4.9.26

Một bài ca dao đáng nhớ

Đặng Trường Lưu

Sáng nay ngược đỉnh đèo cao

Lắng nghe thư Bác vọng vào trời xuân

Đường xa như xích lại gần

Mồ hôi thấm áo mấy lần vẫn vui

Ta đi trồng cột lưng trời

Gọi hoa sứ nở theo lời thư xuân

(Việt Nguyên - Nghe thư Bác)

Đây là bài cao dao in ở trang đầu tập sách "Hương thơm hoa sứ" của cán bộ, chiến sĩ Đoàn Thông tin Lam Sơn đầu năm 1969. Bài ca dao này cũng lại xuất hiện trên báo Thông tin của Binh chủng, số đầu tiên, ra đời sau đó vài tháng. Ở những tuyển tập thơ ca Binh chủng và Quân đội xuất bản trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bài "Nghe thư Bác" luôn được góp mặt như sự khẳng định vị trí của mình bởi giá trị nội dung và hình thức biểu hiện. Bài ca dao này được viết sau sự kiện Binh chủng Thông tin liên lạc mở "Đại hội thi đua lập công, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", và vinh dự đón nhận thư khen của Bác Hồ ngày 28 tháng 01 năm 1969. Sự kiện chính trị này đã tạo nên cảm hứng tuyệt vời, chắp cánh cho bài ca dao bay thẳng vào lòng người chiến sĩ, suốt những năm dài chiến tranh ác liệt và chiến thắng vẻ vang. Cũng có thể nói, đây là một trong những tác phẩm báo hiệu sự nở rộ sau này của dòng thơ ca Thông tin và đội ngũ những người làm nghệ thuật trưởng thành từ lính của Binh chủng Thông ttin liên lạc.

Không gian, hoàn cảnh mà bài ca dao nói đến đã khắc hoạ rất rõ tính chất công việc và tâm trạng người lính, nỗi vất vả gian nan khi dựng đường dây băng qua núi cao vực thẳm. Khi được nghe thư khen của Bác Hồ, lòng chiến sĩ rung lên bao âm điệu mới, ngỡ lời Bác vang vọng đâu đây nơi đất trời cao rộng. Người chiến sĩ như được tiếp thêm sức mạnh, quên cả "đường xa" nhọc nhằn, "mồ hôi thấm áo mấy lần", lạc quan vươn tới hoàn thành nhiệm vụ. Đó là ý nghĩa nội dung và cũng là cấu tứ của tác phẩm, khi tác giả sử dụng hình ảnh "trời xuân", "thư xuân" rất thực, tác động lên nhau, làm sáng lên hình ảnh mùa xuân thứ ba ẩn chứa trong cụm từ "gọi hoa sứ nở". Hình ảnh gợi cảm và sinh động này, thêm một lần, lắng sâu vào lòng người những giá trị vừa hiện thực vừa lãng mạn.

Trong thơ ca, việc sử dụng hình tượng này đắp chồng lên hình tượng kia với nhiều tầng ngữ nghĩa để tạo hiệu quả khái quát cho một hình tượng khác nữa là một thủ pháp thông dụng. Có điều ở bài ca dao "Nghe thư Bác", tác giả đã áp dụng kỹ thuật này thật hài hoà, thật nhuyễn, không một manh nha của bài trí, sắp đặt. Dường như cảm hứng và thi pháp xuất hiện cùng thời khắc nên hình ảnh và ngôn từ cứ thế hiện lên.

Từ câu mở đầu như lời kể chuyện nhẹ nhàng:

Sáng nay ngược đỉnh đèo cao cao

Lắng nghe thư Bác vọng vào trời xuân

khiến ta ngỡ mùa xuân thiên nhiên đến trước, nhưng khi đọc đến câu cuối:

Ta đi trồng cột lưng trời

Gọi hoa sứ nở theo lời thư xuân

mới vỡ ra một điều hiển nhiên: chính lời thư ân tình của Bác đã khiến đất trời thay da đổi thịt. Chính bởi cái nhìn lạc quan từ trong tâm tưởng mà những tích sứ vô tri vô giác cũng hóa thành bông hoa bừng nở. Sức cảm hóa từ lời thư khen ngợi của Bác khiến cho lòng ai cũng phấn chấn tràn trề, đường dây cũng nở hoa chiến công và mùa xuân trở về sớm hơn thường lệ.

Bài ca dao gồm sáu câu lục bát đã vẽ ra cả một không gian rộng với cảnh lao động của người lính Thông tin, gian truân mà phơi phới niềm vui. Cảm hứng có tính nhân văn đã đưa những câu ca dao mộc mạc, gọn gàng ấy lên tầm hoành tráng. Từ ngữ dung dị, gần gũi cho ta cảm nhận cái hay của thể loại ca dao truyền thống: "Đường xa như xích lại gần", ấy là cách nói mang sắc màu dân dã. Câu ca dao này cho ta nhớ về một bài ca dao khác cũng của người lính xây dựng đường dây,  được phổ nhạc thành bài hát truyền thống, đó là bài "Chịu lính đường dây" với câu mở đầu đậm đà kịch tính: "Cưỡi mây lên gõ cổng trời" và câu kết: "Lên tận cổng trời, chịu lính đường dây". Mới hay, cái ngôn từ thậm xưng đã nói được phần nào phẩm chất riêng biệt đầy cá tính, của những con người quanh năm ngày tháng đi xây dựng công trình thông tin chiến lược. Hơn thế, bài ca dao "Nghe thư Bác" còn cho ta dư vị ngọt ngào, mới mẻ của không khí thơ ca hiện đại. Khi tác giả "gọi hoa sứ nở" chính là khi tác giả - người lính, trong thăm thẳm tâm hồn đã ngập tràn xuân mới.

Cô đọng, khúc chiết và hứng cảm. Bài ca dao "Nghe thư Bác" là tâm tình, là niềm lạc quan, là ý chí quyết vượt qua mọi gian khó để hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng với lời khen ngợi và những bài học sâu sắc mà Bác Hồ kính yêu dành cho bộ đội Thông tin.

35 năm qua, đã có bao tác phẩm thơ ca chiến sĩ Thông tin nói về chiến công của mình và lòng nhớ ơn Bác Hồ vô vàn yêu quý. Nhiều bài thơ và ca dao đã vượt qua không gian, thời gian để đọng mãi trong lòng người đọc. "Nghe thư Bác" của Việt Nguyên là một tác phẩm như thế. Tác giả đã có nhiều đóng góp cho nền văn nghệ Binh chủng, Quân đội và Nhà nước. Việt Nguyên là một trong những bút danh của nhà thơ Quang Chuyền hiện nay.

Ɖ.T.L.

Tháng 12-2003

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005) 

2.9.26

Chiếu phim cho một chiến sĩ xem

Tống Choan - Đào Nhạc

Trước năm 1968, khi còn là Cục Thông tin liên lạc, nếu muốn cho bộ đội, ví dụ Trung đoàn Thông tin 205 xem phim, Phòng Chính trị Cục phải có kế hoạch trước một tháng trình đội chiếu bóng của Bộ Tổng Tham mưu mới hy vọng được giải quyết.

Sau năm 1968, bấy giờ đã là Bộ tư lệnh Thông tin, Ban Tuyên huấn chúng tôi đã được trang bị máy nổ, máy chiếu "độc lập, tự do". Không gì quý bằng. Vừa xin máy chiếu 35 ly, một bộ 2 máy, chúng tôi còn xin thêm một máy chiếu 16 ly, máy này có thể chiếu các phim ngắn 50-60 phút, không phải thay phim. Nếu phim dài hơn, người xem phải đợi ít phút mới xem tiếp tục được.

Máy móc của đội chiếu bóng chúng tôi được chất lên một xe Gát 69 Liên Xô - gọi là xe "đít vuông". Bỏ đi một bên ghế, chỉ để lại đủ chỗ cho ba, bốn người ngồi, còn lại trong xe là máy nổ, máy chiếu, xẻng, cuốc, dây cáp, dây thừng, ván (để chống lầy...). Phông và cọc bó chặt buộc dọc theo xe. Biên chế của đội gồm một lái xe, một phụ trách máy chiếu, một thuyết minh. Tuy là phân công trách nhiệm, nhưng anh em đều thực hiện "giỏi một việc, biết nhiều việc" để thay thế nhau. Đội trưởng Tống Choan kiêm thuyết minh, thợ máy Đồng Quang Tiến có thể vừa thuyết minh và khi cần cũng "to gan" lái vài chục mét xe ô tô... Còn các bạn "cán bộ đường lối" lái xe Nguyễn Quang Thích, Đào Văn Nhạc có thể kiêm phục trách máy nổ.

Trước, chỉ những đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn đóng quân tập trung mới được xem phim. Còn các tổ, trạm vô tuyến, hữu tuyến, quân bưu đóng quân trên núi cao, rải quân dọc Trường Sơn, 2-3 người một tổ, việc được xem phim dù một lần trong một năm vẫn là "dream"- mơ ước.

Đội của Tống Choan đi chiếu cho một tổ đường dây có ba chiến sĩ - hai đi trên đường, một ở nhà lo cơm nước, chăn gà lợn, trực máy. Anh chàng này một mình được xem trước gần hai tiếng, chạy ra, chạy vào. Xế chiều, hai chiến sĩ trên đường về, chưa cơm nước gì, vào xem cho đủ "tiêu chuẩn". Cán bộ địa phương nhiều nơi thấy có đội "điện ảnh" đến, thiết tha yêu cầu bộ đội chiếu phim phục vụ nhân dân. Uỷ ban và xã đội phân công phụ trách gác máy bay, ban ngày, ban đêm, bố trí súng máy trên núi đồi, kẻng báo động để bảo vệ buổi chiếu. Người xem phim phải ngụy trang kín bằng lá cây tươi, trông như một bãi cỏ, bãi cây xanh... Có đơn vị kết hợp huấn luyện bộ đội đi B, đeo ba lô gạch hành quân đến địa điểm xem phim, rất phấn khởi, rồi lại hành quân trở về... Có lần đội đi phục vụ bội đội ở Quân khu 4, qua Quán Hành huyện Nghi Lộc, Nghệ An tránh bom đạn, trú quân trong làng. Uỷ ban biết tin, đề nghị đội chiếu phim cho dân xem. Thế là đội bố trí màn ảnh vào trong đình, dân đến xem từ 9 giờ đêm cho đến 5 giờ sáng hôm sau. Uỷ ban lệnh, ai cũng chỉ được xem một lần, nhường cho người khác (trực canh, trực nhà, trực báo động,...). Nhưng có anh có chị xem "lậu" suốt mấy buổi chẳng "rút lui" cho.

Lần chiếu cho một trạm quân bưu gần A72 (Trường Sơn), xe chỉ đỗ được ở ngoài suối, anh em bộ đội được tin, lội suối ra "gánh" máy vào. Hai nhân viên chiếu phim, vì phải trông xe, ốm mệt, không vào được trạm, dù chỉ cách 4-5 km, nên đội trưởng Tống Choan phải "đào tạo cấp tốc" mấy chiến sĩ lắp phim, sử dụng máy chiếu. Trạm này ngoài hơn một chục chiến sĩ, còn có các anh, các chị thanh niên xung phong, gần một trung đội và một tổ Công an đóng quân gần đấy. Nghe tin có "đội chiếu bóng" về, mọi người đều đến thương lượng, xin xem "ghẹ"... Đêm ấy, tổ chiếu phim "Công phá Bá Linh". Hết phim, đồng bào, bộ đội, thanh niên xung phong, công an không chịu về, đòi xem nữa, đội lại phải "phục vụ" cho đến khi mặt trời lên, máy bay đã ù ù trên đầu...

Tiếng lành đồn xa, một đội không đủ khả năng phục vụ bộ đội Thông tin, phục vụ bộ đội bạn, làm "đối ngoại" nên từ một đội đã phải thành lập thêm ba đội nữa. Các anh "nhập đội" tiếp như Nguyễn Thanh Thản (sau là giám đốc Công ty Vinexad Hà Nội), Hoàng Đức Điềm, Doãn Từ, Nguyễn Văn Cậu, Nguyễn Văn Nguyên, Nguyễn Văn Phú...

Trong hoàn cảnh chiến đấu, đơn vị toàn thanh niên nam, đội đã kết hợp đào tạo thêm hai cô thợ máy Thái Thị Thanh Tâm, Nguyễn Thị Ngà vừa "đi chiếu bóng", vừa ca hát động viên chiến sĩ, nhân dân, "gọi là" có tiếng con gái Hà Nội (thực ra là người Thái Bình quê lúa).

Một kỷ niệm sâu sắc của đội chiếu bóng là vào những ngày tổ chức tang lễ Bác, đội được điều động vào Hội trường Ba Đình. Liên đội trưởng Tống Choan và Đồng Quang Tiến sử dụng hai máy chiếu Đức, đưa luồng ánh sáng qua một lỗ nhỏ bằng chân kim, để tạo ra một vùng sáng trải rộng khoảng 3cm đường kính lên đôi mắt thi hài Bác. Giữa tiếng khóc của đồng bào, thiếu nhi,... dưới ánh sáng của các ngọn đèn khác trong phòng hơn mấy trăm oát, đội trưởng Choan và Tiến đổ mồ hôi như tắm, bỏ cả cơm trưa, phục vụ cho công việc ghi hình, tận tối mới được "về nhà".

Lần bộ đội Thông tin bàn giao đường dây cho một đơn vị Giải phóng quân Trung Quốc tại Lào Cai, đội đã đem phục vụ bộ đội, nhân dân vùng biên giới bộ phim "Những cô gái Thông tin K6" và "Đường dây quyết thắng" được hoan nghênh nhiệt liệt. Bạn Trung Quốc mời đội dự bữa cơm nhưng đội chỉ có một người, máy lấy ở tỉnh đội Lào Cai, xe tỉnh đội đón nhân viên thuyết minh... nên đành phải khéo léo từ chối. Chẳng ai nghĩ là có đội chiếu bóng nào lại ít người đến thế.

Năm 1969, để chuẩn bị cho "Đại hội Thi đua quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ", đội chiếu phim vào Khu 4, khi trở ra, xe bị lầy giữa rừng, không thoát được, ăn hết lương khô, mãi mới "may quá" được một xe tải kéo cho, đến nông trường cam ở Nghệ An, các cô gái nông trường đến ôm choàng các chàng trai của đội thơm lấy thơm để rồi tặng cho một xe cam, ăn đi đường về đến Hà Nội vẫn còn. Lượt ấy, đi qua cầu Ninh Bình bị máy bay Mỹ đuổi, bom bị bươm bướm nổ lẹt đẹt sau xe, phải mở hết tốc độ 100km/h mới thoát "chết". Khi đi qua ga Khoa Trường, đội phải "van lạy" mãi các o thanh niên xung phong mới "cho phép" xe đi, vì các o này bắt xe phải ở lại qua đêm chiếu phim cho các o xem... Cuối cùng, chàng cán bộ lái xe Nguyễn Quang Thích phải chịu "phạt", giơ má ra cho gần chục o  "chút chút"...

Cái "Liên đội chiếu phim" này của bộ đội Thông tin đã trở nên "huyền thoại"!

Thế mà đã gần 40 năm!

T.C-Đ.N

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005) 

31.8.26

Một thời để nhớ (3/3)

 Nguyễn Trọng Tân

Tiếp theo phần 2/3

Tiến mệt mỏi trở về quê. Chỉ còn chút trông đợi mỏng manh từ những lá thư bạn bè mà anh nhờ trước đây. Sự chờ đợi trở nên hết sức nặng nề. Chiều chiều mới thấy anh linh hoạt lên khi tiếng cọc cạch phát ra từ chiếc xe đạp cà khổ của người bưu tá già. Xe chưa đến ngõ, anh đã vọt ra. Biết nỗi lòng anh, bác đưa thư nhoẻn cười từ xa rồi an ủi:

- Bác với anh cứ phải kiên trì. Thế nào bác cũng lôi được cô ấy về cho anh.

Tiến cảm ơn bác, lòng buồn rượi trở vào nhà. Bố mẹ anh nhìn con thẫn thờ, thương lắm, nhưng không biết khuyên gì. Cuối đợt phép, trước hôm Tiến về đơn vị, mẹ anh kéo anh ra đầu nhà thì thầm:

- Mẹ hỏi thật con, các con gặp nhau, đã hứa hẹn gì chưa?

- Chúng con có với nhau những kỷ niệm còn sâu sắc hơn mọi lời thề nguyền mẹ ạ.

- Ừ thì mẹ hỏi anh thế. Bây giờ lạc nhau. Nó thì người thiên hạ, bóng chim tăm cá... Mà con gái mỗi tuổi lại đuổi xuân đi. Liệu nó có nghĩ như anh, hay đã chồng con đề huề rồi, mà anh thì cứ đêm ngày sầu héo?...

- Con tin Hà My. Những ngày con thập tử nhất sinh, Hà My vừa thay mẹ, vừa là chị gái, em gái chăm sóc, cứu con thoát chết. Con không thể phản bội cô ấy.

Mẹ Tiến khóc. Bao giờ nói chuyện tình duyên của anh, mẹ anh cũng khóc, Tiến thương mẹ, rất dễ mềm lòng trước nước mắt của mẹ.

Thôi thì tuỳ con. Bố, mẹ già rồi. Ý mẹ là muốn con lấy vợ ở quê nhà để được cậy nhờ.

- Lòng Tiến quặn thắt. Anh biết bố mẹ đặt rất nhiều hy vọng vào anh. Nhà cửa đất đai của tổ tiên, mồ mả ông bà, vợ chồng anh phải có trách nhiệm trông nom phụng thờ. Cả một đời nuôi con, đến lúc cha già mẹ héo, anh là người gách vác chính. Lấy vợ đi thoát ly, nghĩa là thoái thác bổn phận thiêng liêng của mình. Sự yên ổn, vui vầy của tuổi già nơi những người sinh hạ ra anh, sẽ bị xáo trộn. Dân làng sẽ cười chê. Mà người chịu tiếng ấy chính lại là mẹ anh.

Quê hương thiêng liêng và nhung nhớ, với Tiến đó là cái làng quê bé teo hẻo như đoạn ruột thừa bị kẹp giữa nơi tế dòng của con sông Hồng dữ tợn. Chiều chiều cái bến sông lầy thụt đất thịt pha cát, sục ngầu bởi đám trẻ chăn trâu đen đủi và nghèo đói. Chúng khuấy đảo, lặn ngụp một cách đầy thích thú trong làn nước phù sa đó đọc. Phía dưới kia nơi doi cát nhô mái đầu bạc phếch ra như một cái lá chắn, đám con gái lớn thẹn thò đứng ngâm mình dưới nước, vừa kì cọ, vừa e ấp đưa mắt về phía tụi con trai đang nô đùa như quỷ sứ. Cả trai lẫn gái đứa nào da dẻ cũng như lá chuối nướng. Tắm xong, nơi nhân trung, nơi hõm cằm cứ bờ lên một lượt phù sa, lại chạy vội vào vạt điền thanh thay quần áo. Nhóm nào, nhóm ấy theo con đường riêng về làng.

Đã bao năm rồi, cái làng bé nhỏ ấy dường như không hề đổi thay. Vẫn vẻn vẹn trên trăm nóc nhà, mà có tới hơn chục ngôi đền, miếu, đình chùa. Dòng họ nào cũng còn gia phả, bản đồ gia hệ. Phi nội, tắc ngoại, ngẫm ra có lẽ cặp việc nào cũng có họ xa với nhau. Dòng máu chảy trong người lớp con, cháu, chắt suy ra đều có cùng một cội gốc. Cái căn nguyên sâu xa ấy khiến quan niệm sống của làng Tiến vừa bền chắc vừa thủ cựu đến khó bề lay chuyển. Nhất cử nhất động của mỗi con người đều gắn với láng giềng, phải chịu mọi sự chi phối của dư luận cộng đồng. Cái riêng của mỗi người không thể đặt ra ngoài nền đời ấy. Bất luận thế nào, cứ phải ngấm ngầm tuân thủ những quy chế bất thành văn, mà bền chặt, kín bưng từ bao đời đã trở thành tập tục của làng.

Lấy vợ thiên hạ. Đó là sự thách thức và đối đầu với bao nhiêu điều tiếng, và vượt qua vô số ràng buộc đã trở thành luật lệ của làng. Nội một chuyện nộp cống cho làng - giờ gọi tên mới là đóng góp xây dựng quê hương - đặt ra cho ai lấy vợ thiên hạ: dâu trưởng năm trăm; thứ, thiếp ba trăm viên gạch chỉ để xây đường làng. Tất cả đều do nhà chồng phải lo, ngầm bị coi đây là nỗi nhục, là một kiểu nộp "vạ" mà cha mẹ dòng họ phải gánh chịu do không bảo được con trai.

Những điều đó đè nặng tâm trí Tiến trên đường trở lại đơn vị. Rồi một chồng thư bạn bè trả lời đầy thất vọng. Không ai biết Lê Hà My ở đâu. Tiến đã nghĩ đến cả một bất hạnh to lớn: Hay em đã nằm lại đâu đó trong chiến trường? Chiến tranh vẫn đè nặng trong anh nỗi hiểm hoạ. Ý nghĩa đó càng về sau càng choán ngợp tâm trạng anh.

Cuối năm ấy Tiến nhận được quyết định chuyển về học tại khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Anh lại về quê. Tin tức Hà My vẫn mịt mù vô vọng. Một tháng ở nhà, anh phải trực diện với những thúc bách quyết liệt của bố mẹ và họ tộc. Anh hốt hoảng thật sự khi mẹ anh cứ kiên tâm thúc ép anh:

- Kỳ này anh phải lấy xong vợ, mẹ mới cho đi. Mọi thứ lo sắm đủ rồi. Trong làng trong xã, chấm chỉ cô nào, gật một cái là xong. Làng mình giờ cũng tiến bộ lắm, cả hỏi lẫn cưới chỉ nửa tháng là xong, rõ gọn xoét.

Tiến bật cười, mẹ anh cười theo mắng yêu "Cha tổ bố anh chứ, còn bé bỏng gì cho cam. Tồng ngồng mãi, làng xóm người ta chửi cho". Rồi bà kéo ghế lại ngồi cạnh anh vẻ đầy bí mật: "Nhà bà Xuyến có con cái Mây, trông đến là kháu. Mỏng mày, hay hạt mà lại ngoan nết. Nó là bạn con Hằng nhà mình đấy. Từ dạo con về, nó cũng có ý tứ cả đấy. Mẹ nhắn rồi, tối nó lên chơi..."

Tiến như chạm phải nọc bò cạp:

- Chết, mẹ làm thế nhỡ...?

- Dào ôi, nhỡ với chả nhàng. Anh cứ gặp, cứ tìm hiểu, ai đã đóng gông anh vào mà lo.

Tiến thực sự phải lâm trận. Một trận đánh mà phía anh thì hết sức đơn độc. Vũ khí cuối cùng là những lời thề hẹn với Hà My cũng trở nên thật yếu ớt mỏng manh trong chính tâm linh anh. Mẹ anh, rồi họ hàng bè bạn hối thúc, động viên anh bằng một quyết tâm bền bỉ hiếm thấy.

"Ôi Hà My! Lúc này em ở đâu? Em còn sống hay đã chết? Em có cảm nhận trong sâu thẳm lòng mình chút nào nỗi buốt đau, lo sợ đến cháy bỏng về anh về em?"

Hình ảnh và tấm tình người con gái ấy cứ khắc khoải vừa như hạnh phúc tuyệt đỉnh vừa khiến anh thảng thốt, lo sợ như đứng trước một tai ương đời mình. Có lúc nó như sức mạnh tiếp cho anh vùng vẫy vứt bỏ tất cả, chối từ tất cả để chờ đợi, săn tìm cô. Song, mỗi đêm nghe tiếng thở nặng nhọc của mẹ, Tiến lại thấy mình nhẫn tâm, vô ơn thế nào.

Và một đêm, trong "hội nghị bất thường" của cha chú trong tộc hộ, anh đã tặc lưỡi. Cái tặc lưỡi tưởng như giản đơn ấy đã trói buộc Tiến gắn bó cuộc đời với một người con gái khác. Tiến không còn biết mình vui hay buồn. Người anh bải hoải. Mọi ý nghĩ cứ như của người khác. Điều an ủi duy nhất là khi anh bằng lòng đánh đổi hạnh phúc của riêng mình cho hạnh phúc chung của gia đình. Bố mẹ anh đã vui mừng đến ngần nào...

Hết

N.T.T

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

29.8.26

Một thời để nhớ (2/3)

Nguyễn Trọng Tân

Tiếp theo phần 1/3

Dương Văn Minh buộc phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện vào lúc đơn vị phối thuộc của Tiến còn cách Sài Gòn ngót trăm cây số. Mẩu tin ngắn nghe không trọn vẹn, bởi chiếc máy thu thanh ậm ạch, câm tịt từ sáng, chẳng ai buồn ngắt pin, chợt ré lên- phát tiếng.

Chiếc Jeép, chiến lợi phẩm cũ kỹ mà tổ trinh sát của Nguyễn Tiến "nhặt" được ở cửa Thuận An, lúc này cũng đang gắng gỏi bươn về phía trước. Trước và sau, bên cạnh nó, đoàn xe quân sự đủ kiểu lao như gió cuốn. Trên thùng xe, bệ pháo, người lính mặt mày đen nhẻm, nhưng không kìm nổi niềm vui sướng. Họ huơ mũ, giơ súng, la hét trêu chọc mỗi khi vượt qua cái xe Jeép cà khổ.

- Nhanh lên chứ! Dương Văn Minh dọn tiệc rồi...

- Bĩnh ra đường thế, bao giờ mới tới hả...

Quanh đường vẫn cuồn cuộn những cột khói đen bốc cao. Đạn phòng không thi thoảng nở như hoa súng trên nền trời xanh lơ, và cả tiếng ầm ào nổ xa của đại pháo 130 ly... Nhưng dường như không một ai quan tâm tới nữa. Trong đầu óc Nguyễn Tiến cũng chỉ mường tượng về một Sài Gòn lần đầu biết đến. Nó sẽ hiện ra thế nào nhỉ qua tấm kính chắn gió nham nhở vết bùn đã khô trắng toé ra tựa hoa cà, hoa cải.

... Chập choạng tối, cách Sài Gòn hai chục cây số, xe phải chạy chữ chi giữa những đụn thép gai ngổn ngang. Từng bãi áo quần, súng đạn của lính nguy trút bỏ. Cả những xác người còn vắt mình trên công sự. Đêm, Sài Gòn mộng mị trong vầng sáng nhợt nhạt của đèn huỳnh quang. Chiếc xe Jeép thành điểm chú ý của các ông bố, bà mẹ. Họ vây quanh nhìn ngó, hỏi han. Một bà cụ lưng còng gập, bàn tay nhăn nheo, khô khốc run rẩy sờ lên áo, lên mặt Tiến, tay kia giờ ra tấm hình đã ổ vàng, nhợt nhạt.

- Mấy chú có thấy ông Tư nhà tui vô đây không? - Tất cả tốp chiến sĩ lặng đi - Sao các chú im lặng hå. Ô mà thôi các chú không biết ổng, thì tui đi hỏi nơi khác hỉ...

Bà má đi rồi, Tiến quay nhìn các bạn. Hình như ai cũng khóc. Những giọt nước mắt hiếm hoi của người lính lặng lẽ chảy. Chẳng ai nỡ ngăn lại, lau đi...

*

Cuối năm, mấy trường đại học ở Sài Gòn mở cửa lại, Nguyễn Tiến nộp đơn thi và trúng tuyển vào khoa Văn, Đại học Tổng hợp. Anh chuẩn bị cho chuyến đi Bắc thăm gia đình rồi trở lại đó học tập. Trước ngày lên đường, Tiến nhận được lá thư khá dài của cha anh. Ông cụ khuyên anh ra miền Bắc học tập. Anh là con trai duy nhất trong nhà, nên có trách nhiệm trông nom cha mẹ. Bổn phận đó ngàn đời đã đặt lên vai những đứa con như anh. Rồi chuyện vợ con của anh, tương lai của đứa em gái út, gần hai mươi tuổi rồi nhưng nó chưa dám nhận lời ai vì nước có chảy, bèo mới trôi. Cái lý của quê hương, của cha mẹ là vậy. Nếu cuộc chiến tranh còn tiếp diễn thì khác, nhưng bây giờ đã hoà bình. Bao nhiêu dự định, bao lời hẹn hò, thề thốt đều nhằm tới cái đích: ngày đất nước thống nhất. Bây giờ anh chẳng còn lý do gì để nấn ná.

Đọc thư bố, Tiến mất ngủ một đêm. Suốt mấy tháng sau ngày về Sài Gòn, anh đã đi tìm Lê Hà My, nhưng nàng biệt vô âm tín như chưa bao giờ nàng có mặt trên thế gian này vậy. Những ngày ở rừng có lúc giống như một giấc chiêm bao, khiến cho anh phải giật mình xót xa.

Trên chuyến ô tô ra Bắc, hy vọng tìm được lại Hà My lại làm anh bồn chồn và có lúc hứng khởi. Ở mỗi chặng nghỉ, Nguyễn Tiến lại tung đi những lá thư cho bạn bè, nhờ họ tìm Hà My về cho anh. Nhưng vẫn bặt vô âm tín. Tiến chỉ còn hy vọng vào lá thư anh gửi về phòng Bưu điện huyện Ứng Hòa. Anh đã mất khá nhiều thời gian để viết lá thư đầy những lời giải thích dài dòng:

"Thưa các đồng chí kính mến!

Tôi là một người lính trở về từ chiến trường. Qua thư này, tôi cầu mong các đồng chí tìm giúp cô Lê Hà My, 21 tuổi, chiến sĩ Thông tin mặt trận B1. Quê huyện Ứng Hoà. Tôi không nhớ tên xã, nghe nói nhà cô gần chợ Cháy... Nhận dạng: người nhỏ nhắn, tầm thước, mặt trái xoan. Đặc biệt tóc rất dày, đen, trên gò má bên trái có một cái sẹo duyên rất mờ, nhỏ chạy dài..."

Nửa tháng sau đó Tiến khổ sở vì chờ đợi. Chiều nào anh cũng lục tìm trong hộp thư ở phòng Văn thư đơn vị. Nhưng ý nghĩ tốt đẹp và giản đơn ấy của người lính không có hồi âm.

Hết đợt tập huấn, Tiến về quê. Trong bao nhiêu niềm vui và cảm động nhận được từ quê hương, đêm đêm hình ảnh Hà My vẫn hiển hiện trong anh. Ngày thứ năm của đợt phép, Tiến mượn xe đạp về Ứng Hoà. Đến cơ quan huyện đội, rồi vào bưu điện Tiến mới thấy hết nỗi khó khăn. Vùng quê Hà My thật trù phú. Xóm làng san sát biết hỏi thăm về đâu. Tiến lang thang suốt một ngày từ Vân Đình đến chợ Cháy. Đúng phiên chính, anh căng mắt nhìn khắp mặt những cô gái đi chợ ngày hôm đó. Từ cụ già đến em nhỏ, đều ái ngại lắc đầu trước cái địa chỉ hết sức mù mờ mà anh đem ra hỏi thăm về cô. Một bà cụ phúc hậu mời anh về nhà nghỉ lại. Hôm sau anh dắt xe theo một chị phụ nữ chỉ đường cho anh tới một xóm giữa đồng. Nhưng nỗi hân hoan bỗng xẹp ngay khi cô My thứ nhất không phải Hà My của anh. Bà con trong cái xóm đồng heo hút ấy xúm lại an ủi, cố nhớ ra những người quen biết, hướng dẫn anh tìm thêm hai địa chỉ nữa trong vùng. Tận chiều tối hôm ấy, cả ba cô gái tên My, cùng đi bộ đội về, ở ba xã khác nhau, đều phải tiếp chuyện anh, đều không giúp anh thêm được chút hy vọng nào.

Còn nữa

N.T.T

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

27.8.26

Một thời để nhớ (1/3)

Nguyễn Trọng Tân

Cả một vùng rộng lớn ở mạn đông nam Khu Năm được giải phóng nhanh đến không ngờ. Suốt dải Đắcpet - Khâm Đức ngược lên vệt ranh giới tranh chấp sau Hiệp định bảy ba (1973) sạch lầu căn cứ địch. Tin đồn về một cuộc chuyển quân xuống đồng bằng kích thích mạnh từng người lính. Nỗi háo hức không rời họ cả trong giấc ngủ hiếm hoi. Linh cảm về một chuyện gì đó thật lớn lao, xong không phải là niềm vui xổi, bốc trời như đợt rời xanh năm Mậu Thân. Niềm hy vọng về một thắng lợi toàn diện vương trên gương mặt căng thẳng của các cấp chỉ huy và lặng thầm cháy nơi ánh mắt từng chiến sĩ. Lê Hà My đi được khoảng hai tuần, Nguyễn Tiến cũng được biên chế vào đơn vị Trinh sát Thông tin của một sư đoàn mới từ miền Bắc vào. Đơn vị anh hành quân ngược ra tới Binh trạm 34 thì lật cánh xuống Thừa Thiên - Huế. Suốt chặng đường hàng trăm cây số, xe chạy như ma đuổi, Tiến vẫn không phút nào quên tìm kiếm Hà My. Anh sục tìm các đơn vị Thông tin, nơi tiểu đoàn dừng chân song tin tức mịt mù của cuộc chiến không giúp anh biết gì hơn.

*

Tiểu đội trinh sát cắt rừng xuống huyện Phú Lộc. Nhiệm vụ của họ là ém sâu trong vùng địch, làm tai mắt cho pháo binh quân đoàn đánh chặn các đơn vị địch đang co cụm, hòng tạo lá chắn quân ta từ đèo Phước Tường tới chân đèo Hải Vân.

Cơn rùng rùng sụp đổ theo trận Buôn Ma Thuột của địch tại vùng chiến thuật I, đã chững lại. Chúng trụ quân khá vững tại các cứ điểm phía nam Huế. Những trận đánh tiếp theo thực sự gay go. Người ta có cảm tưởng dải đất mỏng vài chục cây số chiều ngang sát vùng duyên hải đã nát nhừ vì bom pháo.

Tiến đi trước, theo anh là năm người còn lại sau trận pháo chiều qua. Họ đi một hàng dọc, chậm chạp. Trên người họ lủng củng ba lô, súng, lựu đạn, bi đông đựng nước, lương thực và khí tài đo xa... Hai bên đường dày đặc các hố đất mới hình phễu. Những trận pháo như cơn mưa đá mùa hè, chợt ập tới đầy chết chóc rồi lại tan biến đi như trò đùa.

Qua khỏi một tai núi, Hiến, một chiến sĩ trong tổ reo lên:

- Sắp tới biển rồi nè! Mùi biển trong gió đó!

- Biết rồi! Mà cậu đừng gào lên thế. Từ đây xuống phải hết sức chú ý.

Cả tiểu đội bỗng chốc phơi mình bên sườn núi. Từ mép rừng này xuống tới hòn Mõm Bò toàn loại cây tạp và dây leo. Xen kẽ lưa thưa là những chòm cây chỉ cao chừng ba, bốn mét, lá cằn khô.

Vượt qua một khoảng trống vàng au màu thảm thực vật cháy, Tiến chợt gào lên:

- Pháo kích!

Cả tổ chúi xuống, đúng là tiếng nổ dậy đất phía sau nơi họ vừa đi qua. Tiến nằm nghiêng, lưng dựa vào một vỉa đá thấp. Mắt anh ngước nhìn trời. Một đám mây trắng bay qua. Mặt đất nảy liên hồi cùng với tiếng rít lạnh gáy trên đầu. Tiến cảm tưởng mình như con kiến rơi trên mặt trống đang bị những cái dùi liên tiếp giáng xuống. Từng vòng sóng rờ rỡ khuếch tán buốt ngắt trên đường đạn bay. Một bức thành khói lửa nơi bìa rừng cứ dâng cao mãi lên đen ngòm. Trong đó từng đám cây, rễ chùm ngoằn ngoèo lả tả như có bàn tay phù thủy nhổ bật lên. Chuỗi nổ tưởng chừng vô tận. Rồi lại chợt tạnh ngắt. Nỗi yên ắng chứa đầy triệu chứng chẳng lành. Có ai đó hét lên:

- Nó chuyển làn đấy, chạy đi!

Tiến nhổm dậy. Trong làn khói đen là là, bóng Tiến khum khum chạy. Không hiểu sao anh bật hô:

- Nằm xuống... không kịp đâu...

Đầu Tiến đập xuống mặt đất, váng óc. Triền đồi nứt toác, tênh hênh. Mấy lùm cây vừa còn đó đã sạch bong. Bây giờ thực sự như đàn ếch nhảy múa trong khói đỏ tựa máu. Ngay trước mặt Tiến là một vực sâu há hoác hình phễu. Khói phơ phất đùn ra qua khẽ đất. Đất trời chợt như điếng lịm. Tiến căng hết đồng tử và không hiểu điều gì xui khiến, anh nhào vào cái miệng trống hoác đó. Lòng hố hôi hổi nóng. Chưa hết cơn kinh sợ, nhưng anh cảm thấy yên tâm khi dán mình như con thạch sùng trong cái hố pháo nông choèn. Anh nhớ có ai bảo rất hiếm khi hai trái đạn rơi vào cùng một điểm. Cơn cuồng nộ còn gầm gào một hồi nữa rồi tất cả trở lại lặng tanh. Tiến giơ tay áo quệt ngang mép. Miệng nhè ra một miếng bùn nổi bọt trắng lẫn máu. Nhưng chân tay vẫn nguyên lành, anh rốn rén bò lên miệng hố. Đầu tiên vật đập vào mắt anh là thân thể cong gập tựa con tôm của Hiến. Hai tay thu trước bụng dưới như cố gắng một vật gì đó. Tiến chồm lại. Rồi cả Đông, Cẩn, Hàm... Họ quỳ xuống quanh cái xác của người đồng đội xấu số. Một cảnh hãi hùng. Máu tứa ra, đã đông lại lầy nhầy. Mảnh gang nhọn dài chỉ còn ló một mẩu găm trên bụng.

*

Chiều muộn, tổ trinh sát mới chọn được một địa điểm đặt đài quan sát. Bằng ống nhòm, họ đã nhận ra từng dãy xe quân sự được bố trí trên đường số 1. Xa xa mặt biển xanh thẫm phẳng lỳ. Cần mở máy liên lạc với trận địa quân đoàn. Tất cả mọi việc đã chu đáo cho một trận đánh, chỉ ít giờ nữa sẽ nổ ra.

Phút nhàn rỗi hiếm hoi, nhưng cả tiểu đội trinh sát vốn có tiếng vui nhộn, không ai nghĩ tới chuyện đùa tếu. Không phải do những điều khủng khiếp họ vừa gặp phải. Ngay trong máu lửa, chết chóc, tính khôi hài vẫn có sức làm cho nỗi bi thảm lùi xa. Khoảng trời xanh vô ngần với gió với ánh sáng rờ rỡ cùng tiếng cười và những câu chuyện đôi khi tục tĩu, ác khẩu giúp họ vượt ra ngoài sự tra tấn đến điên loạn của chiến tranh. Nhưng tính trào lộng không phải là cái kho vô tận của một đời người bất bình thường. Nó cứ khô kiệt dần khiến nụ cười trở nên méo mó, chua đắng. Nó là tín hiệu của một sự băng hoại thần kinh, mà khi người lính còn bận rộn với cái sống, cái chết, họ chưa giải thích, nhận thấu được.

Nguyễn Tiến nằm như cái xác trên võng, mắt nhìn không chớp lên vòm trời đen ngòm thủng lỗ chỗ. Anh nghĩ về trận đánh sắp tới, về những ngày đang đến gần. Có thể đây là trận cuối cùng, những ngày cuối cùng của chiến tranh. Rồi sau đó, sẽ ra sao nhỉ? Mông lung quá. Trong đầu chỉ rặt những âm thanh đơn điệu của đạn nổ. Tiến biết những giờ khắc của tháng năm này, những bạn bè của anh, rồi cả Lê Hà My... sẽ trở lại quần tụ cùng nhau trong một cuộc chiến đấu khác.

Từ phút đó trong đầu óc Tiến chỉ còn lại hình ảnh Hà My. Mới hơn một tháng qua mà anh thấy như nhiều năm rồi hai người chưa được gặp lại.

Còn nữa

N.T.T

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

24.8.26

Nhát búa

Phạm Huy Thưởng1

Trong biểu diễn sân khấu, đạo cụ là một loại vật dụng đặc biệt quan trọng. Điều đó ai cũng biết, vì thế ở Trung đoàn 132, lính văn nghệ rất quan tâm và có rất nhiều sáng tạo trong việc chế tạo cảnh và phông diễn. Từ khẩu súng ngắn, con dao găm, đến bộ khung cảnh đều hết sức tỉ mỉ. Và đạo cụ của ai thì người ấy phải lo chế tạo, bảo quản, mang theo trong khi đi diễn... Những phông cảnh đạo cụ lớn thì do cả đội thực hiện. Như vở kịch "Lý Tự Trọng” của Phạm Khắc Vinh, phông cảnh gồm bốn cái khung gỗ căng vải cỡ to nhỏ khác nhau. Hai tấm tấm vẽ những mảng tường gạch xây. Hai tấm khác vẽ những mảng tường xây bằng đá hộc. Xoay ngang đổi dọc những tấm này để bày trên sân khấu khi thì là một góc cảng Sài Gòn, khi là một mảnh sân nhà, lúc lại là khung cảnh nhà tù.

Anh em tuyên truyền văn hoá xung kích (TTVHXK) đi phục vụ bộ đội mình thì phải tới tận các công trình đường dây mà bộ đội đang thi công. Các công trình đường dây từ ngày có chiến tranh phá hoại lại ngày càng vào sâu các vùng núi phía tây. Các chuyến phục vụ của đội càng phải trèo đèo lội suối, vì thế bộ phông khung cảnh cũng phải chế tạo sao cho anh em mình có thể cuộn tròn vác vai được. Người sáng tác cho bộ đội ngay từ khi hình thành tác phẩm đã phải nghĩ tới tất cả những thứ đó. Bởi tác phẩm của anh có thể không sử dụng chỉ vì không thể thực hiện được.

Tuy nhiên mà có những thứ rất nhỏ lại hay bị lãng quên ví dụ: chiếc búa đóng đinh. Và chiếc búa đinh cũng trở thành kỷ niệm khó phai giữa Nguyễn Huy và Phạm Khắc Vinh.

Sân khấu đã vào màn chót của vở kịch "Ông già giao liên" (kịch bản Phạm Khắc Vinh). Tên trung uý (do Vinh thủ vai) hô lính đem ra một tấm ván. Tấm ván được kê đứng giữa sân khấu. Tên trung uý đưa ông già giao liên (do Huy thủ vai) tới đứng bên tấm ván. Y lấy ở trong hộp ra những chiếc đinh. Y giơ cao ngắm nghía cũng để cho khá giả thấy rõ đây là những chiếc định bảy phân thứ thiệt. Y gại gại đầu ngón tay vào chiếc định xem có sắc nhọn không. Y trói cổ tay ông già vào một cái mấu trên tấm ván. Tay phải y với lấy chiếc búa, tay trái cầm chiếc đinh đặt đầu nhọn lên ngón tay ông già, y giáng một nhát búa lên chiếc đinh đồng thời quát to:

- Có khai không lão già?

- Có khai không? Lão cứng đầu?

Tấm ván rung mạnh với một tiếng động vang lên do nhát búa đập vào. Ông già gồng người lên chịu nhát búa đập.

Y đặt chiếc đinh thứ hai. Một nhát búa đập với tiếng quát:

- Lão che giấu cộng sản ở đâu?

Theo kịch bản thì sau ba nhát búa các chiến sĩ Giải phóng và cô du kích xông vào hạ tên trung uý giải thoát cho ông già giao liên.

Cô du kích (do Minh Chiến thủ vai) miệng kêu: "Ba ơi” - rồi chạy vội tới bên ông già. Cô đỡ vai ông già và nhanh chóng đổ một chút thuốc đỏ lên đầu ngón tay ông. Cô vừa đỡ người cha, đưa lên cao những ngón tay đỏ máu của ông già đi ra trước sân khấu. Cô rên rỉ hỏi:

- Cha ơi. Cha có đau lắm không?

- Đau một chút thôi con gái ạ, nhưng cha đã hoàn thành nhiệm vụ.

- Dạ. Cha đã bảo vệ an toàn cho các chiến sĩ Giải phóng - Rồi cô hỏi liên tiếp: "Cha có đau lắm không?"

"Cha có đau lắm không?". Đó là một lời thoại trong kịch bản. "Đau một chút thôi con gái ạ" - Cũng là một lời thoại, song với câu này ông già giao liên đã nói chưa thiệt lòng. Con gái ông, cô binh nhất Minh Chiến cũng biết là ông nói chưa thiệt tình. Đúng ra ông phải nói là: "Đau lắm con ạ. Đau chết người đi được con ạ". Vì cô đang đỡ bàn tay Nguyễn Huy với mấy đầu ngón tay đã tím lịm, sưng vù lên. Khán giả ở dưới nhìn lên không rõ chứ anh chị em sau cánh gà nhìn thấy hết. Tên trung uý đã giáng những nhát búa thật sự trượt qua đầu đinh, đập lên đầu ngón tay ông già giao liên. Và bây giờ đầu ngón tay đang biến thành mầu tím dưới lớp thuốc đỏ.

Được cái bộ đội mình xem không xét nét kỹ lắm. Vở kịch "Ông già giao liên" đã lên sân khấu hàng trăm lượt. Bộ đội và bà con người ta chỉ có vỗ tay khen ngợi, chẳng có ai thắc mắc: tên trung uý mắm môi mắm lợi đóng chiếc đinh lên đầu ngón tay ông già, vậy mà cô con gái lại tay không, chẳng cần nhổ đinh cũng đưa được ông già ra trước sân khấu.

Đúng là tên trung uý ác ôn đã đập những nhát búa dã man như thật. Tên trung uý càng nhập vai tốt bao nhiêu thì ông già càng đau bấy nhiêu. Và ông cũng khỏi phải thể hiện nội tâm dữ dằn lắm. Mấy cú liên tiếp đánh vào đầu các ngón tay không oằn người thì có hoạ anh chàng đóng vai ấy là khúc cây.

Vậy mà bao nhiêu lần Nguyễn Huy không ngủ trưa làm cái búa gỗ, anh còn sơn màu đen và trắng như thật. Nhưng chỉ diễn được một vài lần là chiếc búa gỗ rơi đâu mất. Đêm diễn tới lại chạy đi mượn ở đại đội chiếc búa thật bằng sắt. Lính đường dây thì đơn vị nào cũng có búa. Mà thiệt tình chiếc búa sắt đóng đinh kêu to hơn búa gỗ và các vai kịch thể hiện nội tâm cũng có vẻ "thật" hơn cả búa gỗ. Những nhát búa ấy khiến cho cả Vinh và Huy gần nhau, thân nhau hơn với anh chị em khác.

P.H.T.

Rạch Giá, 28-8-2004

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

---------------------------------------

1 Phó Giám đốc Đài Phát thanh - Truyền hình Kiên Giang. 

21.8.26

Mặt trận vô hình (2/2)

Tiếp theo phần 1/2

Trọng Tân (Kính tặng cán bộ, chiến sĩ Thông tin liên lạc anh hùng tham gia Chiến dịch mùa Xuân năm 1975 lịch sử)

Có tiếng sột soạt... Bỗng tay Doanh dừng lại. Một tín hiệu nhỏ nhoi xa xăm thoáng lọt vào đội tai tinh tường của anh. Mọi người nín thở chờ đợi và hi vọng.

Đúng cự li. Tiếng gọi tha thiết từ X15 vang lên dần:

- X4 đâu? X4 đâu?

Tiếng Doanh reo lên:

- X15 phải không? Có X15 rồi!

Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Mệnh lệnh từ Bộ chỉ huy lại rộn ràng, khẩn trương trong niềm vui chung của cả trạm:

- Hàng quân ngay. Dùng hoả lực mạnh chặn giặc không cho chúng dồn về Cheo Reo và Bình Dương... Đường 21B, đường 7...

Bộ chỉ huy lệnh cho thông tin tiếp sức đi với các cánh quân truy đuổi địch.

A8 vừa triển khai xong lại được lệnh cuốn theo Sư 10 về Khánh Sơn. Tiếp sức di chuyển theo về điểm cao 435... Mọi đồ dùng cái gì có thể bỏ lại được thì bỏ, mọi phương tiện tận dụng được là đưa vào phục vụ cho cuộc chiến đấu đang phát triển như bão cuốn.

Từ vùng 2 chiến thuật quân địch tháo chạy hoảng loạn. Trên đường 21B, đường 7, Cheo Reo bọn tàn quân địch đang tranh nhau dồn về Đà Nẵng. Quân đoàn 2 địch ở Pleiku, Sư 22 của Quân đoàn 1 và các lực lượng khác của địch cũng bỏ trận địa chạy về đây... Cheo Reo trở thành cái túi khổng lồ đựng đủ các sắc lính nguỵ.

Tiếng chuông điện liên tục reo vang. Bên kia đầu dây, đồng chí Đại tướng Tư lệnh Chiến dịch với giọng nói ấm áp, điềm đạm thông báo tình hình và lệnh cho các đơn vị triệt để sử dụng các phương tiện vận chuyển: xe đạp, Honđa, ôtô đưa bộ đội lên Đường 7 đánh chặn không cho địch co cụm về phía Đông.

Quãng đường hơn bảy mươi cây số chứng kiến một cuộc chuyển quân rất đa dạng đẹp mắt, hùng hậu và vô cùng thần tốc của bộ đội ta.

Thế là khắp một vùng Tây Nguyên, khu Năm rộng lớn đã được giải phóng. Cả một bộ máy chiến tranh đồ sộ mà bọn Mỹ và chư hầu dày công xây dựng suốt hai mươi năm qua đã bị cuộc chiến tranh nhân dân nghiền nát. Hàng chục vạn đồng bào các dân tộc thoát khỏi bàn tay đàn áp, kìm kẹp của bọn ngụy quân ngụy quyền đã ngự trị trên vùng rừng núi giàu đẹp này như những lãnh chúa vô cùng tàn bạo.

Những đêm cuối tháng tư lịch sử dường như không ai ngủ nổi. Công việc dồn dập và ai cũng cảm thấy náo nức lạ thường. Sài Gòn đã ở phía trước. Hang ổ cuối cùng của lũ cướp nước và bọn tay sai ngoại bang đã chia cắt Tổ quốc ta hơn hai mươi năm trời đã hiện lên trong khoảng sáng nhợt nhạt run rẩy của ánh điện những ngày tàn của chế độ ngụy quyền. Tin chiến sự làm cho mỗi người càng cảm thấy nóng lòng muốn bay ngay tới đó...

- Liệu đơn vị mình có được vào Sài Gòn không? Bao giờ thì có lệnh vào?...

Ai cũng chung một câu hỏi như thế. Ai cũng mong mỏi cái phút giây lịch sử đó có mặt mình trong đội ngũ những người đầu tiên vào giải phóng thành phố. Từng đoàn chiến xa, pháo tự hành ẩn kín mình dưới những hàng cây cao su nổi tiếng của vùng rừng không xa những chiến tuyến mới dựng lên của quân nguy hòng chặn đường tiến quân của ta vào Đồng Nai, Sài Gòn. Từng tốp chiến sĩ túm tụm quanh xe. Phía thành phố, tiếng nổ của trọng pháo vọng lại nghe bồn chồn cả ruột gan.

Thoáng thấy bóng vị Tư lệnh Quân đoàn 3, tất cả đều nhao lên. Ông nhanh nhẹn đi dọc đoàn quân đang đợi lệnh. Vẫn chưa có lệnh. Ai cũng thầm nghĩ thế khi bóng dáng của Tư lệnh khuất sau cụm xe chỉ huy. Lại bàn tán cãi vã râm ran.

Phạm Ngọc Thụ đóng sầm cửa xe bước xuống, đi tới chỗ các chiến sĩ A8. Lúc nãy vừa thấy bóng Tư lệnh, anh ta đã nhanh chân phóng lên buồng lái.

- Chưa đi đâu bác "tài" ơi! Lại đây nói chuyện cho vui nào.

- Ôi dào - Một giọng chán nản - Mà có đi thì tăng rồi pháo chứ đâu đã tới tụi Thông tin mình.

- Cứ khề khà như các tướng thì vào thành mà "nhặt ống bơ" cũng không còn đâu. Nghe nói thằng 203 nó nằm ở Nước Trong rồi - Thụ nói như trút nỗi thất vọng vô cớ vào chỗ anh em đang sôi nổi trò chuyện.

Một đồng chí liên lạc người nội thành mặt non choẹt đang xăm xăm bước về Ban chỉ huy. Nhiều tiếng gọi với theo:

- Nhỏ, đi đâu mà hớt hải vẻ quan trọng vậy? Vào Sài thành chuyến này có tìm thấy má thì tha hồ mà bú tí nghe.

- Thủ trưởng con ơi, có gì tiết lộ cho anh em chút xíu nào?

Tiếng cười rộ lên. Đồng chí liên lạc mặt đỏ bừng vừa chặt vừa đấm gió về phía tốp lính. Một thoáng sau Tư lệnh Quân đoàn quay lại. Niềm vui sướng trong ông khó giấu nổi những cặp mắt chiến sĩ đang chờ đợi một mệnh lệnh tiến quân. Mọi người đều cảm nhận thấy cái phút ấy đã đến. Tư lệnh cố kìm tiếng nói mình cho khỏi rung lên:

- Các đồng chí! Bộ chỉ huy Chiến dịch đã phát lệnh tiến vào giải phóng Sài Gòn. Và Quân đoàn ta được nhận một vinh dự vô cùng to lớn: Thay mặt toàn quân cắm là cờ chiến thắng của Đảng, Bác kính yêu lên nóc Dinh Độc Lập...

Tiếng ông như reo như hát âm vang rất xa giữa rừng cây chuyền đến mọi người nỗi xúc động khó tả. Hàng quân lặng đi trong chốc lát rồi lại bùng lên những tiếng vỗ tay, tiếng bước chân sầm sập tạo nên lớp lớp sóng rung động khắp rừng.

- Cờ đâu? Sao lúng túng thế kia...

- Có lệnh cắm cờ rồi. Nhanh lên các ông ơi...

Tiếng ồn ã, cửa xe rầm rầm đóng lại và một vài chiếc đã rú máy. Cán bộ tuyên huấn Quân đoàn chạy như cờ ông Công, miệng la hét ầm ĩ:

- Xe kìa, cờ đâu? Các tướng thông tin, cờ gì mà nghiêng ngả thế kia...

Đội ngũ tiến quân sẵn sàng. Tốp xe thông tin tiếp sức của chúng tôi nhập vào đạo quân lao vùn vụt về phía mặt trận đang bao quanh thành phố.

*

Sài Gòn ngập chìm trong biển người, xe, pháo. Nhiều cột khói đang còn bốc lên trên các căn cứ vừa bị tiêu diệt. Xác giặc, súng ống và quần áo dù loang lổ ngổn ngang trên khắp các ngả đường vào thành phố. Những cao ốc, building cửa đóng im ỉm. Từng dãy cờ ba sọc ngụy in la liệt trên khắp các mặt nhà, cổng, ngõ. Giữa biển người đang hò reo chào đón chúng tôi, không ít những cặp mắt thất đảm lơ láo của bọn quân, tướng nguy vừa rũ vội bộ đồ nguỵ binh tội lỗi.

Con đường rộng lớn dẫn thẳng tới Dinh Độc Lập lúc này đang tắc nghẽn vì xe và những vật chướng ngại do bọn lính dựng lên. Khu vườn hoa trước cổng Dinh chật kín người: Cái "Phủ Đầu Rồng" nghiêm mật trước đây ít người được lai vãng tới gần, nay đang chìm dưới ánh sáng của một hệ thống đèn pha mạnh và trong tiếng reo vang của hàng ngàn đồng bào từ lâu mong mỏi được chứng kiến cái giờ phút sụp đổ của bọn bán nước. Cánh cổng sắt bị xe tăng húc đổ đã được kéo dẹp sang bên. Bao nhiêu ánh mắt tò mò thán phục nhìn vào các chiến sĩ Giải phóng đang bảo vệ quanh Dinh...

Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975 đang say trong chiến thắng, nhưng chúng tôi, những người lính thông tin vẫn chưa có một phút rảnh rỗi để ngắm nhìn gương mặt bà con đang rạng lên sung sướng vì niềm vui giải phóng. Hàng chồng điện đặc biệt quan trọng đang chờ làn sóng thông tin báo cáo lên Trung ương Đảng và đồng bào cả nước và đảm bảo chỉ huy từ Bộ tư lệnh Chiến dịch tới các mặt trận trên toàn miền... Những khối máy nặng, bình ắc-quy, bảng điện lại nhanh chóng được dỡ ra. Chiều cao ăng-ten được nâng lên hết cỡ, nhưng vẫn không thể bắt được liên lạc. Không có cách gì khác, chúng tôi quyết định đưa toàn bộ khí tài lên tầng năm và đưa cột ăng ten lên nóc Dinh Độc Lập. Phiên liên lạc lịch sử này của ngành Thông tin tiếp sức mang nhiều nét thú vị và khá độc đáo. Cỗ máy 401 mang số hiệu "043807" ngồi chễm chệ trên mặt chiếc bàn rộng loè loẹt những tranh ảnh hở hang của mấy cô đào Nhật, Mỹ trong phòng tên Thiếu tướng Trần Văn Minh (phụ trách nội trị của chính quyền Thiệu). Anh em chúng tôi gạt những sản phẩm văn hóa đồi trụy ấy của chủ nghĩa đế quốc sang một bên và bắt tay vào triển khai liên lạc.

Trên nóc toà nhà, cột ăng-ten cao vút bên cạnh lá cờ quang vinh mà tổ xe tăng do đồng chí Bùi Quang Thận chỉ huy cắm lên lúc 11 giờ 30 phút ngày hôm nay. Dây ăng-ten được dòng xuống phòng đặt máy.

Đây là một phiên liên lạc đặc biệt vượt ra khỏi phạm vi lí thuyết mà khí tài tiếp sức hiện có cho phép. Chúng tôi đã báo những tin vui: Sài Gòn được giải phóng, toàn bộ nội các Dương Văn Minh đầu hàng cách mạng vô điều kiện... qua một chặng đường dài tới 9 trạm tiếp sức tại Sài Gòn ra Hà Nội.

Bên cạnh lá cờ cách mạng đang tung bay trước gió, cây cột ăng-ten tiếp sức đứng sừng sững trang nghiêm và thầm lặng tung lên trời làn sóng điện báo tin vui rộn ràng đất nước. Một hình ảnh tuyệt vời làm rung động trái tim những chiến sĩ đã từng trải trong khói lửa của cuộc chiến tranh giải phóng Tổ quốc.

Cả trạm lặng đi sung sướng. Ngoài kia đêm nay sẽ không ai ngủ. Chúng tôi mỗi người một cách, hình dung Hà Nội giờ này đang rộn rã tiếng ca vui và những người đồng nghiệp của chúng tôi trên khắp các nẻo đường Tổ quốc chắc đều đang nghĩ tới Sài Gòn. Có ai hình dung nổi trên "đầu cái dinh thự" cuối cùng này của bọn bán nước, những người lính thông tin chúng tôi đang làm một phiên việc lịch sử... Bỗng có ai đó nhắc đến Bác. Lòng chúng tôi trào dâng niềm biết ơn vô hạn... Ôi, giá Bác kính yêu còn sống đến hôm nay! Cả nước thầm ước ao: Bác có mặt trong ngày vui giải phóng! Người đã dìu dắt Quân đội ta trong đó có những chiến sĩ Thông tin liên lạc chúng con đến chiến thắng vẻ vang này. Chúng tôi cùng ngẩng nhìn lên lá cờ Tổ quốc đang tung bay trên nóc Dinh Độc Lập như lời khẳng định toàn dân ta đã hoàn thành sứ mệnh vẻ vang thu non sông về một mối.

Hết

T.T.

Tân Sơn Nhất, Sài Gòn tháng 5-1975

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

18.8.26

Mặt trận vô hình (1/2)

Trọng Tân (Kính tặng cán bộ, chiến sĩ thông tin liên lạc anh hùng tham gia Chiến dịch mùa Xuân năm 1975 lịch sử)

Đêm trên sườn núi, khí trời lạnh ngắt, thi thoảng một cơn gió tràn qua lay nhẹ đám cành lá đẫm nước khiến những giọt sương khuya trong vắt nối nhau buông mình xuống gõ lộp độp trên những mái tăng lợp trên những căn nhà hầm âm dương vừa được đơn vị dựng lên chiều nay làm sở chỉ huy dã chiến.

Thượng tá Hoàng Niệm, vị chỉ huy Thông tin cao nhất của Chiến dịch này vẫn lặng lẽ đi lại, suy nghĩ phương án thực hiện nhiệm vụ vừa được Bộ chỉ huy chiến dịch giao cho Thông tin. Vóc dáng nhỏ bé nhưng săn chắc, nhanh nhẹn của ông đêm nay có vẻ trì nặng trong bộ "đại cán" đã cũ. Thỉnh thoảng ông dừng lại trước tấm bản đồ mặt trận, nhìn xoáy vào cái địa danh Buôn Ma Thuật nhỏ nhoi giữa đại ngàn mà mãi đến tận hôm nay, ngay cả những vị chỉ huy cao cấp như ông cũng mới thấy được cấp trên cho biết địa điểm mở màn của Chiến dịch quan trọng này. Có lẽ bởi tính chất đặc biệt của nó khiến tâm tư ông xúc động, bồn chồn đến khó tả. Ông linh cảm đây có lẽ là lần thứ hai, lần thứ hai trong cuộc đời binh nghiệp ông sẽ được chứng kiến lá cờ "bách chiến, bách thắng" của quân đội ta ngạo nghễ tung bay trên sào huyệt cuối cùng của quân giặc. Lần thứ nhất là khi các chiến sĩ trong tiểu đoàn của ông ôm nhau nhảy cẫng lên, nhiều người khóc to lên khi lá cờ chiến thắng của Quân đội ta phất cao trên nóc hầm của Đại tướng Đờ-cát-xtơ-ri giữa lòng chảo Điện Biên Phủ. Và hôm nay, mái đầu đã điểm bạc của chặng đường hai mươi năm chiến đấu, ông lại đưa các chiến sĩ, con cháu của lớp đồng ngũ xưa kia tham gia vào đội hình của hàng chục binh chủng hợp thành, chuẩn bị nghiền nát đội quân xâm lược Mỹ và tay sai của chúng, mà trận đầu sẽ diễn ra bất ngờ trên mảnh đất Tây Nguyên này.

Đã mấy đêm rồi, giữa sâu thẳm rừng già, cán bộ, chiến sĩ dưới quyền ông đang đạp lên gai góc và giá lạnh để đánh thông liên lạc tới các đơn vị. Nghĩ đến họ, ông thấy vợi bớt nỗ lo lắng và thốt lên se sẽ:

- Chà. Mấy thằng... tuổi trẻ của họ mới tuyệt làm sao.

Chiến dịch sắp mở!

Điều ấy không ai nói ra nhưng ai cũng cảm thấy qua những cuộc chuyển quân cấp tốc, những cuộc họp bất thường trong suốt hai mươi ngày đêm trèo đèo lội suối.

Nơi dừng chân đầu tiên là một vùng núi cao, cây rậm, hoang vu. Đón chúng tôi có đồng chí Phó Tư lệnh Binh chủng và cán bộ của bộ phận tiền phương. Thoáng trông thấy Phó Tư lệnh, đám tham mưu con trong các tổ đài liền nháy mắt, túm lại với nhau quanh mấy cậu A8 vốn được mệnh danh là "ăng ten" của "dê"1 tiếp sức.

Bỉnh "trọc" đánh mắt về phía các vị chỉ huy:

- Tớ đã đoán trước được bảy mươi phần trăm mà. Cấp trên "xuất tướng" rồi, các cậu thấy chưa?

Không riêng gì họ, chúng tôi cũng đã cảm thấy như thế. Một cái gì đó náo nức, bồn chồn không giải thích rõ ràng được giống như mình đang đón chờ một cơn bão sắp ào đến, cơn bão sẽ cuốn phăng những tảng mây mù của cuộc chiến tranh đã quá dài, để hé lộ ra mảng trời tươi sáng của hy vọng chiến thắng và hoà bình.

Phạm Ngọc Thụ vẻ quan trọng chen ngang:

- Theo các nguồn tin nội bộ mới nhất chúng tớ vừa nhận được thì tiểu đoàn ta sẽ được tham gia chiến đấu trong một vài ngày tới.

- Ôi! Thế mà cũng là tin. Đánh ở đâu chứ? - Một giọng nói cắt ngang.

- Dứt khoát ở Tây Nguyên rồi.

- Tây Nguyên mênh mông bể sở, cả một "dê" tiếp sức vào tham chiến, chuyện không nhỏ đâu. Nhưng cụ thể chiến trường nào?

- Thế theo cậu thì ở đâu?

- Tây Ninh.

- Tin hạng bét. Nếu Tây Ninh thì ta nằm đây làm gì?

- Tớ thì cho là Pleiku hoặc Buôn Ma Thuột!...

Đang sôi nổi thì có lệnh tập trung. Đồng chí Phó Tư lệnh Binh chủng và Ban chỉ huy Tiểu đoàn phổ biến nhanh tình hình chiến trường và nhiệm vụ của Binh chủng trong đó đặc biệt lưu ý tuân thủ quy ước làm việc của tiếp sức để đảm bảo bí mật tới phút chót của chiến dịch...

Thụ quay sang tôi: "Thấy chưa? Tớ đã bảo mà...". Rồi cậu ta đi về phía chiếc xe Zin 157 đầu tời, leo lên buồng lái lấy một phong lương khô cho vào chiếc bát "B52" dầm nước theo kiểu "chè 701". Chờ cái món ăn cải tiến của cậu ta tan ra sền sệt, Thụ vừa gõ chiếc thìa con vào vành bát vừa ngân nga hai câu thơ mà lính ta rất thích:

"Mấy chàng lính trẻ măng tơ,

Nghêu ngao gõ bát hát chờ cơm sôi"2

Tiếng ca, bát gõ rủng rẻng. Những "bữa" ăn khô vội vàng được dọn ra theo kiểu riêng của từng người. Chỉ nhoáng cái bữa ăn đã xong. Một vài chiến sĩ ngó nghiêng tìm nơi mắc võng. Đại đội trưởng Lưu Đức Doanh đi tới nhắc:

- Chuyển quân ngay đấy. Này mấy tướng, sao túm tụm giữa mặt đường thế kia... thu dọn hết giấy bọc lương khô đi, nhanh lên. Đoàn xe rùng rùng nối nhau lên đường, tới một cánh rừng thưa, đã có người đón sẵn, chúng tôi dừng xe. Khí tài trên xe được tháo ra, chuyển xuống. Và hàng chục đôi vai trần bắt đầu cõng khí tài, máy nổ, xăng dầu lên lưng chừng núi trước mặt. Tôi nhận thấy con dốc lên nơi đặt máy hình như vừa được dò tìm. Những bụi cây bị chặt còn chưa kịp kéo, những gióng tay vịn vừa được buộc... nhiều đoạn phải đạp qua các mỏm đá sắc lẹm làm đau buốt bàn chân. Một chiếc máy nổ 80-90 kg một cuộn cáp nhỏ... bây giờ là một thử thách ghê gớm. Chúng tôi xúm lại khiêng, leo ngược lên hang đá.

Đêm thứ nhất, chúng tôi phải nghỉ lại ở lưng chừng núi. Máy bay trinh sát địch rà sát ngọn cây nhòm ngó. Chúng muốn tìm dấu vết các đơn vị chủ lực để đoán biết ý đồ chiến dịch của ta mùa khô tới. Gần trưa ngày thứ hai, toàn bộ mạng liên lạc đã được nối thông. Phiên việc đầu tiên với Hà Nội vượt thời gian một ngày theo quy định. Nhưng tất cả vẫn chờ đợi.

24 giờ kém 15 phút, chiếc máy dành riêng cho Bộ chỉ huy chiến dịch bỗng đổ chuông. Doanh choàng tai nghe lên đầu. Lệnh trên cho các đài phát sóng. Cả một vùng rừng núi rộn lên trong tiếng reo của từng hồi chuông đổ và ánh đèn tín hiệu nháy sáng...

Báo cáo:

- Đài X3 bắt được liên lạc với OK...

- X4 liên lạc tốt.

- X1...

Phút chuẩn bị, chờ đợi bao lâu nay đã tới. Tiếng nói ấm áp, khoẻ khoắn của đồng chí Tư lệnh mặt trận từ Bộ chỉ huy Chiến dịch cất lên. Giờ phút lịch sử đó in đậm mãi trong kí ức của mỗi cán bộ chiến sĩ đoàn thông tin tiếp sức, những người vinh dự được truyền đi mệnh lệnh nổ súng mở màn cho chiến dịch lịch sử giải phóng Tây Nguyên, đòn phủ đầu của trận quyết chiến chiến lược đánh cho ngụy nhào - đó là lúc 24 giờ kém 5 phút ngày 9 tháng 3 năm 1975.

Từ trong trung tâm của Sư đoàn 23 ngụy – đơn vị mang cái tên đầy kiêu căng "Mãnh hổ Tây Nguyên". hai vệt lửa xanh xé toang khu chỉ huy và truyền tin. Các chiến sĩ đặc công ta bí mật luồn sát tận cửa hầm, từng cụm hoả lực, giáng đòn sấm sét mở đầu cho chiến dịch.

Sau những phút rối loạn, địch tổ chức chống cự quyết liệt. Đạn pháo rít trên đầu. Nổ quanh các mỏm đồi. Tiếng nhiễu sạo tăng lên. Một vài trạm bị máy bay oanh tạc, những anh em quyết giữ vững tiếng nói chỉ huy.

- Đường xuống X3 đứt!

- X15 mất liên lạc - đèn báo dập dồn.

Sư 10 là mũi chính của mặt trận. Không thể để thông tin gián đoạn. Lưu Đức Doanh điều các đài trưởng cùng anh ngồi vào bàn máy. Người nào cũng ướt đẫm mồ hôi, mặc dù ngoài trời đang giá lạnh. Các máy lẻ từ Bộ chỉ huy đang chờ đợi. Mỗi phút không khí như nén chặt lại, căng thẳng. Mệt, lo lắng hằn rõ trên gương mặt cán bộ, chiến sĩ đoàn thông tin tiếp sức.

Còn nữa

T.T.

Tân Sơn Nhất, Sài Gòn tháng 5-1975

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

------------------------------------------

1 Ký hiệu của đơn vị cấp tiểu đoàn.

2 Thơ Tố Hữu.

15.8.26

Hội truyền thống Thông tin khu vực Hà Nội tổ chức Hội nghị Ban liên lạc mở rộng năm 2026 (lần 2)

Sáng 15 tháng 8 năm 2026, tại d76, Lữ đoàn 205, Hội truyền thống Thông tin Hà Nội đã tổ chức Hội nghị Ban liên lạc mở rộng (lần 2) đến các chi hội trưởng, nhằm cùng nhau trao đổi, cập nhật tình hình và rút kinh nghiệm hoạt động của các chi hội, đồng thời gửi tặng thiếp, bằng mừng thọ của Bộ tư lệnh và của Hội cho các hội viên đến tuổi mừng thọ theo Quy chế (năm 2026 có 239 hội viên được mừng thọ), quà chúc Tết Nguyên đán Đinh Mùi 2027 của Hội cho các hội viên tuổi từ 90 đến 94 tuổi (năm 2026 có 50 hội viên, Ban liên lạc ủy quyền cho các chi hội trao cho hội viên) và 95 tuổi trở lên (năm 2026 có 28 hội viên, Thường trực Ban liên lạc sẽ trực tiếp thăm và trao quà nhân dịp tết Nguyên đán 2027 sắp tới).

Thường trực Ban liên lạc trao bằng mừng thọ và quà chúc Tết 2027 cho chi hội.

Đến dự Hội nghị có Trưởng ban liên lạc Vũ Dương Nghi, Phó Trưởng ban liên lạc Trần Minh Tâm, các đồng chí trong Thường trực Ban liên lạc cùng 37/39 đồng chí phụ trách các chi hội đã đến dự. Dự Hội nghị còn có đ/c Nguyễn Văn Công – Trợ lý Chính sách/Cục Chính trị Binh chủng.

Các nội dung trao đổi về kết quả hoạt động của các chi hội đều diễn ra sôi nổi, thân tình và thiết thực. Sau Hội nghị, các chi hội sẽ tiến hành tổ chức mừng thọ cho hội viên nhân dịp 81 năm Ngày Truyền thống của Bộ đội TTLL Anh hùng (09/9/1945 – 09/9/2026).

Tin, ảnh: Quang Hưng 

Kỷ niệm về một tờ báo (2/2)

Nguyễn Duy

Tiếp theo phần 1/2

Chùm thơ từ mặt trận

Mặt trận Quảng Trị, mùa hè năm 1972

Với tư cách là phóng viên chiến trường, tôi theo một đơn vị Thông tin của Sư đoàn 308 vào chiến dịch. Bom đạn nhiều tới mức không thể tả lại bằng lời. B.52 "toạ độ" suốt ngày đêm. Máy bay phản lực cứ từng đàn, từng đàn. Khủng khiếp nhất vẫn là pháo, pháo bầy, pháo tăng, pháp hạm đủ cỡ: 105, 175, 270, cả 406mm từ tàu chiến Niu Giơ-đi dội vào. Những mỏm đồi ở Đông Hà, đặt bàn chân nào cũng là đặt lên mảnh đạn pháo, tôi có cảm giác, đó là những mảnh sân phơi khoai thái lát. Hôm tôi tới thôn Tây Trì (Đông Hà), cả ban chỉ huy Trung đoàn 56 bị tử trận vì một quả đại bác rót trúng hầm. Đại uý Bằng Lâm, nhà quay phim của xưởng phim quân đội cũng hy sinh tại đây. Quân ta tổn thất khá nặng vì hoả lực vô cùng mạnh của địch. Điều quyết định là chúng ta đã thắng. Và tôi đã được gặp dân, lần đầu tiên gặp những người dân ở bờ Nam sông Bến Hải.

Trong căn hầm chữ A dã chiến, đung đưa như đưa võng dưới bom và đạn đại pháo, tôi làm được hơn chục bài thơ ngắn, làm nhẩm, rồi tì cuốn sổ tay nhàu nát, ngồi co ro tựa vào vách hầm mà chép ra. Theo đường thông hào mù mịt khói và bụi, tôi lần tới hầm tổng đài của sư đoàn, từ đó gọi về tổng đài Bộ chỉ huy chiến dịch.

- Một trăm... A lô, một trăm... cho xin hai trăm...

"Hai trăm" là tổng đài Bộ Tổng Tư lệnh ở Hà Nội. Và, từ xa tít tắp, một giọng con gái rất trong trẻo:

- 4430 à? Báo Văn nghệ à? Ở đâu xin?

- Quảng Trị. Xin 4430...

- Ai xin?

- Tổng Cóc đây. Đọc bài cho báo, gấp lắm.

Hồi đó, tôi có làm một bài độc tấu rất vui, về một anh chàng giữ kho thông tin biệt danh là "Tổng Cóc", và tự tôi nhảy lên khua khoắng trên sân khấu Văn nghệ của bộ đội Thông tin. Nhiều anh chị em ở Bộ tư lệnh không biết tên tôi, vẫn gọi là "Tổng Cóc". Xưng cái danh này, tôi hy vọng mấy cô trực tổng đài có thể nhớ ra và ưu tiên cho tôi. Quả như vậy thật.

- Chào cụ Tổng Cóc! Ở mặt trận khoẻ chứ?...

- Khoẻ. Nhưng suốt ngày ở hầm...

- Tổng Cóc thì ở hầm là đúng chỗ rồi. Có 4430 đó, nói đi!

Đầu dây đằng kia là Hữu Nhuận, cán bộ biên tập báo Văn nghệ. Anh không thể ngờ được rằng anh đang nói chuyện trực tiếp với người ở giữa chiến hào mặt trận Quảng Trị, bằng đường dây trần xuyên Trường Sơn có hệ thống các trạm tăng âm hiện đại. Hữu Nhuận chuyển máy cho anh Phạm Hổ. Rồi bác Hoài Thanh. Hỏi thăm nhau vài câu, tôi đề nghị toà soạn chép thơ ngay. Bác Hoài Thanh chuyển máy nói cho Hữu Nhuận. Phía này là mặt trận đang ầm ầm bom đạn. Phía kia là Hà Nội, chắc là một buổi sáng yên tĩnh. Không biết ngoài đó có nghe những tiếng nổ rung chuyển mặt đất vọng vào ống nói, nhưng những câu thơ tôi đọc thì nghe được rất rõ. Anh Phạm Hổ và anh Hữu Nhuận thay nhau chép, sau đó còn đọc lại cho tôi nghe xem có đúng không. Bác Hoài Thanh nói thêm, báo Văn nghệ đang lên khuôn ở nhà in, sẽ có ngay chùm thơ của tôi trong số này... "Tôi rất xúc động - lời bác Hoài - vì những dòng thơ này, từ mặt trận đi thẳng tới mặt báo..."

Chúng tôi đang nói dở dang thì tổng đài cắt liên lạc. "Tổng Cóc ơi – tiếng trong trẻo của cô gái trực đài - hết giờ ưu tiên cho ông rồi. Khoẻ nhé!..."

Hai ngày sau đó, tôi về Cùa, chợt nghe ra-đi-ô giới thiệu báo Văn nghệ, và đọc chùm thơ của tôi in trong số báo ấy. Đó là chùm thơ từ mặt trận Quảng Trị.

Hoa đào năm ấy

Cuộc chiến tranh đi qua...

Thế là xong! Tôi thở phào nhẹ nhõm khi trút bộ quân phục để chuyển ngành về làm biên tập viên cho tờ Văn nghệ giải phóng. Lúc đó là đầu năm 1976. Năm 1977 tờ Văn nghệ giải phóng sáp nhập vào tờ Văn nghệ trung ương, tôi trở thành biên tập viên thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh của tờ báo vốn có nhiều kỷ niệm sâu sắc với mình. Cứ ngỡ rằng đã "vĩnh biệt vũ khí", nào ngờ, tháng 6 năm 1978, tôi - phóng viên báo Văn nghệ lại lặn lội trong chiến hào ở Tây Ninh cùng với các bạn lính trẻ của Quân đoàn 4. Chiến dịch biên giới phía Tây-Nam Tổ quốc đang thời kỳ ác liệt nhất. Quân Pôn Pốt tràn sang dọc biên giới Việt Nam - Campuchia, tàn sát rất dã man đồng bào ta, từ Tây Ninh qua Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang. Quân ta đánh chặn và chuẩn bị tổng công kích... Lại những bài thơ chiến trận gửi về toà soạn báo Văn nghệ.

Qua mấy năm im tiếng súng, nhìn lại quãng đường bom đạn và đèo dốc dài dằng dặc phía sau lưng mình mà ngại ngùng. Cứ ngỡ rằng, đã quen hơi phố phường rồi, nếu phải đi trở lại con đường chiến tranh vừa qua, chắc là không đi nổi. Nhưng khi việc đã tới, giặc đã ở trước mặt, thật lạ, có một nguồn sức lực từ đâu đó trong con người mình bỗng khởi phát, xốc mình đi, những bước đi mạnh mẽ nguyên vẹn của người lính năm nào...

Nguồn sức lực ấy lại khởi phát một lần nữa trong tôi vào đầu xuân năm 1979. Sau chiến dịch biên giới Tây Nam, tôi tự thưởng cho mình một chuyến nghỉ phép, về ăn Tết ở quê nhà - thị xã Thanh Hóa. Ngày 15 tháng 2 năm 1979, tôi ra Hà Nội để chờ máy bay trở lại miền Nam. Sáng 17 tháng 2, chiến tranh bùng nổ trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Nhóm phóng viên xung kích của báo Văn nghệ, gồm năm người vốn xuất thân từ lính, được cử lên mặt trận. Đồng chí lái xe Đào Ngọc Chi cũng vốn là lính chiến.

Chiếc xe Rumaini tổng tộc của chúng tôi hoà vào đoàn xe chở lính lên phía Bắc. Tới thị trấn Đồng Mỏ chúng tôi bắt đầu làm việc với trạm phẫu, với thương binh, với đồng bào các dân tộc chạy giặc từ mấy huyện biên giới về. Ga Đồng Mỏ đặc kín người. Đường số 1 tắc nghẽn. Hầm Núi đá (do quân Trung Quốc đào, hồi họ sang "giúp" ta chống Mỹ) thì dành cho người bị thương nặng. Đêm ấy, chúng tôi ngủ ở chợ Đồng Mỏ cùng với đồng bào chạy giặc. Tôi và Phạm Tiến Duật nằm chung cái bạt võng, trước vỉa hè nhà bưu điện. Anh Hoài An ngủ trên xe với Đào Ngọc Chi. Anh Hồng Phi cùng với Đỗ Chu leo lên cái bàn bán thịt trong lều chợ không có mái. Tiếng đại pháo từ Lạng Sơn vọng về ùng ình suốt đêm. Những trang viết về mặt trận của nhóm chúng tôi bắt đầu từ đêm đó.

Lạng Sơn, 18 tháng 2. Thị xã vắng ngắt. Trời se lạnh. Hoa đào phai thấp thoáng trong sương mù. Đại pháo dội sang từ phía Bằng Tường, tiếng đạn rít veo véo, tiếng nổ lộng óc. Xe chúng tôi băng qua cầu Kỳ Lừa, lao về hướng Đồng Đăng.

Theo giới thiệu của Ban chỉ huy Sư đoàn Sao Vàng, chúng tôi sẽ tới Trung đoàn An Lão đang chặn giặc ở nam Đồng Đăng. Có một chiến sĩ liên lạc của trung đoàn An Lão dẫn đường. Ga Tam Lung hiện ra trước mặt. Chiếc xe của bệnh viện Lạng Sơn vừa bị bắn lật, xe hồng thập tự. Tiếp đó, chiếc xe của xưởng phim Quân đội trúng đạn (chiến sĩ Như Đạt, quay phim, đã hy sinh tại chỗ). Cối 81 của địch nhằm vào xe chúng tôi. Nhanh như cắt, Đào Ngọc Chi quặt xe vào con đường rẽ. Quân Trung Quốc từ các cao điểm gần đó nã cối theo tới tấp...

Hầm chỉ huy trung đoàn An Lão nằm trên sườn cao điểm 417. Vừa gặp chúng tôi, Chính uỷ trung đoàn đã đề nghị "các nhà văn trở về Lạng Sơn ngay cho. Chiến sự đang ác liệt, đơn vị không thể bảo đảm an toàn cho các anh được..."

Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Cái bề ngoài của mỗi người quả là xa lạ với thực tế trận mạc. Tôi mặc chiếc áo trắng có hoa đen, quần loe, kính cận, máy ảnh toòng teeng trên vai. Anh Hồng Phi, râu tóc bờm xờm, áo len, quần dạ, đôi dép sam-bô cao đế. Phạm Tiến Duật và Đỗ Chu thì đúng là bạch diện thư sinh, mảnh khà mảnh khảnh.

- Xin các đồng chí cứ yên lòng. Hồng Phi nói với Chính uỷ trung đoàn - chúng tôi đều con nhà lính, quen thuốc súng đạn cả. Chúng tôi sẽ ở đây theo dõi các trận đánh, và nếu có thể, xin các đồng chí phát vũ khí...

Đồng chí Biền, Chính uỷ, nói về tình hình chiến sự. Căn hầm thỉnh thoảng lại rung lên, đạn cối của địch vẫn rơi xuống quanh đấy, tiếng nổ nhức tai, và khói, bụi sặc sụa.

Những ngày ở Tam Lung, chúng tôi đã viết các bài in trên báo Văn nghệ dạo đó.

... Nhóm phóng viên chúng tôi xuôi về thị xã Lạng Sơn nghỉ đêm trong nhà khách tỉnh uỷ đã bỏ trống, cùng với tổ tự vệ của giáo viên trường Đông Kinh Phố. Trang thơ về mặt trận của tôi được hoàn chỉnh trong đêm này. Chúng tôi chụm đầu đọc thơ cho nhau nghe, rồi hát trắng đêm. Đêm chia tay, đêm tạm biệt những cây đào nở muộn. Tiếng súng bộ binh đã nổ rát ngoài rìa thị xã.

Mờ sáng hôm sau, tổ Công an vũ trang bảo vệ khu nhà khách tới giục chúng tôi rời đi, họ nhận được lệnh phải rút ngay ra khỏi thị xã. Chúng tôi thong thả chụp vài tấm ảnh cuối cùng với vườn đào, rồi chặt những cành đào đẹp nhất cắm đầy chung quanh xe. Chiếc xe Rumani của tuần báo Văn nghệ lần đầu tiên được nguỵ trang hoàn toàn bằng hoa đào. Lái xe Đào Ngọc Chi phải yêu cầu bỏ bớt hai cành cắm phía trước để còn trông thấy đường.

Trên chiếc xe hoa đào ấy, chúng tôi ngoái nhìn thị xã. Chào Lạng Sơn. Chào chợ Kỳ Lừa và dòng sông Kỳ Cùng, chào thành Tiên Xây và núi Vọng Phu... Thị xã đẹp mê hồn trong sương mù. Không một bóng người. Chỉ có cây với nhà, và hoa đào. Mấy con chó tìm chủ chạy lững thững dọc những phố nhỏ lặng ngắt. Pháo từ phía Bằng Tường bất chợt gầm lên, súng bộ binh đồng loạt nổ rền bên kia cầu Kỳ Lừa...

Chúng tôi đã mang về toà soạn những trang viết chưa ráo mực cùng những cành đào còn ướt nhựa nơi vết cắt. Cành đào phai lớn nhất được cắm trong cái bình đất nung đặt ở phòng khách toà báo. Những cành nhỏ hơn, chúng tôi chia ra, phân phát cho bạn bè. Bài viết của chúng tôi dồn dập in trên báo Văn nghệ, cùng lúc những nụ đào muộn mằn dồn dập nở, những cành đào Lạng Sơn vẫn còn tươi thắm giữa lòng Hà Nội. Và, mãi mãi tươi thắm trong tôi, cái màu hồng kỳ diệu của hoa đào năm ấy...

Hết

N.D.

3-1983

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)