. Bác yêu cầu cho dẫn chứng cụ thể các thể thức bán hàng, phục vụ quá phiền phức tại Hà Nội.

Bác không vui, quay lại hỏi Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Nội thương. Bác lại hỏi Bí thư Thành ủy Hà Nội. Biết chắc chắn tình hình đã có, đã có khá lâu, Bác lắc đầu: - Dân chủ mà thành ra quan chủ. Hà Nội mà còn nhiều quan như vậy sao!

Tất cả từ Thủ tướng đến nhà khoa học, ngồi im nghẹn ngào, xúc động không trả lời được Bác.

(Theo lời kể của giáo sư Hoàng Tụy)

 

32. Chiếc áo ấm

Một đêm mùa đông năm 1951, gió bấc tràn về mang theo những hạt mưa lâm thâm làm cho khí trời càng thêm lạnh giá. Thung lũng bản Ty co mình lại trong yên giấc, trừ một ngôi nhà sàn nhỏ còn phát ra ánh sáng. Ở đây, Bác vẫn thức, vẫn làm việc khuya như bao đêm bình thường khác.

Bỗng cánh cửa nhà sàn hé mở, bóng Bác hiện ra. Bác bước xuống cầu thang, đi thẳng về phía gốc cây, chỗ tôi đang đứng gác:

- Chú làm nhiệm vụ ở đây có phải không?

- Thưa Bác, vâng ạ!

- Chú không có áo mưa?

Tôi ngập ngừng nhưng mạnh dạn đáp:

Dạ thưa Bác, cháu không có ạ!

Bác nhìn tôi từ đầu đến chân ái ngại:

- Gác đêm, có áo mưa, không ướt, đỡ lạnh hơn.

Sau đó Bác từ từ đi vào nhà, dáng suy nghĩ...

Một tuần sau, anh Bảy cùng mấy người nữa đem đến cho chúng tôi 12 chiếc áo dạ dài chiến lợi phẩm. Anh nói:

- Bác bảo phải cố gắng tìm áo mưa cho anh em. Hôm nay có mấy chiếc áo này, chúng tôi mang lại cho các đồng chí.

Được một chiếc áo như thế này là một điều quý, nhưng đối với chúng tôi còn quý giá và hạnh phúc hơn khi Bác trực tiếp chăm lo, săn sóc với cả tấm lòng yêu thương của một người cha.

Sáng hôm sau, tôi mặc chiếc áo mới nhận được đến gác nơi Bác làm việc. Thấy tôi, Bác cười và khen:

- Hôm nay chú có áo rồi.

- Dạ thưa Bác, đây là áo anh Bảy đem đến cho tiểu đội chúng cháu mỗi người một chiếc ạ.

Nghe tôi thưa lại, Bác rất vui. Bác ân cần dặn dò thêm:

- Trời lạnh, chú cần giữ gìn sức khỏe và cố gắng làm tốt công tác.

Dặn dò xong, Bác trở lại ngôi nhà sàn để làm việc.

Lòng tôi xiết bao xúc động. Bác đã dành áo ấm cho chúng tôi trong lúc Bác chỉ mặc một chiếc áo bông mỏng đã cũ. Đáng lẽ chúng tôi phải chăm lo cho Bác nhiều hơn, còn Bác, Bác lại lo nghĩ đến chúng tôi nhiều quá.

Từ đấy, chúng tôi cũng trân trọng giữ gìn chiếc áo Bác cho như giữ lấy hơi ấm của Bác. Hơi ấm ấy đã truyền thêm cho chúng tôi sức mạnh trong mỗi chặng đường công tác.

(Theo lời kể của đồng chí Tiện)

 

33. Thế có nước mắm ớt không?

Đầu năm 1967, nhân dịp Tết Bính Ngọ, Bác Hồ đến thăm trận địa trung đội súng máy cạnh bờ đê Mai Lĩnh. Từ xa, các chiến sĩ đã nhận ra ngay cụ già từ trong chiếc xe sau bước xuống là Bác Hồ vô cùng kính yêu của họ. Không nén được vui mừng, cả trung đội cùng reo lên: Bác Hồ!

Mặc dù trời mưa, đường trơn, Bác vẫn nhanh nhẹn đi vào trận địa. Chỉ trong giây lát, cả trung đội đi vòng quanh Bác. Chân đi dép lốp, đầu đội mũ vải, Bác cứ đứng dưới mưa phùn nói chuyện với anh em. Giọng Bác ấm áp, hiền từ như một người ông nói với đàn cháu nhỏ. Bác hỏi:

- Các chú khỏe chứ. Có đủ ấm không? Các chú ăn tết có những gì?

Anh em đồng thanh đáp:

- Thưa Bác nhiều lắm ạ.

Một đồng chí cán bộ thay mặt đơn vị báo cáo:

- Dạ thưa Bác, chúng cháu khỏe, đủ ấm, Tết chúng cháu có bánh chưng, có thịt, có giò, có cả thịt gà nữa...

Bác lại hỏi:

- Thể có nước mắm ớt không?

Câu hỏi của Bác làm cả trung đội cười ầm lên thích thú và cảm động. Nghe những câu hỏi của Bác, nhìn cặp mắt hiền từ của Bác, càng thấy tấm lòng yêu thương của Bác đối với bộ đội như người mẹ hiền.

(Theo hồi ký của Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu)

 

34. Bữa cơm ở bản

Bác và đồng chí Phù Sấn thoát khỏi bốt gác Đôn Chương thì đi thẳng đến trạm Nà Mạ. Mới đặt khăn gói, chưa kịp nghỉ ngơi thì được tin: có tên tổng đoàn lên khám mạng một vụ giết người cướp của ở Kèo Già. Để đảm bảo an toàn, các đồng chí đưa Bác lánh vào một cái hang sau làng Nà Mạ, chờ đến tối sẽ đưa Bác vào làng ăn cơm. Trước khi vào hang tránh, Bác dặn làm thịt con gà mà tỉnh ủy Cao Bằng cho mang theo khi Bác cải trang đi đường.

Chiều hôm ấy, chủ nhà không thịt gà như Bác đã dặn mà thịt con vịt béo của nhà mình để làm cơm mời khách. Chủ nhà lọc riêng nạc với gan cho ra một đĩa và đặt sang mâm Bác.

Ngồi vào ăn, Bác nhìn mâm cơm và hỏi:

- Ai làm bữa cơm này?

- Thưa Bác, chủ nhà ạ!

Chỉ vào đĩa thịt nạc, Bác bảo:

- Sao lại làm như vậy?

- Thưa Bác, đó là phong tục địa phương đối với khách ạ.

Bác lắc đầu nói:

- Không được, phong gì thì phong tục gì thì tục, chủ xẻ đĩa thịt này sang mâm kia để gia đình cùng ăn.

Mọi người làm theo lời Bác.

 

35. Vận trù học

Dù đã đi bốn phương trời, tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ sau bao nhiêu năm xa cách Tổ quốc, Bác vẫn không bao giờ quên những âm nói riêng của “Xứ Nghệ”, nhớ thương, xúc động khi ở đất Thái, quê người, bỗng nghe bà Quỳnh Anh một đêm hè “ru con” bằng lối ru của những người mẹ hiền ở quê mẹ...

Ngành ngôn ngữ nước ta chắc sẽ không bao giờ quên, nhờ có Bác mà có thêm được những danh từ rất Việt Nam không kém trang trọng “bác học” mà vẫn “dân gian”. Một đoàn “ca vũ” Tổng cục chính trị, một hội “Hồng thập tự”, một lớp “phi công”, các “cung ứng hỏa xa viên”... đều đã được Bác đổi tên cho thành “Đoàn ca múa”, “Hội chữ thập đỏ”, “chiến sĩ lái”, “Đội phòng cháy, chữa cháy, nhân viên phục vụ”, rồi cho cả “vùng trời vùng biển”...

Nhà toán học Hoàng Tụy có chuyện kể rằng:

“Khoảng tháng 5 năm 1969, chỉ vài tháng trước lúc đi xa, trong một lần nào đó, Bác thấy nhân dân thủ đô phải “rồng rắn” xếp hàng dài trước các cửa hàng, nhất là ở các quán bia. Bác băn khoăn và trao đổi việc này với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ngày 30 tháng 7 cùng năm, nhà toán học được mời đến gặp Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ yêu cầu áp dụng khoa học trong việc phân phối hàng hóa, góp phần giải quyết tình trạng “xếp đuôi dài” trước các cửa hiệu. Nhà toán học đã phát biểu về khả năng áp dụng vận trù học trong ngành thương nghiệp để giải tỏa “rồng rắn”. Bác nêu việc người mua bia, bán bia và nói:

- Chú thử cố gắng áp dụng lý thuyết “vận trù học” của chú để cải tiến việc này.

Biết là Bác phê bình khéo ba chữ “vận trù học”, vì nhà khoa học đã đoán biết thế nào Chủ tịch nước cũng “nhắc nhở” về nhóm chữ này, nên đồng chí Hoàng Tụy thưa:

- Thưa Bác, chúng cháu chưa tìm ra được chữ khác...

Bác nói:

- Nên tìm chữ gì dễ hiểu hơn, chứ “vận trù học” thì Chủ tịch nước cũng không hiểu nổi!

Ngừng một lát, Bác lại hỏi:

- Thế chú có biết nguồn gốc chữ “vận trù học” ở đâu mà ra không?

Nhà toán học, mẹ đẻ ra đứa con yêu - danh từ “vận trù học”, xấu hổ quá, báo cáo thật:

- Thưa Bác, không ạ...

Bác nói:

- Đó là câu của Trương Lương “vận trù duy ác chi trung, quyết thắng thiên lý chi ngoại”. Vận trù cũng là tham mưu. Bộ đội ta có nhiều người không học tính toán được nhiều mà làm “vận trù” cũng khá, là nhờ cái này (Bác chỉ vào ngực, phía quả tim...).

Nghe thế, nhưng nhà toán học cho đến nay vẫn còn “nợ” chưa tìm được ba chữ gì thay cho “vận trù học”.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)