Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng
KHQS
Theo thống kê của Bộ Quốc phòng Pháp, năm 1954 các sĩ
quan người Việt du học ở nước Pháp trong các quân chủng Hải, Lục, Không quân là
440 người, trong 26 ngành chuyên môn kỹ thuật. Đông nhất là trường cơ khí Không
quân có 150 người, rồi đến trường sĩ quan lái máy bay là 87 người, trường bảo đảm
quân cụ là 30 người. Ít nhất là trường sĩ quan tham mưu ở Paris: 1 người. Trường
truyền tin ở Mông-ta-gít có 10 người1.
Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, bước sang năm 1955, quân
số thuộc binh chủng truyền tin của quân đội Pháp "bàn giao" cho Mỹ là
5.792 người, trong đó có 272 sĩ quan, 1.452 hạ sĩ quan, 3.541 lính và 227 nữ phụ
tá cùng với trên dưới 300 dân vệ còn lại. Đó là tất cả những gì là "tinh
hoa của ngành truyền tin quân sự Pháp" mà thực chất là những cặn bã lắng đọng
trong 10 năm thực hiện âm mưu chiếm lại nước ta và sau gần 100 năm tiếng súng
xâm lược thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng ngày 27-6-1858. Lịch sử thông tin xâm
lược Pháp được coi như bắt đầu kể ngày 11-4-1859, khi Đại tá Hải quân Pháp
Đa-ri-ét đặt bưu cục đầu tiên tại Sài Gòn...
Từ con số chung 5.792 và 272 sĩ quan truyền tin quân
ngụy, bước ra những đại úy Lại Đức Chuẩn phụ trách Nha Quân bưu, trung úy Nguyễn
Tú Tài phụ trách Trung tâm văn kiện, trung tá Lương Thế Soán phụ trách Bộ chỉ
huy Viễn thông cho chính quyền Ngô Đình Diệm2. Khi quân Mỹ vào miền
Nam Việt Nam, để đối phó với "Việt cộng", Bộ Quốc phòng Mỹ đã cử sang
miền đất chiến trường này - 20.000 nhân viên kỹ thuật truyền tin, tính đến năm
1973 dưới sự chỉ huy của thiếu tướng truyền tin Jack Albright. Dưới trướng của
tướng này là 6 đại tá truyền tin ngụy, những Huỳnh, Tùng và cũng gần 30.000
nam, nữ sĩ quan, hạ sĩ quan, nhân viên kỹ thuật ngụy quân.
Theo các tạp chí Mỹ Signal và Communications, Mỹ đã giao
cho Công ty Điện lực liên bang (Federal Electric Corporation) một chi nhánh của
Công ty Điện thoại, Điện tín quốc tế ITT - xây dựng hệ thống thông tin ICS với vật
liệu, khí tài lắp đặt do hãng Page Communications Engineers cung cấp. Theo
Albright, hệ thống này sử dụng nhiều nhất các phương tiện truyền tin đối lưu và
sóng cực ngắn, chủ yếu là 48, 96 và 240 đường trên một số hướng chính. Lần đầu
tiên, nước Mỹ đã đặt được một hệ thống tự động phức tạp ở Việt Nam. Thiếu tướng
Lữ đoàn trưởng Thông tin quân Mỹ ở Nam Việt Nam này đánh giá rằng: "đây là
một hệ thống đa năng hợp nhất, kinh tế và tổng số chi phí lên hết gần nửa tỷ
đô-la".
Trong cuốn "Học thuyết về Thông tin liên lạc
(Signal Communiction Doctrine) in tại Mỹ, phát hành trong giới quân nhân cao cấp
tại Sài Gòn, người Mỹ cho rằng "liên lạc truyền tin là yếu tố cần thiết
cho hoạt động chỉ huy". Đại tướng Mỹ Mácgare, trưởng phái đoàn MAAG ở Sài Gòn
nêu bật "nhược điểm thường xuyên của du kích là thiếu thốn khả năng liên lạc".
Đỗ Ngọc Nhận, đại tá, Phó Tổng cục trưởng Quân huấn quân
ngụy, đã du học hết Pháp đến Mỹ, trong cuốn "Vấn đề chỉ đạo chiến lược
trong chiến tranh Việt Nam" in năm 1970, sau khi cho biết "cộng sản rất
coi trọng công tác giao thông liên lạc ngay ở thời kỳ bí mật, thời kỳ chống Pháp",
đã nhận định "hệ thống giao liên hiện nay là yếu tố rất quan trọng có tính
chất then chốt bảo đảm cho sự thành bại trong âm mưu thôn tính miền Nam".
Bất lực trước sức sống mãnh liệt của "con đường giao liên". Nhận gào
lên "triệt hạ hệ thống giao liên cộng sản là một nhu cầu chiến lược",
là "phá vỡ hệ thống chỉ đạo chiến lược, phá vỡ toàn bộ kế hoạch vận chuyển"
là phá vỡ kế hoạch tác chiến "cô lập tiền phương, gây rối loạn hậu phương
cộng sản".
Chúng đã tung ra biết bao nhóm biệt kích để lùng sục các
đài, các trạm liên lạc của ta. Chúng đã ném bao nhiêu bom đạn để chặn Đường 559
và Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển? Các máy tính điện tử tối tân, hiện đại đề
xuất bao nhiêu phương trình để "giải mã" một bài toán về thông tin
liên lạc của "Việt cộng" ở miền Nam. Chúng đã họp nhiều, đã công bố,
kết luận, đã tổng kết khẳng định nhưng vẫn chưa hiểu tại sao "vixi" lại
phát đi và nhận đủ một cách bí mật lệnh tổng tấn công nổi dậy Mậu Thân năm 1968?
Các đài trinh sát vô tuyến điện tử đặt ở Đà Nẵng, Plâycu, Núi Bà... không giờ
phút nào không bắt tín hiệu của Hà Nội mà vẫn bị bất ngờ. Các máy thu, các loại
"cây nhiệt đới", máy phát, đặt, ném trên các địa điểm nghi vấn vẫn
không giúp ích gì được nhiều... và cuối cùng, "xấu hổ" nhất vẫn là cả
cái lữ đoàn thông tin Mỹ do một thiếu tướng Mỹ chỉ huy với hàng ngàn chuyên
viên Mỹ, cả hàng chục ngàn người trang bị máy truyền tin dân sự, quân sự... trang
bị máy đến tận miệng quân lực cộng hòa mà bó tay trước một đối tượng mà chúng
coi thường về mặt thông tin liên lạc, mà chúng không hiểu được nguồn sức mạnh của
đối phương.
Nguồn sức mạnh đó bắt nguồn từ nguyên lý triết học Mác-Lênin
mà những người cộng sản đã vận dụng sáng tạo tài tình vào hoàn cảnh cụ thể của
Việt Nam, của các lực lượng vũ trang trong ngành thông tin liên lạc quân sự. Kế
thừa trí tuệ của những chiến sĩ thông tin, chuyển báo “Le Paria” từ Pháp đến
các thuộc địa, đưa báo "Thanh niên" từ Quảng Châu về các trạm liên lạc
ở Hải Phòng - Sài Gòn... của các chiến sĩ giao thông Xô Viết Nghệ-Tĩnh, du kích
Ba Tơ, Bắc Sơn, của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân...
Điểm hội tụ tinh hoa của nghệ thuật tổ chức thông tin liên
lạc là ở câu nói tổng kết của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, năm 1941, sau 30 năm hoạt
động cách mạng ở nước ngoài, "Việc liên lạc là việc quan trọng bậc nhất
trong công tác cách mạng và chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân
phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi". Khác với sự đánh giá thông tin
liên lạc là yếu tố “cần thiết”, “coi trọng..." Bác Hồ của chúng ta coi đấy
là "việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng". Bác là người cộng
sản đầu tiên, là người tổ chức mạng liên lạc đầu tiên của cách mạng Việt Nam,
và cũng là chiến sĩ liên lạc đầu tiên của Đảng ta.
Đó là nguồn sức mạnh của các ngành thông tin liên lạc quân
sự, dân sự trong 50 năm qua và cũng là tất yếu thắng lợi của ta và tất yếu thất
bại của địch.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin –
Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)
--------------------------------------
1 Tập san
Quốc phòng, quân đội Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Số 7/1972.
2 Tập san Quốc phòng, quân đội Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Số 7/1972.







