5.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (2/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 1/8

7. Nhảy một nhảy

Trong xã hội phong kiến thuở trước, nam và nữ cầm tay nhau, bắt tay nhau, khoác tay nhau... là điều tối kỵ. Nhất là đối với nam nữ thanh niên con nhà “thi lễ” và “khuê các”, cũng như đối với cả những người nhiều tuổi có ý thức giữ gìn phong hóa cổ truyền, vi phạm điều cấm kỵ đó thường không thể không bị miệng tiếng thế gian chê bai.

Cách mạng tháng Tám bùng nổ, hơn một năm sau, tiếng súng toàn quốc kháng chiến chống Pháp vang lên. Từng đoàn, từng đoàn cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức, thanh niên, trung niên và không ít người già rời thủ đô và các thành thị về nông thôn, lên miền núi công tác trên mọi lĩnh vực hoạt động. Đời sống thật gian khổ, kham khổ và cũng khắc khổ. “Món ăn văn hóa” thường chỉ có bài đơn ca, đồng ca, những chuyện tiếu lâm, những thiên độc tấu... động viên chính trị.

Thắng lợi chiến dịch mùa thu 1950 mở thông những đường qua lại giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nhiều đoàn cán bộ, học sinh... từ miền Bắc sang Bắc Kinh và Hoa Nam công tác, trao đổi kinh nghiệm, tham quan và học tập. Trong những hành lý văn hóa đem về có món“nhảy múa” mà đầu trò là điệu “ương ca”. Món sinh hoạt văn hóa mới này nhanh chóng được số anh em công tác tại các cơ quan Văn phòng Trung ương Đảng yêu thích. Bác Hồ vui vẻ khuyến khích bằng sự trực tiếp tham gia của mình, nhất là sau mấy giờ lao động buổi chiều, kết hợp nghệ thuật với thể dục.

Những người từ Trung Quốc về thỉnh thoảng gọi nhau bằng tiếng “quan hỏa”: “Theo ý theo” (khiêu nhất khiêu). Bác dịch nôm na vui đùa từng chữ một là: “Nhảy một nhảy”.

Một hôm, trong một cuộc họp của Mặt trận Liên Việt có đủ các giới công, nông, thanh, phụ, già, trẻ, gái, trai, đến giờ nghỉ, đồng chí điều khiển hội nghị cũng đề nghị mọi người nhảy múa cho vui. Ra sân, các giới thanh niên trung niên, từng tốp, từng tốp, vừa vỗ tay vừa diễn ương ca. Một số đồng chí đảng viên những năm ba mươi và một số vị nhân sĩ, thân sĩ đứng nhìn, biểu thị nhiệt tình ủng hộ và cổ vũ bằng những ánh mắt nụ cười. Trong số này có bà Thục Viên, một nhà giáo dạy học đã nhiều năm ở Hà Nội và là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên, được nhân dân thủ đô tin cậy, quý mến.

Bỗng đâu, Bác Hồ từ trong phòng họp bước ra, đi thẳng tới chỗ các vị cao niên, vui vẻ mời: “Chúng ta cũng nhảy một nhảy chứ?”. Rồi Bác khoác tay bà Thục Viên... Bất ngờ, bị động và cũng hào hứng, bà Thục Viên ngoắc chặt khuỷu tay của Bác. Bác bước dồn dập và quay tròn. Bà hối hả theo và quay theo. Giữa sân, các tốp nhảy trẻ trung đều nhìn về phía Bác. Tiếng vỗ tay đánh nhịp và tiếng “sol la sol chuyển thành lạc điệu và lộn xộn. Ngoài hàng rào, sau một bụi tre, mấy cô gái người Tày đứng nhìn say sưa và có phần ngơ ngác. Chỉ một chốc, bà Thục Viên luống cuống “bắn” cả một chiếc dép vào chân Bác Hồ... Cũng là vừa lúc có chuông vào họp lại.

Mấy tuần sau, tôi theo anh Trường Chinh đến dự một cuộc họp Thi đua Ái quốc tổ chức tại Văn Lãng, dưới chân đèo Khế. Họp đến gần nửa buổi, cuộc thảo luận trở thành tranh cãi rất gay go. Đồng chí điều khiển hội nghị lúng túng. Bác Tôn Đức Thắng, ngồi ở giữa hàng ghế đầu, bỗng đứng phắt lên, nói to:

“Thôi, nhảy một nhảy đã nào”.

Mọi người vỗ tay ran rồi ùa ra sân. Chỉ trong chốc lát đã có cảnh tượng nhộn nhịp sol la sol...

Đồng chí Trường Chinh, đang vừa nghe vừa xem lại bản đánh máy bài nói chuyện  của mình, quay lại cười với tôi:

- Hay nhỉ! Vui nhỉ!

- Thưa anh, cũng là một bước nhảy “bài phong” giản dị.

- Đúng, Bác Hồ cổ vũ cho đời sống mới, văn hóa mới, giản dị và hiệu quả như thế đấy.

Quang Đạm kể1

-------------------------------------

1 Tên thật Tạ Quang Đệ, nguyên ủy viên biên tập báo Nhân Dân.

 

8. Chú còn trẻ, chú vào hầm trú ẩn trước đi

Một ngày tháng 7 năm 1967, ở Hà Nội, đồng chí Mai Văn Bộ được Bác Hồ gọi đến mời cơm tiễn chân trước khi đồng chí lên đường đi Paris nhận nhiệm vụ Tổng đại diện Chính phủ ta bên cạnh Chính phủ Pháp.

Trong bữa cơm, Bác kể chuyện về khu Luxembourg, nơi Bác có nhiều kỷ niệm. Bác nói Bác rất yêu Paris, Paris đã dạy cho Bác nhiều điều...

Bỗng tiếng còi báo động rú lên. Một chiến sĩ bảo vệ yêu cầu Bác và các đồng chí khác xuống hầm. Ít phút sau đã nghe tiếng đạn nổ.

- Thưa Bác, tác chiến báo cáo chúng nó đánh cầu Long Biên. Mời Bác vào hầm trú ngay cho.

Bác quay lại đồng chí Bộ, nói:

- Bác già rồi, chẳng bom đế quốc nào ném đâu. Chú còn trẻ, chú cần vào hầm trú ẩn trước.

Rồi Bác đẩy đồng chí Bộ đi trước, sau đó đến đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí cảnh vệ.

Bác là người vào hầm trú ẩn sau cùng.

Mai Văn Bộ kể

 

9. Bác Hồ thích món ăn gì nhất

Nhiều người quan tâm đến sinh hoạt đời thường của Bác Hồ có lúc đặt ra câu hỏi ấy. Mới xem qua, dường như nó chẳng có ý nghĩa gì mấy, bởi nó quá riêng tư, mỗi người đều có sở thích của mình, thị hiếu là vấn đề không thể bàn cãi!

Đúng như vậy. Nhưng tìm hiểu sở thích của một người cũng là một hướng tiếp cận tính cách của con người đó, càng cần thiết hơn khi đó lại là một vĩ nhân.

Cũng như mọi người, có món ăn Bác Hồ rất thích, nhiều món ăn được, có món không thích, ví dụ qua câu chuyện được kể lại về bữa cơm với bà Thanh, ta biết cậu Thành từ nhỏ không ăn được tỏi.

Nét nổi bật là vị Chủ tịch nước đầu tiên của chúng ta lại rất thích các món ăn dân dã như mắm, cà dầm tương, canh cua ăn với rau chuối thái ghém...

Có lần, trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí Chủ tịch Liên khu 4 Lê Viết Lượng có gửi lên Việt Bắc biếu Bác một lọ cà dầm mắm. Bác rất thích ăn. Ngày đó, Bác vẫn thường ăn chung với các nhân viên phục vụ của mình. Có bữa bận phải ăn sau, Bác dặn: - Các cô các chú cứ ăn thịt cá, để phần Bác món cà dầm mắm.

Ở rừng, thỉnh thoảng vẫn thiếu rau. Bác bảo: - Ta thiếu rau nhưng nhiều mít, cô Mai (vợ bác sĩ Chánh) làm món nhút ăn cho đỡ xót ruột. Chị Mai thú thực không biết làm. Bác lại bày cho cách làm nhút từ quả mít xanh. Có lẽ trong các món mang hương vị quê hương, Bác thích nhất món cá bống kho lá gừng. Hôm nào đồng chí Cần, cấp dưỡng của Bác làm món ăn đó, Người thường ăn hết, để món thịt lại.

Có lần, Bác được mời đi nghỉ tại Liên Xô. Bạn cho ăn toàn những món đặc sản vào loại tuyệt hảo. Bỗng một hôm Bác bảo: “Mình nhớ món cá bống kho lá gừng quá!”. Một chuyện thật đơn giản, nhưng trong hoàn cảnh đó thực hiện lại không dễ. Nấu ở nhà nghỉ thì không ổn, hơn nữa bạn lại rất sợ mùi nước mắm. Kho ở sứ quán rồi mang vào lại sợ bạn biết sẽ phật ý. Cuối cùng, nhờ sự trổ tài khéo léo của đồng chí Vũ Kỳ trong việc giới thiệu các món ăn cổ truyền của dân tộc, món cá bống kho gừng đã được thực hiện.

Ở Việt Bắc, hôm nào có điều kiện ăn tươi, Bác lại bảo: ra gọi cô Cúc (vợ đồng chí Phạm Văn Đồng) và cô Mai vào trổ tài cho bác cháu mình thưởng thức. Chị Mai làm món gà rút xương, thịt băm trộn nấm hương nhồi đùi gà, đem hấp. Chị Cúc làm món bít tết, Bác khen ngon, vì làm rất công phu. Bác nhận xét:

- Gia vị đối với món ăn Việt Nam rất quan trọng. Thiếu gia vị, món ăn sẽ giảm hương vị đi rất nhiều.

Coi trọng nội dung, Bác cũng nhắc nhở cần chú ý đến cả hình thức trình bày. Hồi ở Việt Bắc, có lần đi công tác, buổi trưa, Bác cháu dừng lại bên bờ suối nấu ăn. Bác bảo: các chú nấu cơm, để Bác rán trứng cho. Bác làm rất thạo. Trứng rán xong mà cơm chưa chín. Bác lấy que sắt nung trên than hồng rồi đặt lên khoanh trứng thành những hình quả trám rất đẹp. Anh em cười thán phục. Bác bảo:

- Khi có điều kiện làm cho ngon hơn, đẹp hơn thì ta cứ làm chứ các chú!

Ngày 16 tháng 6 năm 1957, Bác đi thăm Đồng Hới (Quảng Bình). Trong bữa cơm trưa có đủ các món đặc sản của Đồng Hới: mắm tôm chua, rau muống chẻ, cá thu kho... Bác cháu vừa ăn vừa trò chuyện. Bác chỉ tay sang bác sĩ Nhữ Thế Bảo nói đùa:

- Bác sĩ khuyên mọi người ăn chín, uống sôi, còn bản thân bác sĩ thì lại ăn rau muống sống hơi quá nhiều đấy!

Mọi người cười vang. Bữa ăn ngon lành càng thêm vui vẻ.

(Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ và vợ bác sĩ Chánh)

 

10. Làm việc nước nặng nề, khó khăn nên phải hết sức cẩn thận

Hồi Bác Hồ ở Pắc Bó, để giữ bí mật, nước sinh hoạt được đựng trong những ống dài để trong hang. Trừ những khi ốm đau, sáng nào Bác cũng đi “kỉn” nước (tiếng Tày “kỉn” là lấy).

Ống nước làm bằng ống luồng, hoặc bương (loại tre lớn) sẵn trong rừng, đục thông các “mắt” lấy dây thừng hay mây buộc lại đầu trên và dưới, để gánh bằng đòn. Có ống không cần buộc dây, để vác thẳng lên vai.

Một sáng sớm, trời còn sương, mặt trời chưa lên tỏ, Bác và một đồng chí bảo vệ, mỗi người hai ống trên vai, ra suối “kỉn” nước. Bác đặt chân nhẹ nhàng lên các hòn đá, vục ống xuống suối lấy đầy nước, dựng vào một hòn đá, khỏa nước rửa chân tay... Đồng chí bảo vệ tuy là người miền núi, địa phương nhưng bước đi không vững, trên vai lại hai ống nước nặng, đặt ống không thăng bằng, nên vấp đá, chẳng may trượt ngã.

Bác đến nâng đồng chí dậy, dạy cách đặt, cách vác ống nước, cách đi trên đá. Rồi hai bác cháu ra về.

Lên bờ, Bác nói:

- Làm việc nước nặng nề, khó khăn nên phải hết sức cẩn thận cháu ạ.

(Theo lời đồng chí Thủy Bách)

 

11. Có ăn bớt phần cơm của con không?

Mùa thu năm 1951, Bác đến thăm lớp chỉnh huấn chính trị toàn quân. Sau khi đọc lên những con số cụ thể về tệ nạn tham ô, lãng phí mà Ban lãnh đạo nhà trường đã báo cáo với Bác, Bác nói:

- Các chú xem đấy, mới có từng này cán bộ mà đã tham ô, lãng phí như vậy, thử hỏi nếu cán bộ trong toàn quân, toàn quốc cũng phạm khuyết điểm như các chú ở đây thì thiệt hại cho công quỹ của Nhà nước, của nhân dân biết bao nhiêu.

Ngừng một lát, Bác hỏi:

- Ở đây, những chú nào có vợ rồi giơ tay.

Có độ 1/3 số cán bộ giơ tay.

Bác chỉ vào một đồng chí trong số những người vừa giơ tay ngồi ở hàng ghế đầu, rồi hỏi:

- Chú có bao giờ ăn bớt phần cơm của con mình không?

Đồng chí cán bộ trả lời:

- Thưa Bác, không ạ!

- Thế thì tại sao của cải của nhân dân, tiêu chuẩn của chiến sĩ hễ sểnh ra là đút vào túi1.

Bác vừa nói vừa làm động tác vơ vét và đút vào cái túi vải bên mình. Bác phân tích cho mọi người thấy rõ tham ô, lãng phí là một tệ nạn, một thói xấu, nó giống như sâu mọi đục khoét của cải của nhân dân, nó làm vẩn đục chế độ tốt đẹp của chúng ta, đến đạo đức và phẩm chất của người cán bộ đảng viên.

---------------------------------------

1 Ngữ cảnh này làm cho người đọc có thể liên tưởng đến việc Bác Hồ phê phán việc tham ô của một số cán bộ (BTV).

 

12. Như cha với con

Trong những ngày ra thăm miền Bắc, đoàn anh hùng, dũng sĩ miền Nam được Bác chăm lo, ân cần như cha đối với con. Bác bảo tôi (vì tôi được cử phụ trách theo dõi sức khỏe, và đời sống của đoàn):

- Cô Bi, phải chăm sóc các cô, các chú ấy thật tốt, đừng để các cô, các chú ấy ốm.

Một bữa, đồng chí Huỳnh Văn Đảnh bị sốt rét, Bác biết được, gọi tôi lên hỏi:

- Chú Đảnh bị sốt ra sao?

Tôi báo cáo về bệnh tình của đồng chí Đảnh với Bác.

Bác nhắc:

- Cô phải cho các cô, các chú ấy ăn uống đầy đủ, chú ý làm các món ăn của địa phương để các cô, các chú ấy ăn được nhiều, sức khỏe mới tốt.

Một hôm khác, Bác chỉ vào Trần Dưỡng và hỏi tôi:

- Cô Bi, tại sao chú Dưỡng hơi gầy?

Bác nghe anh hùng Vai kể chuyện về quê hương miền núi nghèo khổ của mình, Bác cảm động nói:

- Thống nhất, Bác vô Nam, thế nào cũng về thăm quê hương cháu Vai.

Trong những ngày sống bên Bác, tôi càng thấm thía hơn tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam. Chị Tạ Thị Kiều nói với tôi:

- Càng được gần Bác, càng thấy Bác thương yêu dân miền Nam ta quá chị à.

Nói xong, hai chị em lại khóc vì sung sướng và cảm động trước tấm lòng của Bác Hồ.

Theo lời kể của Đại tá Hồ Thị Bi

 

13. Câu chuyện về hai cái kẹo

Một lần, Bác Hồ đến thăm bộ đội ở Quảng Bình. Tối đến, Bác dự buổi liên hoan văn nghệ “cây nhà lá vườn” với đơn vị. Anh em vô cùng sung sướng, nhưng cũng rất lo, vì cảnh lính có ai biết hò hát gì đâu! Đồng chí Phố mạnh dạn lên “mở đầu chương trình” đọc bài thơ “Hoa hồng không có gai”, bài thơ có nhắc tới một cô gái. Đồng chí Phố đọc xong, Bác thưởng cho một cái kẹo và hỏi vui:

- Cô ấy có phải là “đối tượng” của chú không?

Tất cả anh em đều cười sảng khoái. Câu hỏi vui của Bác đã làm anh em mạnh dạn hẳn lên trong không khí đầm ấm, chan hòa tình cha con.

Bác nói: - Đã làm thơ thì nên ngâm phải không?

Tất cả đồng thanh đáp: - Vâng ạ!

Sau đó, đồng chí Lư đứng dậy xung phong ngâm bài thơ “Thương nhất anh nuôi” của Lưu Trùng Dương. Bác chăm chú nghe. Tới hai câu:

“Thương đồng chí, giúp đồng bào

Mình làm cách mạng việc nào cũng vinh”.

Bác khen hay và thưởng liền cho hai cái kẹo. Đồng chí Lư ăn một chiếc, còn một chiếc ngay sáng hôm sau anh “bay” ra bưu điện gửi về tặng vợ mới cưới của mình.

Theo lời đồng chí Giang Tấn

 

14. Phải bảo vệ từng cành cây

Hôm ấy, tôi có nhiệm vụ mắc đường dây điện thoại qua vườn Phủ Chủ tịch. Tôi đang trèo lên một cây ở ngay cạnh đường thì nghe có tiếng chân người bước tới. Tôi nhìn về phía đó thì thấy Bác đi tới. Tôi loay hoay định tụt xuống thì Bác đã giơ tay ra hiệu cho tôi dừng lại. Bác hỏi:

- Cẩn thận kẻo ngã. Chú trèo cây làm gì?

- Thưa Bác, cháu mắc dây điện thoại ạ!

Trong lúc ấy, tay tôi vít chặt làm gãy một cành cây nhỏ. Tôi giật mình nhìn Bác, lo lắng. Bác không nói chỉ chú ý xem từng động tác của tôi ra dây, mắc dây vào các cành cây. Sau đó, Bác chỉ vào một cành cây to ở cạnh ngay chỗ tôi, nói:

- Sao chú không mắc dây vào cành kia, vừa to vừa chắc chắn hơn. Các chú mắc dây cần phải chú ý bảo vệ từng cành cây nhỏ, nếu không làm gì có cây to, cành to mà mắc dây.

Nói xong, Bác đi vào nhà làm việc. Tôi nhìn theo Bác cho đến khi Bác vào hẳn trong nhà. Nhìn vào cành cây vừa gãy, nhìn vào đường dây đang mắc, tôi càng thấy thấm thía lời dạy của Bác.

Về sau, cứ mỗi lần mắc dây qua những hàng cây tôi đều thận trọng nâng niu từng cành con, chồi nhỏ.

(Theo lời kể của đồng chí Hiền)

 

15. Cây sáo trúc

Năm 1962, nghệ sĩ Đinh Thìn được vinh dự vào thăm Bác và thổi sáo để Bác nghe. Đinh Thìn thổi xong, Bác khen hay, rồi Bác mượn cây sáo để thổi thử. Sáo không kêu. Nén xúc động Đinh Thìn mạnh dạn hướng dẫn Bác cách bấm sáo. Tiếng sáo thổi vang lên trong phòng khiến các đồng chí Trung ương đang dự họp có mặt tại gian phòng ngạc nhiên. Bác nói vui:

- Không thầy đố mày làm nên.

Rồi Bác hỏi Đinh Thìn:

- Sáo này chú làm lấy hay mua?

Đinh Thìn đáp:

- Thưa Bác, cháu làm lấy ạ!

Bác khen:

- Tự lực cánh sinh như thế là tốt.

Chỉ một nhận xét giản đơn, nhưng những người có mặt trong phòng hôm ấy đều cảm nhận được một lời căn dặn tế nhị mà sâu xa.

(Theo lời kể của đồng chí Đinh Thìn)

 

16. Việc gì làm được hãy tự làm lấy

Tháng 8 năm 1952, Bộ Quốc phòng mở Hội nghị tổng kết chiến tranh du kích tại căn cứ địa Việt Bắc.

Một buổi sáng, như thường lệ, một chiến sĩ phục vụ hội nghị xách mấy ống tre đầy nước từ dưới suối lên cho chúng tôi dùng. Tôi và anh Hoàng đón lấy một ống tre. Bỗng một ông già mặc quần đùi, áo may ô, khăn mặt nhuộm màu lá cây quàng cổ, đi lại gần hai chúng tôi. Anh Hoàng ghé sát vào tai tôi nói nhỏ:

- Bác, Bác Hồ đấy!

Chúng tôi chưa kịp chào Bác thì Bác đã hỏi:

- Nước xách lên cho các chủ đánh răng rửa mặt phải không?

Không đợi chúng tôi trả lời, Bác nói:

- Không được thế! Hai chú tuổi còn thanh niên, buổi sáng chạy xuống suối rửa mặt tha hồ thoải mái, mà còn tập thể dục, như thế có hơn không?

Cả hai chúng tôi đứng lặng người. Bác nói tiếp:

- Việc gì có thể làm được hãy tự làm lấy, đừng bắt chiến sĩ vất vả vì mình, mà các chú thì không bị phụ thuộc.

Bác đi rồi, chúng tôi còn đứng nhìn theo và vô cùng thấm thía lời nhắc nhở của Bác.

Theo lời kể của Như An

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)

0 comments:

Đăng nhận xét