Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)
Tiếp theo phần 6/8
51. Cái đuôi Tôn Ngộ Không
Một cán bộ cấp cao dự lớp Chỉnh Đảng Trung ương khóa
1, năm 1952 tại Việt Bắc, nói với chúng tôi:
- Bây giờ xem Tây Du Ký hay, đẹp thật đấy, nhưng mình
vẫn nhớ mãi câu chuyện “ngoài” Tây Du Ký hay nhất mà mình được Bác Hồ dạy.
“Năm ấy, Bác đến lớp. Bác nói: “Các cô, các chú (bao giờ
Bác cũng gọi các cô trước, đồng bào, chiến sĩ trước) học đã căng thẳng, nên Bác
đề nghị tối nay nghỉ học để Bác cháu ta nói chuyện vui.
Cả lớp vỗ tay hoan hô, không khí lớp học sôi nổi hẳn
lên.
Bác hỏi: “Trong các chú ở đây, ai đã đọc Tây Du Ký? Nhiều
cánh tay giơ lên, Bác nhìn thấy ông Tôn Quang Phiệt là nhà hoạt động cách mạng,
người đã tham gia sáng lập Đảng Tân Việt, bấy giờ là Tổng thư ký Ủy ban Thường
trực Quốc hội, Bác mời ông Phiệt, đồng hương Nghệ An lên kể chuyện, nhưng yêu cầu
chỉ được nói trong 15 phút. Ông Phiệt mới “đỉ được vài đoạn đã hết giờ đành thú
thực “kể vắn tắt khó lắm” và ông Phiệt “trêu” lại Bác. “Xin mời Bác”.
Bác cười, “thông cảm” rồi kể.
“Từ khi loài người có đầu óc tư hữu thì sinh ra nhiều thói
hư tật xấu. Đường Tăng là một vị chân tu, bản chất tốt, có lòng nhân hậu, có
tính khoan dung. Ông ta muốn chống áp bức, nhưng không có đường lối cách mạng dẫn
đường. Tin vào sức mạnh cảm hóa của đạo Phật, nên ông tình nguyện đi lấy Kinh
Phật để truyền bá. Sau 14 năm trời, tức là qua 5.048 ngày đêm, thầy trò Đường Tăng
vượt qua 18 vạn 8 ngàn dặm đường chịu đựng 81 tai ương để lấy được 55 bộ kinh gồm
5.048 quyển. Đó là pho truyện dài, đấu tranh giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi
nghĩa. Còn có thể tìm thấy ở Tây Du Ký nhiều vấn đề bổ ích nữa. Đường Tăng là một
người có lập trường kiên định, có bản lĩnh, tạo được cái “bất biến” để đối phó
với cái “vạn biến”.
Còn Tôn Ngộ Không vì không tu thành đạo được nên vẫn
còn cái đuôi. Khi Tôn Ngộ Không biến thành cái đình thì cái đuôi ở sau phải hóa
phép làm cái cột cờ. Bọn Ma Vương thấy lạ, tại sao cột cờ ở phía sau đình, phát
hiện ra cái đuôi của Tề Thiên Đại Thánh nên không bị mắc lừa, không vào đình nữa,
nên mưu của họ Tôn bị thất bại...”
Nghe đến đây, chúng tôi “sợ” quá. Quả là được nghe một
bản “tổng thuật” giá trị về Tây Du Ký. Biết chắc là Bác còn cái gì nữa nên chờ...
Bác nói tiếp...
“Người cách mạng chúng ta nếu không tu dưỡng thì cũng
có phen cái đuôi ấy, dù nhỏ sẽ có ngày gây hậu quả khôn lường...”
Cả lớp ngồi im...
Mấy năm gần đây, đọc sách báo biết thêm Bác đã nói “cách
mạng là đổi cái cũ ra cái mới, đổi cái xấu ra cái tốt”, tôi nghĩ đến một số nhỏ
cán bộ chẳng đổi mới, chẳng đổi tốt, vẫn cứ như cũ, có khi còn xấu hơn cũ nên bụng
bảo dạ rằng: thể là cái đuôi Tôn Hành Giả “lòi” ra rồi, như Bác Hồ đã báo trước.
52. Một bức ảnh muộn màng
Năm 1960, tháng 7, ngày 17, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà
Nội đi nghỉ tại Sầm Sơn.
9 giờ sáng Bác tới Sầm Sơn, Người lên thẳng miếu Cô Tiên,
nghe trưởng đồn công an thị trấn Sầm Sơn báo cáo tình hình và nghỉ trưa tại đó.
13 giờ, Người làm việc với cán bộ lãnh đạo tỉnh, nhằm giúp đỡ Thanh Hóa nhanh chóng
khắc phục tình trạng đói nghèo. Tối hôm ấy, Bác nghỉ tại miếu Cô Tiên.
Sáng ngày 18, Người ra bãi biển ngắm cảnh, nói chuyện
với ngư dân xóm Vĩnh Sơn, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương - nay thuộc phường
Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn.
Sau đó, Bác tới thăm gia đình một đồng bào làm nghề đánh
cá, chụp ảnh chung với cháu bé trong gia đình, thăm nhà nghỉ của Tổng Công
đoàn, nói chuyện với nhân viên phục vụ ở đây. Bác đi thăm trại nuôi dưỡng thương
binh, trại an dưỡng cụ già nghèo miền Nam, trèo núi thăm một đơn vị bảo vệ bờ
biển. Tối, Bác xem phim với đồng bào, bộ đội, rồi lại về miếu Cô Tiên nghỉ.
Bác Hồ kéo lưới cùng ngư dân Sầm Sơn, Thanh Hóa, 1960.
Sáng 19, Bác ở thị xã Thanh Hóa, và hôm sau về Hà Nội.
Trong chuyến đi này, các nhà nhiếp ảnh có chụp được nhiều
ảnh về Bác. Có ảnh Bác kéo lưới, bắt cá với dân, ngồi trò chuyện với cụ già
đánh cá, quần đùi, cởi trần, đâu không nón, mũ. Khi bức ảnh được in ra, có người
rất thích, khen đẹp. Có cán bộ tuy cũng đồng ý là được, nhưng không cho công bố
“vì để giữ bí mật”. Hay là thật lòng anh cán bộ nghĩ để ảnh Bác “dân dã” như vậy
có điều gì khiếm khuyết chăng?
Chính vì vậy, cho đến ba mươi lăm năm sau, tấm ảnh “Bác
Hồ trên bãi biển Sầm Sơn” mới được xuất hiện trên báo.
53. Chỉ là hai chữ “cám ơn”
Tháng 12 năm 1968, cơ quan Phủ Chủ tịch có dự thảo lời
Hồ Chủ tịch trả lời điện của bốn tờ báo Nhật (Chunichi Shimbun, Tokyo Shimbun,
Nishinihon Shimbun, Hokkaido Shimbun).
Mở đầu, bản dự thảo viết:
“Tôi đã nhận được thư của các ông đề nghị tôi nói vài lời
với nhân dân Nhật Bản nhân dịp đầu năm 1969...
Cuối thư, dự thảo có câu “Chúc nhân dân Nhật Bản thu
được nhiều thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ của Nhật
Bản và vì hòa bình ở châu Á và thế giới”.
Dự thảo được trình lên Bác. Người xóa bỏ tất cả những
chữ “thu nhiều thắng lợi”... cho đến... châu
Á và thế giới” và thay vào đó bốn chữ “muôn sự tốt lành” và viết thêm: “Chúc
quý báo và các bạn đọc hạnh phúc”.
Trong câu mở đầu, Bác xóa ba chữ: “đã nhận được”
và dòng viết: “đề nghị tôi...”
Bác viết: “Tôi cám ơn thư các ông”.
Bức thư ngắn này làm cho ta nhiều suy nghĩ.
Thứ nhất:
Bác không thích “chúc” người ta vừa lại có ý “nhắc nhở” làm một việc gì đó.
Thứ hai: “nhận”
được có thể bỏ đi, có thể quên, có thể không được... nhưng “cám ơn” thì khác, mức
độ thân thiết, nghĩa tình cao biết mấy.
Thứ ba:
Phong cách làm việc của Bác tỉ mỉ, cụ thể... Năm đó Bác đã ở tuổi 78.
54. Tấm lòng của Bác với Paris
Theo nhiều nguồn tư liệu, Nguyễn Tất Thành đến Paris vào
cuối năm 1917, thủ đô nước Pháp hoa lệ, ánh sáng, trung tâm chính trị văn hóa của
nước Pháp và châu Âu đầu thế kỷ này và còn là pháo đài của bọn phản động, là cạm
bẫy của mọi sự cám dỗ. Tại đây, Nguyễn Tất Thành lao động, học tập, làm chính
trị, tìm con đường cứu nước... Paris là nơi Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc
đã thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức, xuất bản tờ Le Paria... Dấu
chân Nguyễn Ái Quốc đã in trên nhiều đường phố, nhiều thư viện, nhà hát, hội trường,
vùng ngoại ô... Là một người Việt Nam chống lại chính quyền ở Đông Dương, chống
lại chính phủ Pháp ở chính quốc, nhưng Nguyễn Tất Thành lại được các tổ chức
dân chủ, tiến bộ, được nhân dân Pháp, nhân dân Paris đùm bọc chở che.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ tướng Pháp Georges tại Pháp, ngày 02 tháng 7 năm 1946.
Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc, từ Paris sang nước Nga và bôn ba qua nhiều nước khác, mãi đến năm 1946, Bác mới có dịp trở lại nước Pháp và thủ đô Paris với tư cách là thượng khách của nước Pháp. Trong bữa tiệc chiêu đãi Bác do Thị trưởng Paris tổ chức ngày 4 tháng 7 năm 1946, Bác đã phát biểu:
“... Cho phép tôi được nói lên, với tất cả sự chân
thành, sự vui mừng của tôi được tới Paris, mảnh đất lý tưởng của công lý, tự
do, quê hương của dân chủ, xin cho phép tôi được chào, với tất cả sự cảm động
và tấm lòng của tôi tới thành phố vinh quang mà biết bao mối quan hệ trí tuệ và
đạo đức đã làm cho nước Cộng hòa Việt Nam hướng tới.
Tôi đã từng mến và khâm phục nhân dân Paris anh dũng từ
nhiều thế kỷ đã đứng vào mũi nhọn của các cuộc chiến đấu cho các tư tưởng tiến
bộ và hòa hiệp.
...Paris đã từng chiến đấu và đau khổ cho tự do, sẽ hiểu
và ủng hộ những khát vọng của nhân dân Việt Nam, cũng là những khát vọng của
chính họ1”.
-----------------------------------------
1 Lời dịch qua bản tiếng Pháp của GS. Đinh Xuân Lâm.
55. Điều lo của Bác cách đây hơn nửa thế kỷ
Mỗi cán bộ cấp cao, nay đã nghỉ hưu, nhưng vẫn tham
gia hoạt động vì dân, vì nước, thấy tình hình giáo dục đạo đức của thanh thiếu
niên, tình hình “nhố nhăng” ở một số mặt văn hóa, thông tin, tuyên truyền, quảng
cáo, truyền hình, mách cho tôi biết một câu của Bác.
Một câu ngắn thôi. Đó là trong Hội nghị Trung ương lần
thứ 4 năm 1960, Bác đã “báo động” bằng một nhận xét rằng: “Tôi xem chương trình
giáo dục của 10 lớp thì từ lớp 1 đến lớp 10, phần Đức dục rất thiếu sót, chỉ có
10 dòng”.
Nhận xét này của Bác gợi cho chúng ta một suy nghĩ là:
vấn đề đạo đức trong nhà trường quan trọng biết nhường nào! Giáo dục toàn diện,
trong đó thực sự coi trọng giáo dục đạo đức, rõ ràng đang được đặt ra cấp bách
của ngành giáo dục - đào tạo và của toàn dân ta hiện nay. Nhận xét trên đây của
Bác không chỉ mang tính truyền thống của giáo dục “tiên học lễ, hậu học văn”
mà còn là tư tưởng chỉ đạo quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo.
56. “Quyền lực” của Hồ Chủ tịch
Jean Étienne Valluy (1899 - 1970) là tướng Pháp làm Tổng
chỉ huy quân đội Viễn chinh Pháp ở Đông Dương từ tháng 6 năm 1946 đến tháng 9
năm 1948. Sau khi thất bại ở chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông, trở về Pháp,
Valluy tiếp tục cuộc đời binh nghiệp. Năm 1958, Valluy lại ra chỉ huy quân đội
khối Bắc Đại Tây Dương ở Tây Âu cho đến năm 1960.
Trong cuộc kháng chiến của Việt Nam, Valluy là kẻ thù
của nhân dân ta. Valluy có mặt tại Việt Nam trong một thời điểm gay cấn nhất,
chiếm đóng Hải Phòng, khiêu khích ở Hà Nội, nổ súng đánh chiếm các công sở Việt
Nam trong ngày 19 tháng 12 năm 1946, tấn công lên Việt Bắc.
Valluy đã thua - cũng như nước Pháp đã thua trong cuộc
chiến tranh do Pháp tự gây ra. Nhưng trước mắt Valluy đã kịp có dịp trả lời phỏng
vấn của phóng viên tạp chí Hành tinh - Hành động (Planète - Action) ở
Paris. Bài trả lời của Valluy được đăng trên tạp chí này vào tháng 3 năm 1970:
“Phải nói rằng ông Hồ cực kỳ nhã nhặn, vô cùng lịch thiệp
và thoạt nhìn đã thấy Người rất hấp dẫn. Tôi còn nhớ có lần từ ngoại ô về1,
Người có một quả táo to lắm. Người để dành mãi để làm quà cho con gái tôi mà
Người đã coi như cháu mình. Người là Bác Hồ của mọi người. Còn chúng tôi, khi gọi
Người là Bác Hồ thì mọi việc đều trở nên hết sức đơn giản. Người tỏ ra có quyền
lực lãnh đạo đối với mọi người, quyền lực đó là lòng nhân đạo, chỉ công
vô tư, là tuổi tác, trí thông minh, trình độ học vấn, nói chung là bằng tất cả
vốn văn hóa cách mạng đã tiếp thu được ở Pháp, ở Nga và có thể ở cả nhiều
nơi khác. Đó là một nhân vật trung tâm điều hành công việc... hoàn toàn xả thân
vì nhiệm vụ, không một chút lợi ích riêng tư. Trong ánh mắt những người xung
quanh, những người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ”.
--------------------------------------------
1 Chuyện xảy ra trong năm 1946, khi Bác Hồ ở Paris.
57. Cái ghế băng nhỏ
Năm 1960, Trung tá Phạm Ngọc Hưng, phụ trách Tham mưu
phó Sư đoàn 338. Trung đoàn 2 của sư này đóng quân ở một vùng đất khô cằn thuộc
tỉnh Sơn Tây, đồng cỏ nhiều, đất bạc màu, cây rất ít. Mùa hè ở đây nóng như đổ
lửa.
Một hôm, Bác Hồ đến thăm Trung đoàn 2. Từ đường quốc lộ
vào nơi đóng quân, Bác thấy một số đồng bào đứng dưới một gốc cây tránh nắng,
mà chiếc nón trên tay vẫn quạt đều. Sau khi đi thăm và nói chuyện với chiến sĩ,
cán bộ. Bác hỏi Trung đoàn trưởng:
- Các chú có thể làm một cái ghế băng để dưới gốc cây gần
đơn vị để đồng bào ngồi nghỉ nắng được không?
- Thưa Bác, được ạ. - Trung đoàn trưởng đáp lời Bác. Ít
lâu sau, Tỉnh ủy cho biết Bác sẽ đến thăm Tỉnh ủy và Trung đoàn. Vì việc quân bận
rộn, Trung đoàn trưởng nhãng quên việc cho làm một chiếc ghế, bây giờ mới nhớ ra
như đã hứa với Bác. Lập tức, Trung đoàn cho đơn vị khẩn trương đóng ghế.
Sáng hôm sau, Bác đến. Nhìn thấy cái ghế băng, Bác hỏi:
- Các chú làm xong ghế từ bao giờ?
Trung đoàn trưởng đành thủ lỗi với Bác. Bác nói:
- Như thế là các chú thật thà!
Trung tá Phạm Ngọc Hưng nay đã là một trung tướng, và
câu chuyện cái ghế băng năm ấy là một kỷ niệm của Trung đoàn 2 và của đời anh.
58. Trường học của Bác
Có lần nhân câu chuyện kể với các bạn trẻ trong khu Phủ
Chủ tịch, Bác nói:
“Các cô, các chú bây giờ đi học có trường, có bàn ghế,
có cô thầy, bạn bè, sách vở, giấy bút, có giờ giấc đàng hoàng. Tối đến có đèn
điện, thế mà học một năm không lên được một lớp là không đúng.
Ngày xưa, lúc Bác đang tuổi các cô, các chú thì tất cả
bàn ghế, thầy, bạn, sách vở, giấy bút chỉ có trong bàn tay này thôi”.
Bác giơ bàn tay trái lên nói tiếp:
“Hồi ấy Bác làm bồi tàu, làm người quét tuyết ở Anh, rồi
đi làm phụ bếp. Làm việc từ sáng đến tối, suốt ngày không được cầm đến tờ báo
mà xem. Đến đêm mới hết việc, mới được đọc sách, đọc báo. Ban ngày muốn học chỉ
có một cách là viết chữ lên mảng da tay này. Cứ mỗi buổi sáng viết mấy chữ, rồi
đi cọ sàn tàu, cọ thùng, đánh nồi, rửa bát, thái thịt, băm rau, vừa làm vừa
nhìn vào da bàn tay mà học. Hết ngày, người thì mồ hôi đầm đìa, chữ cũng mờ đi,
cuối buổi đi tắm mới xóa được chữ ấy đi. Coi như đã thuộc. Sáng mai lại ghi chữ
mới.
Sách Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta gồm nhiều
hồi ký của các bạn Pháp viết, Nhà xuất bản Xã hội Paris in năm 1970 có trích một
đoạn Bác trả lời phỏng vấn A. Kan (phóng viên báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản
Pháp) như sau:
“Tôi không có hạnh phúc được theo học ở trường đại học.
Nhưng cuộc sống đã cho tôi cơ hội học lịch sử, khoa học xã hội và ngay cả khoa
học quân sự. “Phải yêu cái gì? Phải ghét cái gì? Cũng như tôi, tất cả người Việt
Nam cần phải yêu độc lập, lao động, Tổ quốc” (tr.203).
...“Tất nhiên, không phải riêng tôi mà toàn thế giới đều
kính trọng những nhà báo chân chính. Tôi cũng có thời gian học làm báo, cũng có
thời gian tôi bỏ ngòi bút, cầm súng để chống lại kẻ thù, chống lại chủ nghĩa thực
dân. Khi tôi còn ở Pháp, khi còn biết ít tiếng Pháp tôi đã là Tổng biên tập,
biên tập và phát hành cả một tờ báo” (tr.202)
Bác thường nói với cán bộ:
“Học thêm được một thứ tiếng nước ngoài coi như có
thêm một cái chìa khóa để mở thêm một kho tàng tri thức. Việc học là việc suốt
đời”.
59. Điều Bác Hồ yêu nhất, ghét nhất
Trong kháng chiến chống Pháp, một nhóm người Pháp tiến
bộ, cùng với một số hàng binh đã đứng về phía Việt Nam, chiến đấu dưới lá cờ giải
phóng dân tộc của Hồ Chí Minh. Họ thành lập một tờ báo lấy tên là Bạn chiến
đấu1 bằng tiếng Pháp xuất bản tại chiến khu Việt Bắc, phát hành
bí mật trong quân đội Pháp.
Phóng viên báo Bạn chiến đấu đã có cuộc phỏng vấn
Hồ Chủ tịch. Báo Cứu Quốc số 938 ngày 25/5/1948 – Chi nhánh số 6 in tại
Liên khu X, đã đăng lại bài trả lời của Bác.
Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất?
Trả lời: Điều
ác.
Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất?
Trả lời: Điều
thiện.
Hỏi: Chủ tịch mong điều gì nhất?
Trả lời: Nền
độc lập của nước tối và của tất cả các nước trên toàn cầu.
Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ cái gì nhất?
Trả lời: Chẳng
sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì.
------------------------------------------
1 Nguyên văn tiếng Pháp: Frères d’arme.
60. Năm ấy Bác Hồ không đi thăm rừng Cúc Phương
Các chiến sĩ và cán bộ Cục hàng không đã đưa Bác đi
công tác trên cái máy bay của nhân dân Liên Xô tặng mang biển số Mi-4 VN 50D.
Trong các chuyến đi gần và ít người, các đồng chí đã đề nghị Bác dùng trực thăng.
Như trong các chuyến đưa Bác đến Lạng Sơn, Tân Trào, Quảng Ninh...
Một lần Bác đi công tác Vĩnh Phú. Theo chương trình thì
chiều là Bác đi ô tô về Hà Nội. Nhưng lần ấy, tối mịt Bác mới ra về được. Anh
em trong đoàn vừa lo đường sá, vừa sợ Bác mệt, nên anh em xin điều một máy bay
trực thăng để đưa Bác về. Trực thăng đỗ ở sân bóng đá Vĩnh Yên.
Tỉnh ủy thưa với Bác và đề nghị Bác lên “trực thăng” về
Hà Nội.
Bác cám ơn rồi nói:
- Bác có ô tô. Bác đi ô tô thôi, Bác về Hà Nội bằng ô
tô.
Chú nào đã điều máy bay lên thẳng thì chú ấy ra ngồi máy
bay mà về...
Đầu năm 1969, sau khi nghe Tổng cục trưởng Tổng cục
Lâm nghiệp báo cáo tình hình rừng cây bị phá hoại, phần thì bom đạn, phần thì
dân đốt phá, đẵn làm gỗ, làm củi và “cứ đà này, vài năm nữa ta sẽ hoàn thành kế
hoạch... tiêu diệt rừng”1.
Nhân đó, Tổng cục trưởng mời Bác vào thăm rừng Cúc
Phương. Tuy sức không còn khỏe, nhưng Bác vui vẻ nhận lời và nói:
- Phải đi thăm hang người Việt cổ...
Bác đề nghị đồng chí Nguyễn Lương Bằng thu xếp cho chuyến
đi.
Anh em đề nghị Bác không đi ô tô nữa mà đi bằng “trực
thăng”.
Trước hết. Bác uốn nắn:
- Tại sao chú không gọi là “lên thẳng”, mà cứ
là “trực thăng”? “Trực thăng” hơn gì “lên thẳng”?
- Bác đi ô tô. Các chú cứ cho rằng hễ là Chủ tịch Đảng,
Chủ tịch nước đi đâu muốn “đi gì cũng được à? Không phải thế đâu! Để Bác khỏe
lên, Bác đi ô tô đến thăm Cúc Phương. Đi máy bay lên thẳng thì thôi, chờ dịp
khác. Máy bay lên thẳng để dành khi nào có đồng bào bị tai nạn, bị đau nặng ở
vùng rừng núi hẻo lánh khó chạy chữa thì đưa đồng bào nhanh chóng vào bệnh viện.
Hay khi mưa bão, lũ lụt cần hộ đê, cứu dân, thì dùng.
Lần ấy chỉ vì không chịu “đi máy bay lên thẳng mà Bác
không đến được Cúc Phương, mãi mãi anh chị em công nhân cán bộ trông nom rừng
Cúc Phương không đón được Bác để Bác thực hiện một điều mong ước nhỏ.
Ngày nay, trong rừng Cúc Phương vẫn còn có cái thang của
công nhân, cán bộ làm để Bác leo lên thăm hang người Việt cổ. Cái thang ấy
không được in dấu chân Bác, và ngày ngày nhìn vào thang anh em chị em càng nhớ
thương Bác.
Họ đặt tên cho cái thang ấy là “Cái thang thương nhớ”.
--------------------------------------
1 Sau khi nghe Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp báo cáo. Bác đã viết
bài “Tết trồng cây” - in trên báo năm 1969.
Còn nữa
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)









