7.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (3/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 2/8

17. Chú ngã có đau không?

Vào đầu năm 1954, tiết trời đã sang xuân, nhưng ở Việt Bắc vẫn còn rét. Gió bấc thổi mạnh, mưa phùn lâm râm gây nên cái lạnh buốt, Bác vẫn làm việc rất khuya. Bác khoác chiếc áo bông đã cũ, miệng ngậm điếu thuốc lá thỉnh thoảng lại hồng lên, tiếng máy chữ lách tách, lách tách đều đều...

Trời lạnh, nhưng được đứng gác bên Bác, tôi thấy lòng mình như được sưởi ấm lên. Tôi nhẹ nhàng bước chân đi vòng quanh lán. Một lần vừa đi, vừa nghĩ, tôi bị thụt chân xuống một cái hố tránh máy bay. Tôi đang tìm cách để lên khỏi hố, chợt nghe có tiếng bước chân đi về phía mình. Có tiếng hỏi:

- Chú nào ngã đấy?

Chưa kịp nhận ra ai, thì tôi đã thấy hai tay Bác luồn vào hai nách, chòm râu của Bác chạm vào má tôi. Tôi cố trấn tĩnh lại để nói một lời thì giật mình khi thấy Bác không khoác áo bông, Bác đi tất một chân có guốc, một chân không, nước mắt tôi trào ra. Vừa kéo, Bác vừa hỏi:

- Chú ngã có đau không?

Bác sờ khắp người tôi, nắn chân, nắn tay tôi. Rồi Bác nói:

- Chú ngã thế đau lắm. Chú cứ ngồi xuống đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống!

Tôi bàng hoàng cả người, không tin ở tại mình nữa. Có thật là Bác nói như vậy không! Bác ơi! Bác thương chúng cháu quá!

Tôi trả lời Bác:

- Thưa Bác, cháu không việc gì ạ. Rồi tôi cố gắng bước đi để Bác yên lòng.

Bác cười hiền hậu và căn dặn: “Bất cứ làm việc gì chú cũng phải cẩn thận”. Rồi Bác quay vào.

Tôi đứng nhìn theo Bác cho đến lúc lại nghe tiếng máy chữ của Bác kêu lên lách tách, đều đều trên nhà sàn giữa đêm Việt Bắc.

(Theo lời kể của Ngô Văn Núi)

 

18. Câu chuyện về ba chiếc ba lô

Trong những ngày sống ở Việt Bắc, mỗi lần Bác đi công tác, thường có hai đồng chí đi cùng. Vì sợ Bác mệt, nên hai đồng chí định mang hộ ba lô cho Bác, nhưng Bác nói:

- Đi đường rừng, leo núi ai mà chẳng mệt, tập trung đồ vật cho một người mang đi thì người đó càng chóng mệt. Cứ phân ra mỗi người mang một ít.

Khi mọi thứ đã được phân ra cho vào ba chiếc ba lô, Bác còn hỏi thêm:

- Các chú đã chia đều rồi chứ?

Hai đồng chí trả lời:

- Thưa Bác, rồi ạ.

Ba người lên đường, qua một chặng, mọi người dừng chân. Bác đến chỗ đồng chí bên cạnh, xách chiếc ba lô lên.

- Tại sao ba lô của chú nặng mà của Bác lại nhẹ?

Sau đó, Bác mở cả ba chiếc ba lô ra xem thì thấy ba lô của Bác nhẹ nhất chỉ có chăn, màn. Bác không đồng ý và nói:

- Chỉ có lao động thật sự mới đem lại hạnh phúc cho con người.

Hai đồng chí kia lại phải san đều các thứ vào ba chiếc ba lô.

 

19. Chủ tịch nước cũng không có đặc quyền

Đầu năm 1946, cả nước tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên. Gần đến ngày bầu cử, tại Hà Nội - là nơi Bác Hồ ra ứng cử - có 118 vị Chủ tịch Ủy ban nhân dân và đại biểu các giới hàng xã đã công bố một bản đề nghị: “Yêu cầu cụ Hồ Chí Minh không phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi suy tôn và ủng hộ vĩnh viễn cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Từ nhiều nơi trong cả nước, đồng bào viết thư đề nghị Bác không cần ra ứng cử ở một tỉnh nào, nhân dân cả nước đồng thanh nhất trí cử Bác vào Quốc hội.

Trước tình cảm tin yêu đó của nhân dân, Bác viết một bức thư ngắn cảm tạ đồng bào và đề nghị đồng bào để Bác thực hiện quyền công dân của mình: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của Tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa. Xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới.

Sau ngày hòa bình lập lại, có lần Bác đi thăm một ngôi chùa cổ, vị sư trụ trì ra đón và khẩn khoản xin Bác đừng cởi dép khi vào trong chùa. Bác không đồng ý và lặng lẽ làm đúng những quy định như khách thập phương đến lễ chùa. Trên đường từ chùa về, khi vào đến thành phố, xe Bác đến một ngã tư thì vừa lúc đèn đỏ bật. Sợ phố đông, xe dừng lâu, đồng chí bảo vệ định chạy lại đề nghị đồng chí công an giao thông bật đèn xanh để Bác đi. Bác hiểu ý ngăn lại:

- Các chú không được làm như thế, phải tôn trọng và gương mẫu chấp hành luật lệ giao thông. Không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên riêng cho mình.

 

20. Câu chuyện về một con đường

Trong kháng chiến chống Mỹ, một hôm đi thăm nơi ăn, chốn ở của một đơn vị thông tin, trước khi ra về, Bác bảo đồng chí chỉ huy tập trung bộ đội lại.

Bác nói:

- Muốn làm tốt được nhiệm vụ, các chú phải đoàn kết nội bộ, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân địa phương, thường xuyên thăm hỏi, động viên giúp đỡ nhân dân, làm cho nhân dân tin yêu, giúp đỡ bảo vệ quân đội. Chỉ có dựa vào nhân dân, đoàn kết với nhân dân mới bảo vệ được mình, che mắt địch và đánh thắng được chúng.

Chợt Bác chỉ tay ra phía đường cái hỏi:

- Thế các chú cấm con đường kia thì nhân dân đi lại bằng đường nào?

- Thưa Bác... đi vòng theo các bờ ruộng ngoài kia ạ.

Nghe đồng chí chỉ huy trả lời thế, Bác phê bình:

- Như vậy là không được. Các chú cấm đường để phòng kẻ gian, đảm bảo bí mật quân sự là đúng, nhưng phải đắp con đường khác cho nhân dân đi chứ. Có như vậy mới đúng là quân dân đoàn kết, Bác nói thế có đúng không?

Chúng tôi cùng trả lời:

- Thưa Bác, đúng ạ!

Vâng lời Bác, đơn vị đã tự phê bình trước nhân dân và cùng nhân dân đắp xong con đường mới sớm hơn thời gian dự định.

 

21. Từ chiếc đồng hồ của Bác

Cuối năm 1954, Bác Hồ đến thăm một đơn vị pháo binh đóng ở Bạch Mai đang luyện tập để chuẩn bị cho cuộc duyệt binh đón mừng chiến thắng Điện Biên Phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thủ đô Hà Nội.

Sau khi đi thăm nơi ăn, chốn ở của bộ đội, Bác đã dành một thời gian dài để nói chuyện với anh em. Bác lấy ở túi ra một chiếc đồng hồ quả quít và kể rằng, đây là vật kỷ niệm của một đồng chí lãnh tụ một Đảng Cộng sản tặng. Bác âu yếm nhìn mọi người rồi chỉ vào từng chiếc kim, từng chữ số và hỏi anh em về tác dụng của từng bộ phận. Mọi người đều trả lời đúng cả. Song chưa ai hiểu tại sao Bác lại hỏi như vậy?

Bác vui vẻ nói tiếp: “Đã bao nhiêu năm nay, chiếc kim đồng hồ vẫn chạy để chỉ cho ta biết giờ giấc, chữ số trên mặt vẫn đứng yên một chỗ, bộ máy vẫn hoạt động đều đặn bên trong. Tất cả đều nhịp nhàng làm việc theo sự phân công ấy”. Ngừng một lát Bác nói tiếp:

- Thế mà ngày nay, bỗng nhiên cái kim kêu lên: tôi chạy mãi hết ngày này qua tháng khác, mỏi chân lắm rồi, phải cho tôi nghỉ. Chữ số thì đua nhau la lớn: tôi đứng mãi một chỗ, chùn chân lắm, phải cho tôi chạy. Bộ máy bên trong thì than thở: tôi ở mãi trong này, chẳng ai biết đến công việc âm thầm của tôi, phải cho tôi ra ngoài. Thế là kim thì đứng, chữ số thì chạy linh tinh theo sở thích, bộ máy bên trong thì nhảy ra ngoài. Các cô, các chú thử tưởng tượng xem, nếu như vậy có còn là chiếc đồng hồ nữa không? Có giúp ích gì cho chúng ta nữa không?

Mọi người đáp: “Thưa Bác, không ạ!”

Anh chị em đều hiểu ý Bác dạy: Việc gì cách mạng phân công phải yên tâm hoàn thành. Không được “đứng núi này trông núi nọ”.

 

22. “Ông kiến” nhà sàn của Bác

Năm 1958, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh được Văn phòng Phủ Chủ tịch mời lên gặp Bác.

Hôm ấy, Bác mặc bộ quần áo bà ba, chân đi đôi guốc mộc. Sau khi mời đồng chí Ninh ngồi, Bác nói ý kiến của mình về ngôi nhà mà Trung ương đã quyết định xây để Bác ở. Bác dặn nhà mới sẽ làm theo kiểu nhà sàn Việt Bắc, loại gỗ gì, tầng dưới thế nào, chỗ làm việc của Bác ra sao, cặn kẽ, cụ thể. Khi nói đến hành lang quanh sàn, Bác bê chiếc ghế mây ra để ngang, giơ tay làm cữ, nói:

- Hành lang chú làm rộng cho Bác như thế này, để khi Bác ngồi đọc sách, có ai qua lại đều thuận lợi. Ý kiến chú thế nào? Có được không?

Đồng chí Ninh thưa với Bác là “được” và xin phép ra về. Bác dặn thêm là phải hết sức tiết kiệm.

Sau đợt đi công tác ngắn ngày về, ngôi nhà đã xong. Bác đến xem nhưng không ai nghe thấy Bác nói gì. Hôm sau, Bác bỏ tiền riêng của mình nhờ Văn phòng tổ chức một buổi liên hoan ngọt. Bác mời đồng chí Ninh và một số công nhân làm nhà cho Bác tới dự ngay gian dưới ngôi nhà sàn mới dựng xong. Đấy là bữa tiệc đầu tiên “khánh thành công trình” nhà sàn của Chủ tịch nước. Bác giục mọi người ăn kẹo, uống nước. Bác tặng mỗi người một huy hiệu hình Bác. Đến lượt đồng chí Ninh, Bác nói:

- Các chú làm như thế là nhanh, tốt, nhưng còn một khuyết điểm. Chú có biết khuyết điểm gì không?

Đồng chí Ninh thưa với Bác

- Thưa Bác, so với lời Bác dặn thì có tốn kém hơn đôi chút ạ.

Bác gật đầu:

- Chú nói đúng. Nước ta chưa giàu, dân ta còn chưa đủ nhà ở. Bác ở thế là tốt lắm rồi...

Sau bữa tiệc, Bác mời anh em ra chụp ảnh chung với Bác. Nhìn quanh, thấy đồng chí Ninh, Bác vẫy:

- Còn “ông kiến” nữa, đến đây!

Tất cả cười ồ lên, vui vẻ, phấn khởi trong niềm hạnh phúc riêng của mình...

Đồng chí Ninh kể lại: “Ban đầu tôi cho rằng mình là “kiến trúc sư” nên Bác gọi là “ông kiến” cho gọn, cho vui. Mãi về sau có người nói rằng gọi “ông kiến” là tiết kiệm được hai chữ “trúc sư” Mà Kiến là hay leo, leo thang. Tôi đã “leo thang” trong việc xây nhà sàn cho Bác, không tiết kiệm, nên Bác gọi thế!”1

(Theo lời kể của đồng chí Ninh)

-------------------------------------------

1 Cuối năm ấy, Bác tự tay gửi một con cá trong “Ao cá Bác Hồ”, nhờ đồng chí bảo vệ đem đến tận nhà “tặng và cảm ơn kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh”.

 

23. Đôi chân Bác

Đôi chân Bác là đôi chân ngàn ngàn dặm. Chẳng có ai trong thời đại Bác lại đi nhiều đến thế. Chỉ nói riêng trong thời gian chống Pháp, ở Việt Bắc, Bác đi rất nhiều. Anh em bảo vệ phục vụ Bác kể: Bác đi khiếp lắm, toàn đi bộ, thỉnh thoảng mới đi ngựa. Thoắt đã từ Tân Trào sang Thái, thoắt đã lên Tuyên, thoắt ngược Bắc Cạn... Vừa đi vừa làm việc, viết báo, viết sách. Cánh thanh niên theo được Bác còn đến “Tết”.

Thời gian ở Xiêm có ngày Bác đã đi bộ hơn 70 kilômét đường rừng. Bác đi quen, sải chân đều, đúng giờ là nghỉ, hết giờ nghỉ lại đi, dù mưa bão, hễ đã định đến đâu là đến bằng được, ít khi lỡ độ đường vì chủ quan. Ai đi theo Bác, mệt mỏi, Bác mách cho cách xoa bóp chân, bóp chân bằng nước tiểu, nấu canh lá lốt rừng ăn cho đỡ. Còn đôi chân Bác thì cứ như là chân thép.

Nhưng Bác lại hay thương anh em phải đứng lâu, đi nhiều.

Một lần, các chiến sĩ quân đội được vào thăm Bác, xin Bác được chụp ảnh chung. Bác đồng ý. Bác mời đồng chí chụp ảnh tới. Để đảm bảo “ăn chắc”, nhà ảnh xin phép Bác lấy chân máy ảnh đặt máy lên chụp. Chờ mãi mới mang được chân máy ra, Bác nói:

- Chú tìm được chân máy thì chân Bác gãy rồi...

Ai nấy đều vui vẻ hẳn lên, quên cả thời gian chờ đợi.

Lần khác, nhân dịp Bộ Quốc phòng chiêu đãi đoàn đại biểu quân sự Liên Xô do Đại tướng Pavel Batov dẫn đầu, Bác có tới dự. Đồng chí Tổng tham mưu trưởng1 quân đội ta đọc bài diễn văn bằng tiếng Việt một đoạn rồi ngừng. Một cán bộ đối ngoại dịch ra tiếng Nga nên mất nhiều thời gian.

Bác quay sang đồng chí Bộ trưởng Quốc phòng:

- Bài dài quá, mình đứng rục cả chân.

Đồng chí Văn2 phân trần:

- Thưa Bác, hôm nay có đoàn đại biểu quốc tế, có Ủy ban giám sát đình chiến nên xin phép Bác...

Sau đó đồng chí Văn nói riêng với một cán bộ. Đồng chí này viết trên một tờ giấy nhỏ chuyển tới đồng chí Tổng tham mưu trưởng. Từ đấy, chỉ đọc bản tiếng Nga. Cuối cùng đồng chí Tổng tham mưu trưởng mới nói lại bằng tiếng Việt, cám ơn quan khách.

Tiếng vỗ tay chưa dứt, Bác đã cầm một cốc rượu nhanh nhẹn đi chúc mừng những người đứng xung quanh. Sau đó, Người cầm cái nĩa, giơ lên nói

- Bắt đầu thôi! Không thì mỏi chân lắm...

Thật ra là Bác nói hộ mọi người.

-------------------------------------

1 Đại tướng Văn Tiến Dũng.

2 Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

 

24. Bác phục vụ dân chứ không phải dân phục vụ Bác

Suốt cuộc đời mình, dù đã đi bốn phương trời, qua nhiều nước, tiếp nhận và gạn lọc tinh hoa nghệ thuật của nhiều dân tộc, nhưng Bác vẫn trân trọng nghệ thuật cổ truyền Việt Nam, trong đó có câu hát phường vải và hò ví dặm của quê hương  Nghệ An.

Các đoàn, các đội văn nghệ ở Trung ương và các địa phương vẫn thường được Bác mời vào Phủ Chủ tịch biểu diễn, tiếng là để Bác xem và cho ý kiến, nhưng - như anh em trong cơ quan thường nói “chủ yếu là Bác cho chúng tôi xem thôi”.

Lần về thăm Nghệ An, sau khi đội văn nghệ tỉnh nhà biểu diễn, Bác bước lên sân khấu, giơ cao một chiếc lẵng mây, nói:

- Các cháu diễn tốt, Bác thưởng kẹo. Kẹo trong lẵng này này.

Khi đoàn trình diễn vở “Cô gái sông Lam”, trước giờ mở màn, Bác vào phòng hóa trang. Với anh Nghĩa quê Nghi Lộc, Bác nhại tiếng: “Nghi Lộc hả, con “méo” phải không?”. Anh Ngoạn trưởng đoàn trả lời Bác quê mình là Thừa Thiên, Bác nói: “Rứa là không phải Nghệ An nhà choa rồi”...

Lần khác nữa, Bác lại mời đoàn ca múa Nghệ An vào Phủ Chủ tịch biểu diễn. Nhưng sau đó biết tin đoàn đang tiếp tục chương trình phục vụ đồng bào Hà Nội tại Văn Miếu, Bác báo cho đồng chí giúp việc điện sang Bộ Văn hóa hoãn lại. Bác nói:

- Để đồng bào thưởng thức trước, Bác xem sau. Bác phục vụ dân chứ không phải dân phục vụ Bác.

(Theo Minh Huệ)

 

25. Yêu ai yêu bằng cả tấm lòng

Lần Bác sang thăm nước Cộng hòa dân chủ Đức, các đồng chí ở Bộ Y tế nước bạn mời Bác đi thăm một số bệnh viện, trường đại học y khoa và cơ sở nghiên cứu khoa học ở Berlin. Đến một phòng học, các bác sĩ giới thiệu với Hồ Chủ tịch mô hình một người thủy tinh trong suốt, có đầy đủ các bộ phận cơ thể và có thể lấy ra đặt vào phục vụ cho việc nghiên cứu bài giải phẫu.

Khi cầm que chỉ vào trái tim, đồng chí bác sĩ nước bạn nói vui:

- Trái tim này còn chứa đựng bao nhiêu tình yêu...

Bác cười nói với đồng chí người Đức:

- Ở nước chúng tôi, người ta không nói yêu nhau bằng trái tim đâu. Đố đồng chí biết đấy!

Bác sĩ xin chịu.

Cầm lấy que chỉ, Bác khoanh một vòng tròn vào bụng người mẫu thủy tinh, rồi nói:

- Chúng tôi yêu ai, yêu bằng cả tấm lòng này này.

Mọi người cười rộ lên...

(Theo đồng chí Song Tùng)

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)  

5.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (2/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 1/8

7. Nhảy một nhảy

Trong xã hội phong kiến thuở trước, nam và nữ cầm tay nhau, bắt tay nhau, khoác tay nhau... là điều tối kỵ. Nhất là đối với nam nữ thanh niên con nhà “thi lễ” và “khuê các”, cũng như đối với cả những người nhiều tuổi có ý thức giữ gìn phong hóa cổ truyền, vi phạm điều cấm kỵ đó thường không thể không bị miệng tiếng thế gian chê bai.

Cách mạng tháng Tám bùng nổ, hơn một năm sau, tiếng súng toàn quốc kháng chiến chống Pháp vang lên. Từng đoàn, từng đoàn cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức, thanh niên, trung niên và không ít người già rời thủ đô và các thành thị về nông thôn, lên miền núi công tác trên mọi lĩnh vực hoạt động. Đời sống thật gian khổ, kham khổ và cũng khắc khổ. “Món ăn văn hóa” thường chỉ có bài đơn ca, đồng ca, những chuyện tiếu lâm, những thiên độc tấu... động viên chính trị.

Thắng lợi chiến dịch mùa thu 1950 mở thông những đường qua lại giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nhiều đoàn cán bộ, học sinh... từ miền Bắc sang Bắc Kinh và Hoa Nam công tác, trao đổi kinh nghiệm, tham quan và học tập. Trong những hành lý văn hóa đem về có món“nhảy múa” mà đầu trò là điệu “ương ca”. Món sinh hoạt văn hóa mới này nhanh chóng được số anh em công tác tại các cơ quan Văn phòng Trung ương Đảng yêu thích. Bác Hồ vui vẻ khuyến khích bằng sự trực tiếp tham gia của mình, nhất là sau mấy giờ lao động buổi chiều, kết hợp nghệ thuật với thể dục.

Những người từ Trung Quốc về thỉnh thoảng gọi nhau bằng tiếng “quan hỏa”: “Theo ý theo” (khiêu nhất khiêu). Bác dịch nôm na vui đùa từng chữ một là: “Nhảy một nhảy”.

Một hôm, trong một cuộc họp của Mặt trận Liên Việt có đủ các giới công, nông, thanh, phụ, già, trẻ, gái, trai, đến giờ nghỉ, đồng chí điều khiển hội nghị cũng đề nghị mọi người nhảy múa cho vui. Ra sân, các giới thanh niên trung niên, từng tốp, từng tốp, vừa vỗ tay vừa diễn ương ca. Một số đồng chí đảng viên những năm ba mươi và một số vị nhân sĩ, thân sĩ đứng nhìn, biểu thị nhiệt tình ủng hộ và cổ vũ bằng những ánh mắt nụ cười. Trong số này có bà Thục Viên, một nhà giáo dạy học đã nhiều năm ở Hà Nội và là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên, được nhân dân thủ đô tin cậy, quý mến.

Bỗng đâu, Bác Hồ từ trong phòng họp bước ra, đi thẳng tới chỗ các vị cao niên, vui vẻ mời: “Chúng ta cũng nhảy một nhảy chứ?”. Rồi Bác khoác tay bà Thục Viên... Bất ngờ, bị động và cũng hào hứng, bà Thục Viên ngoắc chặt khuỷu tay của Bác. Bác bước dồn dập và quay tròn. Bà hối hả theo và quay theo. Giữa sân, các tốp nhảy trẻ trung đều nhìn về phía Bác. Tiếng vỗ tay đánh nhịp và tiếng “sol la sol chuyển thành lạc điệu và lộn xộn. Ngoài hàng rào, sau một bụi tre, mấy cô gái người Tày đứng nhìn say sưa và có phần ngơ ngác. Chỉ một chốc, bà Thục Viên luống cuống “bắn” cả một chiếc dép vào chân Bác Hồ... Cũng là vừa lúc có chuông vào họp lại.

Mấy tuần sau, tôi theo anh Trường Chinh đến dự một cuộc họp Thi đua Ái quốc tổ chức tại Văn Lãng, dưới chân đèo Khế. Họp đến gần nửa buổi, cuộc thảo luận trở thành tranh cãi rất gay go. Đồng chí điều khiển hội nghị lúng túng. Bác Tôn Đức Thắng, ngồi ở giữa hàng ghế đầu, bỗng đứng phắt lên, nói to:

“Thôi, nhảy một nhảy đã nào”.

Mọi người vỗ tay ran rồi ùa ra sân. Chỉ trong chốc lát đã có cảnh tượng nhộn nhịp sol la sol...

Đồng chí Trường Chinh, đang vừa nghe vừa xem lại bản đánh máy bài nói chuyện  của mình, quay lại cười với tôi:

- Hay nhỉ! Vui nhỉ!

- Thưa anh, cũng là một bước nhảy “bài phong” giản dị.

- Đúng, Bác Hồ cổ vũ cho đời sống mới, văn hóa mới, giản dị và hiệu quả như thế đấy.

Quang Đạm kể1

-------------------------------------

1 Tên thật Tạ Quang Đệ, nguyên ủy viên biên tập báo Nhân Dân.

 

8. Chú còn trẻ, chú vào hầm trú ẩn trước đi

Một ngày tháng 7 năm 1967, ở Hà Nội, đồng chí Mai Văn Bộ được Bác Hồ gọi đến mời cơm tiễn chân trước khi đồng chí lên đường đi Paris nhận nhiệm vụ Tổng đại diện Chính phủ ta bên cạnh Chính phủ Pháp.

Trong bữa cơm, Bác kể chuyện về khu Luxembourg, nơi Bác có nhiều kỷ niệm. Bác nói Bác rất yêu Paris, Paris đã dạy cho Bác nhiều điều...

Bỗng tiếng còi báo động rú lên. Một chiến sĩ bảo vệ yêu cầu Bác và các đồng chí khác xuống hầm. Ít phút sau đã nghe tiếng đạn nổ.

- Thưa Bác, tác chiến báo cáo chúng nó đánh cầu Long Biên. Mời Bác vào hầm trú ngay cho.

Bác quay lại đồng chí Bộ, nói:

- Bác già rồi, chẳng bom đế quốc nào ném đâu. Chú còn trẻ, chú cần vào hầm trú ẩn trước.

Rồi Bác đẩy đồng chí Bộ đi trước, sau đó đến đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí cảnh vệ.

Bác là người vào hầm trú ẩn sau cùng.

Mai Văn Bộ kể

 

9. Bác Hồ thích món ăn gì nhất

Nhiều người quan tâm đến sinh hoạt đời thường của Bác Hồ có lúc đặt ra câu hỏi ấy. Mới xem qua, dường như nó chẳng có ý nghĩa gì mấy, bởi nó quá riêng tư, mỗi người đều có sở thích của mình, thị hiếu là vấn đề không thể bàn cãi!

Đúng như vậy. Nhưng tìm hiểu sở thích của một người cũng là một hướng tiếp cận tính cách của con người đó, càng cần thiết hơn khi đó lại là một vĩ nhân.

Cũng như mọi người, có món ăn Bác Hồ rất thích, nhiều món ăn được, có món không thích, ví dụ qua câu chuyện được kể lại về bữa cơm với bà Thanh, ta biết cậu Thành từ nhỏ không ăn được tỏi.

Nét nổi bật là vị Chủ tịch nước đầu tiên của chúng ta lại rất thích các món ăn dân dã như mắm, cà dầm tương, canh cua ăn với rau chuối thái ghém...

Có lần, trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí Chủ tịch Liên khu 4 Lê Viết Lượng có gửi lên Việt Bắc biếu Bác một lọ cà dầm mắm. Bác rất thích ăn. Ngày đó, Bác vẫn thường ăn chung với các nhân viên phục vụ của mình. Có bữa bận phải ăn sau, Bác dặn: - Các cô các chú cứ ăn thịt cá, để phần Bác món cà dầm mắm.

Ở rừng, thỉnh thoảng vẫn thiếu rau. Bác bảo: - Ta thiếu rau nhưng nhiều mít, cô Mai (vợ bác sĩ Chánh) làm món nhút ăn cho đỡ xót ruột. Chị Mai thú thực không biết làm. Bác lại bày cho cách làm nhút từ quả mít xanh. Có lẽ trong các món mang hương vị quê hương, Bác thích nhất món cá bống kho lá gừng. Hôm nào đồng chí Cần, cấp dưỡng của Bác làm món ăn đó, Người thường ăn hết, để món thịt lại.

Có lần, Bác được mời đi nghỉ tại Liên Xô. Bạn cho ăn toàn những món đặc sản vào loại tuyệt hảo. Bỗng một hôm Bác bảo: “Mình nhớ món cá bống kho lá gừng quá!”. Một chuyện thật đơn giản, nhưng trong hoàn cảnh đó thực hiện lại không dễ. Nấu ở nhà nghỉ thì không ổn, hơn nữa bạn lại rất sợ mùi nước mắm. Kho ở sứ quán rồi mang vào lại sợ bạn biết sẽ phật ý. Cuối cùng, nhờ sự trổ tài khéo léo của đồng chí Vũ Kỳ trong việc giới thiệu các món ăn cổ truyền của dân tộc, món cá bống kho gừng đã được thực hiện.

Ở Việt Bắc, hôm nào có điều kiện ăn tươi, Bác lại bảo: ra gọi cô Cúc (vợ đồng chí Phạm Văn Đồng) và cô Mai vào trổ tài cho bác cháu mình thưởng thức. Chị Mai làm món gà rút xương, thịt băm trộn nấm hương nhồi đùi gà, đem hấp. Chị Cúc làm món bít tết, Bác khen ngon, vì làm rất công phu. Bác nhận xét:

- Gia vị đối với món ăn Việt Nam rất quan trọng. Thiếu gia vị, món ăn sẽ giảm hương vị đi rất nhiều.

Coi trọng nội dung, Bác cũng nhắc nhở cần chú ý đến cả hình thức trình bày. Hồi ở Việt Bắc, có lần đi công tác, buổi trưa, Bác cháu dừng lại bên bờ suối nấu ăn. Bác bảo: các chú nấu cơm, để Bác rán trứng cho. Bác làm rất thạo. Trứng rán xong mà cơm chưa chín. Bác lấy que sắt nung trên than hồng rồi đặt lên khoanh trứng thành những hình quả trám rất đẹp. Anh em cười thán phục. Bác bảo:

- Khi có điều kiện làm cho ngon hơn, đẹp hơn thì ta cứ làm chứ các chú!

Ngày 16 tháng 6 năm 1957, Bác đi thăm Đồng Hới (Quảng Bình). Trong bữa cơm trưa có đủ các món đặc sản của Đồng Hới: mắm tôm chua, rau muống chẻ, cá thu kho... Bác cháu vừa ăn vừa trò chuyện. Bác chỉ tay sang bác sĩ Nhữ Thế Bảo nói đùa:

- Bác sĩ khuyên mọi người ăn chín, uống sôi, còn bản thân bác sĩ thì lại ăn rau muống sống hơi quá nhiều đấy!

Mọi người cười vang. Bữa ăn ngon lành càng thêm vui vẻ.

(Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ và vợ bác sĩ Chánh)

 

10. Làm việc nước nặng nề, khó khăn nên phải hết sức cẩn thận

Hồi Bác Hồ ở Pắc Bó, để giữ bí mật, nước sinh hoạt được đựng trong những ống dài để trong hang. Trừ những khi ốm đau, sáng nào Bác cũng đi “kỉn” nước (tiếng Tày “kỉn” là lấy).

Ống nước làm bằng ống luồng, hoặc bương (loại tre lớn) sẵn trong rừng, đục thông các “mắt” lấy dây thừng hay mây buộc lại đầu trên và dưới, để gánh bằng đòn. Có ống không cần buộc dây, để vác thẳng lên vai.

Một sáng sớm, trời còn sương, mặt trời chưa lên tỏ, Bác và một đồng chí bảo vệ, mỗi người hai ống trên vai, ra suối “kỉn” nước. Bác đặt chân nhẹ nhàng lên các hòn đá, vục ống xuống suối lấy đầy nước, dựng vào một hòn đá, khỏa nước rửa chân tay... Đồng chí bảo vệ tuy là người miền núi, địa phương nhưng bước đi không vững, trên vai lại hai ống nước nặng, đặt ống không thăng bằng, nên vấp đá, chẳng may trượt ngã.

Bác đến nâng đồng chí dậy, dạy cách đặt, cách vác ống nước, cách đi trên đá. Rồi hai bác cháu ra về.

Lên bờ, Bác nói:

- Làm việc nước nặng nề, khó khăn nên phải hết sức cẩn thận cháu ạ.

(Theo lời đồng chí Thủy Bách)

 

11. Có ăn bớt phần cơm của con không?

Mùa thu năm 1951, Bác đến thăm lớp chỉnh huấn chính trị toàn quân. Sau khi đọc lên những con số cụ thể về tệ nạn tham ô, lãng phí mà Ban lãnh đạo nhà trường đã báo cáo với Bác, Bác nói:

- Các chú xem đấy, mới có từng này cán bộ mà đã tham ô, lãng phí như vậy, thử hỏi nếu cán bộ trong toàn quân, toàn quốc cũng phạm khuyết điểm như các chú ở đây thì thiệt hại cho công quỹ của Nhà nước, của nhân dân biết bao nhiêu.

Ngừng một lát, Bác hỏi:

- Ở đây, những chú nào có vợ rồi giơ tay.

Có độ 1/3 số cán bộ giơ tay.

Bác chỉ vào một đồng chí trong số những người vừa giơ tay ngồi ở hàng ghế đầu, rồi hỏi:

- Chú có bao giờ ăn bớt phần cơm của con mình không?

Đồng chí cán bộ trả lời:

- Thưa Bác, không ạ!

- Thế thì tại sao của cải của nhân dân, tiêu chuẩn của chiến sĩ hễ sểnh ra là đút vào túi1.

Bác vừa nói vừa làm động tác vơ vét và đút vào cái túi vải bên mình. Bác phân tích cho mọi người thấy rõ tham ô, lãng phí là một tệ nạn, một thói xấu, nó giống như sâu mọi đục khoét của cải của nhân dân, nó làm vẩn đục chế độ tốt đẹp của chúng ta, đến đạo đức và phẩm chất của người cán bộ đảng viên.

---------------------------------------

1 Ngữ cảnh này làm cho người đọc có thể liên tưởng đến việc Bác Hồ phê phán việc tham ô của một số cán bộ (BTV).

 

12. Như cha với con

Trong những ngày ra thăm miền Bắc, đoàn anh hùng, dũng sĩ miền Nam được Bác chăm lo, ân cần như cha đối với con. Bác bảo tôi (vì tôi được cử phụ trách theo dõi sức khỏe, và đời sống của đoàn):

- Cô Bi, phải chăm sóc các cô, các chú ấy thật tốt, đừng để các cô, các chú ấy ốm.

Một bữa, đồng chí Huỳnh Văn Đảnh bị sốt rét, Bác biết được, gọi tôi lên hỏi:

- Chú Đảnh bị sốt ra sao?

Tôi báo cáo về bệnh tình của đồng chí Đảnh với Bác.

Bác nhắc:

- Cô phải cho các cô, các chú ấy ăn uống đầy đủ, chú ý làm các món ăn của địa phương để các cô, các chú ấy ăn được nhiều, sức khỏe mới tốt.

Một hôm khác, Bác chỉ vào Trần Dưỡng và hỏi tôi:

- Cô Bi, tại sao chú Dưỡng hơi gầy?

Bác nghe anh hùng Vai kể chuyện về quê hương miền núi nghèo khổ của mình, Bác cảm động nói:

- Thống nhất, Bác vô Nam, thế nào cũng về thăm quê hương cháu Vai.

Trong những ngày sống bên Bác, tôi càng thấm thía hơn tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam. Chị Tạ Thị Kiều nói với tôi:

- Càng được gần Bác, càng thấy Bác thương yêu dân miền Nam ta quá chị à.

Nói xong, hai chị em lại khóc vì sung sướng và cảm động trước tấm lòng của Bác Hồ.

Theo lời kể của Đại tá Hồ Thị Bi

 

13. Câu chuyện về hai cái kẹo

Một lần, Bác Hồ đến thăm bộ đội ở Quảng Bình. Tối đến, Bác dự buổi liên hoan văn nghệ “cây nhà lá vườn” với đơn vị. Anh em vô cùng sung sướng, nhưng cũng rất lo, vì cảnh lính có ai biết hò hát gì đâu! Đồng chí Phố mạnh dạn lên “mở đầu chương trình” đọc bài thơ “Hoa hồng không có gai”, bài thơ có nhắc tới một cô gái. Đồng chí Phố đọc xong, Bác thưởng cho một cái kẹo và hỏi vui:

- Cô ấy có phải là “đối tượng” của chú không?

Tất cả anh em đều cười sảng khoái. Câu hỏi vui của Bác đã làm anh em mạnh dạn hẳn lên trong không khí đầm ấm, chan hòa tình cha con.

Bác nói: - Đã làm thơ thì nên ngâm phải không?

Tất cả đồng thanh đáp: - Vâng ạ!

Sau đó, đồng chí Lư đứng dậy xung phong ngâm bài thơ “Thương nhất anh nuôi” của Lưu Trùng Dương. Bác chăm chú nghe. Tới hai câu:

“Thương đồng chí, giúp đồng bào

Mình làm cách mạng việc nào cũng vinh”.

Bác khen hay và thưởng liền cho hai cái kẹo. Đồng chí Lư ăn một chiếc, còn một chiếc ngay sáng hôm sau anh “bay” ra bưu điện gửi về tặng vợ mới cưới của mình.

Theo lời đồng chí Giang Tấn

 

14. Phải bảo vệ từng cành cây

Hôm ấy, tôi có nhiệm vụ mắc đường dây điện thoại qua vườn Phủ Chủ tịch. Tôi đang trèo lên một cây ở ngay cạnh đường thì nghe có tiếng chân người bước tới. Tôi nhìn về phía đó thì thấy Bác đi tới. Tôi loay hoay định tụt xuống thì Bác đã giơ tay ra hiệu cho tôi dừng lại. Bác hỏi:

- Cẩn thận kẻo ngã. Chú trèo cây làm gì?

- Thưa Bác, cháu mắc dây điện thoại ạ!

Trong lúc ấy, tay tôi vít chặt làm gãy một cành cây nhỏ. Tôi giật mình nhìn Bác, lo lắng. Bác không nói chỉ chú ý xem từng động tác của tôi ra dây, mắc dây vào các cành cây. Sau đó, Bác chỉ vào một cành cây to ở cạnh ngay chỗ tôi, nói:

- Sao chú không mắc dây vào cành kia, vừa to vừa chắc chắn hơn. Các chú mắc dây cần phải chú ý bảo vệ từng cành cây nhỏ, nếu không làm gì có cây to, cành to mà mắc dây.

Nói xong, Bác đi vào nhà làm việc. Tôi nhìn theo Bác cho đến khi Bác vào hẳn trong nhà. Nhìn vào cành cây vừa gãy, nhìn vào đường dây đang mắc, tôi càng thấy thấm thía lời dạy của Bác.

Về sau, cứ mỗi lần mắc dây qua những hàng cây tôi đều thận trọng nâng niu từng cành con, chồi nhỏ.

(Theo lời kể của đồng chí Hiền)

 

15. Cây sáo trúc

Năm 1962, nghệ sĩ Đinh Thìn được vinh dự vào thăm Bác và thổi sáo để Bác nghe. Đinh Thìn thổi xong, Bác khen hay, rồi Bác mượn cây sáo để thổi thử. Sáo không kêu. Nén xúc động Đinh Thìn mạnh dạn hướng dẫn Bác cách bấm sáo. Tiếng sáo thổi vang lên trong phòng khiến các đồng chí Trung ương đang dự họp có mặt tại gian phòng ngạc nhiên. Bác nói vui:

- Không thầy đố mày làm nên.

Rồi Bác hỏi Đinh Thìn:

- Sáo này chú làm lấy hay mua?

Đinh Thìn đáp:

- Thưa Bác, cháu làm lấy ạ!

Bác khen:

- Tự lực cánh sinh như thế là tốt.

Chỉ một nhận xét giản đơn, nhưng những người có mặt trong phòng hôm ấy đều cảm nhận được một lời căn dặn tế nhị mà sâu xa.

(Theo lời kể của đồng chí Đinh Thìn)

 

16. Việc gì làm được hãy tự làm lấy

Tháng 8 năm 1952, Bộ Quốc phòng mở Hội nghị tổng kết chiến tranh du kích tại căn cứ địa Việt Bắc.

Một buổi sáng, như thường lệ, một chiến sĩ phục vụ hội nghị xách mấy ống tre đầy nước từ dưới suối lên cho chúng tôi dùng. Tôi và anh Hoàng đón lấy một ống tre. Bỗng một ông già mặc quần đùi, áo may ô, khăn mặt nhuộm màu lá cây quàng cổ, đi lại gần hai chúng tôi. Anh Hoàng ghé sát vào tai tôi nói nhỏ:

- Bác, Bác Hồ đấy!

Chúng tôi chưa kịp chào Bác thì Bác đã hỏi:

- Nước xách lên cho các chủ đánh răng rửa mặt phải không?

Không đợi chúng tôi trả lời, Bác nói:

- Không được thế! Hai chú tuổi còn thanh niên, buổi sáng chạy xuống suối rửa mặt tha hồ thoải mái, mà còn tập thể dục, như thế có hơn không?

Cả hai chúng tôi đứng lặng người. Bác nói tiếp:

- Việc gì có thể làm được hãy tự làm lấy, đừng bắt chiến sĩ vất vả vì mình, mà các chú thì không bị phụ thuộc.

Bác đi rồi, chúng tôi còn đứng nhìn theo và vô cùng thấm thía lời nhắc nhở của Bác.

Theo lời kể của Như An

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)

2.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (1/8)

 Cố Đại tá TS. Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Lời BBT Hằng năm, cứ đến dịp tháng 5 lịch sử, chúng ta lại nhớ về Bác, không chỉ là nhớ về một lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, mà còn là để nhớ về một con người bình dị và gần gũi với cả dân tộc Việt Nam ta.

Để nhớ về Bác, BBT Trang tin Hội truyền thống Thông tin Hà Nội xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc cuốn sách: “Phong cách Hồ Chí Minh” do cố Đại tá TS. Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS sưu tầm và biên soạn qua các bài viết, lời kể của các nhân chứng về Bác Hồ. Cuốn sách do nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2019.

Sách gồm 176 trang với 77 câu chuyện là những lời kể trực tiếp của những người từng gặp Bác, các câu chuyện chân thật trong sách có thể giúp bạn đọc thấy rõ được phong cách Hồ Chí Minh biểu hiện qua cách suy nghĩ, tác phong làm việc, cách diễn đạt, ứng xử với các sự kiện, với các tầng lớp nhân dân của Bác.

Những mẩu chuyện tuy ngắn, những câu nói tuy giản dị, tưởng bình thường nhưng đã khắc họa thêm hình ảnh Bác như đang ở rất gần, như Bác đang dạy bảo chúng ta những điều hay lẽ phải, nhẹ nhàng mà thấm thía, chúng ta càng kính yêu hơn một vị lãnh tụ vĩ đại, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam.

Hy vọng cuốn sách sẽ mang tới cho bạn đọc thêm nhiều câu chuyện ý nghĩa về Bác nhân dịp kỷ niệm 136 năm ngày sinh của Người (19/5/1890 - 19/5/2026).

Lời nói đầu

Phong cách của một con người biểu hiện trong cách tư duy, tác phong làm việc, đạo đức, ứng xử... của con người đó, gắn với truyền thống dân tộc, gia đình, dòng tộc, quê hương, hoàn cảnh sống, đồng thời mang dấu ấn cá nhân rất rõ.

Lời kể trực tiếp của những người từng gặp Bác, các câu chuyện chân thật trong sách có thể giúp bạn đọc thấy rõ được phong cách Hồ Chí Minh biểu hiện qua cách suy nghĩ, tác phong làm việc, cách diễn đạt, ứng xử với các sự kiện, với các tầng lớp nhân dân của Bác Hồ.

Chúng tôi hy vọng quyển sách này sẽ giúp ích cho bạn đọc trong việc “đổi mới phong cách”, đạt được nhiều thành công trong xã hội.

NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

 

1. Bát chè xẻ đôi

Đồng chí liên lạc đi công văn mười giờ đêm mới đến.

Bác gọi mang ra một bát, một thìa con. Rồi Bác đem bát chè đậu đen, đường phên1 mà anh em phục vụ vừa mang lên, xẻ đôi cho đồng chí liên lạc.

- Cháu ăn đi.

Thấy đồng chí liên lạc ngần ngại, lại có tiếng đằng hắng bên ngoài, Bác giục:

- Ăn đi, Bác cùng ăn...

Cảm ơn Bác, đồng chí liên lạc ra về. Ra khỏi nhà sàn, xuống sân, đồng chí cấp dưỡng bấm vào vai anh lính thông tin:

- Cậu chán quá. Cả ngày Bác có bát chè để bồi dưỡng làm đêm mà cậu lại ăn mất một nửa.

- Khổ quá, anh ơi! Em có sung sướng gì đâu. Thương Bác, em vừa ăn vừa xót nước mắt, nhưng không ăn lại sợ Bác, mà ăn thì biết cái chắc là các anh mắng mỏ rồi...

------------------------------------------

1 Đường phên đỏ là loại đường được kéo từ mật mía, cô đặc lại rồi đem đổ vào khuôn thành miếng, được làm hoàn toàn bằng phương pháp thủ công truyền thống (BTV).

 

2. Con người đã biết thế nào là đói khổ

Năm 1900, trong khi gia đình đang sống túng thiếu tại Huế thì ông Sắc, (thân phụ Bác Hồ) được lệnh nhà vua ra Thanh Hóa chấm thi hương năm Canh Tý.

Ông Sắc đi mang theo cậu Khiêm, con cả để đỡ bớt gánh nặng cho hai mẹ con, cậu Cung (tên Bác Hồ khi còn nhỏ) ở lại.

Bố đi vắng, mẹ con không còn nhận được lương nữa nên cậu Cung càng phải giúp đỡ mẹ nhiều hơn để mẹ dệt vải kiếm thêm tiền. Ngày ngày cậu cầm cái “vịm” (bát to) tìm đến chỗ bán thức ăn cho lính, mua cháo về để cùng ăn với mẹ. Năm ấy, vì sinh con, vốn đã ốm yếu, nay lại đói ăn, thiếu thuốc nên gần đến Tết thì bà Loan (mẹ Bác Hồ) qua đời. Không còn ai chăm sóc nữa, cậu Cung ngày hai buổi bồng em đi xin bú chực (do đó mà em có tên là Xin).

... Những năm 20 thế kỷ 20 ở Pháp, Bác thường lui tới nhà các đồng chí cộng sản, đôi lúc được mời lưu lại dự bữa ăn tối.

Một lần, khi ngồi vào bàn ăn với mẹ nữ đồng chí Jeannette Vermeersch (vợ đồng chí Maurice Thorez), sau này là Tổng Bí thư Đảng cộng sản Pháp, Bác Hồ đã nhặt những mẩu vụn bánh mì rơi trên bàn, để cẩn thận vào một tờ giấy, dành cho chim.

Đồng chí Jeannette Vermeersch kể lại:

- Sau khi đồng chí Nguyễn Ái Quốc ra về, mẹ tôi, bây giờ đã 92 tuổi nhận xét: “Con ạ, phải là một người biết thế nào là đói khổ mới biết quý từng vụn bánh”.

 

3. Một lần nhớ mãi

Về xã Tân Hòa, cán bộ địa phương mời Bác ngồi ghế giữa ưu tiên. Bàn kê thì chật, Bác lựa mãi mới đứng lên được.

Bác mở đầu như một vế đố:

- Ghế ưu tiên nên người không nhúc nhích...

Anh chị em chỉ biết cười trừ.

... Đến bữa cơm, Bác giở cơm nắm ra ăn. Cô Định cứ năn nỉ mãi, mời Bác dùng cơm nóng. Bác bảo:

- Bác ăn cơm này đã quen rồi...

Trong bữa ăn có bát dưa. Cô Định cứ gắp mãi dưa. Bác hỏi:

- Dưa có ngon không?

Cô Định nói một mạch:

- Ngon lắm ạ. Tỉnh chúng cháu năm nay trồng dưa thừa ăn còn đem bán cho các tỉnh bạn.

Bác tủm tỉm cười:

- Dưa này không phải là dưa Thái Bình đâu. Dưa này Bác đem từ Hà Nội về đấy...

* * *

Sau này, cô Định nói: “Chỉ một lần ấy thôi mà tôi nhớ đời. Học được bao nhiêu điều”.

(Theo lời kể của chị Định)

 

4. Ăn chay cũng tốt, nhưng ăn thịt thích hơn

Một trí thức theo đạo Phật được Bác Hồ dìu dắt đi theo cách mạng và nhờ thế mà thấy được khả năng của y học cổ truyền là bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết, nguyên Trưởng ty Y tế Thái Nguyên trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và là Hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam năm 1945.

Năm 1945, bác sĩ Thuyết được Hòa thượng Đại Nguyên đến báo là “Ông Cụ” đến thăm Hội Phật giáo tại chùa Bà Đá, là trụ sở của Hội lúc bấy giờ.

Bác mặc bộ ka ki vàng, tay cầm chiếc mũ cát cũ, vừa đi vừa lấy chiếc mũ vẫy vẫy đáp lại câu “A di đà Phật” của tăng ni. Bác hỏi thăm tình hình sức khỏe phật tử rồi lên Tam Bảo nói chuyện. Bác kể chuyện 5 vị sư ở Ngũ Đài Sơn bên Trung Quốc xuống núi đánh Nhật, chuyện ma vương, chúng sinh. Bác nói ma vương là thực dân Pháp, chúng sinh là dân ta. Muốn cứu chúng sinh thoát trầm luân bể khổ phải đánh đổ ma vương.

Bác ra về, bác sĩ Thuyết nói:

- Chắc “Ông Cụ” nghiên cứu cả kinh La Hiên cho nên mới hiểu đạo Phật uyên thâm đến thế.

Ít hôm sau, Hội Phật giáo làm cơm chay mời Bác dự. Trước bữa tiệc, bác sĩ Thuyết đọc một bài diễn văn dài nói về ích lợi của ăn chay theo khoa học, chứ không phải mê tín. Bác cười nói:

- Ăn chay cũng tốt, nhưng ăn thịt thích hơn. Sau này cần làm sao cho nhân dân ta được ăn nhiều thịt và ăn được nhiều mới tốt.

Khi Pháp trở mặt, rồi chiếm Khu 1 Hà Nội, bác sĩ Thuyết đã săn sóc, chạy chữa, phẫu thuật cho nhiều chiến sĩ.

Hôm được lệnh rút ra ngoài cùng một số người khác, bác sĩ Thuyết đã bò dưới gầm cầu Long Biên, sang Tứ Tổng, đến nơi an toàn. Thấy bác sĩ Thuyết, các đồng chí Nguyễn Văn Trân, Trần Duy Hưng nói đùa: “Con Cụ Hổ” đã ra... Vì hay “đề cao”, ca ngợi Bác nên anh em đặt cho bác sĩ Thuyết tên ấy.

Bác sĩ Thuyết nhớ mãi câu này và rất vinh dự, sung sướng vì được là “Con Cụ Hổ trong khi mình là “con của Phật".

 

5. “Vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào”...

Năm 1956, Bác Hồ đón một vị tổng thống tại khu vườn trong Phủ Chủ tịch.

Một số công nhân nhà máy điện Hà Nội được (như lời Bác dặn) “mời vào mắc đèn điện trên các cành cây giúp Bác”.

Anh em làm việc suốt ngày, dòng dây dẫn điện lắp đèn nhiều loại màu sắc trên ngọn, trên cành trong các lùm cây.

Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, Bác ra vườn thăm anh em. Bác nói:

- Các chú công nhân bật đèn lên cho Bác xem đi.

Sau khi đóng cầu dao, những bóng đèn điện bỗng vụt hiện ra, lung linh như trong một hội hoa đăng. Đồng chí Tổ trưởng công nhân điện mời Bác đi xem và kiểm tra.

Bác chú ý từng ngọn đèn, từng đoạn dây dẫn đã an toàn chưa, gật gật đầu tỏ ý hài lòng.

Đến một đèn pha chiếu sáng đặt dưới một gốc cây, Bác dừng lại nói:

- Ngọn đèn này phải để khuất trong lùm cây, vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào đi qua đường.

Bác nhanh nhẹn bước tới ngọn đèn. Đồng chí tổ trưởng Dương Văn Hậu lo Bác vấp ngã vì đôi guốc mộc dưới chân Bác đi trên đường rải sỏi, chạy vội đến:

- Bác để chúng cháu làm.

Nhưng Bác đã cúi xuống, rất “nghề nghiệp”, hai bàn tay bưng lấy thân ngọn đèn pha giấu vào trong một lùm cây đinh hương.

Ngọn đèn pha mới được đặt, đẹp hẳn lên, người ngoài nhìn vào không bị chói mắt, mà chỉ thấy những tia sáng chiếu qua các kẽ lá hắt lên một màu xanh dịu.

Lần sau, anh em nhà máy điện Hà Nội lại được đến Phủ Chủ tịch mắc đèn dây để Bác tiếp khách.

Rút kinh nghiệm lần trước, lần này anh em làm khác hẳn lối treo đèn cũ như thể để thưa với Bác “phải luôn luôn đổi mới, không ngừng phát huy sáng kiến” – như lời Bác dạy.

Anh em đặt một dây đèn màu từ dưới gốc cây dừa nước lên ngọn rồi tỏa ra các cành, mỗi cành một đèn màu khác nhau. Ở các thân cây có quả đèn màu trắng, cành cây đèn màu xanh, gần quả, một chùm đèn nhỏ màu đỏ. Chếch hai bên đặt hai đèn pha giấu trong lùm cây hắt nghiêng lên.

Như lần trước, vừa chập tối, Bác đã đến trước khách, thăm anh em công nhân điện và kiểm tra. Bác khen:

- Lần này các chú mắc đẹp đấy. Chắc khách quý của chúng ta cũng sẽ khen...

Bác lấy thuốc lá chia cho anh em công nhân điện mỗi người một điếu (sau này được biết là thuốc lá thơm Cuba do Thủ tướng Fidel Castro tặng Bác). Bác chia gần hết hộp thuốc. Một công nhân trẻ, thấy Bác vui, hộp thuốc đã cạn, muốn có một kỷ niệm về Bác, mạnh dạn thưa với Bác xin cái hộp. Bác cười và nói:

- Các chú đã có phần rồi. Cái hộp này Bác để dành cho các cô để các cô đựng kim chỉ chứ!

(Theo đồng chí Dương Văn Hậu)

 

6. Bữa cơm gia đình

Khoảng cuối năm 1951, trong một lần đến thăm và nói chuyện với học viên lớp chính trị của quân đội ở Việt Bắc, Bác bảo anh Phương - chồng tôi là cán bộ phụ trách lớp:

- Chiều nay, chú cho Bác ăn cơm, vì nói chuyện xong, tối, Bác còn phải đi họp với một chi bộ ở Định Hóa.

Bấy giờ tôi cũng làm văn thư ở Hiệu bộ1, nên anh Phương cử người nhắn tôi chuẩn bị.

Công việc của Bác xong xuôi, Bác về đến cơ quan thì cơm nước cũng đã sẵn sàng. Sinh hoạt ở rừng còn thiếu thốn, kham khổ. Anh em muốn “bồi dưỡng” Bác để Bác khỏe, nhưng lại sợ. Nhưng rồi cũng quyết định thịt một con gà “tăng gia”, kiếm ít măng rừng làm cơm mời Bác.

Bác ngồi vào bàn ăn, bảo anh Văn, hai vợ chồng tôi và đồng chí cảnh vệ cùng ăn. Tôi cứ một mực từ chối:

- Thưa Bác cháu ăn rồi. Mời Bác và các anh, các chú xơi com đi...

Mãi sau, Bác mới đồng ý và bắt đầu dùng cơm. Vào bữa Bác nói:

- Cô cho Bác xin quả ớt.

Tôi vội thưa:

- Thưa Bác, trong bát măng có ớt rồi đấy ạ.

Nhưng khi ăn, Bác tìm mãi không thấy ớt. Tôi ngại quá, bèn nói thật:

- Thưa Bác, chúng cháu sợ Bác ăn ớt hại sức khỏe nên không dám cho vào măng nấu ạ.

Bác quay sang anh Phương:

- Chắc chú lệnh cho cô văn thư chứ gì. Thế là chú quan liêu rồi...

Anh Văn tủm tỉm cười, Bác nói thêm:

- Ớt là vitamin E của Bác đấy.

Bữa cơm của Chủ tịch nước giản dị, vui vẻ, thân mật như bữa cơm trong một gia đình ấm cúng.

Cơm nước xong, Bác hỏi tôi:

- Cô Thư được mấy cháu, tên là gì?

Anh Phương đỡ lời tôi:

- Thưa Bác, được 3 cháu gái đặt tên là Thu Thủy, Thu Thảo, Thu Vân.

Bác cười hiền từ, nói:

- Tôi có hỏi chú đâu! Sao tên đặt “văn chương” thế! Gọi là Thu Ngô, Thu Khoai, Thu Sắn có hay không?

Mọi người cùng cười vui vì biết Bác liên hệ với phong trào tăng gia sản xuất, trồng thêm màu ngô, khoai, sắn... sản xuất nhiều lương thực đóng thuế nông nghiệp nuôi bộ đội đánh giặc mà Chính phủ mới phát động.

Lát sau, Bác lại bảo:

- Bác nói vui thế thôi. Những cái tên Việt Nam ấy rất đẹp.

Chưa kịp nghỉ ngơi, Bác đã chuẩn bị lên đường. Bác đeo ba lô đi trước hai đồng chí cảnh vệ, anh Văn tiếp bước sau Bác. Mới đông mà sương chiều Việt Bắc đã xuống rất nhanh tụ thành những đám mây lụa mỏng trắng bìa rừng.

Chúng tôi nhìn theo Bác, ung dung, khoan thai như đi dạo cảnh thiên nhiên hùng vĩ, ngỡ ngàng như vừa được qua một giấc mơ đẹp trong một bữa cơm gia đình.

(Theo lời chị Thu Hương)

---------------------------------------

1 Văn phòng nhà trường (BTV).

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019) 

29.4.26

Thắng lợi tất yếu, thất bại tất yếu

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS

Theo thống kê của Bộ Quốc phòng Pháp, năm 1954 các sĩ quan người Việt du học ở nước Pháp trong các quân chủng Hải, Lục, Không quân là 440 người, trong 26 ngành chuyên môn kỹ thuật. Đông nhất là trường cơ khí Không quân có 150 người, rồi đến trường sĩ quan lái máy bay là 87 người, trường bảo đảm quân cụ là 30 người. Ít nhất là trường sĩ quan tham mưu ở Paris: 1 người. Trường truyền tin ở Mông-ta-gít có 10 người1.

Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, bước sang năm 1955, quân số thuộc binh chủng truyền tin của quân đội Pháp "bàn giao" cho Mỹ là 5.792 người, trong đó có 272 sĩ quan, 1.452 hạ sĩ quan, 3.541 lính và 227 nữ phụ tá cùng với trên dưới 300 dân vệ còn lại. Đó là tất cả những gì là "tinh hoa của ngành truyền tin quân sự Pháp" mà thực chất là những cặn bã lắng đọng trong 10 năm thực hiện âm mưu chiếm lại nước ta và sau gần 100 năm tiếng súng xâm lược thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng ngày 27-6-1858. Lịch sử thông tin xâm lược Pháp được coi như bắt đầu kể ngày 11-4-1859, khi Đại tá Hải quân Pháp Đa-ri-ét đặt bưu cục đầu tiên tại Sài Gòn...

Từ con số chung 5.792 và 272 sĩ quan truyền tin quân ngụy, bước ra những đại úy Lại Đức Chuẩn phụ trách Nha Quân bưu, trung úy Nguyễn Tú Tài phụ trách Trung tâm văn kiện, trung tá Lương Thế Soán phụ trách Bộ chỉ huy Viễn thông cho chính quyền Ngô Đình Diệm2. Khi quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, để đối phó với "Việt cộng", Bộ Quốc phòng Mỹ đã cử sang miền đất chiến trường này - 20.000 nhân viên kỹ thuật truyền tin, tính đến năm 1973 dưới sự chỉ huy của thiếu tướng truyền tin Jack Albright. Dưới trướng của tướng này là 6 đại tá truyền tin ngụy, những Huỳnh, Tùng và cũng gần 30.000 nam, nữ sĩ quan, hạ sĩ quan, nhân viên kỹ thuật ngụy quân.

Theo các tạp chí Mỹ Signal và Communications, Mỹ đã giao cho Công ty Điện lực liên bang (Federal Electric Corporation) một chi nhánh của Công ty Điện thoại, Điện tín quốc tế ITT - xây dựng hệ thống thông tin ICS với vật liệu, khí tài lắp đặt do hãng Page Communications Engineers cung cấp. Theo Albright, hệ thống này sử dụng nhiều nhất các phương tiện truyền tin đối lưu và sóng cực ngắn, chủ yếu là 48, 96 và 240 đường trên một số hướng chính. Lần đầu tiên, nước Mỹ đã đặt được một hệ thống tự động phức tạp ở Việt Nam. Thiếu tướng Lữ đoàn trưởng Thông tin quân Mỹ ở Nam Việt Nam này đánh giá rằng: "đây là một hệ thống đa năng hợp nhất, kinh tế và tổng số chi phí lên hết gần nửa tỷ đô-la".

Trong cuốn "Học thuyết về Thông tin liên lạc (Signal Communiction Doctrine) in tại Mỹ, phát hành trong giới quân nhân cao cấp tại Sài Gòn, người Mỹ cho rằng "liên lạc truyền tin là yếu tố cần thiết cho hoạt động chỉ huy". Đại tướng Mỹ Mácgare, trưởng phái đoàn MAAG ở Sài Gòn nêu bật "nhược điểm thường xuyên của du kích là thiếu thốn khả năng liên lạc".

Đỗ Ngọc Nhận, đại tá, Phó Tổng cục trưởng Quân huấn quân ngụy, đã du học hết Pháp đến Mỹ, trong cuốn "Vấn đề chỉ đạo chiến lược trong chiến tranh Việt Nam" in năm 1970, sau khi cho biết "cộng sản rất coi trọng công tác giao thông liên lạc ngay ở thời kỳ bí mật, thời kỳ chống Pháp", đã nhận định "hệ thống giao liên hiện nay là yếu tố rất quan trọng có tính chất then chốt bảo đảm cho sự thành bại trong âm mưu thôn tính miền Nam". Bất lực trước sức sống mãnh liệt của "con đường giao liên". Nhận gào lên "triệt hạ hệ thống giao liên cộng sản là một nhu cầu chiến lược", là "phá vỡ hệ thống chỉ đạo chiến lược, phá vỡ toàn bộ kế hoạch vận chuyển" là phá vỡ kế hoạch tác chiến "cô lập tiền phương, gây rối loạn hậu phương cộng sản".

Chúng đã tung ra biết bao nhóm biệt kích để lùng sục các đài, các trạm liên lạc của ta. Chúng đã ném bao nhiêu bom đạn để chặn Đường 559 và Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển? Các máy tính điện tử tối tân, hiện đại đề xuất bao nhiêu phương trình để "giải mã" một bài toán về thông tin liên lạc của "Việt cộng" ở miền Nam. Chúng đã họp nhiều, đã công bố, kết luận, đã tổng kết khẳng định nhưng vẫn chưa hiểu tại sao "vixi" lại phát đi và nhận đủ một cách bí mật lệnh tổng tấn công nổi dậy Mậu Thân năm 1968? Các đài trinh sát vô tuyến điện tử đặt ở Đà Nẵng, Plâycu, Núi Bà... không giờ phút nào không bắt tín hiệu của Hà Nội mà vẫn bị bất ngờ. Các máy thu, các loại "cây nhiệt đới", máy phát, đặt, ném trên các địa điểm nghi vấn vẫn không giúp ích gì được nhiều... và cuối cùng, "xấu hổ" nhất vẫn là cả cái lữ đoàn thông tin Mỹ do một thiếu tướng Mỹ chỉ huy với hàng ngàn chuyên viên Mỹ, cả hàng chục ngàn người trang bị máy truyền tin dân sự, quân sự... trang bị máy đến tận miệng quân lực cộng hòa mà bó tay trước một đối tượng mà chúng coi thường về mặt thông tin liên lạc, mà chúng không hiểu được nguồn sức mạnh của đối phương.

Nguồn sức mạnh đó bắt nguồn từ nguyên lý triết học Mác-Lênin mà những người cộng sản đã vận dụng sáng tạo tài tình vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, của các lực lượng vũ trang trong ngành thông tin liên lạc quân sự. Kế thừa trí tuệ của những chiến sĩ thông tin, chuyển báo “Le Paria” từ Pháp đến các thuộc địa, đưa báo "Thanh niên" từ Quảng Châu về các trạm liên lạc ở Hải Phòng - Sài Gòn... của các chiến sĩ giao thông Xô Viết Nghệ-Tĩnh, du kích Ba Tơ, Bắc Sơn, của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân...

Điểm hội tụ tinh hoa của nghệ thuật tổ chức thông tin liên lạc là ở câu nói tổng kết của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, năm 1941, sau 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, "Việc liên lạc là việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng và chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi". Khác với sự đánh giá thông tin liên lạc là yếu tố “cần thiết”, “coi trọng..." Bác Hồ của chúng ta coi đấy là "việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng". Bác là người cộng sản đầu tiên, là người tổ chức mạng liên lạc đầu tiên của cách mạng Việt Nam, và cũng là chiến sĩ liên lạc đầu tiên của Đảng ta.

Đó là nguồn sức mạnh của các ngành thông tin liên lạc quân sự, dân sự trong 50 năm qua và cũng là tất yếu thắng lợi của ta và tất yếu thất bại của địch.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)

--------------------------------------

1 Tập san Quốc phòng, quân đội Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Số 7/1972.

2 Tập san Quốc phòng, quân đội Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Số 7/1972.