2.3.26

Có một truyền thống phụ nữ làm giao thông, thông tin liên lạc ở Việt Nam

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS

Ở xã Minh Nông, nay thuộc thành phố Việt Trì có một đền thờ, thờ bố mẹ Nàng Nội và Nàng Nội. Tên thật của Nàng Nội hiện chưa rõ, chỉ biết nàng là con gái của Lạc tướng Đặng Thi Huy em ruột Đặng Thi Sách - chồng của Trưng Trắc. Nàng Nội quê ở ngã ba Bạch Hạc, kinh đô của nước Văn Lang cũ. Nàng sớm biết chữ, cưỡi ngựa, bắn cung, múa kiếm. Khi Đặng Thi Huy bị giết cùng với Thi Sách vì âm mưu lật đổ Tô Định không thành, Nàng Nội mới 13 tuổi, mẹ và Nàng Nội phải đi trốn, lập trại mới, và Nàng Nội được tôn là trai chủ. Ít lâu sau, Tô Định sai đô đốc Hoàng Sùng Chính đem quân lên triệt hạ trại Nàng Nội, bị Nàng chém chết. Được tin Trưng Trắc dấy quân, Nàng Nội mang quân về với Hai Bà và được Trưng Trắc phong chức "Nội các Văn thư trưởng quan" chuyên lo liệu việc tiếp nhận, gửi đi và soạn thảo các giấy tờ thư từ, mệnh lệnh. Thắng giặc, Nàng Nội được phong "Nhập nội Bạch Hạc nữ công chúa".

"Nối các Văn thư trưởng quan" là một chức vụ, với nội dung công việc mà ngày nay ta nghĩ tới đó là chức tư lệnh bộ đội thông tin hoặc tổng cục trưởng bưu điện kiêm chánh văn phòng. Một người, như Nàng Nội là từ cơ sở trưởng thành lên (như cách nói của người bây giờ). Tương truyền Nàng Nội "có sức khoẻ, cầm cương giỏi, cũng như viết chữ rất đẹp, có tài điều binh, khiển tướng", thì việc vua Bà giao cho trọng trách ấy thật cũng xứng đáng.

Cho đến nay, trước Nàng Nội, chưa tìm được tài liệu gì mới nói về một phụ nữ giữ trách nhiệm này. Do đó có thể mạnh dạn nói rằng: "Nàng Nội là tư lệnh bộ đội thông tin đầu tiên của nước ta", tất nhiên đứng về mặt truyền thống.

Từ chức năng và vị trí của phụ nữ trong xã hội, do việc am hiểu địa hình qua lao động sản xuất, biết kế thừa truyền thống của bà, của mẹ, nhiều phụ nữ trong thời đại phong kiến cũ đã làm công việc giao thông và đã được sử sách ghi chép thành văn bản lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Đời nhà Lý, năm 1103, vua Chăm-pa là Mana chiếm ba châu phía nam nước ta. Lão tướng Lý Thường Kiệt lại xuất chinh. Có một ông đồ họ Trần cũng xin tòng quân. Ông đồ có cô con gái là Trần Ngọc Tường, cứ nằng nặc đòi đi theo. Bà mẹ cô vừa gánh nước mắm đi bán vừa tiễn chồng cũng không giữ cô lại được. Vào đến phía nam, cô gái Trần Ngọc Tường mang rổ bánh lân la qua các trại giặc tìm kiếm tình hình về đưa tin lại cho quân ta. Sau khi quân Lý thắng to, vua Lý phong cho cô là "Ngọc Hoa công chúa", đến nay vẫn còn đền thờ ở làng Đại Yên, Hà Nội.

Gần đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo có một miếu nhỏ thờ một phụ nữ nghèo, mò cua, bắt ốc ven sông. Khi quân Nguyên bí mật tiến quân đánh úp quân ta, bà đã tức tốc chạy về báo tin cho Hưng Đạo Vương biết. Vương đã kịp thời bố trí đánh trả, phá tan quân giặc. Theo lệnh của Vương, miếu thờ người phụ nữ đưa tin ấy được xây ở Kiếp Bạc cho được gần Vương.

Đời nhà Lê, có bà Lương (quê xã Chuế Cầu, nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) dọn hàng nước giữa cánh đồng Lai Cánh trên bờ sông Đáy, cạnh thành Cổ Lộng của giặc Minh, án ngữ con đường thiên lý Bắc Nam. Dò xét được tình hình quân giặc, bà Lương đã vào tận Thanh Hóa trình bày với Lê Lợi. Năm 1426, nghĩa quân Lê Lợi do Tư mã Cao Ngự chỉ huy tiến đánh thành Cổ Lộng. Bà đã đưa đường và làm nội ứng cho quân ta diệt được thành. Khi mất (1432), bà được phong là "Kiến quốc phu nhân".

Lịch sử còn lưu truyền những phụ nữ khác ít nhiều đã làm giao thông như Hồ Đề (đời Trưng Vương), nay còn đền thờ ở Yên lãng, Vĩnh Phú, như 3 cô cháu gái của Phùng Hưng (nay còn đền thờ ở Hòa Mục, Hà Nội), như hai mẹ con (hiện còn đền thờ ở Thanh Oai, Hà Tây) đã chở đò cho đại quân Lê Lợi sang sông tiêu diệt giặc Minh trong trận Tốt Động; như Đỗ Quyên, cô gái chở đò trên sông Mã đã chỉ đường cho quân Nguyễn Huệ đưa đội tượng binh qua sông ra Bắc, báo tin để nhân dân đem gỗ ghép bè cho voi đi.

Từ khi giặc Pháp xâm chiếm nước ta, biết bao phụ nữ đã làm giao thông, trong các phong trào Văn Thân, Cần Vương, Đông Du, trong các đội nghĩa quân...

Đó là cô Tám con gái Hoàng Phúc, đẹp người, giỏi võ nghệ, khi cuộc khởi nghĩa của Hoàng Phúc bị thất bại, cô Tám đã ra Nghệ An bắt liên lạc với Phan Đình Phùng. Cô Tám nhận làm liên lạc cho nghĩa quân Vụ Quang, nhiều lần vượt Trường Sơn, đưa thư từ, mua thuốc đạn. Nhân dân Đồng Hới đã đặt một tên đường "Cô Tám" trong thị xã. Đó là bà Đinh, quê Thừa Thiên, chồng làm đốc học, khi chồng chết, bà đã tìm đến Đặng Thái Thân được giao làm giao thông cho hội Duy Tân. Năm 1908, bà bị bắt. Tuy bị giặc tra tấn dã man nhưng bà không khai báo. Cuối cùng, bà đã tự lấy tay cắn máu đề 4 bài thơ tuyệt mệnh lên tường rồi tự tử.

Trên dốc Bến Ngự (Huế) trong khu vườn của "Phan tộc từ đường" hiện còn tấm bia do Phan Bội Châu đặt năm 1928 và tự tay đề chữ "Ấu Triệu Lê Thị Đàn chi mộ". Phan rất đỗi xót thương người liên lạc của mình là Lê Thị Đàn mà Phan thường gọi là bà Triệu nhỏ (Ấu Triệu). Năm 1903 bà Đàn làm giao thông cho phong trào Đông Du, đã từng khoác áo cà sa để đi lại khắp Trung, Nam, Bắc. Năm 1910, bị giặc Pháp bắt, dù bị tra tấn bà vẫn giữ bí mật cho Hội và đã tự vẫn giữ tròn khí tiết (Hà Nội có một đường phố mang tên Ấu Triệu).

Có nhiều phụ nữ khác như chị Mai. phụ trách giao thông cho nghĩa quân Bãi sậy, bà Điều, bà Đỏ làm liên lạc đưa tin tức cho nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, Hoàng Thị Ba vừa thu thập tin tức vừa để liên lạc cho Đốc Ngữ, Nguyễn Thị Mão (thường gọi là Cô Đồng Đa) giữ trạm liên lạc cho Đông Kinh nghĩa thục và giúp Đề Thám...

Người Hà Nội lớn tuổi đều biết chuyện bà Nhiêu Sáu (tên thật là Nguyễn Thị Ba) vợ ông Nhiêu Sáu (tên thật là Nguyễn Tĩnh) người làng Tương Mai, huyện Thanh Trì, mở hàng bán cơm, chứa trọ ở số nhà 20, phố Cửa Nam, thực chất là một trạm liên lạc của nghĩa quân Đề Thám và binh lính được giác ngộ. Ngày 27-6-1908, vụ đầu độc Hà Thành bị lộ, việc nghĩa của cai Nga, đội Bình bị thất bại, bà Nhiêu Sáu bị Pháp bắt giữ. Quân thù đã bỏ bà vào thùng xi măng bên trong cắm đinh, lăn bà trên sân gạch. Đinh sắc nhọn đâm nát thịt, nát da nhưng bà vẫn không cung khai chịu chết... Nhân dân Mèo Vạc (Đồng Văn, Hà Giang) còn kể chuyện Sùng Thị Mỹ, em gái Sùng Mí Chang người H'mông đã tự lập một quân đội toàn gái đi liên lạc, tiếp tế cho nghĩa quân. Trong những năm chống Pháp (1910-1912) Cô Bắc, chị ruột cô Giang (vợ Nguyễn Thái Học) đảm nhiệm công việc giao thông cho Quốc dân đảng bị bắt đã mắng chửi quân địch, nhận án tù...

Từ khi chủ nghĩa Mác-Lênin du nhập vào Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của các tổ chức yêu nước công nhân, cách mạng, cộng sản, số phụ nữ tham gia làm liên lạc không những thêm đông đảo, mà nội dung công tác rất phong phú, biểu hiện sự biến đổi lớn về lượng và về chất.

Trong thời gian hoạt động ở Quảng Châu những năm 1925-1927, hai cô Lý Phương Thuận và Lý Phương Đức là những nữ chiến sĩ giao thông đầu tiên được đồng chí Lý (Bác Hồ) giao nhiệm vụ. Cùng với Lý Tự Trọng, hai cô đã được Bác giáo dục về lòng yêu nước, về đạo đức cách mạng, về cách đi giao thông. Thuận và Đức đã nhiều lần chuyển thư từ đến các cơ sở cách mạng, đến lãnh sự quán Liên Xô, các cơ quan của Bộ phương Đông... trong khu vực Quảng Châu, Hồng Kông, Thượng Hải1. Khi về Thái Lan, cô Đặng Quỳnh Anh cùng chồng là Võ Tùng đã từng làm liên lạc cho Thầu Chín (Bác Hồ).

Ở trong nước, mặc dù bị cảnh sát, mật thám rình bắt, các chiến sĩ gái giao thông đã xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng. Rất nhiều chị nay đã là bà nội, bà ngoại hiện còn sống đã từng là chiến sĩ giao thông của Đảng và cũng không ít phụ nữ, cô gái trẻ đã hy sinh để lại cho các thế hệ mai sau những tấm gương không bao giờ phai mờ.

Người chạy hàng giữa Sài Gòn và Phú Riềng, thực chất là "giao thông giữa Xứ ủy Nam Kỳ với chi bộ đồn điền cao su Phú Riềng" là một phụ nữ: Chị Tý. Chị Ngô ở Song Lộc, Nghệ An đã giấu tài liệu của Đảng vào trong thùng nước mắm 2 đáy để đi liên lạc. Những bà mẹ nghèo ở ngõ Đề Lao, Hải Phòng, dùng chiếc chõng bán nước vối để làm nơi liên lạc của Đảng. Chị Mai Thị Vũ Trang đã chuyển tài liệu, vũ khí. Chị Phan Thị Khương, thường được anh chị em gọi là "Chị Cả Khương" là chiến sĩ giao thông Xứ ủy Bắc Kỳ, đảm nhiệm đường dây giữa Hải Phòng - Quảng Yên - Kiến An - Hải Ninh... Chị Nguyễn Thị Thuận, tức chị Tư Già đã hy sinh hạnh phúc gia đình để cố gắng làm tròn nhiệm vụ giao thông. Chị Hoàng Thị Ái, năm 1929 vừa làm công nhân nhà máy chè ở Tua Ran, vừa làm liên lạc cho Đảng. Chị Tôn Thị Quế, chiến sĩ giao thông đã được tặng hai câu thơ:

"Mười năm hải ngoại em chìm nổi

Bao độ lao lung chị dọa đầy...

Chị Quang Thái (em ruột chị Minh Khai) sau này là một chiến sĩ giao thông ưu tú của Đảng, năm 16 tuổi (1930) trong bài thơ "Quyết chí dốc lòng", đã hứa:

"Ngọn cờ vô sản bao giờ phất

Chín suối hồn ta mỉm miệng cười!"

Còn biết bao các nữ chiến sĩ giao thông khác như chị Mai Thị Yên đã giả làm người buôn xương khỉ, măng khô để đưa cán bộ vượt biên giới sang huấn luyện ở Quảng Châu. Chị Yên là một trong mười phụ nữ ở Hà Nội làm giao thông của Đảng trong những năm 1930 (chị Tuyết, chị Nhàn, chị Đầm, chị Liên, chị Giữ, chị Minh Lãng, chị Lưu Thị Đĩnh, chị Thuận Mỹ, chị Hưng, chị Lưu...). Chị Vũ Thị Mai sau khi "vô sản hóa"ở Cửa Ông đã làm giao thông giữa hai Xứ ủy Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Chị Nghĩa giao thông của Xứ ủy Bắc Kỳ với Trung ương, là công nhân nhà máy gạch Cát Linh, khi bị bắt đã giả câm và hy sinh trong nhà tù để giữ bí mật cho Đảng, chị Lê năm 15 tuổi đã được vào "Đoàn thanh niên phản đế" hăng hái đi liên lạc, đưa thư từ, chị Kỳ, giao thông của đồng chí Hoàng Văn Thụ, người đã chuyển Chỉ thị Tổng khởi nghĩa của Trung ương vào Nam Bộ, chị Sáu ở Liên Mạc vừa là giao thông của đồng chí Trường-Chinh, vừa là cán bộ cơ sở...

Trong kháng chiến chống Pháp, phụ nữ Việt Nam đã phát huy truyền thống, tiếp tục đảm nhiệm công tác giao thông và đã làm vẻ vang thêm cho truyền thống giao thông của phụ nữ Việt Nam.

Trên các trang sách học của các cháu nhỏ ta mới biết đến những Võ Thị Sáu, Mạc Thị Bưởi... Nhưng còn bao nhiêu phụ nữ khác đã làm giao thông liên lạc cho Đảng, cho quân đội. Chị Nguyễn Thị Điều, người đã được Bác Hồ tặng một đồng hồ để như Bác nói "đi những đường thư cho đúng hẹn". Dương Thị Phú, giao thông Hà Nội đã giúp một hàng binh Đức ra hàng Việt Minh, khi về nước đã gửi lời "chào chị cả". Phùng Thị Nhàn, chiến sĩ giao thông của quận ủy II Hà Nội, những năm 1950. Đội giao thông Lãng Bạc gồm các chiến sĩ gái đã chuyển thư Bác Hồ và cành đào vào Liên khu I, thủ đô Hà Nội, Tết năm 1946.

Truyền thống tốt đẹp của "phụ nữ Việt Nam làm giao thông liên lạc" được phát huy mạnh mẽ, nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, lực lượng nữ cán bộ chiến sĩ thông tin, giao liên đã chiếm tới 30-40% trong biên chế đơn vị, riêng Trung đoàn 134 có tới 60-80%. Chính trong bức tranh kỳ vĩ ấy, những đường nét, hình ảnh của phụ nữ Việt Nam làm giao thông, thông tin liên lạc thật là đẹp đẽ hào hùng. Chi Năm Chiến ở Bến Tre, năm 1950 đã ngoài 50 tuổi, là chiến sĩ giao thông kiêm bảo vệ của đồng chí Lê Duẩn trong những năm 1958, 1959. Cùng với hai chiến sĩ gái giao liên khác, chị Bảy Thường đã đánh tan một tiểu đoàn ngụy, bị kết án 11 năm tù, 5 năm đày ra Côn Đảo. Dưới hình dạng của một người ăn xin, má Bưng đã bí mật làm giao thông mấy chục năm liền cho các chiến sĩ biệt động Cần Thơ. Khó có thể tin rằng, với gần 70 tuổi, 21 năm liền là giao thông của thành ủy Sài Gòn, bác Lê Thị Nhiễm đã có thể đương đầu với bao nhiêu mưu mẹo, đòn tra tấn của địch. Bác là một trong những anh hùng giao thông thông tin của quân đội ta, là giao thông "đơn tuyến" của đồng chí Vũ Ngọc Nhạ, "cố vấn" của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Trên miền Bắc, tổng đài Vĩnh Linh do các chiến sĩ gái phụ trách có Lê Thị Bích Giả đã xông ra dựng cột nối dây trong bom đạn. Tổ điện đài của các chiến sĩ gái báo vụ Hằng, Liên, An (Quân khu 4) bị bom đánh sập hầm, kẻ bị ngất, người bị thương vẫn giữ vững làm sóng điện tấn công. Cuối năm 1972, khi pháo đài bay B52 của Mỹ dội bom xuống Hà Nội, 5 cô gái quân bưu của đoàn Hải Vân thông tin quân bưu đã đạp xe đạp dưới ánh lửa đạn, tia chớp của bom để chuyển công văn. Trong những lần thi thu phát nhanh, ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài, Binh chủng Thông tin còn giữ được những huy chương vàng của những cô gái vô tuyến điện vô địch: Vũ Thị Túc, Nguyễn Hải Sinh, Nguyễn Thị Lợi... Nhiều nữ sĩ quan thông tin đã lao động trong các viện nghiên cứu, thiết kế, kỹ thuật, có người đã giành được học vị trên đại học, đã trở thành cán bộ cao cấp trong quản lý, chỉ huy cũng như trong khoa học kỹ thuật công nghệ như Thu Sương, Thanh Hà, Nguyễn Thị Thái, Minh Hà...

Lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của nước ta in dấu ấn khá rõ nét trong sứ mệnh giao thông liên lạc mà phụ nữ đã đảm nhiệm. Và lịch sử cũng đã chứng minh rằng phụ nữ đã làm và làm được, làm tốt, không phải vài ba người, không riêng ở một địa phương, không chỉ dừng lại một thế hệ, không giới hạn ở độ tuổi thanh niên, không chỉ ở một số dân tộc...

Trong nghiên cứu khoa học ngày nay, người ta cho rằng, trung bình cứ 1000 người, nữ có 431 người trong nam chỉ có 427 người có chỉ số thông minh. Nếu phát hiện màu sắc, nữ công nhân dệt có thể nhận thấy ngay 200 sắc thái của một màu đỏ, số lượng này gấp đôi ở nam công nhân (theo nhà nghiên cứu Anh, Mông-ta-gu).

Trong công tác, "bản năng tương trợ, giúp đỡ bạn bè, đồng đội của nữ phát triển mạnh hơn nam giới" (theo giáo sư bác sĩ Trần Hữu Nghiệp). Theo dõi và điều tra ở một đơn vị thông tin trong kháng chiến chống Mỹ (đoàn H05 anh hùng) nữ chiến sĩ thông tin hữu tuyến điện nhớ nhanh, nhiều và ít nhầm lẫn các ký hiệu, mật danh điện thoại, tổng đài hơn các chiến sĩ nam. Nữ báo vụ thu, phát vô tuyến điện lập thành tích cao hơn nam báo vụ về tốc độ, ít sai sót hơn nam.

Lịch sử và khoa học giúp ta nhận rõ hơn truyền thống quý báu, độc đáo của phụ nữ Việt Nam trong công tác giao thông liên lạc. Ở miền Nam, "trong chống Mỹ cứu nước, không có một công việc khó khăn nào mà cách mạng cần đến lại không có mặt chị em". Trong công tác giao thông liên lạc, ngoài những gian khổ, khó khăn, nguy hiểm như các chiến sĩ nam, phụ nữ còn có những nỗi khổ riêng, tủi nhục, oan ức thầm kín có khi cả cuộc đời không thể nói ra, chết cũng chưa được phép giãi bày. Một thống kê cho biết tỷ lệ chiến sĩ giao thông khi bị bắt, không chịu được tra tấn của địch đã khai báo, ở nam giới cao hơn nhiều so với nữ. C. Mác đã từng nói: "Theo tôi, tương lai của con người lại do chính đàn bà làm ra". Ở một khía cạnh nào đó, vẫn thấy ý nghĩa này trong phụ nữ làm giao thông liên lạc.

Trong thư gửi phụ nữ nhân kỷ niệm Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế phụ nữ 8-3-1952, Bác Hồ viết: "Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ". Sự thật là: "Ở Việt Nam đã có một truyền thống phụ nữ làm giao thông liên lạc".

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)

..............................................

1 Viện Hồ Chí Minh hiện còn bản lưu hồi ký của bà Lý Phương Đức về công tác giao thông ở Quảng Châu, 1925-1927, do bà Đức viết tặng tác giả trong những lần gặp vào năm 1980. 

27.2.26

Tiếng chim

Lâm Thị Mỹ Dạ

Ban mai, lớn nhỏ, giữa rừng

Tiếng tích te rộn một vùng không gian

Âm huyền, âm sắc dọc ngang

Thời gian như cũng đan toàn âm thanh.

 

Con chim nó đứng nó nghe

Bao nhiêu cái tiếng tích te lạ lùng

Tiếng mình mà chẳng giống mình

Khiến chim ngơ ngác như tìm bóng ai

Trong lớn nhỏ, buổi sớm mai

Bạn chim - cô báo vụ cười đáng yêu

Ngón tay nhè nhẹ gõ đều

Tiếng tích te gửi mọi chiều không gian

Bước vào trận đánh gian nan

Lán thông tin vẫn ngập tràn tiếng chim.

Vút bay cánh sóng vô hình

Đưa vào trận đánh dòng tin mở đường

Bao nhiêu thắng lợi chiến trường

Nằm trong những tiếng bình thường - tiếng chim.

Năm 1980

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

Bài ca dây trần

Ngọc Bái

Chỉ là một sợi dây trần

Mà giăng mắc suốt núi gần sông xa

Mà giông nổi mà gió lùa

Bao êm ả máy reo đùa cùng dây.

 

Mảnh mai một sợi dây này

Băng băng qua những tháng ngày gian nan

Bao phen nhạt muối thiếu cơm

Thương nhau tìm đến Trường Sơn bạn cùng.

 

Lỡ khi lạc lối giữa rừng

Lần theo dây, gặp con đường, gặp nhau

Thác ghềnh lùi lại phía sau

Dòng sông kỷ niệm lắng vào tâm tư.

 

Dốc cheo leo đến cơn mơ

Bước chân chiến dịch đêm mưa gọi phà

Rừng khuya lán hẹp nhớ nhà

Vội nhen ngọn lửa hơ qua áo mình.

 

Đi dọc cả thời chiến tranh

Bom cắt đứt, lại nguyên lành đường dây

Điều gì rồi sẽ qua đây

Ống nghe kia ống nói này lặng câm.

 

Còn đâu dấu vết căn hầm

Chạm vào gió tiếng thì thầm đung đưa

Chim thường đến đậu ngẩn ngơ

Đường dây nối lại đôi bờ không gian

Nhắn ngang mây một tiếng đàn

Bài ca của lính dây trần ngân nga.

Tháng 4-1989

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

25.2.26

Tổ dây trên đỉnh đèo

Nguyễn Viết Sửu

Một tổ đường dây trên đỉnh đèo

Bốn bề vách núi đá cheo leo

Vắng dân, xa bản, trời mây phủ

Giữ mạch máu đào, tiếng chuông reo...

 

Tôi ở Nghệ An, anh tỉnh Thanh

Lúc vui điếu thuốc, bát chè xanh

Nắng hạn nhường nhau từng giọt nước

Đêm nằm giá lạnh đắp chung chăn.

 

Sáng mai anh được lên trên chốt

Thao thức cùng anh ngủ chẳng lành

Thắm tình đồng đội bao ngày ấy

Trong tim ghi mãi tuổi xuân anh.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

Nhà máy chúng tôi

Vũ Long

Nửa thế kỷ một chặng đường

Bấy nhiêu năm ấy can trường kiên trung

Từ ngày cõng máy trên lưng

Vượt đèo leo dốc xuyên rừng lội sông.

Không chăn đắp giữa mùa đông

Có đâu ánh điện giữa rừng ba la

Vẫn vang lên tiếng tích tà

Vẫn say cánh sóng ngân nga đất trời.

Đó là nhà máy của tôi

Bấy nhiêu năm lớp lớp người dựng xây.

 

Tự hào thế hệ hôm nay

Lớp cha, anh đã trao tay cơ đồ

Trao cho cờ thưởng Bác Hồ

Trao cho cả những ước mơ cuộc đời.

Hôm nay nhà máy chúng tôi

Lung linh ánh điện khoảng trời bao la.

Vẫn vang lên tiếng tích tà

Không gian tín hiệu sóng xa sóng gần.

Đường dài không mỏi bước chân

Khoảng không nào kể nơi gần, nơi xa.

Đất - trời - biển - đảo của ta

Thông tin tín hiệu vào ra từng ngày.

Nhẹ nhàng cần mẫn đôi tay

Chỉ nghe tiếng nói mà say lòng người.

Thông tin nhà máy chúng tôi

Mênh mông sóng, một khoảng trời quê hương.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

23.2.26

Giao bưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước1

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS

Ngay sau ngày ký Hiệp định Giơnevơ, để đảm bảo sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, một đường dây giao liên đã được thành lập. Theo Quyết nghị của Xứ ủy, các đồng chí Nguyễn Bá Bội, Nguyễn Văn Thược phụ trách tuyến miền Đông Nam Bộ; đồng chí Nguyễn Văn Tươi, tuyến miền Trung, đồng chí Trần Văn Thẩm, tuyến miền Tây. Các tuyến đường dây này tiếp tục kế thừa địa bàn và cơ sở của các đường giao liên đã có từ trong kháng chiến chống Pháp, nay được tổ chức lại cho phù hợp với tình hình mới.

Từ các tổng trạm giao liên từng miền, hệ thống giao liên phát triển tới các tỉnh, huyện, xã, tới chi bộ. Giao liên có hai bộ phận: bí mật và công khai, hoạt động biệt lập nhau, bộ phận này, người này không biết hoạt động của nhau trong cùng một bộ phận hay khác bộ phận.

Do nhận thức được "giao thông là công việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng", cùng với vô tuyến điện, giao bưu là một trong hai phương tiện liên lạc cơ bản của cách mạng miền Nam. Trong trường hợp vô tuyến điện gặp khó khăn và chưa đáp ứng được yêu cầu, giao liên còn là phương tiện liên lạc duy nhất giữa Xứ ủy Nam Bộ và các cấp.

Trong những năm 1955 - 1956, ở miền Nam có nhiều biến động. Xứ ủy Nam Kỳ vẫn trụ tại một cơ sở giao liên Sài Gòn, cùng với nhiều cơ quan khác của Đảng. Từ đây, các đường giao liên mật và công khai nối thông liên lạc đến các tỉnh, lên miền Đông, miền Tây, đến khu căn cứ và sang nước bạn, xuống Vũng Tàu - Bà Rịa, nối với các tỉnh Trung Bộ, tiếp với mạng của Khu 5 ra Trung ương. Con đường mới này được tổ chức lại sẽ là một con đường vận chuyển vũ khí, khí tài từ miền Bắc chi viện cho miền Nam.

Tại nhà truyền thống của lực lượng vũ trang Quân khu 7, ngày nay khách tham quan dễ nhận ra số biển xe VNN952 do chiến sĩ giao liên Nguyễn Hữu Ích đã giả xe Bộ trưởng Nội vụ trong Chính phủ Ngô Đình Diệm, đưa Bí thư Khu ủy Sài Gòn Nguyễn Văn Linh đi công tác tại Châu Đốc. Cũng chính các chiến sĩ giao liên Sài Gòn đã đưa một nhà báo nước ngoài đến gặp Bí thư Sài Gòn - Chợ Lớn ngay giữa đô thành... Nữ giao liên Nguyễn Thị Loan đã chuyển các tài liệu của đồng chí Lê Duẩn từ nhà số 29 Huỳnh Khương Ninh (Sài Gòn) về các cơ sở...

Sau khi Trung ương Cục miền Nam được thành lập với sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam, tình hình đòi hỏi phải có một tổ chức giao thông liên lạc lớn mạnh hơn. Vì vậy, ngành giao bưu vận miền Nam được chính thức thành lập từ ngày 2 tháng 6 năm 1962, do đồng chí Nguyễn Quyết làm Trưởng ban, hai đồng chí Trần Văn Thâm và Trần Nam Thông làm Phó ban.

Ngành giao bưu vận mới này vẫn kế tục nhiệm vụ ngành giao liên cũ và đảm nhiệm thêm nhiệm vụ bưu chính vận tải, trước kia chưa có, hoặc đôi lúc có tiến hành nhưng chưa thành nhiệm vụ chính thức.

Tháng 1 năm 1963, Phòng thông tin Miền Nam (R) được thành lập mang bí danh J3-X20 do đồng chí Tư lệnh Trần Văn Trà trực tiếp chỉ huy. Trong biên chế của phòng có các ngành vô tuyến điện, quân bưu, xưởng sửa chữa, trường huấn luyện và giao bưu vận. Tổ chức này tồn tại cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các trạm được chuyển tên gọi là đoàn. Tổng trạm của Miền tên cũ là B1 trở thành Đoàn 49. Các đoàn: Đoàn 20 phục vụ ngoại ô, Đoàn 43 đón quân Miền Bắc, liên lạc chặt chẽ với các T (trạm các tỉnh). Quân số các đoàn đã được tăng cường. Riêng khu Gia Định - Sài Gòn (T4) có tới trên 300 cán bộ, chiến sĩ giao bưu phụ trách các tuyến đường trong khu và vươn xa tới Phnôm Pênh, Băng Cốc.

Những ngày đầu mới thành lập, dưới sức ép của kẻ thù ở vùng rừng núi, trạm giao bưu có thể chỉ là một hòn đá một gốc cây... Sau này mới có lán, trại hoặc ở một căn nhà của đồng bào. Chiến sĩ giao bưu một mình một trạm, 1 dao xoi đường, 1 xà léc (túi) nhỏ, 1 gùi nặng trên lưng. Dần dần mới có đôi ba người rồi một tổ, một đội... Họ nhận hàng ở một địa điểm mật, lội suối trèo đèo... giao hàng cũng ở một nơi kín đáo... Cách mạng càng phát triển, gùi hàng trên lưng họ càng nặng lên. Nữ đồng chí Y Hà, Y Ngân đã cõng trên lưng có chuyến tới 100, 110 kilôgam. Dũng sĩ Nguyễn Bồi, ba ngày liền gùi trên cả vai, lưng mỗi ngày 105 kilôgam...2. Các chiến sĩ giao bưu ở các thành phố cũng hoạt động rất đắc lực. Năm 1960, đồng chí Tư Bao đã đưa đồng chí Võ Văn Kiệt an toàn qua vùng Bến Sóc. Trong mùa Xuân Mậu Thân 1968, chiến sĩ giao bưu đã vận chuyển hàng ngàn vũ khí, đạn dược vào Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, cũng chính các chiến sĩ giao bưu đã đón các mũi quân ta vào giải phóng các thành phố.

Có những chiến sĩ giao lưu trong biên chế, nhưng cũng có rất nhiều chiến sĩ giao bưu là thanh niên xung phong, là thường dân được huy động từng chuyến, từng mùa, từng chiến dịch. Phần lớn những chiến sĩ giao bưu này lại là phụ nữ, từ những bà má, em học sinh, cô bán trái cây trên đường phố, đến các nữ thanh niên người dân tộc ở các làng bản heo hút. Nhiều người bị tù đày, cùm kẹp, tra tấn nhưng không hề lộ bí mật đường dây trước quân thù. Nhiều bà, chị, em gái đã được Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Dũng sĩ với nhiều huân chương cao quý. Chỉ xin nêu tên một số phụ nữ tiêu biểu như: Chị Nam Chiến giao liên của đồng chí Lê Duẩn, má Hai Khởi giao liên của cô Ba Định, bà Bưng Cần Thơ giả điên dại 20 năm trời để làm giao liên; rồi các chị: Trần Thị Ba, Mạch Đào, Võ Thị Xem, Nguyễn Thị Ren, Phạm Thúy Phương, Dư Huệ Liên, má Tư Huynh, Hồ Thị Thu, Ngô Thị Tuyến, Hoàng Thị Kiến, Y Găm, Y Dàng, Y Hoan, Bảy Thường, Ngô Thị Hoa, Nguyễn Thị Đùng, Tuyết Mai, v.v... Không phải duy nhất chỉ có "phái nữ" là làm công tác giao bưu nhưng phải nói rằng hình ảnh các bà và các chị là hình ảnh tiêu biểu nhất của giao bưu nhân dân miền Nam.

Các tuyến đường giao bưu, trạm và các chiến sĩ giao bưu trong kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã phải đối mặt với ba đối phương ghê gớm nhất.

Trước hết là đối với bản thân. Sinh hoạt vật chất ở vùng đồng bằng, đô thị còn khá hơn, còn nếu ở vùng cao thì đói cơm, đói muối là chuyện thường xuyên, kéo dài không phải một, hai tháng mà nhiều tháng. Dù đôi lúc có xe, có ngựa, có voi giúp sức nhưng phần lớn là dựa vào sức người là đôi chân, đôi vai cộng với sức mạnh của ý chí quyết tâm. Sự hy sinh của giao liên ở cả ba vùng hoạt động rừng núi, đồng bằng, đô thị là thường ngày. Ở vùng Đồng Tháp Mười, có thời gian gần như 2 trong 3 chuyến đưa khách đều có giao liên hy sinh. Thế nhưng điều đáng nói là trải qua trên 20 năm chiến đấu, số chiến sĩ giao bưu đào ngũ vì không có đủ tinh thần chịu đựng là không đáng kể.

Thiên nhiên với nước nổi, lũ lụt, dốc cao, suối sâu, rừng dày, thú dữ, rắn độc, bệnh tật, với gió "phớn" - một loại gió đặc biệt của Trường Sơn, cũng là một kẻ thù rất nguy hiểm cho các tuyến giao liên và chiến sĩ giao bưu. Không ít lần, các chiến sĩ giao bưu có đi mà không về vì một cơn lũ bất chợt, vì sốt rét ác tính, vì động rừng, vì chất độc màu da cam, vì sông nước Tháp Mười, sông Tiền, sông Hậu.

Song kẻ thù thứ ba, kẻ thù nguy hiểm độc ác nhất vẫn là Mỹ - ngụy. Thoạt đầu, chúng đánh giá thấp khả năng liên lạc truyền tin của ta. Như Mắc Ga, trưởng phái đoàn MAAG tại Sài Gòn cho rằng: "Nhược điểm thông thường thứ 6 của du kích "Việt cộng là thiếu thốn khả năng giao thông liên lạc". Theo Mỹ, căn cứ vào việc trang bị 5000 điện đài cho 1 sư đoàn bộ binh Mỹ, thì quả là Việt cộng không thể có được sức mạnh về thông tin liên lạc. Nhưng sau đó, thực tế chiến trường đã làm chúng phải thay đổi nhận thức. Đại tá ngụy Đỗ Ngọc Nhận - Phó Tổng cục trưởng Quân huấn, trong cuốn sách "Vấn đề chỉ đạo chiến lược trong chiến trường Việt Nam" xuất bản năm 1970, đã viết rằng: "Cộng sản coi giao thông liên lạc là một chiến lược" vì "chính nó đã đảm bảo cho sự chỉ đạo thống nhất từ trên Trung ương xuống các địa phương. Đó là một yếu tố rất quan trọng, có tính chất then chốt bảo đảm sự thành bại trong âm mưu thôn tính miền Nam của Cộng sản hiện nay". Và Nhận kêu gào “phải triệt hạ hệ thống giao liên Cộng sản" coi đó là một nhu cầu chiến lược, là góp phần phá vỡ hệ thống chỉ đạo chiến tranh của Cộng sản, là phá vỡ toàn bộ hệ thống vận chuyển lưu thông tiếp tế và cơ động lực lượng của Cộng sản. Sau khi nhận biết được tính chất nguy hiểm, chiến lược và khả năng giao bưu vận của ta, Mỹ và ngụy đã giở đủ mọi thủ đoạn để làm tê liệt ngành giao thông - giao bưu. Chúng đánh phá3, tung biệt kích, bắt bớ các chiến sĩ, cài người vào hàng ngũ giao liên, kêu gọi đầu thú, đầu hàng, lập ấp chiến lược "tát cạn ao bắt cá", rải "cây nhiệt đới", làm hàng rào điện tử để chăn bước chân của chiến sĩ giao bưu.

Song song với việc loại trừ các tuyến giao bưu, Mỹ đã xây dựng lần đầu tiên không phải trên đất Mỹ mà là ở Việt thống thông tin mang tên ICS (Integrated Communications System) với 20.000 nhân viên kỹ thuật truyền tin Mỹ dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng J.Ơn-bơ-rai (Jack Albrigth). Với hệ thống này, quân Mỹ có thể hành quân, bình định, ném bom theo sự đánh dấu và bắt người ở bất cứ địa điểm nào ở miền Nam mà vẫn liên lạc được với Sài Gòn, Manila, Băng Cốc, với nước Mỹ, đến tận bàn tiệc hay thuyền dạo mát của Tổng thống Hoa Kỳ. Nhưng vượt qua mọi hiểm nguy và mọi thủ đoạn đánh phá của địch, những con đường giao liên vẫn mở rộng, nối dài, các chiến sĩ giao bưu vẫn gan góc, kiên trì hoạt động, góp phần cùng quân và dân miền Nam lập nên những chiến công; Phong trào Đồng khởi 1960, Tết Mậu Thân 1968, Quảng Trị 1972 và cuối cùng là Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Không kể hàng vạn lần dẫn đường đưa đón cán bộ, chỉ riêng về thành tích vận chuyển tài liệu, năm 1965, giao bưu miền Nam đã chuyển 171 tấn thư từ, công văn, báo chí cho "Hải Yến" (tên mật của Trung ương cục miền Nam) và cho các "Dì Hai", "Dì Ba", "Dì Tư" (các cơ quan của Đảng, Dân, Chính). Năm 1974, Tiểu đoàn quân bưu Bộ Quốc phòng chuyển vào miền Nam gần 31 tấn công văn, thư từ, tài liệu4.

Mỹ-ngụy không thể triệt phá được những tuyến đường giao bưu, các trạm và các chiến sĩ giao bưu, vì con đường đi của giao bưu là đi trong lòng dân, trạm giao bưu cũng ở trong lòng dân, chiến sĩ giao bưu là nhân dân chiến đấu trong một cuộc chiến tranh toàn dân.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, toàn miền Nam đã có trên 4500 liệt sĩ giao bưu, trong đó có hàng chục cán bộ lãnh đạo của Ban giao lưu, Ban Thông tin Miền, khu, tỉnh, huyện xã. 2000 chiến sĩ giao bưu là thương binh và còn hàng trăm chiến sĩ giao bưu khác mất tích chưa tìm được dấu vết.

Năm 1994, tại Tây Ninh, nơi đóng căn cứ của Ban giao bưu Miền, tượng đài liệt sĩ "Nam nữ thông tin giao bưu" được xây dựng để tưởng nhớ tới 173 liệt sĩ giao bưu thuộc Trung ương cục miền Nam, đã hy sinh cho hệ thần kinh, mạch máu của Đảng, của Quân đội...

Giao bưu miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã hoàn thành vẻ vang, xuất sắc nhiệm vụ của mình trong những điều kiện khó khăn, gay go nhất, chưa từng có trong lịch sử của ngành giao thông - thông tin, liên lạc nước ta.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)

---------------------------------------

1 Danh từ "Giao bưu" xuất hiện tại miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là viết tắt và rút gọn cụm từ: giao liên, bưu chính, vận tải. Giao liên đón, đưa, dẫn đường cho "khách". Bưu chính thực chất là bưu tá, chuyển vận công văn, thư từ, văn kiện. Vận tải là mang vác, chuyên chở tất cả các hàng hóa, lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược, vũ khí, thương binh, di vật của liệt sĩ... Giao bưu miền Nam không phải là giao liên của Đoàn 559. Giao bưu là một ngành của Thông tin liên lạc miền Nam bên cạnh ngành vô tuyến điện và hữu tuyến điện.

2 Trần Đình Trực, Báo Quân giải phóng, xuất bản tại Miền Nam, số 4, tháng 11 năm 1964.

3 Ở Trạm A 120 (Vĩnh Long) riêng 3 tháng đầu năm 1974, địch đã phục kích 43 lần.

4 Theo "Trung đoàn 130”, Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc , 1990, tr. 92. 

21.2.26

Tình cờ

Chu Thanh Vân

Tình cờ nghe tiếng em

Qua điện đài thánh thót

Chợt lòng anh hồi hộp

Trái tim thì bâng khuâng

Rồi phấp phỏng nhớ nhung

Mong đến phiên trực tới

Cầu trời... em trực máy

Cho anh gặp lại em

Ơi cô gái không tên

Mà sao anh quen quá

Có phải duyên kỳ lạ

Hay tơ trời xe đây

Mong gặp em đêm nay

Rồi mai, rồi kia nữa

Ước chi đừng cách trở

Cho chúng mình "bên" nhau!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

Cô báo vụ

Kim Ánh Vân

Em - cô bảo vụ

Lần đầu theo ca

Tim em đập thịch

Ngón tay sao cứng quá

Rồi lăn lộn thời gian

Rồi mồ hôi trắng áo

Tiếng ma níp rộn ràng

Rung lên từng nốt nhạc

Ngân vút mãi trời xanh măng

Với bao niềm mong đợi

Em gửi trọn mối tình

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

19.2.26

Mùa chim báo vụ

Nguyễn Thụy Kha

Anh vội qua sông Đáy

Mùa thu về Bút Sơn

Cơn gió vừa thức dậy

Nắng vàng ươm núi Ông

 

Lưng trời xanh chon von

Bụi trắng con đường đá

Tiếng chim nào lạ quá

Tích tích tà vang ngân

 

Phải đất này đất lành

Mát mẻ từ ngọn gió

Nên cánh chim theo đàn

Mùa thu này quần tụ

 

Những cánh chim báo vụ

Dọc ngang chân trời xa

Biên cương và đảo nhỏ

Về đây nên bạn bè

 

Về đây vào hội thi

Cánh rừng đầy chim hót

Tiếng moóc hòa tiếng moóc

Dàn giao hưởng thông tin

 

Bên cạnh trạm "Hoa Sen"

Những mạch vi điện tử

Bắc cầu lên vũ trụ

Như nghiêng về đây nghe

 

Muốn làm sợi dây khô

Nối kín từng đường điện

Muốn xoa tan nhiễu sạn

Trong ngần tín hiệu ngân

 

Muốn nghe tận lặng im

Bàn tay mềm mại thế

Cứ rung tràn tuổi trẻ

Gọi lên bao ước mong

 

Nhọn hoắt ngọn Bút Sơn

Giấc mơ dài ngủ thiếp

Bừng tỉnh tìm ngơ ngác

Giữa một trời tiếng chim

 

Anh như quên có mình

Giữa những người báo vụ

Hóa cây ghi-ta cũ

Ngân nga cùng tiếng chim

Mùa thu 1980

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

Tín hiệu trên Tổ quốc

Nguyễn Thụy Kha

Khi chiếc ma níp rung trong bàn tay

Tiếng nói ai vang từ ống nói

Tín hiệu bắt đầu ra đi

Như nguồn suối.

Xuyên điệp trùng ngọn núi

Tín hiệu chảy dọc đường dây

Vặn mình qua thành trì của đá

Dội lên những vách chắn điện ly

Tín hiệu vẫn chảy đi thác lũ

 

Lá thư em bay đến Trường Sơn

Phải vì thế mà anh nguôi cơn sốt

Anh gặp quê hương

Trong dấu nhật ấn xinh xắn vòng tròn

Giữa rừng nhớ em như thèm muốn

Thiếu gió biển khi rất nhiều gió núi

Anh nhớ em như muốn chảy theo nguồn

Lá thư này bỏ thùng thư nào em

Dấu nhật ấn như mắt ai muốn hỏi

Anh biết nói gì giữa rừng vời vợi

Lát nữa thôi mang cơn sốt anh đi

Anh cuốn võng biết có người vẫn đợi

 

Thế kỷ này

Giữa sông núi Việt Nam

Những đường dây dọc ngang

Khỏe khoắn

Mạng thông tin rõ ràng bí ẩn

Mãnh liệt như đường huyệt trong người

Những tổng đài suốt chiến tranh trụ bám

Qua bao mùa bom rơi

Bao mùa thủy lôi vây kín biển

Máu người loang đất ruộng

Những đường dây dứt rũ con đường

Nhà bưu điện vắng tanh

Những người lính không thể nào ẩn nấp

Nhưng cứ nhìn vào đường dây

Những sợi dây phải căng bên biển sóng

Là lại gặp bạn bè

Không thiếu một ai.

 

Với những cánh ăng ten

Đảo với đất liền không còn xa cách

Những con tàu trên thềm lục địa khỏi cô đơn

Khi ở đấy rộn tiếng chim tà tích

 

Với những cánh ăng ten

Tổ quốc có đảo làm mắt ngọc

Qua những vệ tinh

Tổ quốc quây quần trái đất

 

Về đây tín hiệu của bao niềm trò chuyện

Như những dòng sông gặp đại dương

Anh có thể suốt đời thiếu em

Nhưng Tổ quốc

Mạch thông tin không thể ngừng một phút

 

Làm sao thuộc hết tên

Các chị các anh những năm gánh vác

Trên vai trĩu nặng mạch thông tin

Họ tỏa vào núi sông làng xóm

Sức sống trên Tổ quốc muôn đời.

1972-1990

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000)