23.2.26

Giao bưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước1

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS

Ngay sau ngày ký Hiệp định Giơnevơ, để đảm bảo sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, một đường dây giao liên đã được thành lập. Theo Quyết nghị của Xứ ủy, các đồng chí Nguyễn Bá Bội, Nguyễn Văn Thược phụ trách tuyến miền Đông Nam Bộ; đồng chí Nguyễn Văn Tươi, tuyến miền Trung, đồng chí Trần Văn Thẩm, tuyến miền Tây. Các tuyến đường dây này tiếp tục kế thừa địa bàn và cơ sở của các đường giao liên đã có từ trong kháng chiến chống Pháp, nay được tổ chức lại cho phù hợp với tình hình mới.

Từ các tổng trạm giao liên từng miền, hệ thống giao liên phát triển tới các tỉnh, huyện, xã, tới chi bộ. Giao liên có hai bộ phận: bí mật và công khai, hoạt động biệt lập nhau, bộ phận này, người này không biết hoạt động của nhau trong cùng một bộ phận hay khác bộ phận.

Do nhận thức được "giao thông là công việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng", cùng với vô tuyến điện, giao bưu là một trong hai phương tiện liên lạc cơ bản của cách mạng miền Nam. Trong trường hợp vô tuyến điện gặp khó khăn và chưa đáp ứng được yêu cầu, giao liên còn là phương tiện liên lạc duy nhất giữa Xứ ủy Nam Bộ và các cấp.

Trong những năm 1955 - 1956, ở miền Nam có nhiều biến động. Xứ ủy Nam Kỳ vẫn trụ tại một cơ sở giao liên Sài Gòn, cùng với nhiều cơ quan khác của Đảng. Từ đây, các đường giao liên mật và công khai nối thông liên lạc đến các tỉnh, lên miền Đông, miền Tây, đến khu căn cứ và sang nước bạn, xuống Vũng Tàu - Bà Rịa, nối với các tỉnh Trung Bộ, tiếp với mạng của Khu 5 ra Trung ương. Con đường mới này được tổ chức lại sẽ là một con đường vận chuyển vũ khí, khí tài từ miền Bắc chi viện cho miền Nam.

Tại nhà truyền thống của lực lượng vũ trang Quân khu 7, ngày nay khách tham quan dễ nhận ra số biển xe VNN952 do chiến sĩ giao liên Nguyễn Hữu Ích đã giả xe Bộ trưởng Nội vụ trong Chính phủ Ngô Đình Diệm, đưa Bí thư Khu ủy Sài Gòn Nguyễn Văn Linh đi công tác tại Châu Đốc. Cũng chính các chiến sĩ giao liên Sài Gòn đã đưa một nhà báo nước ngoài đến gặp Bí thư Sài Gòn - Chợ Lớn ngay giữa đô thành... Nữ giao liên Nguyễn Thị Loan đã chuyển các tài liệu của đồng chí Lê Duẩn từ nhà số 29 Huỳnh Khương Ninh (Sài Gòn) về các cơ sở...

Sau khi Trung ương Cục miền Nam được thành lập với sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam, tình hình đòi hỏi phải có một tổ chức giao thông liên lạc lớn mạnh hơn. Vì vậy, ngành giao bưu vận miền Nam được chính thức thành lập từ ngày 2 tháng 6 năm 1962, do đồng chí Nguyễn Quyết làm Trưởng ban, hai đồng chí Trần Văn Thâm và Trần Nam Thông làm Phó ban.

Ngành giao bưu vận mới này vẫn kế tục nhiệm vụ ngành giao liên cũ và đảm nhiệm thêm nhiệm vụ bưu chính vận tải, trước kia chưa có, hoặc đôi lúc có tiến hành nhưng chưa thành nhiệm vụ chính thức.

Tháng 1 năm 1963, Phòng thông tin Miền Nam (R) được thành lập mang bí danh J3-X20 do đồng chí Tư lệnh Trần Văn Trà trực tiếp chỉ huy. Trong biên chế của phòng có các ngành vô tuyến điện, quân bưu, xưởng sửa chữa, trường huấn luyện và giao bưu vận. Tổ chức này tồn tại cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các trạm được chuyển tên gọi là đoàn. Tổng trạm của Miền tên cũ là B1 trở thành Đoàn 49. Các đoàn: Đoàn 20 phục vụ ngoại ô, Đoàn 43 đón quân Miền Bắc, liên lạc chặt chẽ với các T (trạm các tỉnh). Quân số các đoàn đã được tăng cường. Riêng khu Gia Định - Sài Gòn (T4) có tới trên 300 cán bộ, chiến sĩ giao bưu phụ trách các tuyến đường trong khu và vươn xa tới Phnôm Pênh, Băng Cốc.

Những ngày đầu mới thành lập, dưới sức ép của kẻ thù ở vùng rừng núi, trạm giao bưu có thể chỉ là một hòn đá một gốc cây... Sau này mới có lán, trại hoặc ở một căn nhà của đồng bào. Chiến sĩ giao bưu một mình một trạm, 1 dao xoi đường, 1 xà léc (túi) nhỏ, 1 gùi nặng trên lưng. Dần dần mới có đôi ba người rồi một tổ, một đội... Họ nhận hàng ở một địa điểm mật, lội suối trèo đèo... giao hàng cũng ở một nơi kín đáo... Cách mạng càng phát triển, gùi hàng trên lưng họ càng nặng lên. Nữ đồng chí Y Hà, Y Ngân đã cõng trên lưng có chuyến tới 100, 110 kilôgam. Dũng sĩ Nguyễn Bồi, ba ngày liền gùi trên cả vai, lưng mỗi ngày 105 kilôgam...2. Các chiến sĩ giao bưu ở các thành phố cũng hoạt động rất đắc lực. Năm 1960, đồng chí Tư Bao đã đưa đồng chí Võ Văn Kiệt an toàn qua vùng Bến Sóc. Trong mùa Xuân Mậu Thân 1968, chiến sĩ giao bưu đã vận chuyển hàng ngàn vũ khí, đạn dược vào Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, cũng chính các chiến sĩ giao bưu đã đón các mũi quân ta vào giải phóng các thành phố.

Có những chiến sĩ giao lưu trong biên chế, nhưng cũng có rất nhiều chiến sĩ giao bưu là thanh niên xung phong, là thường dân được huy động từng chuyến, từng mùa, từng chiến dịch. Phần lớn những chiến sĩ giao bưu này lại là phụ nữ, từ những bà má, em học sinh, cô bán trái cây trên đường phố, đến các nữ thanh niên người dân tộc ở các làng bản heo hút. Nhiều người bị tù đày, cùm kẹp, tra tấn nhưng không hề lộ bí mật đường dây trước quân thù. Nhiều bà, chị, em gái đã được Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Dũng sĩ với nhiều huân chương cao quý. Chỉ xin nêu tên một số phụ nữ tiêu biểu như: Chị Nam Chiến giao liên của đồng chí Lê Duẩn, má Hai Khởi giao liên của cô Ba Định, bà Bưng Cần Thơ giả điên dại 20 năm trời để làm giao liên; rồi các chị: Trần Thị Ba, Mạch Đào, Võ Thị Xem, Nguyễn Thị Ren, Phạm Thúy Phương, Dư Huệ Liên, má Tư Huynh, Hồ Thị Thu, Ngô Thị Tuyến, Hoàng Thị Kiến, Y Găm, Y Dàng, Y Hoan, Bảy Thường, Ngô Thị Hoa, Nguyễn Thị Đùng, Tuyết Mai, v.v... Không phải duy nhất chỉ có "phái nữ" là làm công tác giao bưu nhưng phải nói rằng hình ảnh các bà và các chị là hình ảnh tiêu biểu nhất của giao bưu nhân dân miền Nam.

Các tuyến đường giao bưu, trạm và các chiến sĩ giao bưu trong kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã phải đối mặt với ba đối phương ghê gớm nhất.

Trước hết là đối với bản thân. Sinh hoạt vật chất ở vùng đồng bằng, đô thị còn khá hơn, còn nếu ở vùng cao thì đói cơm, đói muối là chuyện thường xuyên, kéo dài không phải một, hai tháng mà nhiều tháng. Dù đôi lúc có xe, có ngựa, có voi giúp sức nhưng phần lớn là dựa vào sức người là đôi chân, đôi vai cộng với sức mạnh của ý chí quyết tâm. Sự hy sinh của giao liên ở cả ba vùng hoạt động rừng núi, đồng bằng, đô thị là thường ngày. Ở vùng Đồng Tháp Mười, có thời gian gần như 2 trong 3 chuyến đưa khách đều có giao liên hy sinh. Thế nhưng điều đáng nói là trải qua trên 20 năm chiến đấu, số chiến sĩ giao bưu đào ngũ vì không có đủ tinh thần chịu đựng là không đáng kể.

Thiên nhiên với nước nổi, lũ lụt, dốc cao, suối sâu, rừng dày, thú dữ, rắn độc, bệnh tật, với gió "phớn" - một loại gió đặc biệt của Trường Sơn, cũng là một kẻ thù rất nguy hiểm cho các tuyến giao liên và chiến sĩ giao bưu. Không ít lần, các chiến sĩ giao bưu có đi mà không về vì một cơn lũ bất chợt, vì sốt rét ác tính, vì động rừng, vì chất độc màu da cam, vì sông nước Tháp Mười, sông Tiền, sông Hậu.

Song kẻ thù thứ ba, kẻ thù nguy hiểm độc ác nhất vẫn là Mỹ - ngụy. Thoạt đầu, chúng đánh giá thấp khả năng liên lạc truyền tin của ta. Như Mắc Ga, trưởng phái đoàn MAAG tại Sài Gòn cho rằng: "Nhược điểm thông thường thứ 6 của du kích "Việt cộng là thiếu thốn khả năng giao thông liên lạc". Theo Mỹ, căn cứ vào việc trang bị 5000 điện đài cho 1 sư đoàn bộ binh Mỹ, thì quả là Việt cộng không thể có được sức mạnh về thông tin liên lạc. Nhưng sau đó, thực tế chiến trường đã làm chúng phải thay đổi nhận thức. Đại tá ngụy Đỗ Ngọc Nhận - Phó Tổng cục trưởng Quân huấn, trong cuốn sách "Vấn đề chỉ đạo chiến lược trong chiến trường Việt Nam" xuất bản năm 1970, đã viết rằng: "Cộng sản coi giao thông liên lạc là một chiến lược" vì "chính nó đã đảm bảo cho sự chỉ đạo thống nhất từ trên Trung ương xuống các địa phương. Đó là một yếu tố rất quan trọng, có tính chất then chốt bảo đảm sự thành bại trong âm mưu thôn tính miền Nam của Cộng sản hiện nay". Và Nhận kêu gào “phải triệt hạ hệ thống giao liên Cộng sản" coi đó là một nhu cầu chiến lược, là góp phần phá vỡ hệ thống chỉ đạo chiến tranh của Cộng sản, là phá vỡ toàn bộ hệ thống vận chuyển lưu thông tiếp tế và cơ động lực lượng của Cộng sản. Sau khi nhận biết được tính chất nguy hiểm, chiến lược và khả năng giao bưu vận của ta, Mỹ và ngụy đã giở đủ mọi thủ đoạn để làm tê liệt ngành giao thông - giao bưu. Chúng đánh phá3, tung biệt kích, bắt bớ các chiến sĩ, cài người vào hàng ngũ giao liên, kêu gọi đầu thú, đầu hàng, lập ấp chiến lược "tát cạn ao bắt cá", rải "cây nhiệt đới", làm hàng rào điện tử để chăn bước chân của chiến sĩ giao bưu.

Song song với việc loại trừ các tuyến giao bưu, Mỹ đã xây dựng lần đầu tiên không phải trên đất Mỹ mà là ở Việt thống thông tin mang tên ICS (Integrated Communications System) với 20.000 nhân viên kỹ thuật truyền tin Mỹ dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng J.Ơn-bơ-rai (Jack Albrigth). Với hệ thống này, quân Mỹ có thể hành quân, bình định, ném bom theo sự đánh dấu và bắt người ở bất cứ địa điểm nào ở miền Nam mà vẫn liên lạc được với Sài Gòn, Manila, Băng Cốc, với nước Mỹ, đến tận bàn tiệc hay thuyền dạo mát của Tổng thống Hoa Kỳ. Nhưng vượt qua mọi hiểm nguy và mọi thủ đoạn đánh phá của địch, những con đường giao liên vẫn mở rộng, nối dài, các chiến sĩ giao bưu vẫn gan góc, kiên trì hoạt động, góp phần cùng quân và dân miền Nam lập nên những chiến công; Phong trào Đồng khởi 1960, Tết Mậu Thân 1968, Quảng Trị 1972 và cuối cùng là Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Không kể hàng vạn lần dẫn đường đưa đón cán bộ, chỉ riêng về thành tích vận chuyển tài liệu, năm 1965, giao bưu miền Nam đã chuyển 171 tấn thư từ, công văn, báo chí cho "Hải Yến" (tên mật của Trung ương cục miền Nam) và cho các "Dì Hai", "Dì Ba", "Dì Tư" (các cơ quan của Đảng, Dân, Chính). Năm 1974, Tiểu đoàn quân bưu Bộ Quốc phòng chuyển vào miền Nam gần 31 tấn công văn, thư từ, tài liệu4.

Mỹ-ngụy không thể triệt phá được những tuyến đường giao bưu, các trạm và các chiến sĩ giao bưu, vì con đường đi của giao bưu là đi trong lòng dân, trạm giao bưu cũng ở trong lòng dân, chiến sĩ giao bưu là nhân dân chiến đấu trong một cuộc chiến tranh toàn dân.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, toàn miền Nam đã có trên 4500 liệt sĩ giao bưu, trong đó có hàng chục cán bộ lãnh đạo của Ban giao lưu, Ban Thông tin Miền, khu, tỉnh, huyện xã. 2000 chiến sĩ giao bưu là thương binh và còn hàng trăm chiến sĩ giao bưu khác mất tích chưa tìm được dấu vết.

Năm 1994, tại Tây Ninh, nơi đóng căn cứ của Ban giao bưu Miền, tượng đài liệt sĩ "Nam nữ thông tin giao bưu" được xây dựng để tưởng nhớ tới 173 liệt sĩ giao bưu thuộc Trung ương cục miền Nam, đã hy sinh cho hệ thần kinh, mạch máu của Đảng, của Quân đội...

Giao bưu miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã hoàn thành vẻ vang, xuất sắc nhiệm vụ của mình trong những điều kiện khó khăn, gay go nhất, chưa từng có trong lịch sử của ngành giao thông - thông tin, liên lạc nước ta.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)

---------------------------------------

1 Danh từ "Giao bưu" xuất hiện tại miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là viết tắt và rút gọn cụm từ: giao liên, bưu chính, vận tải. Giao liên đón, đưa, dẫn đường cho "khách". Bưu chính thực chất là bưu tá, chuyển vận công văn, thư từ, văn kiện. Vận tải là mang vác, chuyên chở tất cả các hàng hóa, lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược, vũ khí, thương binh, di vật của liệt sĩ... Giao bưu miền Nam không phải là giao liên của Đoàn 559. Giao bưu là một ngành của Thông tin liên lạc miền Nam bên cạnh ngành vô tuyến điện và hữu tuyến điện.

2 Trần Đình Trực, Báo Quân giải phóng, xuất bản tại Miền Nam, số 4, tháng 11 năm 1964.

3 Ở Trạm A 120 (Vĩnh Long) riêng 3 tháng đầu năm 1974, địch đã phục kích 43 lần.

4 Theo "Trung đoàn 130”, Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc , 1990, tr. 92. 

21.2.26

Tình cờ

Chu Thanh Vân

Tình cờ nghe tiếng em

Qua điện đài thánh thót

Chợt lòng anh hồi hộp

Trái tim thì bâng khuâng

Rồi phấp phỏng nhớ nhung

Mong đến phiên trực tới

Cầu trời... em trực máy

Cho anh gặp lại em

Ơi cô gái không tên

Mà sao anh quen quá

Có phải duyên kỳ lạ

Hay tơ trời xe đây

Mong gặp em đêm nay

Rồi mai, rồi kia nữa

Ước chi đừng cách trở

Cho chúng mình "bên" nhau!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

Cô báo vụ

Kim Ánh Vân

Em - cô bảo vụ

Lần đầu theo ca

Tim em đập thịch

Ngón tay sao cứng quá

Rồi lăn lộn thời gian

Rồi mồ hôi trắng áo

Tiếng ma níp rộn ràng

Rung lên từng nốt nhạc

Ngân vút mãi trời xanh măng

Với bao niềm mong đợi

Em gửi trọn mối tình

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

19.2.26

Mùa chim báo vụ

Nguyễn Thụy Kha

Anh vội qua sông Đáy

Mùa thu về Bút Sơn

Cơn gió vừa thức dậy

Nắng vàng ươm núi Ông

 

Lưng trời xanh chon von

Bụi trắng con đường đá

Tiếng chim nào lạ quá

Tích tích tà vang ngân

 

Phải đất này đất lành

Mát mẻ từ ngọn gió

Nên cánh chim theo đàn

Mùa thu này quần tụ

 

Những cánh chim báo vụ

Dọc ngang chân trời xa

Biên cương và đảo nhỏ

Về đây nên bạn bè

 

Về đây vào hội thi

Cánh rừng đầy chim hót

Tiếng moóc hòa tiếng moóc

Dàn giao hưởng thông tin

 

Bên cạnh trạm "Hoa Sen"

Những mạch vi điện tử

Bắc cầu lên vũ trụ

Như nghiêng về đây nghe

 

Muốn làm sợi dây khô

Nối kín từng đường điện

Muốn xoa tan nhiễu sạn

Trong ngần tín hiệu ngân

 

Muốn nghe tận lặng im

Bàn tay mềm mại thế

Cứ rung tràn tuổi trẻ

Gọi lên bao ước mong

 

Nhọn hoắt ngọn Bút Sơn

Giấc mơ dài ngủ thiếp

Bừng tỉnh tìm ngơ ngác

Giữa một trời tiếng chim

 

Anh như quên có mình

Giữa những người báo vụ

Hóa cây ghi-ta cũ

Ngân nga cùng tiếng chim

Mùa thu 1980

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

Tín hiệu trên Tổ quốc

Nguyễn Thụy Kha

Khi chiếc ma níp rung trong bàn tay

Tiếng nói ai vang từ ống nói

Tín hiệu bắt đầu ra đi

Như nguồn suối.

Xuyên điệp trùng ngọn núi

Tín hiệu chảy dọc đường dây

Vặn mình qua thành trì của đá

Dội lên những vách chắn điện ly

Tín hiệu vẫn chảy đi thác lũ

 

Lá thư em bay đến Trường Sơn

Phải vì thế mà anh nguôi cơn sốt

Anh gặp quê hương

Trong dấu nhật ấn xinh xắn vòng tròn

Giữa rừng nhớ em như thèm muốn

Thiếu gió biển khi rất nhiều gió núi

Anh nhớ em như muốn chảy theo nguồn

Lá thư này bỏ thùng thư nào em

Dấu nhật ấn như mắt ai muốn hỏi

Anh biết nói gì giữa rừng vời vợi

Lát nữa thôi mang cơn sốt anh đi

Anh cuốn võng biết có người vẫn đợi

 

Thế kỷ này

Giữa sông núi Việt Nam

Những đường dây dọc ngang

Khỏe khoắn

Mạng thông tin rõ ràng bí ẩn

Mãnh liệt như đường huyệt trong người

Những tổng đài suốt chiến tranh trụ bám

Qua bao mùa bom rơi

Bao mùa thủy lôi vây kín biển

Máu người loang đất ruộng

Những đường dây dứt rũ con đường

Nhà bưu điện vắng tanh

Những người lính không thể nào ẩn nấp

Nhưng cứ nhìn vào đường dây

Những sợi dây phải căng bên biển sóng

Là lại gặp bạn bè

Không thiếu một ai.

 

Với những cánh ăng ten

Đảo với đất liền không còn xa cách

Những con tàu trên thềm lục địa khỏi cô đơn

Khi ở đấy rộn tiếng chim tà tích

 

Với những cánh ăng ten

Tổ quốc có đảo làm mắt ngọc

Qua những vệ tinh

Tổ quốc quây quần trái đất

 

Về đây tín hiệu của bao niềm trò chuyện

Như những dòng sông gặp đại dương

Anh có thể suốt đời thiếu em

Nhưng Tổ quốc

Mạch thông tin không thể ngừng một phút

 

Làm sao thuộc hết tên

Các chị các anh những năm gánh vác

Trên vai trĩu nặng mạch thông tin

Họ tỏa vào núi sông làng xóm

Sức sống trên Tổ quốc muôn đời.

1972-1990

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

16.2.26

Các dạng hưu - ngẫm cũng chả sai!

1.

Về hưu đi nhảy, đi câu

Tham quan, du lịch Tây, Tàu liên miên

Chẳng lo cơm áo, gạo tiền

Vô tư, thanh thản không phiền lụy ai

Đấy là HƯU TRÍ không sai

Nhưng mà thiên hạ mấy ai có nào?

 

2.

Về hưu thậm thụt ra vào

"Buôn dưa", hóng chuyện tào lao vỉa hè

Rượu bia, cá độ, lô đề

Tối ngày "bám trụ" quán chè làm vui

Loạn ngôn bất mãn với đời

Sẵn sàng "đấu khẩu" buông lời khó nghe

Thích trò "thọc gậy bánh xe"

Bà con hàng xóm cười chê: HƯU KHÙNG.

 

3.

Về hưu nổi máu anh hùng

Xin làm cán bộ "ba cùng" với dân

Nửa đời chỉ biết làm "Quân"

Nay về làm "Tướng" muôn phần oai phong

Dẹp chợ, cấm, phạt hàng rong

Bắt dân đóng góp từng đồng... vệ sinh

Làm việc để mất chữ tình

Vợ con mới bảo rằng mình: HƯU HÂM.

 

4.

Về hưu lại nổi máu dâm

"Cưa sừng làm nghé" sưu tầm gái tơ

Về già mới học làm thơ

Đem tiền nuôi gái, ngẩn ngơ tối ngày

Lưới tình càng mắc càng say

Thế nên mới gọi hưu này: HƯU DÊ.

 

5.

Về hưu lại bỏ về quê

Trồng rau, cuốc đất, chăn dê, nuôi gà

Kiêng đường, thịt, mỡ, trứng, da,

Bia, rượu, thuốc lá... đàn bà cũng kiêng

Kiêng ăn, kiêng cả tiêu tiền

Họ hàng, bè bạn than phiền: HƯU TU.

 

6.

Về hưu làm việc lu bù

Kiếm tiền tiết kiệm từng xu, từng đồng

Hoặc làm thêm đỡ buồn lòng

Chuốc thêm vất vả long đong tối ngày

Mọi người bảo là đi cày

Cho nên mới gọi hưu này: HƯU TRÂU.

 

7.

Về hưu chẳng dám đi đâu

Nấu cơm, đi chợ, nhặt rau, quét nhà

Chăm con, nuôi cháu, trông già

Kiêm luôn bảo vệ coi nhà, giữ xe

Thế nên bị gọi khó nghe

Ấy là: HƯU C. HÓ, làm thuê trong nhà

 

8.

Về hưu nhưng vẫn chưa già

Phải về trước tuổi gọi là: HƯU NON.

 

9.

Về hưu quyền chức không còn

Bổng lộc hết cả rút bòn được ai

Khi còn đương chức tác oai

Tham ô, hối lộ, tiêu xài của dân

Về già mất hết người thân

Đệ tử, thân tín cũng dần bỏ đi

Quyền cao chức trọng mà chi

"Hai năm mươi" cũng xanh rì cỏ thôi

Gặp dân không dám mở lời

Hội hè, đình đám mọi người tránh xa

Bán xe, bán đất, bán nhà

Bỏ quê trốn lủi gọi là: HƯU MA.

 

10.

Về hưu chưa kịp dưỡng già

Đã coi bệnh viện như nhà của riêng

Bao nhiêu sở thích phải kiêng

Đái đường, huyết áp, bệnh tim, đại tràng

Loãng xương, tiền liệt, bàng quang

Lương vừa mới lĩnh đã mang thuốc rồi.

Cháu con mỗi đứa một nơi

Gọi là: HƯU HẮT cuối đời cô đơn.

 

* * *

Trời sinh chữ Kém, chữ Hơn

Chữ Nhân, chữ Quả, chữ Buồn, chữ Vui...

Đắng cay mới có ngọt bùi

Hết mưa, nắng lại, rợp trời... mây bay

Đủ năm, đủ tuổi, đến ngày

Có ai tránh được kiếp này: PHẬN HƯU.

Đăng bởi Quang Hưng (theo https://hoitruongson.vn/)

13.2.26

Người có bệnh nền cần chuẩn bị gì trước kỳ nghỉ Tết dài ngày?

Tết Nguyên đán là dịp sum họp, nghỉ ngơi và di chuyển nhiều nhất trong năm. Nhưng với người có bệnh nền, những thay đổi đột ngột về sinh hoạt, ăn uống và thời tiết trong kỳ nghỉ dài ngày có thể khiến bệnh trở nặng nếu không chuẩn bị kỹ từ trước.

Những ngày cận Tết, nhiều người bận rộn dọn dẹp, mua sắm, chuẩn bị về quê hoặc đi du lịch. Nhịp sinh hoạt thay đổi, ăn uống thất thường, thức khuya nhiều hơn – những điều tưởng chừng nhỏ nhặt lại có thể ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe, đặc biệt với người có bệnh nền, đang sống chung với bệnh mạn tính.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), người có bệnh nền như tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh phổi mạn tính... là nhóm dễ gặp biến cố sức khỏe khi thói quen sinh hoạt bị xáo trộn hoặc khi phải di chuyển xa trong thời gian dài. Thực tế lâm sàng cho thấy, không ít trường hợp phải nhập viện ngay trong hoặc sau Tết do chủ quan với bệnh nền vốn "đang ổn định".

Theo đó, người có bệnh nền cần lưu ý:

1. Chủ động kiểm tra sức khỏe, không đợi "có vấn đề mới đi khám"

Bệnh nền ổn định không có nghĩa là an toàn tuyệt đối

Nhiều người cho rằng nếu thời gian gần đây không có triệu chứng bất thường thì có thể yên tâm ăn Tết. Tuy nhiên, người có bệnh mạn tính nên tái khám hoặc trao đổi với bác sĩ trước các kỳ nghỉ dài ngày, đặc biệt khi có kế hoạch đi xa hoặc sinh hoạt khác thường.

Việc khám trước Tết giúp người bệnh:

- Đánh giá lại mức độ kiểm soát bệnh.

- Điều chỉnh thuốc nếu cần.

- Được tư vấn cụ thể về ăn uống, vận động, di chuyển trong dịp lễ...

Điều này đặc biệt quan trọng với người cao tuổi hoặc người có nhiều bệnh nền cùng lúc.

Khi nào nên thận trọng với kế hoạch đi xa?

Đối với những trường hợp người bệnh đang có: Huyết áp thường xuyên cao; đường huyết khó kiểm soát; hay khó thở, mệt nhiều, đau ngực... cần được bác sĩ đánh giá kỹ trước khi đi du lịch, đi máy bay hoặc về quê xa. Trong một số trường hợp, giảm lịch trình di chuyển hoặc ưu tiên nghỉ ngơi tại chỗ sẽ an toàn hơn là cố gắng "đi cho đủ Tết".

Bệnh nền ổn định vẫn cần được bác sĩ đánh giá kỹ trước khi đi du lịch, đi máy bay hoặc về quê xa.

2. Thuốc men và hồ sơ y tế - đừng để Tết làm gián đoạn điều trị

Thiếu thuốc – nguyên nhân phổ biến khiến bệnh trở nặng sau Tết

Thực tế cho thấy, nhiều ca nhập viện sau Tết có liên quan đến việc quên thuốc, thiếu thuốc hoặc tự ý thay đổi liều trong những ngày lễ. Do đó, người có bệnh nền cần chuẩn bị thuốc đủ dùng cho toàn bộ kỳ nghỉ, kèm vài ngày dự phòng, phòng trường hợp kẹt xe, hoãn chuyến hoặc khó mua thuốc đúng loại trong dịp Tết.

Người bệnh không nên: Bỏ thuốc vì "ăn uống khác ngày thường", tự giảm liều để "đỡ mệt", dùng thuốc theo lời mách không có chỉ định y tế…

Hồ sơ y tế – "phao cứu sinh" khi cần cấp cứu

WHO khuyến cáo người có bệnh mạn tính nên mang theo:

- Danh sách bệnh đang điều trị.

- Danh sách thuốc, liều dùng.

- Thông tin dị ứng thuốc (nếu có).

- Thẻ bảo hiểm y tế...

Những giấy tờ này đặc biệt hữu ích khi người bệnh cần cấp cứu hoặc khám bệnh ở nơi không quen thuộc, giúp bác sĩ nắm nhanh tình trạng sức khỏe và tránh sai sót trong điều trị.

3. Người có bệnh nền kiểm soát ăn uống, sinh hoạt trong Tết

WHO chỉ ra rằng, trong các dịp lễ kéo dài, ăn quá nhiều muối, đường, chất béo và rượu bia là nguyên nhân phổ biến khiến bệnh mạn tính trở nặng, cụ thể:

- Người tăng huyết áp dễ tăng huyết áp cấp khi ăn mặn.

- Người đái tháo đường dễ tăng đường huyết do bánh mứt, nước ngọt.

- Người bệnh tim mạch có nguy cơ rối loạn nhịp tim khi uống rượu bia...

Do đó, đối với người có bệnh nền (bệnh mạn tính) nên giữ chế độ ăn gần với ngày thường nhất có thể, ăn chậm, ăn vừa phải và không bỏ bữa

4. Nghỉ ngơi và phòng bệnh hô hấp

Tết thường rơi vào thời điểm giao mùa Đông – Xuân, khi các bệnh đường hô hấp gia tăng. WHO lưu ý, người có bệnh nền cần:

- Ngủ đủ giấc, tránh thức khuya liên tục.

- Hạn chế tụ tập đông người nếu đang mệt hoặc có triệu chứng hô hấp.

- Đeo khẩu trang nơi đông người, giữ vệ sinh tay...

Những biện pháp đơn giản này đã được chứng minh giúp giảm nguy cơ nhiễm bệnh và biến chứng nặng ở nhóm nguy cơ cao.

Đăng bởi Quang Hưng (theo https://suckhoedoisong.vn/) 

Tình ca

Phạm Đức

Đã gặp trên môi em

Một thanh xuân dịu ngọt

Cả một thời xanh êm

Với khối tình lửa đốt

 

Cả mùa thu tinh khôi

Sương trong treo đầu lá

Cả một tiếng thở dài

Buông mình vào yên ả

 

Cả khoảng cách ngút ngàn

Hơn một lời em gọi

Những đường dây về đâu

Những tổng đài trong núi

 

Cả một thời tuổi trẻ

Đánh giặc và tìm nhau

Tóc rụng vương đá suối

Lá thư xem nát nhàu...

 

Khi thanh xuân đôi ta

Phải tàn theo ngày tháng

Thì trong bản tình ca

Thanh xuân là bất tận

 

Sẽ đặt trên môi em

Sẽ đặt trong tim em

Những gì anh đã gặp

Suốt một thời ấm êm.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

Từ nhịp tích tà...

Nguyễn Thị Hồng Ngát

Một chặng đường từ nhà đến trạm

Gần gụi thôi nào có xa gì

Ròng rã chục năm trời ngày mấy lượt chúng tôi đi

Hôm bận thêm ca quên ngày, quên tháng

Quên khí hậu thất thường trời đang mưa lại nắng

Có thể quên rồi bao trận bom rung

Chúng tôi ngồi đây: trong một căn hầm

Nhưng nhớ hết mọi chiến sự đang diễn ra trên khắp miền đất nước.

Tiếng bạn gọi về, tiếng Trung ương truyền khắp

Tín hiệu phát đi hối hả, nhịp nhàng

Tiếng sấm mưa rào hay tia chớp lửa bom

Xuyên đến chói tai vẫn ngồi làm việc

Vẫn phải nhận ra bè chính trong giàn nhạc

Biết phân từng tiếng hót mỗi loài chim

Chúng tôi thức nhiều trong những ca đêm

Nên mỗi chúng tôi những người lính thông tin tóc thường chóng bạc

Đối với người yêu, anh lính thông tin thành nghiêm chỉnh nhất

Mũ vẫn đội đầu "giữ đúng tác phong"

Anh bỗng mỉm cười hàm răng trắng bong

Niềm vui hiện lên trên đôi mắt sáng

Chính các anh đã góp phần để làm nên chiến thắng

Nhưng lại ngồi đây giản dị, chân thành

Dưới núi Ba Vì đêm xuống sương giăng

Mười năm ấy các anh "đi theo mỗi mùa chiến dịch"

Phút ngỡ ngàng trước mùa sim tím ngát

Trên nóc hầm xuân đến tự buổi nào

Thanh bình quá là cuộc đời trước mặt

Vậy mà mười năm chúng tôi chỉ "hành quân" một nơi này quen thuộc

Nơi tiếng tích-tà... là tiếng nói rất thiêng

Ôi tiếng tích-tà… tiếng Tổ quốc thiêng liêng.

8-1977

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

11.2.26

Nhớ những gương mặt nữ giao liên

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS

Chiến sĩ lực lượng vũ trang, cán bộ dân, chính, đảng, các nhà báo nước ngoài, cả những lính Mỹ "được" bắt đưa về căn cứ, ra Bắc - trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của miền Nam không một ai không có những ấn tượng đẹp đẽ, kính phục đối với những cô gái giao liên.

Giao liên! Đó là tên gọi của một ngành công tác – như Bác Hồ nói - quan trọng bậc nhất trong cách mạng: Giao thông và liên lạc. Nhưng giao liên cũng là tên của một người - tuy có tên riêng nhưng lại mang tên chung: Giao liên. Họ có thể là một người đàn ông, lái xe ôm, xe ô tô, xe ngựa, đi buôn bán... Có thể là một phụ nữ chạy hàng bán trái cây, ngồi đâu đó. Có thể là đồng bào dân tộc với chiếc xà-léc (gùi nhỏ) trên vai, đôi chân dày và cứng hơn đá. Nhưng hình ảnh chung nhất và sau đậm nhất vẫn là các bà mẹ, em nhỏ, cô gái "đi giao liên".

Có O giao liên trên các đỉnh của dãy Trường Sơn như YHàn, Y Dăm, Y Dâng... váy màu sặc sỡ, xà-léc trên vai trần, miệng phì phò khói thuốc, đi "cách mạng" mà vui như đi hội. Bên cạnh các O người dân tộc còn có các O giao liên giải phóng, mũ tai bèo, vai khoác súng, tuổi còn trẻ "ăn chưa no mà lo đã tới" rất nghiêm khắc với các bạn trai, nhưng lại rất dễ thương, dạ, vâng với tất cả đoàn khách. "Đi"với các O này, mấy chú cán bộ tổng kết ba điều "đỡ sợ". Đỡ sợ đói, đỡ sợ địch, đỡ sợ lạc đường. Thế thì còn gì "hạnh phúc" hơn!

Ở đồng bằng lại có các O giao liên cưỡi Hon-đa phóng như bay, hoặc giấu dưới gánh hàng của mình trong bộn bề hoa quả, rau xanh... những tài liệu, những truyền đơn rất nhỏ, gọn. Phần lớn họ chẳng có gì mang theo người, trừ những câu ngắn gọn trong óc. Có chăng nữa là sợi dây vô hình giữa họ với một anh thanh niên, bác công nhân... nào đó lững thững đi cách xa họ một tầm mắt...

Trong nội thành, các đô thị lớn miền Nam, hoạt động của các O giao liên rất khẩn trương, táo bạo... Có những O đã đưa nhiều nhà báo ra, vào Sài Gòn, đưa nhiều nhà quan sát phương Tây, phương Bắc đến địa đạo Củ Chi, gần kề con lộ mà xe tăng địch vẫn ầm ầm chạy qua. Giao liên dẫn đường đánh các vị trí chiến lược đêm tết Mậu Thân 1968; rồi 1975 là họ, chở vũ khí vào "ém" trong đó, cũng là họ, đưa bộ đôi trở ra sau khi hoàn thành nhiệm vụ, dìu dẫn thương binh về "cứ", cũng họ thôi... Khó mà kể hết tên các chị, các em giao liên, những Hoàng Thị Kiểm, Dư Huệ Liên, Võ Thị Xem, Mạch Đào, Nguyễn Thị Ren, Nguyễn Thị Tuyết, Phạm Thúy Phương, Hồ Thị Thu, má Tư Huynh, Bảy Thường, Ngô Thị Hoa, Tuyết Mai... Hai mươi năm sau ngày Sài Gòn đỏ cờ, họ hiện nay là những bà mẹ anh hùng là những cán bộ ở Huế, Đà Nẵng, là một giám đốc xí nghiệp, là một người dân bình thường miệt vườn, mà câu chuyện giao liên họ kể cho con cháu nghe như là cổ tích huyền thoại.

Vùng Đồng Tháp Mười mênh mang nước lớn đã làm “ớn” gáy nhiều người qua lại. Trong những kỳ địch o ép mạnh, không ai có thể nghĩ rằng giữa trắng nước, xanh rừng vẫn có các chòi giao liên, đêm đêm vẫn có các O ra tìm điểm hẹn "rước" khách đi hết cung trạm mình. Có anh nhà báo trong một tháng tròn qua lại 7, 8 lần trạm đó đã không được gặp lại các O giao liên những lần trước. Người mới "thay quân" bổ sung cho cái trạm kỳ đó chỉ trả lời "Chị ấy đi rồi"... Không thể thắp được một nén hương viếng O giao liên đưa mình đi lần trước vì mênh mông trời nước. Tiếng cười vui, lời căn dặn, giọng nói nhẹ nhàng của O Thanh, O Liên, O Huê... đó nén nặng thêm lòng căm thù giặc cho mỗi "khách" qua đường trạm.

Đối với giao liên - nhất là với nữ giao liên đâu chỉ có kẻ thù là Mỹ - Ngụy, với các trực thăng "cá lóc”, pháo, đạn với các dụng cụ tra tấn tối tân, hiện đại của Hoa Kỳ. Kẻ thù của các O giao liên mảnh mai thân gái còn là chặng đường quá xa, mưa rừng, nước lũ, sốt rừng, đói cơm, nhạt muối... Không như một người chỉ huy có trực tiếp trong tay binh lính, vũ khí - giao liên, họ chỉ có họ mà thôi. Nhưng nếu giao liên khai ra người, khai ra đường đi, tuyến liên lạc thì sẽ là một hệ thống tổ chức vỡ tan, có thể một binh đoàn bị sa bẫy...

Cũng như các nam giao liên khác, nữ giao liên không có được những đơn vị to lớn, để có thể - ví dụ như - tập hợp tất cả lại để duyệt binh, chào cờ. Họ phân tán triệt để và tổ chức của họ thường là một tổ 1, 2 người. Trong chống Mỹ, duy nhất có tiểu đoàn 17 giao liên đoàn Quang Trung trên suốt dãy Trường Sơn - đơn vị anh hùng, là có điều kiện tập trung được 1, 2 trung đội giao liên nữ.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đã có bao nhiêu bài thơ, bài hát, cuốn sách, cuốn phim nói về các O giao liên, nhưng hình như vẫn chưa đủ. Riêng trong trận đụng đầu thế kỷ với Mỹ, toàn miền Nam đã có gần 5.000 liệt sĩ giao liên, trong số này đa số là phụ nữ. Trong số hàng chục vạn thương binh, có 2.000 là giao liên. Và cho đến nay, thật khó mà biết được còn bao nhiêu các O gái giao liên, các bà, các mẹ giao liên đã hy sinh, mất tích ở đâu đó, trên vùng núi non hiểm trở, trên một cánh đồng, bên con lộ, trong nhà tù, giữa đô thị mà chúng ta chưa tìm ra được dấu vết, thi hài. Để ít ra cũng "đưa" các bà, các mẹ, chị ta, em ta về... tập trung lại trong một nghĩa trang giao liên, dựng một tượng đài như đồng bào Tây Ninh mới dựng một công trình tưởng niệm "Nam nữ thông tin giao bưu" trên đất căn cứ của Trung ương Cục, của Ban giao liên miền, nơi đã ra đi và nằm lại rất nhiều giao liên cho cách mạng giải phóng miền Nam.

Tượng đài ấy của Tây Ninh cũng chỉ ghi được tên 173 liệt sĩ thuộc Trung ương Cục miền Nam. Còn mấy ngàn liệt sĩ nữa, trong đó có bao nhiêu O giao liên còn  chưa được ghi tên lên tượng đài? Cũng là tham gia cách mạng, cũng là chiến sĩ, là giao liên, nhưng các O giao liên trong kháng chiến chống Mỹ luôn luôn làm chúng ta xúc động, cảm phục, xót thương... và khiến chúng ta - những người đã được một lần gặp họ - được họ "rước", được họ dẫn đường, cho ăn, cứu sống, bằng mạng sống của họ... Chúng ta sẽ dựng một đài tưởng niệm trong mỗi trái tim ta.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)