8.4.26

Thượng tướng Nguyễn Văn Hiền làm việc với Binh chủng Thông tin liên lạc

Sáng 8-4, đoàn công tác Ban chỉ đạo 1128 Bộ Quốc phòng kiểm tra công tác ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (KHCN, ĐMST, CĐS) tại Binh chủng Thông tin liên lạc (TTLL). Thượng tướng Nguyễn Văn Hiền, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo 1128 Bộ Quốc phòng chủ trì kiểm tra.

Tham gia đoàn công tác có Trung tướng Lê Văn Hướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng; các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu. Tham dự buổi kiểm tra có Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng, Tư lệnh Binh chủng TTLL; Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng TTLL.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hiền, Trung tướng Lê Văn Hướng cùng lãnh đạo, chỉ huy Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc và các đại biểu.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hiền tham quan trưng bày sản phẩm nghiên cứu khoa học của Binh chủng Thông tin liên lạc.

Thời gian qua, Binh chủng TTLL đã tập trung điều chỉnh quy hoạch, chuyển đổi công nghệ, xây dựng hệ thống TTLL quân sự hiện đại, nhất là về quy mô, công nghệ, phương thức bảo đảm, chất lượng dịch vụ, tạo thế vu hồi vững chắc, linh hoạt của hệ thống ở cả 3 cấp chiến lược, chiến dịch, chiến thuật. Với các nhiệm vụ mới Bộ Quốc phòng giao, Binh chủng hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc, nhiều nội dung vượt tiến độ, trong đó có triển khai hạ tầng truyền số liệu quân sự cho toàn quân; dự án mạng thông tin di động quân sự dùng riêng; trang bị các bộ truyền hình cơ động cấp chiến lược, chiến dịch; triển khai TTLL quân sự đến Ban CHQS cấp xã... làm nền tảng cho Bộ Quốc phòng, các đơn vị toàn quân xây dựng hạ tầng số.

Xác định nhiệm vụ phát triển KHCN, ĐMST, CĐS, cải cách hành chính và đột phá phát triển giáo dục và đào tạo là khâu đột phá hàng đầu, động lực quan trọng, Binh chủng TTLL phát động, triển khai sâu rộng phong trào thi đua “Quân đội thi đua ĐMST và CĐS” và “Bình dân học vụ số”. Trong năm 2025 và quý I-2026, triển khai thực hiện đúng tiến độ các đề tài các cấp, nhiệm vụ nghiên cứu bảo đảm kỹ thuật và nhiệm vụ nghiên cứu làm chủ công nghệ. Chỉ đạo thành lập 5 nhóm nghiên cứu chuyên sâu về xu hướng công nghệ, quản lý, quản trị hệ thống.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hiền chủ trì hội nghị.

Binh chủng đã triển khai xây dựng 3 hệ sinh thái số dùng chung; ban hành Khung kiến trúc Chính phủ điện tử phiên bản 3.0 và 4.0; triển khai ứng dụng có hiệu quả phần mềm dùng chung trong Bộ Quốc phòng; xây dựng và đưa vào sử dụng 24 phần mềm nghiệp vụ. Hoàn thành 100% nhiệm vụ số hóa hồ sơ kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng; triển khai chứng thư số, thực hiện ký số đến các đơn vị trực thuộc đạt 100%; hoàn thành triển khai ký số cá nhân cấp tiểu đoàn; thực hiện số hóa 100% hồ sơ kỹ thuật của các trạm, tuyến thông tin.

Quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 290-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, Kế hoạch số 873/KH-BQP của Bộ Quốc phòng về đột phá phát triển giáo dục, đào tạo trong Quân đội, Đảng ủy Binh chủng Thông tin đã ra nghị quyết chuyên đề; xây dựng, triển khai kế hoạch về đột phá phát triển giáo dục, đào tạo trong Binh chủng. Chỉ đạo Trường Sĩ quan Thông tin và Trường Cao đẳng Kỹ thuật thông tin ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo, xây dựng triển khai kế hoạch thực hiện trong nhà trường; công tác giáo dục, đào tạo của hai nhà trường đã có bước phát triển vững chắc. Hai nhà trường tích cực chủ động, hoàn thành đúng tiến độ các hạng mục xây dựng nhà trường thông minh gắn với CĐS theo tiêu chí của Bộ Quốc phòng. Nhiều nội dung đạt, vượt so với chỉ tiêu xác định trong Nghị quyết số 290-NQ/QUTW đến năm 2030. Hai nhà trường bước đầu hình thành nền tảng số trong quản lý, điều hành giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học.

Trung tướng Lê Văn Hướng phát biểu tại hội nghị.

Phát biểu kết luận buổi kiểm tra, Thượng tướng Nguyễn Văn Hiền ghi nhận sự chuẩn bị nghiêm túc của Binh chủng TTLL; đánh giá cao các đồng chí thành viên đoàn kiểm tra với tinh thần trách nhiệm, khẩn trương tiến hành kiểm tra theo đúng tiến độ đề ra.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hiền yêu cầu thời gian tới, Binh chủng TTLL tiếp tục triển khai hiệu quả nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của cấp trên về công tác phát triển KHCN, ĐMST, CĐS và cải cách hành chính. Tiếp tục đẩy mạnh triển khai, phát triển nâng cao năng lực hạ tầng số phục vụ tự động hóa chỉ huy và CĐS trong Quân đội.


Các thành viên đoàn công tác phát biểu tại hội nghị.

Tập trung nghiên cứu, phát triển lý luận bảo đảm TTLL trong tác chiến hiện đại; nghiên cứu từng bước làm chủ các công nghệ lõi như mạng viễn thông thế hệ mới; tiếp tục xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, các nhóm nghiên cứu chuyên sâu, có khả năng tiếp cận làm chủ các công nghệ mới. Hoàn thành, đưa vào khai thác sử dụng thống nhất, hiệu quả hệ sinh thái số. Tham gia triển khai các nội dung CĐS trong các cơ quan đảng và các đề án CĐS ngành của toàn quân.

Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng, Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc phát biểu tại hội nghị.

Cùng với đó, từng bước đưa nền tảng số và cơ sở dữ liệu dùng chung của Binh chủng, bảo đảm tính chính xác, liên thông, đồng bộ dữ liệu. Chỉ đạo Trường Sĩ quan Thông tin và Trường Cao đẳng Kỹ thuật thông tin triển khai các chương trình, nội dung theo tiêu chí nhà trường thông minh, xây dựng nền tảng và học liệu số tiếng Anh trên mạng truyền số liệu quân sự phục vụ cho toàn quân nghiên cứu, học tập.

Quang cảnh hội nghị.

Ngoài ra, tiếp tục triển khai, rà soát, công bố thủ tục hành chính nội bộ trong Binh chủng. Phấn đấu 100% cán bộ, nhân viên, chiến sĩ trong Binh chủng có hiểu biết về chuyển đổi số, kiến thức và kỹ năng số, tiến tới làm chủ về CĐS; biết bảo vệ bản thân trên môi trường số, trở thành quân nhân số. Quan tâm thực hiện chế độ chính sách đối với đội ngũ khoa học kỹ thuật, nhất là cán bộ, chuyên gia đầu ngành, tạo động lực phấn đấu, gắn bó xây dựng đơn vị.

Tác giả: Văn Hiếu

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn báo QĐND điện tử) 

Chúng tôi - "Những cô gái thông tin K6" (phần 1/2)

Tuyết Lan

Chuyến ghé thăm của Đại tá Nguyễn Văn Khoan, người chỉ huy cũ về công tác văn hóa văn nghệ của Binh chủng Thông tin liên lạc đặt bài "nhờ" ghi lại câu chuyện về chuyến làm phim "Những cô gái Trạm thông tin K6" thực là yêu cầu quá khó đối với tôi. Bộ phim được quay từ cuối năm 1968, đã hơn 35 năm trôi qua. Hồi đó chúng tôi mới sàn sàn mười tám đôi mươi. Bây giờ thì đã bà ngoại, bà nội cả rồi.

Tuy vậy với "thói quen" chấp hành mệnh lệnh của người lính, tôi đành bò ra bàn mà chật vật viết. Thậm chí tôi cũng muốn ghi lại để nhớ một thời con gái không thể quên, thời kì đẹp nhất, vô tư và đáng trân trọng nhất đó. Các trạm máy thông tin tải ba thuộc trung đoàn bảo vệ đường dây là đầu mối quan trọng thời chống Mỹ cứu nước. Thành tích của thông tin liên lạc không cụ thể là bắn rơi bao nhiêu chiếc máy bay, diệt bao nhiêu kẻ thù, chặn đứng bao nhiêu xe tăng địch nhưng cuộc chiến dù ở đâu, lúc nào cũng không thể thiếu được chiến công thầm lặng của chiến sĩ thông tin. Trung đoàn tôi hơn một nửa là nữ chiến sĩ.

Sau ca trực đêm, sáng sớm tôi được lệnh về ngay Trung đoàn bộ nhận nhiệm vụ. Đến Phòng Chính trị, lấy giấy giới thiệu qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (trong chiến tranh, Xưởng phim Quân đội đóng quân tại đó), tôi vẫn chưa biết mình phải làm gì?! Thường trực chỉ lên gác gặp một đồng chí thiếu tá người xương xương không thật rõ già hay trẻ, ông nhìn tôi chằm chằm, hỏi thủng thẳng:

- Đồng chí nhập ngũ năm nào?

- Báo cáo, năm 1965.

- Bao nhiêu tuổi?

- Sắp 20 ạ.

- Ở thông tin làm nhiệm vụ gì?

- Sửa chữa và khai thác máy tải ba.

- Tham gia phục vụ bao nhiêu trận rồi?

- Báo cáo khoảng 200 trận ạ.

- Có năng khiếu văn nghệ gì không?

- Báo cáo, được học piano và chơi accordeon.

Ông cứ hỏi tôi như "hỏi cung" vậy, tôi không rõ để làm gì nên cứ trả lời. Hồi đó việc điều động, thuyên chuyển đơn vị với một quân nhân rất bình thường, chúng tôi luôn sẵn sàng ba lô lên vai là đi ngay. Trong khi ông hỏi tôi thì có một đồng chí khác luôn bấm máy ảnh bên cạnh.

Hôm sau, tôi theo xe khí tài của Trung đoàn lên Trạm A56 - tên K6 là dùng cho phim, phần để giữ bí mật, phần có thể A56 hơi rườm rà với tên một bộ phim; vả lại A56 chỉ là một trạm của Trung đoàn, còn "K6" lại khác, đó là hình ảnh của những cô gái thông tin trong Binh chủng.

A56 phục vụ trực tiếp cho sân bay Kép và xung quanh còn nhiều đơn vị pháo cao xạ, pháo mặt đất, công binh bám vào. Sân bay Kép là nơi cất cánh máy bay phản lực chiến đấu đầu tiên của miền Bắc nên việc đảm bảo thông tin vô cùng quan trọng và cẩn mật. Trạm nằm trong một vùng đồi đẹp lạ lùng, những đồi sim nằm gối lên nhau bình yên, thơ mộng. Khi mặt trời lặn hắt màu tim tím xuống hồ nước rộng làm ngăn ngắt cả một vùng. Phía sau lưng Trạm là vách núi đá ong có những con suối nhỏ róc rách chảy. Nước hồ trong vắt, mát rượi, lại có những tảng đá to nên bọn con gái chúng tôi thường ra đó tắm gội. Một trạm thông tin có khoảng hai, ba chục đồng chí, trừ tổ dây, nguồn là nam, còn lại hơn nửa là nữ. Chúng tôi chia làm ba ca trong một ngày, nếu không thật cần thiết thì không ra khỏi khu vực Trạm. Trong phim "K6", ngoài những cảnh chiến đấu ác liệt ra, đạo diễn Nguyễn Chí Phúc (viên thiếu tá đã "hỏi cung" tôi hôm trước) lưu lại rất nhiều cảnh đẹp ở A56, nơi chúng tôi đã sống và chiến đấu. Chúng tôi cùng nhau múa hát, chơi đàn, hái hoa sim, hái quả sim chín ăn, tâm sự và làm thơ trên đồi sim trông xuống mặt hồ nước lăn tăn. Cũng trong những ngọn đồi ấy, có trạm máy, có tổng đài là trận địa của chúng tôi.

Trạm bị ném bom là thường, đường dây bị bom còn thường xuyên hơn vì nó trải dài trên khắp đất nước. Khi bị bom, mọi người tìm chỗ ẩn nấp thật kín chờ hết phút nguy hiểm mới ra, còn những chiến sĩ bảo vệ đường dây thì ngược lại, lúc ác liệt nhất thì lao ra chỗ bom ném mà nối cho thông tin liên lạc. Chính vì thế, Trung đoàn 134 của chúng tôi có nhiều đại đội được phong danh hiệu Anh hùng hai lần.

Trong phim có đoạn nữ đồng chí Thuận nối dây lúc bom đánh, nằm trong hố bom với chiếc mũ sắt trên đầu, mặt mày nhem nhuốc, chung quanh mịt mùng khói lửa nhưng bừng sáng lên nụ cười rạng rỡ khi bắt được liên lạc với sân bay. Cảnh là dựng lại, nhưng sự kiện thì thường xuyên có, nên rất thật. Lính thông tin chúng tôi chẳng có gì hạnh phúc hơn liên lạc thông suốt.

Chúng tôi được cử đi đóng phim nhưng hiểu biết rất ít về công việc làm phim. Có lần đạo diễn cần quay cảnh bắn trả máy bay Mỹ, cận cảnh nòng súng nhả đạn. Đồng chí Hiền đặt máy quay bên cạnh, bấm máy. Điều không ngờ là đồng chí Tuyên của chúng tôi xem trên các phim có cảnh những người lính giương súng đứng bắn rất hiên ngang; thấy sao làm vậy, anh đứng thẳng người, ghì súng kéo cò. Súng giật mạnh hất anh ngã ngửa, đạn vẫn tiếp tục nổ, họng súng quay đi. Thật hú vía! May mà cả cơ số đạn bay hết lên trời chứ không thì nguy to.

Có một cảnh ngẫu nhiên chúng tôi phối hợp được với Quân chủng Không quân rất thành công. Trong cảnh tôi khoác máy lẻ trèo lên đỉnh cột gọi về trạm báo đường dây đã nối thông. Quay phim muốn có đủ cột, dây, xà, sứ nổi bật trên nền trời xanh thắm và người nữ chiến sĩ thông tin là tôi với hai đuôi sam tóc dài ngồi trên đỉnh cột. Để lấy được cảnh này phải chọn cột điện trên quả đồi cao nhất. Gió ở đỉnh đồi thổi mạnh làm cột và dây đung đưa, nhân vật đeo máy leo lên cao 7m, mà tôi lại là con gái Hà Nội, không biết có leo trèo được không (?), ai cũng lo phải thay một đồng chí nam khác. Chiều rồi nên phía sân bay máy bay chiến đấu lên xuống nhiều, đạo diễn gợi ý: "Giá bắt được vào khuôn hình chiếc máy bay ngang qua đường dây thì tuyệt!" Lúc đó tôi đứng sát chân cột nhìn lên cao, lo nhỡ máy vướng vào dây. Bỗng ai đó hô to:

- Máy bay ta kìa!

Thế là như có động lực vô hình, tôi bước lên thang trèo rất nhanh, gọn gàng, máy vẫn khoác trên vai, không vướng víu gì. Quay có một phút. Khi lên phim, đạo diễn hài lòng vì đúng ý ông, phía sau đường dây và cô gái thấy rõ mồn một"con én bạc" nghiêng cánh trên bầu trời xanh trong, bồng bềnh mây trắng.

Với các trạm thông tin, yêu cầu bí mật được đặt lên hàng đầu. Trạm thường bố trí nằm sâu trong lòng đồi núi. Khi xây dựng trạm, bên công binh phải làm đêm hoàn toàn, họ cho đất đá vào bao tải chở đi xa đổ, dân trong vùng không hề hay biết. Để không lộ, các đồng chí công binh còn trồng dứa nguỵ trang trạm, các loại cây khác còn có thời gian héo, riêng dứa từ lúc đặt cây đến bén rễ lúc nào cũng giữ màu xanh. Vả lại sau này dứa tốt thành bụi to làm hàng rào chống kẻ gian, người lạ hay trâu bò đến gần trạm. Nghe nói dứa còn chống được cả rắn, nhưng đã có lần trực ca đêm, một đôi rắn to đuổi nhau rơi xuống phòng máy làm chiến sĩ gái sợ xanh mắt.

Trong phim có cảnh trạm bị trúng bom, cột đầu cuối là nơi chuyển từ dây trần sang dây cáp bí mật dẫn vào trạm cũng bị trúng bom, phải thay thế bằng dây bọc. Cảnh lớn có nhiều người tham gia, quay ngay trong hầm trạm mà thông tin vẫn không được để ngưng một phút nên đạo diễn dặn dò kỹ lưỡng lắm. Ai cũng lo ngại nhỡ vì mình mà phải quay lại thì ảnh hưởng chung, tốn kém nhất là phải bố trí lại khói lửa, rất mất công. Tiếng máy quay ro ro với tiếng lá báo đổ (báo hiệu có cuộc gọi ở tổng đài) làm không khí chờ tương đối căng thẳng. Hai đồng chí tổ dây được bố trí cận cảnh ngay trước cửa hầm máy, nghe hô "bắt đầu" cả hai cùng chạy rất nhanh. Gió tạt bớt khói, đạo diễn tập trung mọi người lại, không thấy hai đồng chí tổ dây đâu, phải gọi thật to mới nghe văng vẳng từ đồi xuống. Thì ra khói bay mù mịt, nhầm hướng, họ chạy tít lên đồi, gỡ dây về đến nơi, cả hai người bắp chân bị lá dứa cắt đầm đìa máu. Đồng chí Hiền quay phim thì kêu khổ:

- Thể nào! Chạy sai tuyến nên nhoằng một cái chẳng thấy dây rải đâu cả. Quay lại đúp1 nữa!

T.L.

Hà Nội, 20-8-2004

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

Còn nữa

----------------------------------------

1 Đúp (double): Tiếng Pháp nghĩa là "thêm một lần nữa". 

7.4.26

Tin buồn

Chi hội truyền thống Phòng Khoa học Quân sự - Hội truyền thống Thông tin Hà Nội vô cùng thương tiếc báo tin:

Đồng chí Đại tá, TS NGUYỄN VĂN KHOAN

Sinh năm 1929; quê quán: Phường Thủy Xuân, TP Huế; trú quán: Số nhà 2, ngách 219/75, đường Nguyễn Ngọc Vũ, Tổ 10, phường Yên Hòa, TP Hà Nội; đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; hội viên Chi hội truyền thống Phòng Khoa học Quân sự - Hội truyền thống Thông tin Hà Nội; nguyên Trưởng ban sử Bảo tàng (nay là Giám đốc Bảo tàng Binh chủng), Cục Chính trị, Binh chủng Thông tin liên lạc; đã nghỉ hưu.

Huân chương Quân công hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng.

Đồng chí đã từ trần hồi 05 giờ 30 phút ngày 06-4-2026, tại Bệnh viện 19-8, Bộ Công an. Lễ viếng tổ chức từ 09 giờ đến 10 giờ ngày 08-4-2026, tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng (số 5 Trần Thánh Tông, phường Hai Bà Trưng, TP Hà Nội). Lễ truy điệu và đưa tang hồi 10 giờ cùng ngày; hỏa táng tại Đài hóa thân Hoàn Vũ Văn Điển (TP Hà Nội); an táng ngày 09-4-2026, tại Nghĩa trang Yên Kỳ, xã Bất Bạt, TP Hà Nội.

Chi hội truyền thống Phòng Khoa học Quân sự - Hội truyền thống Thông tin Hà Nội kính báo.

6.4.26

Đêm đa mang

Đặng Thanh Quang (thân tặng Trọng Hoà)

Bạn vào với biển

Hát mấy bài

Những bài hát của người khác

Bài hát của mình bạn không viết nổi.

 

Bạn vào với biển

Mọi ý nghĩ càng dở dang

Những bó hoa tung lên sân khấu

Không làm quên nỗi muộn màng.

 

Ngửa mặt tìm câu thơ chân thật

Nha Trang vào Thu không dễ gặp Mùa thu

Tiếng đàn ngổn ngang trong ngổn ngang tiếng sóng

Đêm đa mang,

thương bạn, tiếng đàn...

 

Mới biết yêu thương thường khó ngỏ

Càng yêu nhiều càng côi cút niềm riêng

Bài hát bay lên lòng người thì lắng lại

Niềm vui xanh

và nỗi buồn vàng...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn Tập thơ “Nửa sau những tín hiệu”. Trường Sĩ quan CH-KT Thông tin – Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa 1996) 

Nỗi niềm xưa xa

Đặng Thanh Quang

Trèo lên chót đỉnh Cô Tiên

Bâng khuâng lắng những nỗi niềm xưa xa

Tình yêu như thể đã qua

Như chưa đến, như vẫn là đâu đây.

 

Ngực tròn hồi hộp bóng mây

Tóc dài buông xoã tháng ngày biển xanh

Người qua uống chút ngọt lành

Từ đâu đấy, để rồi thành vấn vương.

 

Để rồi thành nhớ thành thương

Huyền thoại cũ, với con đường vẫn đi

Bãi xa con sóng thầm thì

Hát về ai đấy đã đi không về.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn Tập thơ “Nửa sau những tín hiệu”. Trường Sĩ quan CH-KT Thông tin – Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa 1996) 

4.4.26

Viết khi đọc báo

Đặng Thanh Quang

Vẫn chạy xuống chạy lên trên cao điểm 2000

Vác những cột cốt thép xi măng lên đấy

Và súng đạn máy dây và bao nhiêu thứ nữa

Nhưng chúng tôi không phải là nhà cử tạ.

 

Vẫn thường dẫm chân lên sắc lạnh đá tai mèo

Xuyên núi xuyên rừng mấy trăm ngày không nghỉ

Nhưng chúng tôi không phải là nhà điền kinh.

 

Chúng tôi không phải nhà thể thao

Nhưng kỷ lục của chính mình nhiều khi không ngờ nổi:

Đường dây đứt, phải chạy ào xuống núi

Mấy phút thôi, không thể nhiều hơn.

 

Có những đêm mưa ướt sũng những căn hầm

Người cõng máy đứng dầm trong mưa xối

Lạnh tím người, giặc rất gần, và đói

Bao nặng nề tưởng chất cả vào lưng.

 

Kỷ lục của chúng tôi nhiều khi không thể nói

Và nhiều khi không dễ nói thành lời

Chính chúng tôi cũng thường đứng lặng

Mà khóc cười mà cảm nhận đấy thôi...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn Tập thơ “Nửa sau những tín hiệu”. Trường Sĩ quan CH-KT Thông tin – Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa 1996) 

Vườn dừa ươm

Đặng Thanh Quang

Sau nhà thủ trưởng có một vườn dừa ươm

Những chồi non bật lên từ đất cát

Thủ trưởng khum bàn tay khoát nước

Trưa hanh hao cơn gió đứng im lìm.

 

Giữa bao nhiêu bề bộn việc ngày thường

Chút thảnh thơi không giành riêng nỗi nhớ

Thủ trưởng khum bàn tay khoát nước

Những chồi dừa như ngọn lửa màu xanh.

 

Vườn dừa ươm như trang sách đầu tiên

Nói những điều giản đơn dễ thuộc

Chúng tôi đi qua thấy lòng mình chợt mát

Một vòm xanh mai sau...

 

Sống ngày thường đôi lúc dễ quên

Cái trong lành mỗi lần ta vẫn thở

Cái bóng mát che ta ngay trước cửa

 

Tôi lặng dưới vòm xanh nghe gió hát thầm thì...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn Tập thơ “Nửa sau những tín hiệu”. Trường Sĩ quan CH-KT Thông tin – Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa 1996) 

2.4.26

Tin buồn

Chi hội Thanh Trì - Hội truyền thống Thông tin Hà Nội vô cùng thương tiếc báo tin:

Đồng chí Đại tá HÀ ĐÌNH HIẾN

Sinh năm 1942; quê quán: Xã Tân Minh, tỉnh Ninh Bình; trú quán: Số nhà 29, ngõ 1, thôn Trung đoàn 17, xã Thanh Trì, TP Hà Nội; đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; hội viên Chi hội Thanh Trì, Hội truyền thống Thông tin Hà Nội; nguyên Trưởng phòng Quân huấn, Bộ Tham mưu, Binh chủng Thông tin liên lạc; đã nghỉ hưu.

Huân chương Chiến công hạng Ba; Huân chương Kháng chiến hạng Ba; Huân chương Giải phóng hạng Ba; Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Đồng chí đã từ trần hồi 8 giờ 15 phút ngày 28-3-2026, tại nhà riêng. Lễ viếng tổ chức hồi 07 giờ đến 08 giờ 15 phút ngày 03-4-2026, tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng (số 5 Trần Thánh Tông, phường Hai Bà Trưng, TP Hà Nội). Lễ truy điệu và đưa tang vào hồi 08 giờ 15 phút ngày 03-4-2026; hỏa táng tại Đài hóa thân Hoàn Vũ Văn Điển (TP Hà Nội); an táng cùng ngày tại Nghĩa trang xã Tân Minh, tỉnh Ninh Bình.

Chi hội Thanh Trì – Hội truyền thống Thông tin Hà Nội kính báo. 

1.4.26

Không quên

Nguyễn Phong

Đặt chân xuống nhấc chân lên

Tưởng như có chục mũi kim châm vào

Còn khi những lúc giải lao

Tưởng chừng có kiến cắn vào khớp chân

Hành quân tôi quyết hành quân

Dù đau hơn thế một phân không lùi

Anh em đồng chí vì tôi

Đã vất vả rồi lại vất vả thêm

Một điều khắc cốt ghi tim

Tình bạn chiến đấu thiêng liêng vô cùng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn Tập thơ “Nửa sau những tín hiệu”. Trường Sĩ quan CH-KT Thông tin – Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa 1996) 

Người vui nhất là anh

Quang Chuyền

Mở xếp thư ra

Thư cất cánh như bầy bươm bướm

Thư tìm đến tay người đậu xuống

Tâm hồn người cất cánh bay lên

 

Người long lanh ánh mắt soi nghiêng

Thoáng bóng mẹ hiện về vầng trán

Người tròn miệng uống lời căn dặn

Tiếng cha già ngọt ấm đôi môi

Người tựa cây mủm mỉm miệng cười

Nụ cười chứa trăm điều bí mật

Những niềm vui sáng bừng gương mặt

Từng trang giấy chữ bay lên

Niềm vui chung đi từ nỗi vui riêng

Khiến cả chiều rừng nắng cũng cười lấp lánh

 

Nhìn đồng đội vui

Lau giọt mồ hôi

Anh chiến sĩ quân bưu thấy lòng sóng sánh

Người vui nhất là anh

Không có thư riêng lại rất lắm tâm tình...

Tây Trường Sơn 8-1970

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)