16.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (7/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 6/8

51. Cái đuôi Tôn Ngộ Không

Một cán bộ cấp cao dự lớp Chỉnh Đảng Trung ương khóa 1, năm 1952 tại Việt Bắc, nói với chúng tôi:

- Bây giờ xem Tây Du Ký hay, đẹp thật đấy, nhưng mình vẫn nhớ mãi câu chuyện “ngoài” Tây Du Ký hay nhất mà mình được Bác Hồ dạy.

“Năm ấy, Bác đến lớp. Bác nói: “Các cô, các chú (bao giờ Bác cũng gọi các cô trước, đồng bào, chiến sĩ trước) học đã căng thẳng, nên Bác đề nghị tối nay nghỉ học để Bác cháu ta nói chuyện vui.

Cả lớp vỗ tay hoan hô, không khí lớp học sôi nổi hẳn lên.

Bác hỏi: “Trong các chú ở đây, ai đã đọc Tây Du Ký? Nhiều cánh tay giơ lên, Bác nhìn thấy ông Tôn Quang Phiệt là nhà hoạt động cách mạng, người đã tham gia sáng lập Đảng Tân Việt, bấy giờ là Tổng thư ký Ủy ban Thường trực Quốc hội, Bác mời ông Phiệt, đồng hương Nghệ An lên kể chuyện, nhưng yêu cầu chỉ được nói trong 15 phút. Ông Phiệt mới “đỉ được vài đoạn đã hết giờ đành thú thực “kể vắn tắt khó lắm” và ông Phiệt “trêu” lại Bác. “Xin mời Bác”.

Bác cười, “thông cảm” rồi kể.

“Từ khi loài người có đầu óc tư hữu thì sinh ra nhiều thói hư tật xấu. Đường Tăng là một vị chân tu, bản chất tốt, có lòng nhân hậu, có tính khoan dung. Ông ta muốn chống áp bức, nhưng không có đường lối cách mạng dẫn đường. Tin vào sức mạnh cảm hóa của đạo Phật, nên ông tình nguyện đi lấy Kinh Phật để truyền bá. Sau 14 năm trời, tức là qua 5.048 ngày đêm, thầy trò Đường Tăng vượt qua 18 vạn 8 ngàn dặm đường chịu đựng 81 tai ương để lấy được 55 bộ kinh gồm 5.048 quyển. Đó là pho truyện dài, đấu tranh giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa. Còn có thể tìm thấy ở Tây Du Ký nhiều vấn đề bổ ích nữa. Đường Tăng là một người có lập trường kiên định, có bản lĩnh, tạo được cái “bất biến” để đối phó với cái “vạn biến”.

Còn Tôn Ngộ Không vì không tu thành đạo được nên vẫn còn cái đuôi. Khi Tôn Ngộ Không biến thành cái đình thì cái đuôi ở sau phải hóa phép làm cái cột cờ. Bọn Ma Vương thấy lạ, tại sao cột cờ ở phía sau đình, phát hiện ra cái đuôi của Tề Thiên Đại Thánh nên không bị mắc lừa, không vào đình nữa, nên mưu của họ Tôn bị thất bại...”

Nghe đến đây, chúng tôi “sợ” quá. Quả là được nghe một bản “tổng thuật” giá trị về Tây Du Ký. Biết chắc là Bác còn cái gì nữa nên chờ...

Bác nói tiếp...

“Người cách mạng chúng ta nếu không tu dưỡng thì cũng có phen cái đuôi ấy, dù nhỏ sẽ có ngày gây hậu quả khôn lường...”

Cả lớp ngồi im...

Mấy năm gần đây, đọc sách báo biết thêm Bác đã nói “cách mạng là đổi cái cũ ra cái mới, đổi cái xấu ra cái tốt”, tôi nghĩ đến một số nhỏ cán bộ chẳng đổi mới, chẳng đổi tốt, vẫn cứ như cũ, có khi còn xấu hơn cũ nên bụng bảo dạ rằng: thể là cái đuôi Tôn Hành Giả “lòi” ra rồi, như Bác Hồ đã báo trước.

 

52. Một bức ảnh muộn màng

Năm 1960, tháng 7, ngày 17, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội đi nghỉ tại Sầm Sơn.

9 giờ sáng Bác tới Sầm Sơn, Người lên thẳng miếu Cô Tiên, nghe trưởng đồn công an thị trấn Sầm Sơn báo cáo tình hình và nghỉ trưa tại đó. 13 giờ, Người làm việc với cán bộ lãnh đạo tỉnh, nhằm giúp đỡ Thanh Hóa nhanh chóng khắc phục tình trạng đói nghèo. Tối hôm ấy, Bác nghỉ tại miếu Cô Tiên.

Sáng ngày 18, Người ra bãi biển ngắm cảnh, nói chuyện với ngư dân xóm Vĩnh Sơn, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương - nay thuộc phường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn.

Sau đó, Bác tới thăm gia đình một đồng bào làm nghề đánh cá, chụp ảnh chung với cháu bé trong gia đình, thăm nhà nghỉ của Tổng Công đoàn, nói chuyện với nhân viên phục vụ ở đây. Bác đi thăm trại nuôi dưỡng thương binh, trại an dưỡng cụ già nghèo miền Nam, trèo núi thăm một đơn vị bảo vệ bờ biển. Tối, Bác xem phim với đồng bào, bộ đội, rồi lại về miếu Cô Tiên nghỉ.

Bác Hồ kéo lưới cùng ngư dân Sầm Sơn, Thanh Hóa, 1960.

Sáng 19, Bác ở thị xã Thanh Hóa, và hôm sau về Hà Nội.

Trong chuyến đi này, các nhà nhiếp ảnh có chụp được nhiều ảnh về Bác. Có ảnh Bác kéo lưới, bắt cá với dân, ngồi trò chuyện với cụ già đánh cá, quần đùi, cởi trần, đâu không nón, mũ. Khi bức ảnh được in ra, có người rất thích, khen đẹp. Có cán bộ tuy cũng đồng ý là được, nhưng không cho công bố “vì để giữ bí mật”. Hay là thật lòng anh cán bộ nghĩ để ảnh Bác “dân dã” như vậy có điều gì khiếm khuyết chăng?

Chính vì vậy, cho đến ba mươi lăm năm sau, tấm ảnh “Bác Hồ trên bãi biển Sầm Sơn” mới được xuất hiện trên báo.

 

53. Chỉ là hai chữ “cám ơn”

Tháng 12 năm 1968, cơ quan Phủ Chủ tịch có dự thảo lời Hồ Chủ tịch trả lời điện của bốn tờ báo Nhật (Chunichi Shimbun, Tokyo Shimbun, Nishinihon Shimbun, Hokkaido Shimbun).

Mở đầu, bản dự thảo viết:

“Tôi đã nhận được thư của các ông đề nghị tôi nói vài lời với nhân dân Nhật Bản nhân dịp đầu năm 1969...

Cuối thư, dự thảo có câu “Chúc nhân dân Nhật Bản thu được nhiều thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ của Nhật Bản và vì hòa bình ở châu Á và thế giới”.

Dự thảo được trình lên Bác. Người xóa bỏ tất cả những

chữ “thu nhiều thắng lợi”... cho đến... châu Á và thế giới” và thay vào đó bốn chữ “muôn sự tốt lành” và viết thêm: “Chúc quý báo và các bạn đọc hạnh phúc”.

Trong câu mở đầu, Bác xóa ba chữ: “đã nhận được” và dòng viết: “đề nghị tôi...”

Bác viết: “Tôi cám ơn thư các ông”.

Bức thư ngắn này làm cho ta nhiều suy nghĩ.

Thứ nhất: Bác không thích “chúc” người ta vừa lại có ý “nhắc nhở” làm một việc gì đó.

Thứ hai: “nhận” được có thể bỏ đi, có thể quên, có thể không được... nhưng “cám ơn” thì khác, mức độ thân thiết, nghĩa tình cao biết mấy.

Thứ ba: Phong cách làm việc của Bác tỉ mỉ, cụ thể... Năm đó Bác đã ở tuổi 78.

 

54. Tấm lòng của Bác với Paris

Theo nhiều nguồn tư liệu, Nguyễn Tất Thành đến Paris vào cuối năm 1917, thủ đô nước Pháp hoa lệ, ánh sáng, trung tâm chính trị văn hóa của nước Pháp và châu Âu đầu thế kỷ này và còn là pháo đài của bọn phản động, là cạm bẫy của mọi sự cám dỗ. Tại đây, Nguyễn Tất Thành lao động, học tập, làm chính trị, tìm con đường cứu nước... Paris là nơi Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức, xuất bản tờ Le Paria... Dấu chân Nguyễn Ái Quốc đã in trên nhiều đường phố, nhiều thư viện, nhà hát, hội trường, vùng ngoại ô... Là một người Việt Nam chống lại chính quyền ở Đông Dương, chống lại chính phủ Pháp ở chính quốc, nhưng Nguyễn Tất Thành lại được các tổ chức dân chủ, tiến bộ, được nhân dân Pháp, nhân dân Paris đùm bọc chở che.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ tướng Pháp Georges tại Pháp, ngày 02 tháng 7 năm 1946.

Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc, từ Paris sang nước Nga và bôn ba qua nhiều nước khác, mãi đến năm 1946, Bác mới có dịp trở lại nước Pháp và thủ đô Paris với tư cách là thượng khách của nước Pháp. Trong bữa tiệc chiêu đãi Bác do Thị trưởng Paris tổ chức ngày 4 tháng 7 năm 1946, Bác đã phát biểu:

“... Cho phép tôi được nói lên, với tất cả sự chân thành, sự vui mừng của tôi được tới Paris, mảnh đất lý tưởng của công lý, tự do, quê hương của dân chủ, xin cho phép tôi được chào, với tất cả sự cảm động và tấm lòng của tôi tới thành phố vinh quang mà biết bao mối quan hệ trí tuệ và đạo đức đã làm cho nước Cộng hòa Việt Nam hướng tới.

Tôi đã từng mến và khâm phục nhân dân Paris anh dũng từ nhiều thế kỷ đã đứng vào mũi nhọn của các cuộc chiến đấu cho các tư tưởng tiến bộ và hòa hiệp.

...Paris đã từng chiến đấu và đau khổ cho tự do, sẽ hiểu và ủng hộ những khát vọng của nhân dân Việt Nam, cũng là những khát vọng của chính họ1”.

-----------------------------------------

1 Lời dịch qua bản tiếng Pháp của GS. Đinh Xuân Lâm.

 

55. Điều lo của Bác cách đây hơn nửa thế kỷ

Mỗi cán bộ cấp cao, nay đã nghỉ hưu, nhưng vẫn tham gia hoạt động vì dân, vì nước, thấy tình hình giáo dục đạo đức của thanh thiếu niên, tình hình “nhố nhăng” ở một số mặt văn hóa, thông tin, tuyên truyền, quảng cáo, truyền hình, mách cho tôi biết một câu của Bác.

Một câu ngắn thôi. Đó là trong Hội nghị Trung ương lần thứ 4 năm 1960, Bác đã “báo động” bằng một nhận xét rằng: “Tôi xem chương trình giáo dục của 10 lớp thì từ lớp 1 đến lớp 10, phần Đức dục rất thiếu sót, chỉ có 10 dòng”.

Nhận xét này của Bác gợi cho chúng ta một suy nghĩ là: vấn đề đạo đức trong nhà trường quan trọng biết nhường nào! Giáo dục toàn diện, trong đó thực sự coi trọng giáo dục đạo đức, rõ ràng đang được đặt ra cấp bách của ngành giáo dục - đào tạo và của toàn dân ta hiện nay. Nhận xét trên đây của Bác không chỉ mang tính truyền thống của giáo dục “tiên học lễ, hậu học văn” mà còn là tư tưởng chỉ đạo quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo.

 

56. “Quyền lực” của Hồ Chủ tịch

Jean Étienne Valluy (1899 - 1970) là tướng Pháp làm Tổng chỉ huy quân đội Viễn chinh Pháp ở Đông Dương từ tháng 6 năm 1946 đến tháng 9 năm 1948. Sau khi thất bại ở chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông, trở về Pháp, Valluy tiếp tục cuộc đời binh nghiệp. Năm 1958, Valluy lại ra chỉ huy quân đội khối Bắc Đại Tây Dương ở Tây Âu cho đến năm 1960.

Trong cuộc kháng chiến của Việt Nam, Valluy là kẻ thù của nhân dân ta. Valluy có mặt tại Việt Nam trong một thời điểm gay cấn nhất, chiếm đóng Hải Phòng, khiêu khích ở Hà Nội, nổ súng đánh chiếm các công sở Việt Nam trong ngày 19 tháng 12 năm 1946, tấn công lên Việt Bắc.

Valluy đã thua - cũng như nước Pháp đã thua trong cuộc chiến tranh do Pháp tự gây ra. Nhưng trước mắt Valluy đã kịp có dịp trả lời phỏng vấn của phóng viên tạp chí Hành tinh - Hành động (Planète - Action) ở Paris. Bài trả lời của Valluy được đăng trên tạp chí này vào tháng 3 năm 1970:

“Phải nói rằng ông Hồ cực kỳ nhã nhặn, vô cùng lịch thiệp và thoạt nhìn đã thấy Người rất hấp dẫn. Tôi còn nhớ có lần từ ngoại ô về1, Người có một quả táo to lắm. Người để dành mãi để làm quà cho con gái tôi mà Người đã coi như cháu mình. Người là Bác Hồ của mọi người. Còn chúng tôi, khi gọi Người là Bác Hồ thì mọi việc đều trở nên hết sức đơn giản. Người tỏ ra có quyền lực lãnh đạo đối với mọi người, quyền lực đó là lòng nhân đạo, chỉ công vô tư, là tuổi tác, trí thông minh, trình độ học vấn, nói chung là bằng tất cả vốn văn hóa cách mạng đã tiếp thu được ở Pháp, ở Nga và có thể ở cả nhiều nơi khác. Đó là một nhân vật trung tâm điều hành công việc... hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi ích riêng tư. Trong ánh mắt những người xung quanh, những người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ”.

--------------------------------------------

1 Chuyện xảy ra trong năm 1946, khi Bác Hồ ở Paris.

 

57. Cái ghế băng nhỏ

Năm 1960, Trung tá Phạm Ngọc Hưng, phụ trách Tham mưu phó Sư đoàn 338. Trung đoàn 2 của sư này đóng quân ở một vùng đất khô cằn thuộc tỉnh Sơn Tây, đồng cỏ nhiều, đất bạc màu, cây rất ít. Mùa hè ở đây nóng như đổ lửa.

Một hôm, Bác Hồ đến thăm Trung đoàn 2. Từ đường quốc lộ vào nơi đóng quân, Bác thấy một số đồng bào đứng dưới một gốc cây tránh nắng, mà chiếc nón trên tay vẫn quạt đều. Sau khi đi thăm và nói chuyện với chiến sĩ, cán bộ. Bác hỏi Trung đoàn trưởng:

- Các chú có thể làm một cái ghế băng để dưới gốc cây gần đơn vị để đồng bào ngồi nghỉ nắng được không?

- Thưa Bác, được ạ. - Trung đoàn trưởng đáp lời Bác. Ít lâu sau, Tỉnh ủy cho biết Bác sẽ đến thăm Tỉnh ủy và Trung đoàn. Vì việc quân bận rộn, Trung đoàn trưởng nhãng quên việc cho làm một chiếc ghế, bây giờ mới nhớ ra như đã hứa với Bác. Lập tức, Trung đoàn cho đơn vị khẩn trương đóng ghế.

Sáng hôm sau, Bác đến. Nhìn thấy cái ghế băng, Bác hỏi:

- Các chú làm xong ghế từ bao giờ?

Trung đoàn trưởng đành thủ lỗi với Bác. Bác nói:

- Như thế là các chú thật thà!

Trung tá Phạm Ngọc Hưng nay đã là một trung tướng, và câu chuyện cái ghế băng năm ấy là một kỷ niệm của Trung đoàn 2 và của đời anh.

 

58. Trường học của Bác

Có lần nhân câu chuyện kể với các bạn trẻ trong khu Phủ Chủ tịch, Bác nói:

“Các cô, các chú bây giờ đi học có trường, có bàn ghế, có cô thầy, bạn bè, sách vở, giấy bút, có giờ giấc đàng hoàng. Tối đến có đèn điện, thế mà học một năm không lên được một lớp là không đúng.

Ngày xưa, lúc Bác đang tuổi các cô, các chú thì tất cả bàn ghế, thầy, bạn, sách vở, giấy bút chỉ có trong bàn tay này thôi”.

Bác giơ bàn tay trái lên nói tiếp:

“Hồi ấy Bác làm bồi tàu, làm người quét tuyết ở Anh, rồi đi làm phụ bếp. Làm việc từ sáng đến tối, suốt ngày không được cầm đến tờ báo mà xem. Đến đêm mới hết việc, mới được đọc sách, đọc báo. Ban ngày muốn học chỉ có một cách là viết chữ lên mảng da tay này. Cứ mỗi buổi sáng viết mấy chữ, rồi đi cọ sàn tàu, cọ thùng, đánh nồi, rửa bát, thái thịt, băm rau, vừa làm vừa nhìn vào da bàn tay mà học. Hết ngày, người thì mồ hôi đầm đìa, chữ cũng mờ đi, cuối buổi đi tắm mới xóa được chữ ấy đi. Coi như đã thuộc. Sáng mai lại ghi chữ mới.

Sách Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta gồm nhiều hồi ký của các bạn Pháp viết, Nhà xuất bản Xã hội Paris in năm 1970 có trích một đoạn Bác trả lời phỏng vấn A. Kan (phóng viên báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp) như sau:

“Tôi không có hạnh phúc được theo học ở trường đại học. Nhưng cuộc sống đã cho tôi cơ hội học lịch sử, khoa học xã hội và ngay cả khoa học quân sự. “Phải yêu cái gì? Phải ghét cái gì? Cũng như tôi, tất cả người Việt Nam cần phải yêu độc lập, lao động, Tổ quốc” (tr.203).

...“Tất nhiên, không phải riêng tôi mà toàn thế giới đều kính trọng những nhà báo chân chính. Tôi cũng có thời gian học làm báo, cũng có thời gian tôi bỏ ngòi bút, cầm súng để chống lại kẻ thù, chống lại chủ nghĩa thực dân. Khi tôi còn ở Pháp, khi còn biết ít tiếng Pháp tôi đã là Tổng biên tập, biên tập và phát hành cả một tờ báo” (tr.202)

Bác thường nói với cán bộ:

“Học thêm được một thứ tiếng nước ngoài coi như có thêm một cái chìa khóa để mở thêm một kho tàng tri thức. Việc học là việc suốt đời”.

 

59. Điều Bác Hồ yêu nhất, ghét nhất

Trong kháng chiến chống Pháp, một nhóm người Pháp tiến bộ, cùng với một số hàng binh đã đứng về phía Việt Nam, chiến đấu dưới lá cờ giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh. Họ thành lập một tờ báo lấy tên là Bạn chiến đấu1 bằng tiếng Pháp xuất bản tại chiến khu Việt Bắc, phát hành bí mật trong quân đội Pháp.

Phóng viên báo Bạn chiến đấu đã có cuộc phỏng vấn Hồ Chủ tịch. Báo Cứu Quốc số 938 ngày 25/5/1948 – Chi nhánh số 6 in tại Liên khu X, đã đăng lại bài trả lời của Bác.

Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất?

Trả lời: Điều ác.

Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất?

Trả lời: Điều thiện.

Hỏi: Chủ tịch mong điều gì nhất?

Trả lời: Nền độc lập của nước tối và của tất cả các nước trên toàn cầu.

Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ cái gì nhất?

Trả lời: Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì.

------------------------------------------

1 Nguyên văn tiếng Pháp: Frères d’arme.

 

60. Năm ấy Bác Hồ không đi thăm rừng Cúc Phương

Các chiến sĩ và cán bộ Cục hàng không đã đưa Bác đi công tác trên cái máy bay của nhân dân Liên Xô tặng mang biển số Mi-4 VN 50D. Trong các chuyến đi gần và ít người, các đồng chí đã đề nghị Bác dùng trực thăng. Như trong các chuyến đưa Bác đến Lạng Sơn, Tân Trào, Quảng Ninh...

Một lần Bác đi công tác Vĩnh Phú. Theo chương trình thì chiều là Bác đi ô tô về Hà Nội. Nhưng lần ấy, tối mịt Bác mới ra về được. Anh em trong đoàn vừa lo đường sá, vừa sợ Bác mệt, nên anh em xin điều một máy bay trực thăng để đưa Bác về. Trực thăng đỗ ở sân bóng đá Vĩnh Yên.

Tỉnh ủy thưa với Bác và đề nghị Bác lên “trực thăng” về Hà Nội.

Bác cám ơn rồi nói:

- Bác có ô tô. Bác đi ô tô thôi, Bác về Hà Nội bằng ô tô.

Chú nào đã điều máy bay lên thẳng thì chú ấy ra ngồi máy bay mà về...

Đầu năm 1969, sau khi nghe Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp báo cáo tình hình rừng cây bị phá hoại, phần thì bom đạn, phần thì dân đốt phá, đẵn làm gỗ, làm củi và “cứ đà này, vài năm nữa ta sẽ hoàn thành kế hoạch... tiêu diệt rừng”1.

Nhân đó, Tổng cục trưởng mời Bác vào thăm rừng Cúc Phương. Tuy sức không còn khỏe, nhưng Bác vui vẻ nhận lời và nói:

- Phải đi thăm hang người Việt cổ...

Bác đề nghị đồng chí Nguyễn Lương Bằng thu xếp cho chuyến đi.

Anh em đề nghị Bác không đi ô tô nữa mà đi bằng “trực thăng”.

Trước hết. Bác uốn nắn:

- Tại sao chú không gọi là “lên thẳng”, mà cứ là “trực thăng”? “Trực thăng” hơn gì “lên thẳng”?

- Bác đi ô tô. Các chú cứ cho rằng hễ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước đi đâu muốn “đi gì cũng được à? Không phải thế đâu! Để Bác khỏe lên, Bác đi ô tô đến thăm Cúc Phương. Đi máy bay lên thẳng thì thôi, chờ dịp khác. Máy bay lên thẳng để dành khi nào có đồng bào bị tai nạn, bị đau nặng ở vùng rừng núi hẻo lánh khó chạy chữa thì đưa đồng bào nhanh chóng vào bệnh viện. Hay khi mưa bão, lũ lụt cần hộ đê, cứu dân, thì dùng.

Lần ấy chỉ vì không chịu “đi máy bay lên thẳng mà Bác không đến được Cúc Phương, mãi mãi anh chị em công nhân cán bộ trông nom rừng Cúc Phương không đón được Bác để Bác thực hiện một điều mong ước nhỏ.

Ngày nay, trong rừng Cúc Phương vẫn còn có cái thang của công nhân, cán bộ làm để Bác leo lên thăm hang người Việt cổ. Cái thang ấy không được in dấu chân Bác, và ngày ngày nhìn vào thang anh em chị em càng nhớ thương Bác.

Họ đặt tên cho cái thang ấy là “Cái thang thương nhớ”.

--------------------------------------

1 Sau khi nghe Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp báo cáo. Bác đã viết bài “Tết trồng cây” - in trên báo năm 1969.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)

14.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (6/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 5/8

44. Cờ của ta phải bằng cờ các nước

Đồng chí An Quân kể lại:

Vào khoảng ngày 23, 24 tháng 8 năm 1945, tôi được lệnh đón đoàn cán bộ cấp trên về địa phương. Thôn tôi ở bên bờ sông Hồng. Cờ đỏ sao vàng bay trên thôn xóm hai bên sông. Dưới sông, thuyền xuôi ngược, cờ bay trên đỉnh cột buồm, tạo nên không khí quật khởi đẹp lạ thường.

Chiếc thuyền đưa đoàn cán bộ tới. Chúng tôi nhận ra trong đó có Cụ Hồ. Trông Cụ gầy yếu xanh xao, tay cầm chiếc gậy song nhỏ, vai đeo túi dết màu chàm. Sau vài phút chào hỏi, chúng tôi mời Cụ và đoàn cán bộ về trụ sở tự vệ thôn. Tới cổng thôn, ông Cụ dừng lại xem các khẩu hiệu cách mạng kẻ trên tường. Chợt nhìn thấy hàng dãy cờ căng trước cổng thôn, Cụ bỗng hỏi:

- Sao các chú làm cờ của ta nhỏ hơn cờ các nước đồng minh?

Một đồng chí thưa:

- Dạ, giấy đỏ và vàng nhân dân mua làm cờ nhiều quá nên thiếu ạ! Vì muốn cho đủ nên chúng cháu phải cắt nhỏ đi một chút ạ.

- Không nên.

Cụ khẽ lắc đầu và bảo:

- Các chú phải hiểu là cách mạng đã thành công, nước ta đã giành được độc lập và đã ngang hàng với các nước, vì vậy cờ của ta phải bằng cờ các nước. Có thế mới tỏ rõ chí tự cường, tự trọng của mình.

Sau đó, một đồng chí chúng tôi đã trèo lên lấy cờ xuống để sửa lại.

 

45. Bác nhớ các cháu

Tháng chạp năm 1968, các dũng sĩ thiếu niên miền Nam đang học ở khu Tả Ngạn được đón về Hà Nội. Hôm sau, các cháu được vào Phủ Chủ tịch.

Vừa bước chân xuống xe, đã thấy Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở một cái ghế gỗ dài kê trước cửa nhà. Tất cả chạy ào tới.

Bác cháu trò chuyện ríu rít thăm hỏi nhau. Sau đó Bác Hồ bảo:

- Thôi các cháu vào ăn cơm với hai Bác!

Bữa cơm chẳng có thịt cá gì nhiều nhưng rất ấm cúng. Các dũng sĩ thiếu niên được ngồi ăn cùng Bác Hồ và Bác Tôn. Có một em người nhỏ quá, cái đầu chỉ lấp ló cạnh bàn, được Bác gắp thức ăn cho luôn.

Vừa ăn, Bác cháu vừa nói chuyện rất vui vẻ. Ăn xong, hai Bác cho mỗi cháu một bông hồng, một quả táo, một quả lê và ba quyển sách Người tốt việc tốt. Sau đó Bác Hồ bảo:

- Các cháu lại cả đây hôn hai Bác rồi ra về.

Các dũng sĩ hôn hai Bác xong, Bác Hồ lại dặn:

- Các cháu về trường cố gắng học tập cho giỏi.

Tất cả đều cảm động. Nhưng trong đoàn bỗng có một người lên tiếng hỏi: Thưa Bác, chúng cháu cứ tưởng hai Bác gọi chúng cháu về có việc gì ạ?

Bác Hồ cười hiền từ và bảo: Hai Bác nhớ các cháu thì gọi về để gặp và hỏi chuyện cho vui...

Hai Bác tuổi đã cao, trăm công nghìn việc nhưng vẫn nhớ đến các cháu miền Nam. Mọi người cảm động muốn trào nước mắt.

(Theo sách “Bác Hồ kính yêu")

 

46. “Ngó mí chắc lố”

Cuối năm 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang giai đoạn quyết liệt.  Phủ Chủ tịch đặt tại một vùng rừng già thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Tuy gọi là Phủ Chủ tịch, nhưng thực ra nhà cửa cũng chẳng khác gì nhà cửa của dân bản: một căn nhà sàn nhỏ là nơi Bác ở và làm việc. Vài ba chiếc nhà tranh, xung quanh là nơi ở và làm việc của thư ký, cán bộ, văn phòng và anh em bảo vệ; tất cả đều khuất trong lùm cây.

Đến địa điểm nào, Bác cũng chăm lo đến đời sống của anh em như chỗ ăn, chỗ ở, nhà tắm, nhà vệ sinh, nơi tăng gia và đặc biệt là giữ gìn bí mật. Bác bao giờ cũng gương mẫu thực hiện nghiêm túc.

Trong đội bảo vệ của chúng tôi, đa số là anh em người Tày. Một số quê ngay tại huyện Chiêm Hóa.

Một buổi sáng mùa đông, trời nắng đẹp, vào khoảng 10 giờ, Bác xuống ngồi đọc báo ngay dưới bãi cỏ, cách nhà sàn khoảng 2-3 chục mét. Một bà già người Tày ngoài 50 tuổi, tay xách chiếc làn đan bằng nứa, đầu đội nón, bất ngờ xuất hiện trong khu vực Phủ Chủ tịch.

Thấy ông già gầy gò, mặc quần áo chàm đang ngồi đọc báo, bà đinh ninh đó là ông Ké người Tày. Bà đến tận nơi vỗ vai và cất giọng hỏi:

- Kẻ mi chắc cơ quan Phủ Chủ tịch dú hầu? (Ông Ké có biết cơ quan Phủ Chủ tịch ở đâu không?)

Bác biết là bà già đến thăm con trai đang công tác trong đội bảo vệ Phủ Chủ tịch, song Bác vẫn giữ nguyên tắc và thản nhiên trả lời:

- Ngó mí chắc lố! (Tôi không biết đâu nhé!)

Tôi đứng khuất gần đó cũng phải phì cười. Để bà già đi qua, Bác vẫy tay gọi tôi lại rồi dặn:

- Chú theo bà cụ, hỏi xem bà là mẹ chú nào, đưa bà cụ tới nhà khách, lo ăn ngủ chu đáo, rồi báo cho con trai bà cụ ra. Nhớ dặn chú ấy là giữ gìn bí mật.

Tôi vâng lời và làm theo. Sáng hôm sau, Bác lại hỏi tôi xem bà cụ đã gặp con trai chưa và chỗ ăn ở của bà cụ có chu đáo không?

Tôi báo cáo Bác là mọi việc anh em đã lo chu đáo. Bác nói như tâm sự:

- Đã là đồng bào, đồng chí thì một lòng một dạ, sống chết có nhau. Mẹ của bạn đến cũng như mẹ của mình đến, phải săn sóc ân cần. Có thế thì bạn mình mới yên tâm công tác.

Tôi cảm động và đinh ninh nhớ lời Bác trong suốt đoạn đường theo Bác đi kháng chiến.

(Viết theo lời kể của Ma Văn Trường)

 

47. Câu hát ví dặm

Chiểu 18 tháng 5 năm 1969, các diễn viên Đoàn văn công Quân khu 4 vào Phủ Chủ tịch biểu diễn mừng thọ Bác 79 tuổi.

Sau một số tiết mục, đến lượt chị Mai Tư hát dặm đò đưa: “Nước sông Lam biết khi mô cho cạn cũng như tinh thần cách mạng của dân ta...”

Bác hỏi mấy đồng chí ngồi xung quanh:

- Có hay không các chú?

- Thưa Bác, hay ạ!

Bác hỏi chị Mai Tư:

- Trong ta chừ có dệt vải nữa không?

- Dạ thưa Bác, có ạ!

Bác bảo Mai Tư hát một câu mà các cụ ngày xưa hay hát. Mai Tư thưa với Bác

- Dạ, chúng cháu hát điệu phường vải nhưng không biết lời cũ ạ!

Bác bảo:

- Thì cháu lấy câu ni để hát nhé: “Khuyên ai chớ lấy học trò”. Cháu tiếp đi.

- Dạ, thưa Bác, có phải “Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” không ạ!

- Giờ cháu tiếp câu nữa đi.

Mai Tư lúng túng không biết, Bác nhắc

- “Lưng dài có võng đòn cong

Áo dài đã có lụa hồng vua ban

Mai Tư hát câu Bác vừa nhắc theo điệu hát ví Nghệ An.

Đến lượt Minh Huệ, chị đứng dậy thưa:

- Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền Trung theo lời cũ ạ! Rồi chị cất giọng: “A ơ ơ... Ru em em ngủ cho muồi”.

Bác sửa lại: “Ru tam tam théc cho muồi

Minh Huệ hát tiếp: “Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu”.

Bác sửa lại: “Để mạ chứ không phải mẹ

Minh Huệ hát tiếp: “Mua với chợ Quán, chợ Cầu

Mua cau chợ Sải, mua trầu chợ Dinh

Bác cười và nói: “Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ Sải”.

Bác đã từng đi năm châu bốn biển mấy chục năm trời mà vẫn không quên câu hát ví dặm của quê nhà.

 

48. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ đã “bay” đến miền Nam

Trên Việt Bắc, tại A.T.K (an toàn khu), nhiều lần trong những năm chống Pháp, sau buổi họp Hội đồng Chính phủ, Bác Hồ thường gợi ý đồng chí Hoàng Đạo Thúy1: “Tối nay ta đốt lửa trại nhé”. Thế là anh em cảnh vệ kiếm một góc rừng kín, xếp vài bó củi, lấy nứa khô làm mồi, nổi lửa lên. Các vị trong Hội đồng, già có, trung niên có, cả anh em phục vụ quây quần nghe Bác kể chuyện...

Một lần, Bác nói với đồng chí Thúy:

- Tối nay lại làm lửa trại nhé!

Đồng chí Thúy hóm hỉnh trả lời.

- Thưa Cụ, lửa trại phải có “Chúa lửa” chứ!

- Thì chú làm chúa.

- Tôi làm, sợ chỉ định ai đấy họ không nghe thì mất vui.

- Phải tuân thủ “luật rừng” chứ!

Thế là lửa được nhóm lên. Chúa lửa Hoàng Đạo Thúy đi vòng quanh đống lửa, giơ tay lên trời, quay người đi bốn hướng... rồi chỉ đúng vào Bác Hồ: “Yêu cầu hát một bài.

Bác đang ngồi cạnh cụ Bùi2, đứng dậy, tiến ra, vừa đi vòng quanh đống lửa vừa hát “Anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu, dấy binh lấy lau làm cờ...3

Mọi người hoan hô nhiệt liệt, vỗ tay hoan nghênh người hát.

Cụ Bùi hỏi:

- Cụ học bài này hồi nào thế?

- Ấy, Hướng Đạo họ dạy tôi. Cụ cũng phải chuẩn bị “tiết mục” lỡ chúa trại chỉ vào mà không có là nguy đấy...

Lần khác, đốt lửa lên, bác sĩ Trần Duy Hưng được bầu làm chúa lửa. Sau những động tác theo thủ tục, Chúa lửa tuyên bố:

- Cụ Chủ tịch rời Sài Gòn đã hơn 40 năm. Nay máy bay sẽ đưa Cụ vào miền Nam gặp gỡ đồng bào, nói chuyện với đồng bào... Thế là có hai người đã được bố trí sẵn, khoác tay, đan vào nhau làm một cái “kiệu” công kênh Bác lên. Mọi người trong lửa trại đều “ù ù” ra cái vẻ máy bay đang bay...

Chạy hai vòng lửa, “cả máy bay” lẫn hành khách “cùng phải ù ù nên cũng mệt”. Máy bay “ngừng” động cơ “ù ù, tắt.

Đứng trước Chúa lửa – là người “giả vờ là đồng bào miền Nam”, Bác Hồ nói:

- Kính thưa đồng bào miền Nam. Tôi được đến đây vui mừng khôn xiết. Nhưng vì đi “máy bay” cũ nên chưa được khỏe. Tôi xin nhờ đồng chí Trần Duy Hưng thay tôi thưa chuyện trước với đồng bào...

Tất cả các trại viên đều nhảy đứng lên cười vang trong tiếng vỗ tay, hoan hô ầm ĩ. Một vị cao tuổi nói:

- Trần Duy Hưng4 “chết” chưa?

(Theo lời kể của Hoàng Đạo Thúy)

-----------------------------------------

1 Ủy viên trưởng Hướng đạo Bắc Kỳ, Trưởng ban thi đua ái quốc Trung ương, Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc.

2 Bùi Bằng Đoàn: Trưởng ban Thường trực Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa I (BTV).

3 Bài hát nói về Đinh Bộ Lĩnh.

4 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội.

 

49. Quà tặng của Bác

Một buổi sáng mùa thu năm 1950, Bác Hồ đi công tác, vừa qua vọng gác ATK (an toàn khu) thì gặp một cô bé. Cô vừa đi vừa ngắm nhìn cây cối, chim chóc. Thoáng thấy một cụ già mặc áo ka ki vàng, khăn quàng bên vai, cô sững sờ giây phút rồi hét lên:

- Bác! Bác Hồ!

Bác đi gần lại, hỏi:

- Cháu đi đâu mà sớm thế.

Cô gái nhanh nhẩu thưa:

- Thưa Bác, cháu bên chú Tô (bí danh của đồng chí Phạm Văn Đồng) sang đưa công văn ạ.

Bác lại hỏi:

- Cháu đi từ mấy giờ sáng mà đã đến đây sớm thế?

- Thưa Bác, tan sương là cháu đi ngay ạ.

Bác động viên:

- Giỏi lắm. Thế đi liên lạc có vui không?

- Dạ vui lắm.

- Thế bên ấy có ăn cơm độn không?

- Dạ có ạ, nhưng các anh thấy cháu là con gái nên dành cho ăn cơm...

Bác dặn:

- Trưa nay ở đây ăn cơm rồi hãy về.

Trưa hôm ấy, bữa cơm gạo đỏ, tôm rim, canh rau muống đựng trong ống bương nhưng cô gái ăn rất ngon lành.

Chúng tôi bảo cô:

- Rau muống Bác trồng đấy.

Ít lâu sau, cô liên lạc được chuyển sang Văn phòng của Phủ Chủ tịch. Chúng tôi gọi cô là cô Hiền, vì thật sự là cô hiền từ quá, mặc dù tên của cô là Đức. Hiền Đức. Cuối năm, cơ quan chọn một số thanh niên đi sang Trung Quốc học. Cô Hiền cũng có trong danh sách, nhưng ý không muốn đi.

Một hôm, Bác cho gọi Hiền, Bác hỏi:

- Cháu có muốn công tác tốt không?

- Có ạ.

- Có muốn phục vụ nhân dân được nhiều không?

- Có ạ.

- Thế thì phải đi học. Học tập để hiểu biết thêm, hiểu biết nhiều. Có hiểu biết nhiều mới phục vụ nhân dân được nhiều, được tốt.

Bác đưa cho cô Hiền hộp thuốc lá của Bác:

- Bác tặng cháu cái hộp này để đựng kim chỉ. Ngoài giờ học phải học thêu thùa, vá may. Con gái là phải biết làm các việc đó.

Bẵng đi mấy năm, ngày 12 tháng 6 năm 1956, Bác đến thăm lớp đào tạo hướng dẫn viên trại hè tại trường Chu Văn An, Hà Nội. Trong câu chuyện, Bác nói đại ý: Trong giáo dục không những phải có tri thức, tham ô hủ hóa thì hại dân hại nước. Có đức mà không có tài cũng như ông Bụt trong chùa, không giúp ai được gì.

Nói xong chuyện, Bác bước xuống bục đến gần một cô giáo hỏi:

- Cháu Đức phải không?

Cô giáo, cô Hiền Đức liên lạc ngày nào òa lên khóc.

Nhìn thấy em nhỏ trên tay Đức, Bác hỏi:

- Cháu được đầy năm chưa?

Cô giáo Đức trấn tĩnh lại, thưa:

- Dạ, được 3 tháng ạ.

Bác khen:

- Cháu bụ lắm. Chú ấy công tác ở đâu?

- Dạ, nhà cháu ở bộ đội ạ... Thưa Bác, nghe lời Bác cháu đi học sư phạm rồi về nước dạy học. Cái hộp Bác cho, cháu vẫn giữ ạ...

Bác hỏi:

- Thế bây giờ cô giáo thêu thùa, khâu vá đã giỏi chưa?

- Thưa Bác, cũng tàm tạm ạ.

Bác dặn:

- Đã là cô giáo thì phải dạy cho học trò biết nữa. Vừa dạy học vừa nuôi con được như thế này là giỏi. Nhưng phải cố gắng thêm.

- Dạ, cháu xin hứa.

Mấy ngày sau, đồng chí nhiếp ảnh trình Bác xem mấy tấm ảnh, trong đó có bức ảnh Bác đang vuốt má con cô Hiền Đức.

Bác bảo một đồng chí trong Văn phòng:

- Chú tìm nhà cháu Đức đưa tấm ảnh này tặng cô giáo.

Không rõ năm nay cô giáo Hiền Đức ở đâu? Có còn giữ được tấm ảnh quý ấy không? Và hai mẹ con đã đi một quãng đường hứa với Bác thế nào?

(Theo đồng chí Trung và một số đồng chí khác)

 

50. Không ai được vào đây

Sách Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 10, do Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1996, trang 334 có đoạn:

“Ngày 27 tháng 4 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe hai đồng chí Lê Đức Anh và Chu Huy Mân báo cáo công việc, sau đó Người mời hai đồng chí ở lại ăn cơm với Người”.

Sáng hôm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bỏ phiếu Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã... Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, đơn vị 1, tiểu khu 1, khu phố Ba Đình, Hà Nội, đặt tại nhà thuyền Hồ Tây.

Bác Hồ bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội ngày 27 tháng 4 năm 1969.

Khi Bác Hồ đến, trong nhà thuyền đã có nhiều cử tri bỏ phiếu. Tổ bầu cử thấy Bác đến ra hiệu để đồng bào tạm dừng và tạo “điều kiện” cho Bác bỏ phiếu trước. Biết ý, Bác nói “sòng phẳng”.

- Ai đến trước, viết trước. Bác đến sau, Bác chờ. Bác chờ cho đến hàng mình mới nhận phiếu và vào “buồng” phiếu.

Nhà báo Ma Cường chợt nghĩ thật là “hạnh phúc một đời của người làm báo”, “cơ hội ngàn năm có một” và vội giơ máy lên bấm, rất nhanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy tay che phiếu lại, nói với Ma Cường:

- Không ai được vào đây. Đây là phòng viết phiếu kín của cử tri. Phải đảm bảo tự do và bí mật cho công dân.

Nhà báo buông máy, nhưng vẫn thấy hạnh phúc.

Theo lời kể của các đồng chí ở gần Bác, trước khi đi bầu cử, Bác không cho ai “gợi ý” cả, Bác nói:

- Ấy, đừng có “lãnh đạo” Bác nhé. Bác không biết Đảng ủy hướng dẫn danh sách để ai, xóa ai đâu nhé. Đưa lý lịch của những người ứng cử đây để Bác xem. Có chú nào dự buổi ứng cử viên trình bày ý kiến với cử tri, nói lại để Bác cân nhắc, Bác tự bầu.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019) 

12.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (5/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 4/8

36. Nhớ lời Bác dạy

Một ngày đầu thu năm 1959, Bác Hồ đến thăm một đơn vị hải quân. Tôi có vinh dự được góp phần điều khiển con tàu đưa Bác đi thăm một số đảo ở vùng Đông Bắc.

Đúng 8 giờ sáng, Bác đến. Bác đội mũ cứng, mặc bộ quần áo ka ki bạc màu, chân đi dép cao su. Bác lướt nhìn chúng tôi trìu mến, dịu dàng như một người cha. Đôi mắt sáng hiền từ, da dẻ hồng hào, chòm râu trắng như cước của Bác rung rinh trước gió.

Tôi nhớ mãi câu hỏi đầu tiên của Bác:

- Các chú có khỏe không? Đã chuẩn bị đi biển chưa?

- Dạ, thưa Bác, chúng cháu khỏe, mời Bác xuống tàu đi ngay ạ. Tôi thưa với Bác như vậy.

Bác Hồ thăm bộ đội Hải quân (1959).

Bác nhìn chúng tôi cười rất vui. Chúng tôi đón Bác xuống tàu. Bác đi một lượt từ nhà bếp, khoang ngủ của chiến sĩ đến đài chỉ huy, khoang máy... Bác khen bộ đội hải quân ăn ở ngăn nắp, gọn gàng, giữ gìn tàu sạch sẽ. Đến buồng lái, Bác hỏi:

- Phòng này là phòng gì?

- Thưa Bác, đây là buồng hàng hải ạ!

- Hàng hải là gì?

- Thưa Bác là “buồng lái” ạ. Tôi ngập ngừng đáp lại.

Bác nhìn tôi âu yếm:

Sao không gọi là buồng lái cho dễ hiểu.

Tôi còn đang bối rối chưa trả lời được, Bác hỏi tiếp:

- Chú giới thiệu với Bác xem trên tàu có những bộ phận gì?

- Dạ thưa Bác, trên tàu có 5 ngành chính: hàng hải, súng pháo, thông tin, cơ điện và thủy vũ ạ,

Bác nhìn tôi cười và hỏi bằng một giọng rất vui:

- “Thủy vũ” có phải là nơi để cho bộ đội nhảy múa ở dưới nước không?

- Thưa Bác, thủy vũ bao gồm những dụng cụ và vũ khí dưới nước như: thủy lôi, bom chìm và dụng cụ cắt lôi ạ.

Tôi vừa nói dứt lời, Bác nhìn chúng tôi ân cần căn dặn:

- Các chú xây dựng hải quân thì phải học tập các nước  anh em là đúng, nhưng không phải học thế nào thì làm y nguyên như thế, mà phải biết vận dụng vào điều kiện nước ta sao cho thích hợp, kể cả việc dùng chữ. Chữ của ta giàu lắm, chứ ta không thiếu chữ đâu.

Chúng tôi đứng lặng nghe Bác nói.

Vâng theo lời Bác, chúng tôi đã sửa lại một số danh từ kỹ thuật nước ngoài cho hợp với tiếng nói của ta. Trong công tác giảng dạy, chúng tôi đã cố gắng nghiên cứu và biên soạn những tài liệu kỹ thuật, chiến thuật mang màu sắc riêng của Hải quân Việt Nam.

Bây giờ nghĩ lại, chúng tôi càng thấy thấm thía những lời dạy của Bác năm đó.

(Theo đồng chí Nguyễn Thế Chinh)

 

37. Cuộc gặp gỡ trong khu rừng già

Năm 1950, sau những chiến thắng liên tiếp, bộ đội Liên khu 3 được cử một đoàn đại biểu lên Việt Bắc dự Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quân.

Trong đoàn có chị Tám là thương binh, người gầy yếu nên mỗi lần qua suối, các anh du kích Zét tê (giao liên) người Tày bảo để các anh cõng, nhưng chị lại ngượng. Một anh nói:

- Đồng chí còn phong kiến lắm. Bác Hồ dạy chúng ta phải coi đồng chí như anh em ruột thịt mà...

Đoàn cứ ngày đi đêm nghỉ. Lúc mệt quá thì lại “hò lơ hó lơ” hoặc động viên nhau “cố lên, sắp được gặp Bác rồi”...

Một buổi trưa, anh chị em phải leo lên một dốc cao... Người thì túi, người thì ba lô, kẻ quang gánh ì ạch leo dốc. Bỗng phía đầu dốc có tiếng ồn ào, chân người chạy rầm rập, chen vai xô lấn ngược lên...

Có một cụ già, mặc bộ quần áo nâu, đội mũ lá cọ vành rộng, vai vắt khăn nhuộm màu xanh “phòng không” để che mắt máy bay, tay cầm một cái quạt cắt từ lá cọ ra đang phe phẩy... chân đi đôi guốc mộc đã mòn vẹt... đang nhanh nhẹn đi về phía đoàn.

Bỗng ai đó hô lên:

- Bác Hồ! Đúng Bác Hồ rồi...

Thế là cả đoàn đổ xô đến. Bác hỏi đoàn tỉnh này tỉnh kia rồi nhắc:

- Đoàn Thái Bình đâu?

- Thưa Bác kia ạ...

Bác không chờ anh chị em đến mà tự đi tới. Nguyễn Thị Chiên vừa đặt đôi sọt xuống thì Bác đã đứng trướcmặt, bắt tay từng người, hỏi:

- Cháu Chiên đâu?

Không hiểu sao, chị Chiên bàng hoàng cả người, run lên rồi òa khóc, khóc rất to:

- Thưa Bác, cháu đây ạ, cháu là Chiên đây ạ!

Thế rồi chị khuỵu xuống, ôm lấy chân Bác nức nở.

Các anh trong đoàn nói với nhau:

- Đánh giặc thì gan lì, bị địch bắt, tra tấn cũng không khóc, thế mà nay lại khóc như trẻ con...

Bác cúi xuống, nâng chị Chiên, mắt đỏ hoe, ôn tồn nói:

- Cháu nín đi, nín đi! Đừng khóc nữa! Đứng dậy, đứng dậy nào...

Bác khẽ vuốt mái tóc chị, hỏi

- Bố mẹ cháu mất rồi, cháu ở với ai ở quê bây giờ?

Thế là chị Chiên lại nấc lên, khóc nữa. Một đồng chí khác phải trả lời thay chị.

Bác bảo:

- Thôi, lau nước mắt đi. Cháu đội nón vào. Nắng ở đây không như ở đồng bằng đâu.

Và hình như để cho không khí đỡ “nặng nề” và như chính là để cho anh chị em vui lên, Bác đội mũ lên đầu, cười hỏi anh chị em:

- Thế nào? Bác đội mũ trông khác trong ảnh các cháu thấy chứ...

Bác bắt tay từng người rồi nói:

- Đi nắng về, không được xuống suối tắm vội. Bây giờ vào cơ quan nghỉ ngơi, ăn cơm, ngủ cho đẫy giấc... Bác phải đi làm việc đây...

Tất cả anh chị em trong đoàn đứng nhìn theo Bác cho đến lúc Bác đi khuất không nhìn thấy nữa mới thôi. Đôi mắt chị Chiên vẫn chưa ráo nước...

(Theo lời kể của chị Nguyễn Thị Chiên - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân)

 

38. “Của bụt ăn một đền mười”

Vào một ngày đẹp trời đầu tháng 2 năm ấy, Bác Hồ đến thăm một đơn vị pháo cao xạ, Bác đội chiếc mũ “cát”, mặc áo khoác rộng, cổ quàng chiếc khăn bông, chân đi dép lốp.

Đồng chí Trần Thọ Vệ, quyền đại đội trưởng báo cáo với Bác tình hình của đơn vị. Bác tươi cười căn dặn mọi người phải đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, yên tâm công tác, ra sức học tập và bắn rơi nhiều máy bay địch. Sau đó, Bác cầm tút thuốc lá thơm đưa cho đồng chí Bùi Văn Số, quyền chính trị viên đại đội và bảo:

- Đại đội chú có bao nhiêu người? Bác tặng các chú mỗi người hai điếu kể cả các chú đi vắng.

Cử chỉ thân mật và lời nói chân tình của Bác đã làm cho chúng tôi mạnh dạn hẳn lên. Rồi Bác lấy mấy túi bánh đưa cho cán bộ đại đội chia cho mọi người. Anh em nhận quà xong, Bác mới nói:

- Các chú đã nghe câu “Của Bụt ăn một đền mười” chưa? Các chú nhận quà của Bác thì phải hứa với Bác bắn rơi nhiều máy bay địch, các chú có quyết tâm không?

Khắp hàng quân, vang lên những tiếng hô rắn rỏi, phấn khởi: Quyết tâm! Quyết tâm!

Bác thăm bộ đội phòng không bảo vệ Hà Nội (1966).

Sau ngày Bác đến thăm, đại đội 612 chúng tôi bừng lên một khí thế thi đua tự giác và sôi nổi chưa từng có. Chỉ sau một tháng, đại đội chúng tôi đã bắn rơi máy bay Mỹ.

(Theo Mai Đông Hải)


39. Tấm lòng người cha

Đầu năm 1947, biết tin con trai của bác sĩ Vũ Đình Tụng vừa hy sinh trong một trận chiến đấu, Bác Hồ viết thư gửi bác sĩ:

“Thưa Ngài,

Tôi được báo cáo rằng: con giai của Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.

Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên, thì hình như tôi đứt một đoạn ruột”.

Còn nữ phóng viên báo Pháp “Humanité Dimanche”1

- Chị Madeleine Riffaud lại được Bác nhận làm con gái nuôi trong hoàn cảnh khác. Chị kể lại: lần đầu tiên chị được gặp Bác tại Hội nghị Fontainebleau, qua sự giới thiệu của André Viollis, tác giả quyển “Đông Dương SOS”. Lúc ấy, chị đang tập sự làm báo. Với kinh nghiệm của người thầy, tấm lòng của người cha, Bác nói: “Tốt lắm, con gái của Bác. Sau này khi ra trường, con sẽ đến thăm đất nước của Bác”.

Thư Bác Hồ gởi bác sĩ Vũ Đình Tụng, 1947.

Thế rồi tương lai của nữ nhà báo trẻ này đã có phần diễn ra đúng như lời dự đoán của Bác. Sau hội nghị Genève, Madeleine Riffaud đã sống nhiều tháng ở Việt Nam, đã được Bác tiếp nhiều lần. Những lần phỏng vấn, những cuộc gặp gỡ với Người đã để lại cho chị nhiều bài học, nhiều kỷ niệm sâu sắc. “Trong những buổi làm việc với Bác, không bao giờ Bác nhắc lại những nỗi khổ do thực dân Pháp gây ra cho nhân dân Việt Nam trước đây - những khổ đau to lớn mà tôi đã khám phá ra trong từng bước đi trên mảnh đất mà tôi đang đặt chân đến. Tôi hết sức mang ơn Bác về điều này, tôi muốn nói với Bác, nhưng Bác ngăn tôi lại và kể cho tôi nghe quãng đời của Bác lúc ở Pháp.

Những ngày đế quốc Mỹ thách thức đất nước Việt Nam, đe dọa đưa đất nước này trở về thời kỳ đồ đá thì trong vườn hoa quanh nhà của Bác Hồ vẫn nở đầy hoa trái. Và cứ lần nào cũng vậy, sau khi chấm dứt cuộc phỏng vấn, Bác hái tặng “con gái của Bác” - nữ phóng viên báo Pháp - một bông hồng nhỏ, trước khi Người quay vào tiếp tục làm việc.

-----------------------------------------

1 “Nhân đạo chủ nhật”.

 

40. Hai loại bút, hai thời kỳ

Trong kháng chiến chống Pháp, tại một cuộc họp Hội đồng Chính phủ, một cán bộ cấp cao thấy Bác có một hộp xếp đầy bút đặt trên bàn, tò mò hỏi:

- Thưa Bác, Bác có nhiều bút quá.

Bác gật đầu, nói:

- Bác viết báo. Tòa soạn trả tiền nhuận bút, một thân một mình, chẳng tiêu gì nên Bác mua bút này.

Người quay lại các vị trong Hội đồng:

- Hôm nay tôi xin tặng các cụ, các chú, mỗi người một cây bút “Anh hùng”.

Tháng 9 năm 1963, nhân dịp Quốc khánh, cũng trong một phiên họp Hội đồng Chính phủ, Bác lại mang đến một hộp bút.

Người nói:

- Hôm nay tôi xin tặng các vị, các chú mỗi người một cây bút để làm việc.

Bác đưa tận tay từng Bộ trưởng, từng Ủy viên. Mọi người nhìn lên nắp bút thấy hàng chữ Bác cho thuê khắc Bút chống quan liêu” – 2/9/1963.

Không biết cho đến nay có còn ai giữ được cây bút “chống quan liêu” mà Bác đã tặng cách đây hơn nửa thế kỷ?

 

41. Đón vua hay đón Bác?

Năm 1953, Trung ương Hội phụ nữ mời Bác đến thăm. Chị em hô hào quét nhà trong, vườn ngoài, đầu cổng sạch sẽ. Các chị căng một khẩu hiệu cắt dán chữ “Hồ Chí Minh muôn năm” nhưng không dán các dấu. Lại làm một cổng chào kết lá, cài hoa rừng... Ai cũng bảo nhau mặc quần áo thật đẹp rồi xếp hai hàng từ cổng vào nhà như kiểu “hàng rào danh dự”, hồi hộp, chờ đợi...

Sương sớm Việt Bắc đã tan, trời đã đẹp. Chờ mãi khôngthấy khách đến. Chủ tịch Hội đã sốt ruột tự nghĩ: - Ông Cụ có bao giờ sai hẹn đâu? Sao thế nhỉ?

Đi ra, lại đi vào, ngóng xa rồi ngóng gần. Bỗng có tiếng báo:

- Chị Xuyến ơi! Bác ở trong này rồi!...

Thế là hàng rào danh dự tan! Ùa vào trong nhà đã thấy Bác đang thăm vườn rau, giếng nước... Bác bước ra cổng, Bác nói:

- Chào các cô, các cháu. Vào nhà thấy vắng, Bác đoán ngay là tất cả ở ngoài này.

Nhìn lên khẩu hiệu, Bác cười:

- Tiếng Việt ta có dấu, phát âm rất hay, phân biệt rõ ràng. Dán chữ thế này, đọc thế nào cũng được, sai ý của mình đi.

(Sau này các chị mới nghe các anh kể rằng, từ sau đó, Bác cứ nói đùa: “Hồ Chủ tịch muốn nằm”... là có ý nhại cái  khẩu hiệu ấy).

Vào đến Hội trường Bác hỏi:

- Các cô đón ai thế.

Mọi người ngớ ra, không rõ ý Bác là thế nào.

- Thưa Bác, đón Bác đấy ạ!

Bác ôn tồn nói:

- À ra thế. Các cô đón Bác, chứ có phải đón ông vua ông quan nào đâu mà sửa soạn trang trí cầu kỳ như thế...

Nghĩ thương các chị mất vui, Bác “rẽ” sang chuyện khác khen:

- Sạch sẽ, gọn gàng thường xuyên hay chỉ được hôm nay thôi đấy!...

Bấy giờ các chị em mới dám “bắt chuyện”:

- Dạ thưa Bác, thường xuyên ạ.

(Theo chị  X và các anh H.Đ)

 

42. Không có việc gì khó

Năm 1928, với tên gọi Thầu Chín, Bác Hồ sống và hoạt động trong kiều bào Việt Nam ở Xiêm cho đến cuối năm 1929. Đây là một trong những thời gian Người sống lâu nhất với đồng bào, trước năm 1945.

Sau khi đặt chân đến Phi Chịt, Người nêu ý kiến đi ra U Đon để tìm gặp Việt kiều. Từ Phi Chịt đến U Đon phải đi bộ, băng rừng hằng tháng. Mỗi người đi đường đều gánh theo hai thùng sắt tây đựng quần áo, đồ dùng lặt vặt, có nắp đậy để tránh mưa núi, vắt rừng. Thức ăn mang đi cũng là 10 ký gạo và một ống “chẻo” (thịt gà hoặc sườn lợn băm nhỏ rang muối. Sau này, năm 1945 khi đi Côn Minh, Bác cũng mang theo một ống “chẻo” nhưng đặt tên là “muối Việt Minh”).

Thầu Chín cùng một số anh em ra đi vào dịp mùa thu. Cây rừng đang rụng lá. Trời nắng to, đường đi đá sỏi gập ghềnh, mọi người đều mệt mỏi. Thấy Thầu Chín không quen gánh, có người muốn giúp đỡ, nhưng Thầu Chín không chịu. Ít ngày sau, đôi bàn chân của Thầu Chín đã sưng lên, rớm máu, tấy đỏ. Anh em lại yêu cầu Thầu Chín nhường gánh. Thầu Chín nói: “Thánh hiền đã dạy “thiên hạ vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên”, ý nói là dưới trời này  không có việc gì dễ, chỉ sợ lòng người không kiên trì...” cứ cố gắng, để thế vài hôm nữa sẽ quen đi... Quả nhiên mấy ngày sau nữa, bước chân Thầu Chín đã nhanh, gọn, đôi thùng đung đưa có vẻ đã nhẹ nhàng. Mấy tháng sau, có lần từ U Đon đến Xa Vang đường dài hơn 70 kilômét. Thầu Chín chỉ đi hết một ngày.

Hơn 20 năm sau, vào cuối đông 1950, trong một lần gặp gỡ với thanh niên xung phong làm đường ở Đèo Khế, Thái Nguyên, Bác Hồ đã đọc tặng bốn câu thơ:

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên

Bốn câu thơ ấy, tuy là mượn ý của “thánh hiền” nhưng đã được kiểm nghiệm trong thực tế cuộc sống của Bác Hồ mấy chục năm trước đó...

 

43. Bó hoa tặng bạn

Đầu năm 1954, Wilfred Burchett, nhà báo Australia nổi tiếng quốc tế đến Việt Nam. Cuộc gặp gỡ giữa nhà báo với Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn ra trên Việt Bắc khi Người, gậy cầm tay, áo vắt vai, từ trong rừng bước ra, tay mảnh dẻ dang rộng, đón chào khách.

Burchett kể:

“Tôi không thể nào quên được buổi gặp gỡ đầu tiên đó, với vẻ ấm cúng và thông minh trong đôi mắt nâu thẫm của Người, đúng một tuần kể từ khi tôi rời Khai Thành nghỉ vài ngày ở thủ đô Trung Quốc... Đầu tiên, Cụ Hồ Chí Minh hỏi thăm sức khỏe của tôi, không phải để xã giao lịch sự mà thực sự là để xem tôi có bị kiệt sức sau nhiều năm ở Triều Tiên và sau chuyến đi dài ngày từ Bắc Kinh đến không?”

Burchett còn nhiều dịp đến Việt Nam và có lần đã để gia đình lưu nhiều năm ở Hà Nội để đi vào vùng giải phóng miền Nam, đến cả Củ Chi, giáp Sài Gòn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng chụp ảnh cùng vợ chồng nhà báo Wilfred Burchett, Hà Nội năm 1966.

Trong nhiều kỷ niệm về Việt Nam, về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Burchett khó quên nhất là lần gặp Bác ở Moscow năm 1957.

Năm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm chính thức Liên Xô, Moscow đã thay mặt cả Liên bang đón chào khách quý với 21 phát đại bác, quốc ca hai nước, diễu hành đội danh dự, giới thiệu các vị chủ nhà, đoàn ngoại giao, đoàn báo chí, các em thiếu nhi, lưu học sinh Việt Nam ở Liên Xô... Bỗng Bác trông thấy vợ chồng Burchett đứng ở hàng thứ ba trong khối báo chí, Người rời hàng danh dự của những người đang đứng đón chào mình, bước đến chỗ Burchett, đặt bó hoa lớn mà Người đã nhận khi bước xuống máy bay vào tay chị Vesselina... Các đồng chí Việt Nam khác trong đoàn cũng đặt tiếp những bó hoa vào tay vợ chồng nhà báo... Tất cả các nhân viên ngoại giao, lễ tân và an ninh đều ngạc nhiên... Có người không hiểu người được tặng hoa là “thế nào” với Chủ tịch?

Câu chuyện trên lại gần giống một chuyện khác:

Đó là lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm chính thức Trung Quốc. Lần ấy khi máy bay hạ cánh, trời bỗng nổi cơn giông và bắt đầu mưa. Bước xuống chân cầu thang máy bay, trông thấy bà Tống Khánh Linh (phu nhân Tôn Trung Sơn), Người tiến lại phía bà, lấy chiếc mũ trên đầu mình đội cho bà và nói:

- Tôn phu nhân đội để khỏi ướt đầu. Năm 1933, ở Thượng Hải, tiền hết, bắt liên lạc không được, nếu không được phu nhân giúp đỡ thật là khó khăn...

Sau đó Người mới đi đến chỗ các nhà lãnh đạo Đảng và Chính phủ Trung Quốc đang đợi Người...

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)