11.3.26

Lời cây cột ăng-ten

Quang Chuyền

Như một đóa hoa xinh

Xòe ra năm cánh mở

Tôi giơ bàn tay mở

Vẫy mãi về phía em.

 

Loang mãi vào lặng im

Những trùng trùng sóng điện

Nối hai nhịp trái tim

Hai đầu trời trò chuyện.

 

Lòng chứa chan thương mến

Tôi chia đều hai bên

Tôi như là nốt nhạc

Bài tình ca không tên.

 

Tôi nhận từ phía em

Những sắc màu sông núi

Em đón tình tôi gửi

Có khi nào xốn xang.

 

Cơn gió của thời gian

Có bao giờ dừng lại

Cứ thổi qua đời tôi

Những tháng ngày từng trải

 

Vầng trăng như ai gửi

Thương mến vào tay tôi

Vầng trăng vàng trái bưởi

Tôi đỡ trăng cao vời.

 

Khi hướng tôi định rồi

Búp sóng thành bám trụ

Dù có ngày bom rơi

Mặt đất chành nghiêng ngửa.

 

Khi hướng tôi định rồi

Trời không còn xa nữa

Như trong nhà trong cửa

Em luôn về bên tôi.

 

Mãnh liệt đầu ngọn gió

Tôi là cột ăng-ten

Như ngọn bút chỉ lên

Trang sách trời để ngỏ.

 

Giữa hai người báo vụ

Điều này ai hay chăng?

Thức giữa trời không ngủ

Tôi như người lính canh...

Trường Lâm, 1980

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

9.3.26

Ấm tình đồng đội

Lê Tiến Phú

Chiến tranh đã lùi xa

Nhưng nỗi niềm còn đó

Những năm dài gian khổ

Đâu đã dễ quên ngay

 

Hôm nay tôi đến đây

Với nghĩa tình đồng đội

Để thắp mấy nén nhang

Lên mộ mười cô gái

 

Tổ quốc gọi thiêng liêng

Các chị đã lên đường

Tuổi thanh xuân phơi phới

Xông pha mọi chiến trường

 

Đường dây ra tuyến lửa

Thông tin luôn kịp thời

Mặc đạn bắn, bom rơi

Tất cả vì chiến thắng

 

Chiến tranh đã lùi xa

Cùng những năm gian khổ

Cùng mất mát hy sinh

Nhưng đâu quên tất cả

 

Mười cô gái Đồng Lộc

Vang danh đến muôn đời

Mười cô gái "Thông tin”

Vẫn âm thầm lặng lẽ

 

Thắp nén nhang cho cô

Thắp nén nhang cho chị

Thắp nén nhang cho em

Ấm mãi tình đồng đội

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

Cô tổng đài hải đảo

Trần Đăng Khoa

Mới năm nào em còn ở Trường Sơn

Nay giữa khơi xa - tổng đài hải đảo

Gió biển mặn mòi bạc bao màu áo

Cơn sốt rừng còn run trong da.

 

Tổ quốc thì gần làng quê thì xa

Phía cuối biển, trời lô xô mây trắng

Những tín hiệu truyền qua em đều đặn

Đảo như thành trụ vững giữa trùng khơi.

 

Có lúc vẩn vơ nghĩ lại buồn cười

Em cứ thương thương hàng cây đảo vắng

Hàng cây nhỏ chẳng bao giờ gió lặng

Vẫn hồn nhiên xinh đẹp một mình...

Năm 1980

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

6.3.26

Cô bộ đội thông tin cấy lúa

Ma Trường Nguyên

1

Cô bộ đội thông tin

Ghé về thăm xóm rẫy

Xuống đồng làm xã viên

Cùng bà con cấy lúa.

 

Bàn tay điện thoại viên

Gié mạ tuôn hối hả

Bàn tay nối dây quen

Kẻ hàng hàng dòng mạ.

 

Khắp bản trên mường dưới

Rì rầm bao lời khen

Cô bộ đội cấy giỏi

Cô bộ đội thông tin.

 

2

Có gì mà phải khen

Con gái Tày xứ sở

Có gì đâu mà lạ

Em là lính thông tin.

 

Vừa trực ca ngày đêm

Vừa gieo ngô cấy lúa

Làm sao mà em quên

Quê hương nuôi từ nhỏ.

 

Tuổi thơ chơi "hát ống"

Qua dây chỉ kéo căng

Lớn lên lời sli, lượn

Bắc cầu em sang anh.

 

3

Trẻ già đứng lại nhìn

Cô bộ đội cấy giỏi

Miệng tươi đóa phặc - phiền

Mắt lung linh nắng dọi.

 

Là lính thông tin rồi

Vốn rải dây thẳng tắp

Bàn tay em thuần thục

Và cái nhìn mênh mang.

 

Về trên đồng bậc thang

Mùa màng đang bước vội

Nhanh hơn mùa xuân tới

Nhanh như sóng điện lan.

Tháng 4 năm 1980

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

Những cô gái thông tin trên thảo nguyên Mộc Châu

Nguyễn Hoa

"Quê em ở vùng đồng chiêm..."

Hồn nhiên em kể họ tên của mình

 

Tôi vô tư - Tôi vô tình

Mắt tìm những ngón tay mềm lặng im

Trên cần máy moóc rung lên

Chiếc ma-níp hát tiếng chim trong ngần

Bầu trời náo nức xa gần

Riêng tôi đứng với đôi chân bồn chồn.

 

Tích tà tiếng chim hót trong

Nhịp tay em, má lấm hồng mồ hôi

Lặng im những ngón tay thôi

Mà khoan mà nhặt bao lời thiết tha.

 

Thảo nguyên sương mỏng mảnh nhòa

Bàn tay xòe một bông hoa dịu hiền

Giật mình chưa hiểu hết em

Chua phèn đỏ áy nỗi niềm trong tay.

 

Em cười, trời thảo nguyên say

Đồng chiêm giờ chắc bộn ngày gặt chiêm.

Sơn La, năm 1979

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

2.3.26

Có một truyền thống phụ nữ làm giao thông, thông tin liên lạc ở Việt Nam

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS

Ở xã Minh Nông, nay thuộc thành phố Việt Trì có một đền thờ, thờ bố mẹ Nàng Nội và Nàng Nội. Tên thật của Nàng Nội hiện chưa rõ, chỉ biết nàng là con gái của Lạc tướng Đặng Thi Huy em ruột Đặng Thi Sách - chồng của Trưng Trắc. Nàng Nội quê ở ngã ba Bạch Hạc, kinh đô của nước Văn Lang cũ. Nàng sớm biết chữ, cưỡi ngựa, bắn cung, múa kiếm. Khi Đặng Thi Huy bị giết cùng với Thi Sách vì âm mưu lật đổ Tô Định không thành, Nàng Nội mới 13 tuổi, mẹ và Nàng Nội phải đi trốn, lập trại mới, và Nàng Nội được tôn là trai chủ. Ít lâu sau, Tô Định sai đô đốc Hoàng Sùng Chính đem quân lên triệt hạ trại Nàng Nội, bị Nàng chém chết. Được tin Trưng Trắc dấy quân, Nàng Nội mang quân về với Hai Bà và được Trưng Trắc phong chức "Nội các Văn thư trưởng quan" chuyên lo liệu việc tiếp nhận, gửi đi và soạn thảo các giấy tờ thư từ, mệnh lệnh. Thắng giặc, Nàng Nội được phong "Nhập nội Bạch Hạc nữ công chúa".

"Nối các Văn thư trưởng quan" là một chức vụ, với nội dung công việc mà ngày nay ta nghĩ tới đó là chức tư lệnh bộ đội thông tin hoặc tổng cục trưởng bưu điện kiêm chánh văn phòng. Một người, như Nàng Nội là từ cơ sở trưởng thành lên (như cách nói của người bây giờ). Tương truyền Nàng Nội "có sức khoẻ, cầm cương giỏi, cũng như viết chữ rất đẹp, có tài điều binh, khiển tướng", thì việc vua Bà giao cho trọng trách ấy thật cũng xứng đáng.

Cho đến nay, trước Nàng Nội, chưa tìm được tài liệu gì mới nói về một phụ nữ giữ trách nhiệm này. Do đó có thể mạnh dạn nói rằng: "Nàng Nội là tư lệnh bộ đội thông tin đầu tiên của nước ta", tất nhiên đứng về mặt truyền thống.

Từ chức năng và vị trí của phụ nữ trong xã hội, do việc am hiểu địa hình qua lao động sản xuất, biết kế thừa truyền thống của bà, của mẹ, nhiều phụ nữ trong thời đại phong kiến cũ đã làm công việc giao thông và đã được sử sách ghi chép thành văn bản lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Đời nhà Lý, năm 1103, vua Chăm-pa là Mana chiếm ba châu phía nam nước ta. Lão tướng Lý Thường Kiệt lại xuất chinh. Có một ông đồ họ Trần cũng xin tòng quân. Ông đồ có cô con gái là Trần Ngọc Tường, cứ nằng nặc đòi đi theo. Bà mẹ cô vừa gánh nước mắm đi bán vừa tiễn chồng cũng không giữ cô lại được. Vào đến phía nam, cô gái Trần Ngọc Tường mang rổ bánh lân la qua các trại giặc tìm kiếm tình hình về đưa tin lại cho quân ta. Sau khi quân Lý thắng to, vua Lý phong cho cô là "Ngọc Hoa công chúa", đến nay vẫn còn đền thờ ở làng Đại Yên, Hà Nội.

Gần đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo có một miếu nhỏ thờ một phụ nữ nghèo, mò cua, bắt ốc ven sông. Khi quân Nguyên bí mật tiến quân đánh úp quân ta, bà đã tức tốc chạy về báo tin cho Hưng Đạo Vương biết. Vương đã kịp thời bố trí đánh trả, phá tan quân giặc. Theo lệnh của Vương, miếu thờ người phụ nữ đưa tin ấy được xây ở Kiếp Bạc cho được gần Vương.

Đời nhà Lê, có bà Lương (quê xã Chuế Cầu, nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) dọn hàng nước giữa cánh đồng Lai Cánh trên bờ sông Đáy, cạnh thành Cổ Lộng của giặc Minh, án ngữ con đường thiên lý Bắc Nam. Dò xét được tình hình quân giặc, bà Lương đã vào tận Thanh Hóa trình bày với Lê Lợi. Năm 1426, nghĩa quân Lê Lợi do Tư mã Cao Ngự chỉ huy tiến đánh thành Cổ Lộng. Bà đã đưa đường và làm nội ứng cho quân ta diệt được thành. Khi mất (1432), bà được phong là "Kiến quốc phu nhân".

Lịch sử còn lưu truyền những phụ nữ khác ít nhiều đã làm giao thông như Hồ Đề (đời Trưng Vương), nay còn đền thờ ở Yên lãng, Vĩnh Phú, như 3 cô cháu gái của Phùng Hưng (nay còn đền thờ ở Hòa Mục, Hà Nội), như hai mẹ con (hiện còn đền thờ ở Thanh Oai, Hà Tây) đã chở đò cho đại quân Lê Lợi sang sông tiêu diệt giặc Minh trong trận Tốt Động; như Đỗ Quyên, cô gái chở đò trên sông Mã đã chỉ đường cho quân Nguyễn Huệ đưa đội tượng binh qua sông ra Bắc, báo tin để nhân dân đem gỗ ghép bè cho voi đi.

Từ khi giặc Pháp xâm chiếm nước ta, biết bao phụ nữ đã làm giao thông, trong các phong trào Văn Thân, Cần Vương, Đông Du, trong các đội nghĩa quân...

Đó là cô Tám con gái Hoàng Phúc, đẹp người, giỏi võ nghệ, khi cuộc khởi nghĩa của Hoàng Phúc bị thất bại, cô Tám đã ra Nghệ An bắt liên lạc với Phan Đình Phùng. Cô Tám nhận làm liên lạc cho nghĩa quân Vụ Quang, nhiều lần vượt Trường Sơn, đưa thư từ, mua thuốc đạn. Nhân dân Đồng Hới đã đặt một tên đường "Cô Tám" trong thị xã. Đó là bà Đinh, quê Thừa Thiên, chồng làm đốc học, khi chồng chết, bà đã tìm đến Đặng Thái Thân được giao làm giao thông cho hội Duy Tân. Năm 1908, bà bị bắt. Tuy bị giặc tra tấn dã man nhưng bà không khai báo. Cuối cùng, bà đã tự lấy tay cắn máu đề 4 bài thơ tuyệt mệnh lên tường rồi tự tử.

Trên dốc Bến Ngự (Huế) trong khu vườn của "Phan tộc từ đường" hiện còn tấm bia do Phan Bội Châu đặt năm 1928 và tự tay đề chữ "Ấu Triệu Lê Thị Đàn chi mộ". Phan rất đỗi xót thương người liên lạc của mình là Lê Thị Đàn mà Phan thường gọi là bà Triệu nhỏ (Ấu Triệu). Năm 1903 bà Đàn làm giao thông cho phong trào Đông Du, đã từng khoác áo cà sa để đi lại khắp Trung, Nam, Bắc. Năm 1910, bị giặc Pháp bắt, dù bị tra tấn bà vẫn giữ bí mật cho Hội và đã tự vẫn giữ tròn khí tiết (Hà Nội có một đường phố mang tên Ấu Triệu).

Có nhiều phụ nữ khác như chị Mai. phụ trách giao thông cho nghĩa quân Bãi sậy, bà Điều, bà Đỏ làm liên lạc đưa tin tức cho nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, Hoàng Thị Ba vừa thu thập tin tức vừa để liên lạc cho Đốc Ngữ, Nguyễn Thị Mão (thường gọi là Cô Đồng Đa) giữ trạm liên lạc cho Đông Kinh nghĩa thục và giúp Đề Thám...

Người Hà Nội lớn tuổi đều biết chuyện bà Nhiêu Sáu (tên thật là Nguyễn Thị Ba) vợ ông Nhiêu Sáu (tên thật là Nguyễn Tĩnh) người làng Tương Mai, huyện Thanh Trì, mở hàng bán cơm, chứa trọ ở số nhà 20, phố Cửa Nam, thực chất là một trạm liên lạc của nghĩa quân Đề Thám và binh lính được giác ngộ. Ngày 27-6-1908, vụ đầu độc Hà Thành bị lộ, việc nghĩa của cai Nga, đội Bình bị thất bại, bà Nhiêu Sáu bị Pháp bắt giữ. Quân thù đã bỏ bà vào thùng xi măng bên trong cắm đinh, lăn bà trên sân gạch. Đinh sắc nhọn đâm nát thịt, nát da nhưng bà vẫn không cung khai chịu chết... Nhân dân Mèo Vạc (Đồng Văn, Hà Giang) còn kể chuyện Sùng Thị Mỹ, em gái Sùng Mí Chang người H'mông đã tự lập một quân đội toàn gái đi liên lạc, tiếp tế cho nghĩa quân. Trong những năm chống Pháp (1910-1912) Cô Bắc, chị ruột cô Giang (vợ Nguyễn Thái Học) đảm nhiệm công việc giao thông cho Quốc dân đảng bị bắt đã mắng chửi quân địch, nhận án tù...

Từ khi chủ nghĩa Mác-Lênin du nhập vào Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của các tổ chức yêu nước công nhân, cách mạng, cộng sản, số phụ nữ tham gia làm liên lạc không những thêm đông đảo, mà nội dung công tác rất phong phú, biểu hiện sự biến đổi lớn về lượng và về chất.

Trong thời gian hoạt động ở Quảng Châu những năm 1925-1927, hai cô Lý Phương Thuận và Lý Phương Đức là những nữ chiến sĩ giao thông đầu tiên được đồng chí Lý (Bác Hồ) giao nhiệm vụ. Cùng với Lý Tự Trọng, hai cô đã được Bác giáo dục về lòng yêu nước, về đạo đức cách mạng, về cách đi giao thông. Thuận và Đức đã nhiều lần chuyển thư từ đến các cơ sở cách mạng, đến lãnh sự quán Liên Xô, các cơ quan của Bộ phương Đông... trong khu vực Quảng Châu, Hồng Kông, Thượng Hải1. Khi về Thái Lan, cô Đặng Quỳnh Anh cùng chồng là Võ Tùng đã từng làm liên lạc cho Thầu Chín (Bác Hồ).

Ở trong nước, mặc dù bị cảnh sát, mật thám rình bắt, các chiến sĩ gái giao thông đã xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng. Rất nhiều chị nay đã là bà nội, bà ngoại hiện còn sống đã từng là chiến sĩ giao thông của Đảng và cũng không ít phụ nữ, cô gái trẻ đã hy sinh để lại cho các thế hệ mai sau những tấm gương không bao giờ phai mờ.

Người chạy hàng giữa Sài Gòn và Phú Riềng, thực chất là "giao thông giữa Xứ ủy Nam Kỳ với chi bộ đồn điền cao su Phú Riềng" là một phụ nữ: Chị Tý. Chị Ngô ở Song Lộc, Nghệ An đã giấu tài liệu của Đảng vào trong thùng nước mắm 2 đáy để đi liên lạc. Những bà mẹ nghèo ở ngõ Đề Lao, Hải Phòng, dùng chiếc chõng bán nước vối để làm nơi liên lạc của Đảng. Chị Mai Thị Vũ Trang đã chuyển tài liệu, vũ khí. Chị Phan Thị Khương, thường được anh chị em gọi là "Chị Cả Khương" là chiến sĩ giao thông Xứ ủy Bắc Kỳ, đảm nhiệm đường dây giữa Hải Phòng - Quảng Yên - Kiến An - Hải Ninh... Chị Nguyễn Thị Thuận, tức chị Tư Già đã hy sinh hạnh phúc gia đình để cố gắng làm tròn nhiệm vụ giao thông. Chị Hoàng Thị Ái, năm 1929 vừa làm công nhân nhà máy chè ở Tua Ran, vừa làm liên lạc cho Đảng. Chị Tôn Thị Quế, chiến sĩ giao thông đã được tặng hai câu thơ:

"Mười năm hải ngoại em chìm nổi

Bao độ lao lung chị dọa đầy...

Chị Quang Thái (em ruột chị Minh Khai) sau này là một chiến sĩ giao thông ưu tú của Đảng, năm 16 tuổi (1930) trong bài thơ "Quyết chí dốc lòng", đã hứa:

"Ngọn cờ vô sản bao giờ phất

Chín suối hồn ta mỉm miệng cười!"

Còn biết bao các nữ chiến sĩ giao thông khác như chị Mai Thị Yên đã giả làm người buôn xương khỉ, măng khô để đưa cán bộ vượt biên giới sang huấn luyện ở Quảng Châu. Chị Yên là một trong mười phụ nữ ở Hà Nội làm giao thông của Đảng trong những năm 1930 (chị Tuyết, chị Nhàn, chị Đầm, chị Liên, chị Giữ, chị Minh Lãng, chị Lưu Thị Đĩnh, chị Thuận Mỹ, chị Hưng, chị Lưu...). Chị Vũ Thị Mai sau khi "vô sản hóa"ở Cửa Ông đã làm giao thông giữa hai Xứ ủy Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Chị Nghĩa giao thông của Xứ ủy Bắc Kỳ với Trung ương, là công nhân nhà máy gạch Cát Linh, khi bị bắt đã giả câm và hy sinh trong nhà tù để giữ bí mật cho Đảng, chị Lê năm 15 tuổi đã được vào "Đoàn thanh niên phản đế" hăng hái đi liên lạc, đưa thư từ, chị Kỳ, giao thông của đồng chí Hoàng Văn Thụ, người đã chuyển Chỉ thị Tổng khởi nghĩa của Trung ương vào Nam Bộ, chị Sáu ở Liên Mạc vừa là giao thông của đồng chí Trường-Chinh, vừa là cán bộ cơ sở...

Trong kháng chiến chống Pháp, phụ nữ Việt Nam đã phát huy truyền thống, tiếp tục đảm nhiệm công tác giao thông và đã làm vẻ vang thêm cho truyền thống giao thông của phụ nữ Việt Nam.

Trên các trang sách học của các cháu nhỏ ta mới biết đến những Võ Thị Sáu, Mạc Thị Bưởi... Nhưng còn bao nhiêu phụ nữ khác đã làm giao thông liên lạc cho Đảng, cho quân đội. Chị Nguyễn Thị Điều, người đã được Bác Hồ tặng một đồng hồ để như Bác nói "đi những đường thư cho đúng hẹn". Dương Thị Phú, giao thông Hà Nội đã giúp một hàng binh Đức ra hàng Việt Minh, khi về nước đã gửi lời "chào chị cả". Phùng Thị Nhàn, chiến sĩ giao thông của quận ủy II Hà Nội, những năm 1950. Đội giao thông Lãng Bạc gồm các chiến sĩ gái đã chuyển thư Bác Hồ và cành đào vào Liên khu I, thủ đô Hà Nội, Tết năm 1946.

Truyền thống tốt đẹp của "phụ nữ Việt Nam làm giao thông liên lạc" được phát huy mạnh mẽ, nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, lực lượng nữ cán bộ chiến sĩ thông tin, giao liên đã chiếm tới 30-40% trong biên chế đơn vị, riêng Trung đoàn 134 có tới 60-80%. Chính trong bức tranh kỳ vĩ ấy, những đường nét, hình ảnh của phụ nữ Việt Nam làm giao thông, thông tin liên lạc thật là đẹp đẽ hào hùng. Chi Năm Chiến ở Bến Tre, năm 1950 đã ngoài 50 tuổi, là chiến sĩ giao thông kiêm bảo vệ của đồng chí Lê Duẩn trong những năm 1958, 1959. Cùng với hai chiến sĩ gái giao liên khác, chị Bảy Thường đã đánh tan một tiểu đoàn ngụy, bị kết án 11 năm tù, 5 năm đày ra Côn Đảo. Dưới hình dạng của một người ăn xin, má Bưng đã bí mật làm giao thông mấy chục năm liền cho các chiến sĩ biệt động Cần Thơ. Khó có thể tin rằng, với gần 70 tuổi, 21 năm liền là giao thông của thành ủy Sài Gòn, bác Lê Thị Nhiễm đã có thể đương đầu với bao nhiêu mưu mẹo, đòn tra tấn của địch. Bác là một trong những anh hùng giao thông thông tin của quân đội ta, là giao thông "đơn tuyến" của đồng chí Vũ Ngọc Nhạ, "cố vấn" của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Trên miền Bắc, tổng đài Vĩnh Linh do các chiến sĩ gái phụ trách có Lê Thị Bích Giả đã xông ra dựng cột nối dây trong bom đạn. Tổ điện đài của các chiến sĩ gái báo vụ Hằng, Liên, An (Quân khu 4) bị bom đánh sập hầm, kẻ bị ngất, người bị thương vẫn giữ vững làm sóng điện tấn công. Cuối năm 1972, khi pháo đài bay B52 của Mỹ dội bom xuống Hà Nội, 5 cô gái quân bưu của đoàn Hải Vân thông tin quân bưu đã đạp xe đạp dưới ánh lửa đạn, tia chớp của bom để chuyển công văn. Trong những lần thi thu phát nhanh, ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài, Binh chủng Thông tin còn giữ được những huy chương vàng của những cô gái vô tuyến điện vô địch: Vũ Thị Túc, Nguyễn Hải Sinh, Nguyễn Thị Lợi... Nhiều nữ sĩ quan thông tin đã lao động trong các viện nghiên cứu, thiết kế, kỹ thuật, có người đã giành được học vị trên đại học, đã trở thành cán bộ cao cấp trong quản lý, chỉ huy cũng như trong khoa học kỹ thuật công nghệ như Thu Sương, Thanh Hà, Nguyễn Thị Thái, Minh Hà...

Lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của nước ta in dấu ấn khá rõ nét trong sứ mệnh giao thông liên lạc mà phụ nữ đã đảm nhiệm. Và lịch sử cũng đã chứng minh rằng phụ nữ đã làm và làm được, làm tốt, không phải vài ba người, không riêng ở một địa phương, không chỉ dừng lại một thế hệ, không giới hạn ở độ tuổi thanh niên, không chỉ ở một số dân tộc...

Trong nghiên cứu khoa học ngày nay, người ta cho rằng, trung bình cứ 1000 người, nữ có 431 người trong nam chỉ có 427 người có chỉ số thông minh. Nếu phát hiện màu sắc, nữ công nhân dệt có thể nhận thấy ngay 200 sắc thái của một màu đỏ, số lượng này gấp đôi ở nam công nhân (theo nhà nghiên cứu Anh, Mông-ta-gu).

Trong công tác, "bản năng tương trợ, giúp đỡ bạn bè, đồng đội của nữ phát triển mạnh hơn nam giới" (theo giáo sư bác sĩ Trần Hữu Nghiệp). Theo dõi và điều tra ở một đơn vị thông tin trong kháng chiến chống Mỹ (đoàn H05 anh hùng) nữ chiến sĩ thông tin hữu tuyến điện nhớ nhanh, nhiều và ít nhầm lẫn các ký hiệu, mật danh điện thoại, tổng đài hơn các chiến sĩ nam. Nữ báo vụ thu, phát vô tuyến điện lập thành tích cao hơn nam báo vụ về tốc độ, ít sai sót hơn nam.

Lịch sử và khoa học giúp ta nhận rõ hơn truyền thống quý báu, độc đáo của phụ nữ Việt Nam trong công tác giao thông liên lạc. Ở miền Nam, "trong chống Mỹ cứu nước, không có một công việc khó khăn nào mà cách mạng cần đến lại không có mặt chị em". Trong công tác giao thông liên lạc, ngoài những gian khổ, khó khăn, nguy hiểm như các chiến sĩ nam, phụ nữ còn có những nỗi khổ riêng, tủi nhục, oan ức thầm kín có khi cả cuộc đời không thể nói ra, chết cũng chưa được phép giãi bày. Một thống kê cho biết tỷ lệ chiến sĩ giao thông khi bị bắt, không chịu được tra tấn của địch đã khai báo, ở nam giới cao hơn nhiều so với nữ. C. Mác đã từng nói: "Theo tôi, tương lai của con người lại do chính đàn bà làm ra". Ở một khía cạnh nào đó, vẫn thấy ý nghĩa này trong phụ nữ làm giao thông liên lạc.

Trong thư gửi phụ nữ nhân kỷ niệm Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế phụ nữ 8-3-1952, Bác Hồ viết: "Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ". Sự thật là: "Ở Việt Nam đã có một truyền thống phụ nữ làm giao thông liên lạc".

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)

..............................................

1 Viện Hồ Chí Minh hiện còn bản lưu hồi ký của bà Lý Phương Đức về công tác giao thông ở Quảng Châu, 1925-1927, do bà Đức viết tặng tác giả trong những lần gặp vào năm 1980. 

27.2.26

Tiếng chim

Lâm Thị Mỹ Dạ

Ban mai, lớn nhỏ, giữa rừng

Tiếng tích te rộn một vùng không gian

Âm huyền, âm sắc dọc ngang

Thời gian như cũng đan toàn âm thanh.

 

Con chim nó đứng nó nghe

Bao nhiêu cái tiếng tích te lạ lùng

Tiếng mình mà chẳng giống mình

Khiến chim ngơ ngác như tìm bóng ai

Trong lớn nhỏ, buổi sớm mai

Bạn chim - cô báo vụ cười đáng yêu

Ngón tay nhè nhẹ gõ đều

Tiếng tích te gửi mọi chiều không gian

Bước vào trận đánh gian nan

Lán thông tin vẫn ngập tràn tiếng chim.

Vút bay cánh sóng vô hình

Đưa vào trận đánh dòng tin mở đường

Bao nhiêu thắng lợi chiến trường

Nằm trong những tiếng bình thường - tiếng chim.

Năm 1980

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

Bài ca dây trần

Ngọc Bái

Chỉ là một sợi dây trần

Mà giăng mắc suốt núi gần sông xa

Mà giông nổi mà gió lùa

Bao êm ả máy reo đùa cùng dây.

 

Mảnh mai một sợi dây này

Băng băng qua những tháng ngày gian nan

Bao phen nhạt muối thiếu cơm

Thương nhau tìm đến Trường Sơn bạn cùng.

 

Lỡ khi lạc lối giữa rừng

Lần theo dây, gặp con đường, gặp nhau

Thác ghềnh lùi lại phía sau

Dòng sông kỷ niệm lắng vào tâm tư.

 

Dốc cheo leo đến cơn mơ

Bước chân chiến dịch đêm mưa gọi phà

Rừng khuya lán hẹp nhớ nhà

Vội nhen ngọn lửa hơ qua áo mình.

 

Đi dọc cả thời chiến tranh

Bom cắt đứt, lại nguyên lành đường dây

Điều gì rồi sẽ qua đây

Ống nghe kia ống nói này lặng câm.

 

Còn đâu dấu vết căn hầm

Chạm vào gió tiếng thì thầm đung đưa

Chim thường đến đậu ngẩn ngơ

Đường dây nối lại đôi bờ không gian

Nhắn ngang mây một tiếng đàn

Bài ca của lính dây trần ngân nga.

Tháng 4-1989

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

25.2.26

Tổ dây trên đỉnh đèo

Nguyễn Viết Sửu

Một tổ đường dây trên đỉnh đèo

Bốn bề vách núi đá cheo leo

Vắng dân, xa bản, trời mây phủ

Giữ mạch máu đào, tiếng chuông reo...

 

Tôi ở Nghệ An, anh tỉnh Thanh

Lúc vui điếu thuốc, bát chè xanh

Nắng hạn nhường nhau từng giọt nước

Đêm nằm giá lạnh đắp chung chăn.

 

Sáng mai anh được lên trên chốt

Thao thức cùng anh ngủ chẳng lành

Thắm tình đồng đội bao ngày ấy

Trong tim ghi mãi tuổi xuân anh.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

Nhà máy chúng tôi

Vũ Long

Nửa thế kỷ một chặng đường

Bấy nhiêu năm ấy can trường kiên trung

Từ ngày cõng máy trên lưng

Vượt đèo leo dốc xuyên rừng lội sông.

Không chăn đắp giữa mùa đông

Có đâu ánh điện giữa rừng ba la

Vẫn vang lên tiếng tích tà

Vẫn say cánh sóng ngân nga đất trời.

Đó là nhà máy của tôi

Bấy nhiêu năm lớp lớp người dựng xây.

 

Tự hào thế hệ hôm nay

Lớp cha, anh đã trao tay cơ đồ

Trao cho cờ thưởng Bác Hồ

Trao cho cả những ước mơ cuộc đời.

Hôm nay nhà máy chúng tôi

Lung linh ánh điện khoảng trời bao la.

Vẫn vang lên tiếng tích tà

Không gian tín hiệu sóng xa sóng gần.

Đường dài không mỏi bước chân

Khoảng không nào kể nơi gần, nơi xa.

Đất - trời - biển - đảo của ta

Thông tin tín hiệu vào ra từng ngày.

Nhẹ nhàng cần mẫn đôi tay

Chỉ nghe tiếng nói mà say lòng người.

Thông tin nhà máy chúng tôi

Mênh mông sóng, một khoảng trời quê hương.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)