17.8.17

Tự truyện " Nẻo đường " Kỳ 3

Tập kết chuẩn bị đi B

Đoàn quân tập kết cứ thánh thót kéo dài. Mười một, mười hai giờ đêm vẫn có người đến.
Sáng hôm sau 17 tháng 6 được 64 người, vắng Phạm Đôn.
Ba giờ chiều, anh Dung cấp khí tài cho chúng tôi gồm: một đồng hồ vạn năng T108, một túi dụng cụ bằng vải bạt đựng vài cái vít cán gỗ, một kìm cắt, một kìm nhọn, một kìm vạn năng. Hai mỏ hàn, hai thanh thiếc và cục nhựa thông to bằng nắm tay.
Anh Dung đỡ ở trên xe xuống phát cho từng người, cũng nhanh chóng thôi. Mỗi người tay xách đồng hồ, tay xách túi dụng cụ là xong. Cứ lĩnh ào ào, chẳng thừa, chẳng thiếu. Thừa bộ của Đôn, anh Dung giữ lại để trả về trường.
Phạm Đôn, quê tỉnh Đông, chẳng biết tại sao vắng mặt. Sợ địch đánh Lai Vu bị dính chăng?
Bốn giờ chiều ăn cơm chính. Mỗi người lĩnh một bánh mì hai lạng rưỡi kẹp thịt rang để ăn đêm.
Đúng năm giờ chiều, hai chiếc xe Zin 3 cầu mới cảo, bò theo đường nhựa nhỏ vào sân kho. Anh Dung ra lệnh: “Các cậu tập hợp. Bàn giao quân”. Ba lô lên vai đứng thành hai hàng. Mỗi hàng lên một xe. Mỗi xe 32 người. Tôi đi xe đầu có hai xế, xe sau có một xế, một chỉ huy. Anh Dung và đồng chí chỉ huy cùng đếm số người. Rồi anh Dung kí nộp, đồng chí chỉ huy mới kí nhận. Hai Zin 3 cầu và xe tải của Trường Sĩ quan Thông tin xấu xấu bẩn bẩn cùng nổ máy, nối đuôi nhau bò ra Quốc lộ 1 theo đường cũ lúc vào.
Đến Quốc lộ 1, hai Zin rẽ phải xuôi Phủ Lý, một tải rẽ trái về Hà Nội, ngược Phủ Lạng Thương.
Đi suốt đêm. Sáng 18 tháng 6, hai xe Zin chúng tôi trú tại cổng Đông, thành nhà Hồ. Lính tráng ở nhà dân, trạm nấu cho ăn. Đêm 18, qua bến phà Kiểu, rồi đến một địa danh thuộc huyện Yên Định, Thanh Hóa. Nghe nói đây là nông trường Bộ của Nông trường Sao Vàng. Chanh, mít nhiều tha hồ ăn. Khu vực đó là F338 đóng quân. Do nhầm vị trí nên chiều tối ngày 19 tháng 6 chúng tôi mới hành quân bộ từ đấy đến xã Xuân Vinh, thuộc huyện Thọ Xuân bên bờ sông Chu, khu vực đó gọi là A1, của sư 338 do thiếu tướng Tô Ký làm sư trưởng. Mới hành quân được một đoạn, cái F4H của hải quân nó quần mãi, làm cho đoàn quân 64 người phải ém mãi mới đi được.

                                                        * * *

Ở cái bộ phận A1, thuộc đất xã Xuân Vinh, Cầu Bụt này coi như chúng tôi tự quản. Sáu tư người chia làm 2 trung đội. Tôi làm B phó một B do anh Hoàng Đạo Nhân làm B trưởng. Có một đồng chí cấp hàm thượng úy chỉ huy, nhưng có bao giờ lính tráng thấy mặt. Suốt ngày chỉ ở tốp nhà bếp và vuốt ve con chó Béc-giê.
Về Xuân Vinh để bồi dưỡng sức khỏe và rèn luyện hành quân đi Nam. Ở đây ăn bồi dưỡng mới buồn cười làm sao.
Ở đây ăn chế độ bồi dưỡng đi B mà ăn độn khoai lang khô bị mốc. Cái khoản ăn khoai lang khô, cái miệng tôi nó sành lắm. Khoai lang băm phơi khô, không được nắng bị mốc, người ta mang rửa đi như vo gạo. Xong phơi lại, trông miếng khoai trắng tinh có vẻ ngon mắt nhưng ăn thì nhạt hoét.
Một hôm anh em hành quân đêm rèn luyện, tôi trực ban không phải đi. Sáng, ăn cơm phụ độn khoai lang với muối vừng nhạt. Chẳng mấy người đến ăn, còn “bận ngủ”. Tôi giải tán, cho chị nuôi đổ chăn lợn, rửa chậu đĩa chuẩn bị chia cơm trưa. Một chậu cơm phụ, một đĩa muối vừng tôi đánh vèo cái là hết. Anh em bảo là ăn “trâu bò”. Tôi không tức mà hãnh diện, đó là “trời phú”.
Người ta hỏi, trên đời này thứ gì ngon nhất? Trả lời liền không cần suy nghĩ “thứ đói”. Hay như “Trạng” cho “bệ hạ” ăn “mầm đá” mới ngon!
Chiều 5 tháng 8, chúng tôi lĩnh quân trang chuẩn bị đi B. Đến kho tận bên Yên Định cách năm bảy cây số mới có. Cái ngày này cách đây ba năm, địch mở màn chiến tranh phá hoại miền Bắc. Giải tán tổ chức cũ, biên chế đơn vị mới lấy tên là Đoàn 239 đi B. Đoàn trưởng là đồng chí thiếu úy trên cử xuống. Anh Nguyễn Đức Đàn, cấp thượng sĩ làm phó đoàn. Anh Nguyễn Anh Tấn, cấp thượng sĩ, chính trị viên đoàn. Đoàn gồm 64 đồng chí đi chiến đấu, đi B1 có 22 đồng chí, đi B2 có 42 đồng chí. Đi B1 và B2 trang bị giống nhau, chỉ khác là B1 hơn B2 một bộ quần áo ka-ki Tô Châu cả quần đùi áo lót nữa mà thôi.
Tối 5 tháng 8, chúng tôi sinh hoạt nhẹ nhàng tại sân kho của đội sản xuất.
Đồng chí đoàn trưởng giới thiệu: “Tôi Phạm Ngoặt, quê Bạc Liêu, chuyên nghiệp lính kèn đoàn quân nhạc được bổ nhiệm làm đoàn trưởng. Đưa các đồng chí vào chiến trường. Bàn giao xong ra Bắc. Các quân tư trang cũ, gói lại, ghi địa chỉ, tổ chức sẽ có trách nhiệm gửi qua bưu điện về tận gia đình”.
Xong đồng chí phê bình đoàn hầu hết mặc áo lót đi sinh hoạt. Tôi phản đối: “Báo cáo thiếu úy, tân trưởng Đoàn 239. Áo có cổ bẻ, có hàng cúc đóng sao gọi là áo lót được. Phải gọi nó là áo cộc tay hay áo “soóc”, mà mùng 2 tháng 9 năm 1945, quân đội ta còn mặc “soóc” duyệt binh cơ mà”.
Trưởng đoàn phải chịu cái lý sự của tôi. Tôi, đích danh tiểu đội trưởng Tiểu đội 4, vừa được hạ từ chức B phó xuống. Thì ra cái A trưởng “tiền tuyến” nó có giá hơn cái B phó “hậu tuyến” nhiều.
Chúng tôi mỗi người có một chứng minh thư Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, ghi như vậy. Do ông Cân ký cấp ngày 20 tháng 12 năm 1960. Đảng viên thì có giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam. Viết đến đây, tôi dừng bút, lục cặp “lưu trữ” cá nhân tìm hai giấy tờ trên. Bị thất lạc từ bao giờ. Thế có tiếc không chứ! Nhất là chứng minh thư Quân giải phóng.
Đoàn có hai trung đội: A1, A2, A3, A4 thuộc Trung đội 2 đi B2, Hải Yến, đường dây S9; còn A5, A6 thuộc Trung đội 1 đi B1. Tôi chẳng biết đi B1 là đi ở chiến trường nào.
Số 65 anh em đi B đợt này (còn 64, vắng Phạm Đôn), là chọn lọc từ 250 học viên khóa đó. Một nửa học ở C9, Tiểu đoàn 3 toàn học máy công suất nhỏ từ 15W trở xuống. Một nửa học ở C7, cũng Tiểu đoàn 3, toàn học máy có công suất lớn chuyên đặt trên xe, ưu tiên chọn lọc đi chiến trường. Ngay như Phạm Đôn tụt lại cũng là con của đồng chí đại úy, đang công tác ở Bộ Tổng tham mưu. Đồng chí Phạm Ngoặt trưởng đoàn, tự giới thiệu rồi. Phó đoàn Nguyễn Đức Đàn, có biệt danh là đàn Măng-đô-luyn, là đảng viên, nhập ngũ 1963, quê đất hoa Ngọc Hà, trước khi nhập ngũ là cán bộ của Bộ Xây dựng.
Đồng chí Nguyễn Tuấn Tràng cũng quê “Ngọc Hà em ơi lộng lẫy hoa thơm”, là đảng viên, nhập ngũ 1965.
Đồng chí Nguyễn Anh Tấn, tuổi Quý Dậu (1933) già nhất Đoàn 239, quê Trung Hà nhập ngũ tháng 1 năm 1966. Vào học hàm binh nhì, tốt nghiệp hàm thượng sĩ. Trước khi nhập ngũ là bí thư chi bộ, phó chủ nhiệm hợp tác xã. Một số anh em ở E36 thuộc F308, đóng quân ở vùng bến Trung Hà quê anh. Chi đoàn thanh niên của đại đội, kết nghĩa với chi đoàn địa phương. Ông Tấn đại diện cho đảng, chính quyền, đoàn thể của địa phương đến dự, còn lên công nhận giao ước thi đua. Lòng vòng thế nào lại cùng về học với một số anh em ấy.
Trần Thanh Tân vì thấp lùn cho nên có biệt danh là “Tân mẩu”, con ông Trần Ấn, Giám đốc Xí nghiệp 382 như đã kể trên.
Lê Văn Lộc trung sĩ, sau khi độc tấu vở “Giôn-sơn đau đầu” ở hội diễn văn nghệ Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc, từ ấy anh em gọi là Lộc “Giôn-sơn” chứ không phải Nguyễn Tiến Lộc kể ở các đoạn trên. Anh là con đồng chí cán bộ cao cấp ở Bộ Nội vụ công an. Sau giải phóng miền Nam, anh chuyển ngành về Bộ Nội vụ công an. Nay về nghỉ hưu trí với hàm đại tá giống như anh Nguyễn Tuấn Tràng.
Đồng chí Đỗ Văn Thành, bố là sĩ quan trong quân đội thời chống Pháp bị thương hỏng một mắt. Chuyển ngành về công tác ở Tổng Công đoàn Việt Nam.
Thượng sĩ Phan Quốc Minh con cụ Phan Dần. Trong chống Pháp cụ là cán bộ của Quân khu 4. Sau hòa bình chuyển ngành về Tòa án Nhân dân tối cao, ở số nhà 8 Lý Văn Phúc cạnh sân hàng Đẫy, anh là đảng viên.
Trung sĩ Hoàng Hữu Chuyên, cùng huyện với tôi, con của liệt sỹ chống Pháp là một trong mười du kích của làng Tầm Xá, Đông Anh. Mười du kích Tầm Xá kìm chân địch, để Trung đoàn Thủ đô rút ra khỏi Hà Nội sau 60 ngày đêm chiến đấu. Ngày nay, người ta đang đệ trình nhà nước xây đài tưởng niệm mười du kích liệt sỹ ấy. Hoàng Hữu Chuyên khi chuẩn bị nhiệm vụ đi B thì vừa nhận được giấy báo tử anh trai cả là Hoàng Hữu Chắt. Sau anh Chuyên cũng hy sinh ở chiến trường B2. Mẹ anh là “Mẹ Việt Nam anh hùng”.
Thượng sĩ Hoàng Đạo Nhân con của nhà nghiên cứu cổ văn Hoàng Lâm.
Trung sĩ Nguyễn Công Hoan, chơi ghi-ta giỏi nên gọi là “Hoan ghita”, con cụ Tấn, người chơi Tây-ban-cầm nổi tiếng ở nước ta một thời.
Trung sĩ Nguyễn Văn Bảy, anh ruột của đảng ủy viên xã Vân Hà, làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp.
Thượng sĩ Dương Tiến Sử người Liên Hà, trước nhập ngũ là cán bộ khối ủy ban huyện Đông Anh…
Tôi, thầy bu là dân thường, thành phần trung nông, trên chiếu cố “một lần nữa” là đảng viên. Mà bản thân cũng cần mẫn dễ thương, tạng người khắc khổ, luôn có chí tiến thủ, cũng cho đi đợt này. Cũng như lần trước trên chiếu cố là đảng viên cho nên được vào đội bộc phá diễn tập, công đồn Đạo Tú. Được vậy, tôi lấy làm vinh dự lắm!
Sau năm 1975, ra Bắc gặp một số anh em cũ cùng Tiểu đoàn 3 hồi học ở Trường Sĩ quan Thông tin hỏi chuyện. Anh em kể là: đợt ấy các anh được chọn đi chiến đấu, số chúng tôi bị gạt lại, sau vài ngày nhập vào C7. Chúng tôi phải đi Liên Xô học, xong về nước nhận công tác. Phân về các quân khu, quân binh chủng. Đa số về Phòng không Không quân chứ không về cấp nhỏ từ sư đoàn trở xuống.

                                   Hành quân đi B

Hành quân trên đất Khu IV

Sáng ngày 6 tháng 8 năm 1967, các nẻo đường thôn thuộc xã Xuân Vinh, huyện Thọ Xuân đều nhộn nhịp, tấp nập.
Lính tráng đến nhà trực ban khu vực A1, F338 để gửi bưu phẩm, thư từ về nhà.
Nhà trực ban là cái nhà lá vách đất, một gian hai chái, có hai ông bà già, cô cháu gái nội chừng mười ba, mười bốn tuổi. Có lần trực ban tôi hỏi cháu, cháu kể là ở với ông bà nội, còn bố mẹ đều bị chết đói rồi. Lòng thương cháu, lúc sắp chia tay này lại trỗi dậy. Một số anh em trẻ cùng trung đội, vô tư cứ hay nhận xét phê phán tôi: “Bủ cứ đa sầu, đa cảm vớ vẩn”. Chính những cái nhỏ bé, ít người để ý đến ấy, nó lại nung nấu cho mình ý chí và nghị lực làm nên cái to.
Tầm năm giờ chiều, cơm nước xong, tôi chia tay gia chủ. Trang bị đầy đủ, tập trung ở sân kho đội sản xuất, sáu giờ tối sẽ xuất phát. Từ nay chúng tôi là Chiến sĩ Giải phóng quân, là đảng viên đảng nhân dân cách mạng, là đoàn viên đoàn thanh niên cách mạng. Tất nhiên là của miền Nam Việt Nam rồi.

                                                    * * *

Tối đó địch đánh phá sớm, mới hơn sáu giờ tối, trời chưa tối hẳn, mà máy bay địch đang đánh ở bến đò, bến phà hay cầu qua sông Chu, mà tí nữa chúng tôi sẽ qua đấy. Pháo sáng chúng thả, mặt trời buổi hoàng hôn chiếu vào trông loang loáng, nên chúng tôi xuất phát muộn.
Tầm chín giờ tối, chúng tôi đi qua nơi vừa bị đánh bom lúc chiều tối. Nó là cái cầu gỗ. Địch đánh cầu này, chẳng phải đợt vừa rồi mà cả các lần trước đây nữa, khiến cho nó cứ lung lay như “răng bà lão”. Khó đi quá, có chỗ còn mỗi tấm ván. Đi khéo kẻo lăn ùm xuống sông thì khốn! Qua cầu, 66 người an toàn (64 người cộng với trưởng đoàn Ngoặt và y tá), không ai xuống sông “trâu” tắm mát cả.
Tôi bảo:
- Này, Lộc “Giôn-sơn”, cái cầu nó cũng “gàn gàn bát sách” như cái cậu Nguyễn Anh Dũng và Trần Bảnh vậy.
- Ừ, Nguyễn Anh Dũng và Trần Bảnh thì “gàn bát sách” chứ cầu, anh cũng bảo nó là “gàn bát sách” chẳng hợp nghĩa tý nào? Bủ cũng lẩm cẩm rồi!
- Thế thì dùng cụm từ nào gán cho nó được!
Chúng tôi nhắc đến Dũng và Bảnh là như thế này: Dạo học ở Trường Sĩ quan Thông tin, theo lệ mỗi người làm Tự - truyện thông qua tiểu đội. Nguyễn Anh Dũng khi thông qua cậu ruột là Vũ Quang làm Bí thư Trung ương Đoàn. Dũng nói: “Tôi chẳng biết gì về cậu tôi, muốn biết hỏi Ban chấp hành Đoàn thanh niên lao động Việt Nam”.
Còn Trần Bảnh nhập ngũ nấu bếp, con đồng chí thiếu tướng, cấp trên cho đi học sĩ quan không đi mà rằng: “Bố tôi làm tướng rồi, giờ tôi chỉ làm lính thôi”.
Trạm đầu ngắn, tầm 12 giờ đêm đã đến nơi, úi chà, thế này thì đi B mãi được. Ăn ở nhà dân. Ba lô mỗi người đi B có bốn cân gạo, thực phẩm khô trang bị cho cá nhân như thịt hộp, gói thuốc chống đói, gói mì chính năm lạng, cân rưỡi muối rang, hai người ba hộp ruốc… Khi nào có lệnh mới được sử dụng đến nó.

                                                       * * *

Từ đất Lam Sơn của Thanh Hóa, qua Nghệ An, qua Hà Tĩnh, qua Quảng Bình toàn đi đêm. Chỉ một số ít trạm mà qua rừng, hoặc trời mưa tầm tã được đi ban ngày. Kể từ Trường Sĩ quan Thông tin đi thì chúng tôi đã qua những sông chính là: sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Đuống, sông Nhị Hà, sông “Ngựa”, sông “Trâu”. Đến trạm đầu, trưởng đoàn Ngoặt phổ biến là pháo biển bắn tới đây, phải đề phòng.
Năm giờ chiều ngày 7 tháng 8 năm 1967 tập trung ngay ria làng. Một bãi có nhiều cây, tôi cảm giác như ria rừng. Hành quân tiếp tầm 10, 11 giờ đêm đi trên đường mương con. Qua trại chăn nuôi của hợp tác xã, các cô vẫn đốt đèn Hoa Kỳ lù mù soi lợn. Có đèn vẫn để cố định trên tường, chắc là chuồng đó lợn đẻ. Một số cô trẻ còn hò Thanh “gáy” chúng tôi. Cả đoàn chẳng có ai người xứ Thanh, nên không ai “gáy” lại. May có ông Tân “mẩu”, nguyên quán Quỳnh Lưu.
Cậu ta cất tiếng gáy: “Ơ… thuyền than lại đậu bến than. Thấy em vất vả cơ hàn anh thương” y hệt giọng Thanh, điệu hò xứ Thanh. Anh em khoái chí cười râm ran. Trạm này xa quá, đến nơi là tang tảng sáng, nhưng vẫn không bỏ quy định là đun nước sôi pha âm ấm bỏ ít muối vào. Khoét cái hố vừa hai bàn chân, sâu cỡ 5, 7 phân cốt sao ngập hai bàn chân là được. Lót miếng ni-lon, đổ nước đã pha muối nói trên vào ngâm chân, vừa ngâm vừa bóp bàn chân, khi nào nguội nước là được. Xong rửa lại nước giếng là lăn ra ngủ.

                                                      * * *

Mười giờ sáng 8 - 8 - 1967, chúng tôi dậy ăn chính, xong lại ngủ. Bốn giờ chiều dậy ăn chính, chuẩn bị hành quân lĩnh nắm cơm phụ ăn đêm.
Hôm đi qua Dốc “Bò lăn” ở đất Thanh Hóa, chẳng biết nó thuộc huyện nào. Bốn giờ chiều đã vượt dốc, khát nước quá. Tôi và một số đồng chí uống nước suối. Trưởng đoàn Ngoặt cho dừng ngay lại ở bờ suối chấn chỉnh.
- Đồng chí nào uống nước suối giơ tay. Đảng viên, đầu tàu gương mẫu giơ tay đầu tiên.
- Báo cáo tôi ạ! Trượt chân ở hòn đá rêu trơn, ngã úp mặt xuống, thế là tranh thủ chớp thời cơ làm một bụng.
May ba lô chỉ bị ướt một tý ở ria. Sau đó anh em ào ào giơ tay. Lác đác còn vài đồng chí không giơ tay, thật lạc lõng!
Đúng là ông Phạm Ngoặt, chuyên nghiệp “lính kèn” có khác. Tức mấy đi chăng nữa, sao lại cho anh em dừng lại ở chỗ nóng bỏng bom đạn này. Phải nhanh chóng vượt qua chỗ “cao điểm” này chứ, thậm chí phải chạy, đến chỗ an toàn mới cho dừng lại, rồi muốn làm tội làm vạ gì thì làm.
Mấy ngày hành quân, là chúng tôi thích nghi ngay với “thất thường”: Sinh hoạt thất thường, ăn uống thất thường, ngủ nghỉ giờ giấc thất thường… xem ra “động hình” của lính tráng Đoàn 239 này dễ uốn nắn.
Có trạm đi 5 giờ chiều, 11 hoặc 12 giờ đêm đã đến nơi. Có trạm đi từ 3 giờ chiều mà 7 hoặc 8 giờ hôm sau mới đến nơi. Thường đi ba ngày nghỉ một. Đột xuất đi hai nghỉ một; đi bốn, năm ngày nghỉ một. Chẳng có quy luật gì cả.

                                                    * * *

Sang đất Nghệ An. Như vậy là chúng tôi đã qua “thế” sang “thần”.
Hôm ở thị trấn Đô Lương và thị trấn Nam Đàn. Máy bay địch đánh phá rát quá, cứ liên tục từ 9, 10 giờ sáng đến ba giờ chiều. Hai trạm đó chẳng ngủ được mấy. Hôm sau Đô Lương, địch kết thúc thả bom vào ba, bốn giờ chiều. Vũ Quý đúc nước vào bi-đông nhựa rồi thả vào bể nước ăn, cho nó nguội. Anh gọi tôi dậy xem “ba ba” nó nổi lên nhiều lắm! Mười bi-đông nhựa nổi mập mờ cứ như mười “ba ba” thật. Bỗng thấy một đồng chí, cấp hàm thượng úy, dắt cái xe đạp xết-xăng, đeo kính râm, đi vào thôn - thời Tây người ta gọi xe đạp vành 700 là xết-xăng. Nghĩ bụng, chắc là chỉ huy đơn vị cao xạ pháo vào thôn liên hệ gì đó. Tôi ngắm nhìn anh mãi cho tới khi khuất mới thôi. Vóc người mảnh khảnh đến lạ thường, cho áo vào trong quần, thắt cái dây lưng. Đáy quần may ra chỉ vừa bằng chét tay nhỏ. Tôi nghĩ: Vóc người thế kia mà chống trọi với máy bay địch suốt từ nửa buổi sáng tới giờ có đến sáu bảy tiếng đồng hồ. Hết tốp này đến tốp khác, giữa hai tốp có khoảng “thư giãn” nhưng không lâu. Nhìn vóc anh ai cũng bảo gió cấp 5, cấp 6 cũng đã “trên bờ bay xuống ruộng” rồi. Thế mà vẫn trụ vững được những trận mưa bom của địch, bão đạn của ta. Giờ tạm yên, anh đi vào trong làng, phong thái vẫn ung dung, áo quần vẫn tươm tất. Tự nhủ: Sau này mình được chỉ huy phải cóp-py phong cách ấy mới được.
Một trạm, vẫn đất Nghệ An, tầm 11 giờ đêm, trưởng đoàn hạ lệnh: “Ăn cơm phụ ba mươi phút để vượt lộ!”
Vừa ngồi nghỉ dăm ba phút, một tốp phản lực ào tới. Tưởng chúng bay qua, không ngờ vòng lại thả pháo sáng ngay trên đầu. Chúng tôi chạy tán loạn tìm nơi trú ẩn. Tôi chạy tạt phải, chỉ độ chục mét là bờ suối. Phản lực lao xuống. Chỉ thấy “ụt” một cái, là tiếng bom nổ xé tai. Đất sỏi bay rào rào, tức cả ngực. Phản lực vẫn gầm rít, pháo sáng vẫn sáng trưng. Một bóng người lom khom chạy ra lấy dù pháo sáng. Trưởng đoàn quát: “Đồng chí nào kia, quay lại, lộ thì chết hết, kỉ luật bắn bỏ”. Vẫn ngoan cố không quay lại, lấy bằng được cái dù pháo sáng mới thôi. Lộn xộn trời tối chẳng rõ ai. Lát sau tốp phản lực bay đi, pháo sáng tắt, chỉ còn những đốm lửa cháy.
Trưởng đoàn ra lệnh: “Bám sát đội hình, nhanh chóng vượt qua lộ, đề phòng bom nổ chậm”.
Nào có xa gì, chỉ cách chỗ nghỉ có ba bốn trăm mét là đường ô tô, địch thường xuyên đánh phá chớp nhoáng thế.
Trưởng đoàn Phạm Ngoặt ơi! Đúng là “lính kèn” nguyên hình rồi! Mới đi lần đầu, ai mà biết được? Không biết phải hỏi giao liên chứ! Tôi cứ tự đặt câu hỏi, rồi lại thử giải thích. Tìm lý lẽ để bao biện cho trưởng đoàn.
Lúc vượt qua lộ, những đốm lửa cháy hòa mùi thuốc bom khét lẹt, đất đá lởm chởm, hố bom chi chít. Vài đồng chí nữ dân quân đã có mặt ở đó hướng dẫn lối đi và giục chúng tôi vượt nhanh chân kẻo bom nổ chậm. Thế là chạy thục mạng trên miệng hố bom cũ, mới. Chỉ mười, mười lăm phút đã đến đoạn an toàn. Đi qua các xóm, dân còn thức, họ đang nói chuyện rôm rả. Tôi nhận thấy ở tuyến này sự “ác liệt” và “thanh bình” chỉ cách nhau gang tấc mà thôi.
Trưởng đoàn hạ lệnh nghỉ ba mươi phút ăn cơm phụ. Một số mất cơm, “ăn ké” nhau. Xong, truy tìm đồng chí nào lấy dù pháo sáng. Chẳng ai nhận mà cũng chẳng ai khai ra. Máy bay đánh, chúng tôi chúi ria suối, ai dám quan sát lúc đó mà biết là ai. Tôi rỗi mồm, nói chêm vào:
- Lắm “ai” thế? Khác nào: “Ai ơi về ăn cơm. Cơm ai nấu. Ai nấu chứ ai”.
Cả đoàn ồ lên cười xí xóa.
Hôm sau, đi lấy cơm ở nhà bếp. Đỗ Văn Thành nắm chặt trong lòng bàn tay, dúi vào túi quần tôi bảo: “Cho Bủ miếng dù, gói cơm phụ”.
Tôi giữ mãi miếng dù pháo sáng. Ở ngoài này ăn cơm trạm thì dùng để gói cơm phụ buộc vào dây lưng to. Vào trong kia tự nấu lấy mà ăn thì dùng để nắm cơm.
Đoàn tôi đi khá an toàn, chỉ mỗi lần đó địch đánh ria đội hình, vào đến chỗ tập kết là Trạm 10 khu vực Cầu 48. Không có dịp nào lấy dù pháo sáng nữa.
Hết đất Nghệ An, Đoàn 239 vượt qua sông Lam, còn gọi là sông Cả. Trước mặt là Hà Tĩnh, quê hương cụ Tố Như và Tổng bí thư đầu tiên của Đảng.

                                                    * * *

Một hôm đi trên đất Hà Tĩnh, trạm ấy khá xa, mà lại vào tuần trăng, có lẽ là trung tuần tháng 7 Âm lịch. Giao liên cho nghỉ ở sườn đồi, lúc đó khoảng một, hai giờ đêm. Có một chiếc phản lực bay qua. Nó bay thấp lắm không bật đèn. Chúng tôi còn nhìn rõ nó đen chùi chũi, lao trong đêm tối như mũi tên. Xong giao liên dẫn đi tắt cánh đồng khá rộng, có lúc ngồi nghỉ giải lao giữa các thửa ruộng đất bạc trắng do hạn hán kéo dài. Gợi tôi nhớ cảnh tát nước chống hạn năm mới hòa bình, lòng tôi xao xuyến nhớ nhà.
Chúng tôi tiếp tục đi mãi mới lên bờ mương khá rộng, đi dọc bờ mương theo hướng tay phải, đi được một đoạn thì lác đác đôi giọt mưa nặng hạt vào vai và cánh tay. Rồi nhanh dần, nhanh dần. Người đằng sau rút cho người đằng trước tấm ni-lon mét rưỡi màu cánh gián cuộn tròn để trên cùng ba lô. Triển khai ni-lon nhanh chóng, trận mưa khá to, sấm chớp liên tục. Giày cao cổ bết chình chịch, đôi khi miết xuống cỏ ở bờ mương cho đỡ nặng. Có trận mưa, tiết trời dìu dịu lại thấy khoan khoái dễ chịu.
Khoảng độ ba bốn giờ sáng, vào một thôn. Tôi cảm thấy như làng ở đất trung du Phú Thọ. Đường làng, chân đi cảm giác nghiêng nghiêng, bên tả thấp, bên hữu cao. Những cây cọ cao thấp nhấp nhô, giao liên dẫn từng A vào nhà dân ở. A4 tôi rẽ trái đi ba bốn chục mét xuôi sườn đồi vào một ngôi nhà. Ông chủ chừng ngoài năm mươi tuổi bảo cô con gái dẫn bớt một số anh em sang nhà bên. Đây là đất Đức Thọ, Hà Tĩnh.
Trạm này nghỉ một ngày, sáng ra tha hồ mà tắm giặt, phơi phóng.
Ông chủ bảo: “Hôm nay trời mưa, các chú ướt át vất vả. Nhưng dân chúng tôi mừng lắm. Đã mấy tháng nay vùng này mới được giọt mưa. Có nước để làm mùa kẻo chết đói mất!”
Tầm mười giờ sáng, chúng tôi ngủ dậy, chỉ mỗi ông chủ bện thừng ở sân. Ngôi nhà lợp lá cọ năm gian khá rộng. Đầu đốc bên trái làm bai ra thành một gian nhỏ, mái thấp lụp xụp. Trên mái có miếng kính to hơn quạt nan để lấy ánh sáng, nơi đó làm nhà ăn. Nối dài ra phía trước thò hẳn ra đến hơn mét so với cửa nhà, trổ cửa ra sân là bếp nấu. Vùng này nấu củi nên bếp chẳng phải to lắm.
Đi bê cơm nhà bếp về, cả tiểu đội tập trung ăn ở đây. Hai mâm để xúm cả vào bàn ăn, lấy thêm ghế chéo “ba nan” vào ngồi mới đủ. Ông chủ ngắt một nắm ớt sừng bò chín đỏ tươi vào đặt lên bàn ăn: “Các chú có dùng cái này không?” Chúng tôi đồng thanh: “Có ạ, thích lắm ạ”. Rồi ông “À” một tiếng. Quay ra vườn ngắt mấy quả chanh mang vào. Đêm qua được trận mưa to, quả nào quả nấy tươi rau ráu, pha nước đường cứ lấy dùng, ông dặn vậy.
Cơm xong, ông pha cho một tích nước chè, ủ trong giỏ bì để uống. Trả chậu đĩa nhà bếp xong, mọi người lăn ra ngủ. Tôi còn thức, hút thuốc lá xì xụp. Lại thích cuốn thuốc của ông chủ, nó đậm đà hơn.
Tầm đứng bóng, anh con trai cả ngoài 20 tuổi đi cày về. Người đen đủi, dáng vóc khắc khổ giống ông. Cô con gái thứ hai 19 tuổi cũng đi làm ở trại chăn nuôi của hợp tác xã về. Hai cậu con trai đứa 16, đứa 12 cũng đi học về.
Tôi nghĩ bụng: giờ chưa nấu thì bao giờ ăn?
Mọi người trong nhà đều sẽ sàng, nói năng nhỏ nhẹ, dường như giữ yên tĩnh cho bộ đội ngủ. Tôi thấy cô hai sẽ sàng lấy đũa bát. Thì ra cơm trưa đã nấu sẵn. Đó là hũ nước mắm gắn xi cũ, nay dùng để om ngô. Ngô om độn khoai lang khô, sắn và đậu đen. Nhìn là tôi biết ngay, vì nhà tôi hay ăn cơm kiểu này. Hũ ngô để giữa bàn ăn, và bát tương dầm ớt. Năm bố con ngồi vào bàn ăn. Mỗi người cũng được hai lần xới. Xong bữa ăn cô gái dọn dẹp. Rửa bát đũa xong lại rửa hũ, cho nguyên vật liệu vào, quy trình lặp lại như bữa trưa. Tôi cùng ông chủ và anh con trai cả ngồi uống chè ở bàn, hút thuốc cuốn, nói khe khẽ đủ nghe. Cô con gái cũng vào tư dinh ngả lưng. Chẳng hỏi cũng biết “bà” đã qua đời. Cũng cảnh “gà trống nuôi con” như thầy ở nhà. Cũng mong ông chủ hỏi gia cảnh, để bộc bạch cho vơi đi ít nhiều tâm trạng, để tâm hồn chứa đựng trong hai thế hệ sớm hòa quyện, và điều đó đến ngay tức khắc.
Ông vê điếu thuốc, châm lửa hút, rít một hơi, ngụm ngụm chè, chậm rãi hỏi:
- Thế chú quê đâu?
- Con quê Đông Anh, Hà Nội ạ.
Sau khi nghe tôi bày tỏ hoàn cảnh gia đình, ông buông một câu:
- Thế chú cũng nặng gánh gia đình nhỉ?
- So với nhiều người họ còn nặng hơn con.
Rồi tôi ngỏ lời mời gia đình, tối ăn cơm chung cho vui. Ông phấn khởi nhận lời ngay: “Tôi cũng có ý định bữa tối mời các chú ăn chung với nhà tôi”.
Thì ra luồng suy nghĩ quy tụ.
Anh em ngủ coi chừng đã mãn. Nhẹ nhàng thức dậy, uống nước, hút thuốc lá, thuốc lào. Tôi thông báo, chiều lấy cơm muộn. Hôm nay nghỉ, thì năm giờ chiều mới ăn, nếu 6 giờ đi lấy thì muộn quá nhà bếp họ bỏ đi mất.
Từ hôm xuất phát hành quân đến nay, anh em uể oải lắm. Chẳng khi nào ăn hết cơm. Thức ăn bồi dưỡng B do đường dây cấp vẫn còn, có khá hơn ở đất Lam Sơn.
Gia đình đã bàn tính từ lúc nào không hay biết, mà đang nói chuyện, anh cả đã sắp vó, sai thằng út mang theo cái rổ sề đi đựng cá. Tôi cũng theo xem. Cái ao chỉ rộng cỡ ba sào, một phía đắp bờ đập to cao, trên mặt trồng chuối. Ba lề là sườn đồi khỏi đắp, những cây cọ cao thấp đủ loại. Ao đón nước màu của cả ngõ xóm, vài chục nhà chảy vào, thế này thì cá lớn nhanh như thổi, chỉ cần thả chứ không cần nuôi.
Xem cất vài mẻ vó, tôi về nhà bảo Đinh Văn Thịnh: “Này, xuống bếp làm tô mỡ nước tối rán cá”.
Bát sắt dù là “B52” ăn thua quái gì, thế là cậu vào chạn bát vớ cái tô to tướng đi xin. Bát mỡ đầy đi chầm chậm, gần như dón dén từng bước. Lộc “Giôn-sơn” nằm úp ở phản trông thấy phì cười:
- Chúng mày ơi! Trông thằng Thịnh cứ như là “bố sai con mang đĩa đi xin nước mắm” ấy.
Thịnh tức nói: “Ông chả đổ mẹ nó đi bây giờ, mất xơi”.
Anh em không cười nữa.
Một lát sau, hai anh em nhà chủ mang về cỡ bốn năm cân cá tạp: rô, diếc, trê, trõn, chép, trắm, mè…
Những tay “ba toa” trong tiểu đội thiếu gì, như Thịnh, Lộc, Quý, Đức, Bảy, Miêng…, mỗi người một dao găm “quân dụng”, xúm vào làm nháy mắt là xong. Rửa sạch hai, ba nước. Đổ ra rổ cho róc nước, tôi chạy xuống nhà bếp làm một bát “B52” muối trắng. Đổ cá vào chậu thau to trộn đều muối. Một là làm cho con cá khi rán không bở, hai là cá ao vừa bắt lên sạch mùi bùn. Lúc nào rán cho ra rổ rửa sạch lại và không mặn quá. Ông chủ đã nhốt con gà trống to, từ lúc nào cũng không hay biết. Dễ phải đến hai cân có dư. Thịt ra luộc chín thắp hương cúng tổ…
Chặt thịt gà bày vào ba đĩa lá lật trông cũng đầy đặn. Thái nhỏ lá chanh rắc lên trên. Mùi lá chanh quện với mùi thịt gà sao mà hấp dẫn thế. Nhìn khuôn mặt chúng tôi, ai mà chả biết các anh thèm thuồng cái hương vị ngày giỗ tết ở nhà.
Đúng kế hoạch, sáu giờ tối, chúng tôi lấy cơm về. Hai chậu cơm ắp làm một, hai tô thịt hộp kho sền sệt san làm ba, hai đĩa sắt tráng men rau muống luộc nộm dấm lạc rang san làm ba, hai đĩa thịt ba chỉ luộc san làm ba, hai lưng chậu canh rau cải gừng đổ làm một bưng về ai muốn húp thì tùy. Ba mâm cỗ có mười lăm người. Mỗi mâm có đĩa thịt gà, đĩa cá rán, đĩa thịt luộc, đĩa rau muống nộm, tô thịt hộp, một đĩa con tiết dầm muối chanh ớt. Một bát con nước mắm cũng chanh ớt. Chậu canh rau cải và chậu cơm để khe giữa ở mâm. Tôi làm một bát con tương dầm ớt để chấm cá rán, hai mâm kia cũng bắt chước làm theo. Ông chủ mua phân phối ở cửa hàng hợp tác xã mua bán có nửa lít rượu. Nên mười hai chén chưa được đầy lắm. Chúng tôi chỉ dám “tắc-cú” tí một, chứ không dám “na-phan” kẻo đồ nhắm còn nhiều mà cạn mất tửu. Thịt gà mà không có tửu nhập thì còn ra cái vị gì nữa. Lúc đầu chuẩn bị: Ba mâm trải chiếu một hàng ở sân.
Mâm một có ông chủ, tôi, cậu út, Lộc và Khang. Mâm hai có A phó “Ai-đích”, cậu cả, cậu ba, Thịnh và Bảy. Mâm ba có Ngô Trọng Miêng tổ trưởng tam tam, Vũ Quý, Trí, Tự và cô hai.
“Phạm thượng” tôi mở đầu: “Con đại diện cho cả tiểu đội, trong bữa tiệc thân mật thắm tình quân dân, kính chúc bố “trường sinh bất lão”. Chúc các em khỏe mạnh, vui tươi, công tác học tập tấn tới”. Tất cả nâng chén. Mỗi người cầm chén “Xin mời”! Rồi ngụm.
Cô hai cũng đáo để nói: “Em không có chén thì nâng bằng gì?”
- Ồ thì nâng bằng bát. - Tôi bảo vậy.
Tôi tráo đầu đũa, rồi bắt chước động tác ông già nhà quê tiếp bạn, cúi nhòm nhòm miếng thịt gà ngon, gắp đặt vào bát ông, ngẩng lên: “Thưa bố, tửu nhập kê ạ!”
Anh em cùng gia đình, vừa ăn vừa chuyện trò vui vẻ. Rôm rả nhất vẫn là mâm một và ba.
Nói về cô Hai, cô tên là Loan. Ngẫm ra con gái tên “Loan”, ít cô là không đanh đá. Nhanh nhẹn, hoạt bát, rắn giỏi. Nước da không trắng, không đen mà là hồng hào khỏe khoắn. Mình trắm, tròn. Không phải mình mè. Con mắt thẩm mỹ của tôi, xếp cô vào hạng đẹp gái, chắc là đẹp cả “nết” nữa. Có thể nói là mẫu của con người mới. Như Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói: “con người mới không phải là trắng da, dài tóc. Mà là con người lao động bình thường, có tâm hồn lành mạnh” mà năm tôi thi hết lớp 7 hay thi vào lớp 8 (hè năm 1958) đã làm bài văn bình giảng câu nói đó.
Tôi trộm nghĩ, diễm phúc cho chàng trai nào vớ được cô ta.
Trong bữa cơm, cô không ngượng ngùng, ăn nói tự nhiên. Có lẽ chúng tôi lớn tuổi, bậc đàn anh, như tôi hơn cô chục tuổi. Cô đang theo học lớp 9 bổ túc văn hóa ban đêm. Cô đùa bộ đội: “Em hỏi thật nhé, có anh nào giấu súng đạn cuốc xẻng vào đống củi, búi cây chưa?”
- Vũ khí trang bị “bất ly thân”, ai lại giấu.
- Thế mà có đoàn qua đây, giấu cả đạn cối 82, cả đạn B40 vào đống củi. Chúng em phát hiện được mang nộp trạm.
Cô vào bếp bê hũ ngô om ra. Anh em bảo là, ăn cơm đi. Cô bảo: “Cơm với ngô khoai sắn cũng là chất bột như nhau”, mà ngô om với khoai, sắn, đậu, các chất bổ sung cho nhau, ăn bổ hơn cả cơm chứ! Tôi tham gia chuyện với mâm đó:
- Ờ, ờ, ai chả biết, nhưng ăn đổi bữa vẫn hơn. Cô ăn ngô om luôn, hôm nay đổi bữa sang cơm. Chúng tôi ăn cơm luôn hôm nay đổi bữa sang ngô om có hợp lý không nào?
- Ăn hàng ngày, ngon mấy thì chung quy lại, có ba chất mà thôi. - Cô nói.
- Thế ba chất ấy là chất gì? Tôi hỏi.
- Là pờ-rô-tít, li-pít và gờ-lu-xít tức là bột, béo và đường. Ngoài ra còn sinh tố vi lượng muối khoáng. Ăn của ta là “ngon lành” cho nên thiên về luộc. Ăn của Tàu là “ngon bổ” nên thiên về xào, rán, hấp cách thủy…
Dường như cô coi thường chúng tôi, cố ý bộc bạch để chúng tôi biết rằng: trên cái mảnh đất thiên nhiên đầy khắc nghiệt này, truyền thống cách mạng thì đã rõ mồn một rồi. Còn uẩn tàng một trí tuệ, một tinh thần trong từng con người Nghệ Tĩnh. Tuy đời sống kham khổ nhưng vẫn lạc quan, vui tươi, yêu đời, không dễ ai coi thường.
Dù cô cố ngụy trang thế nào, từ mâm thứ nhất nhìn xuống, trong ánh mắt của cô tôi thấy toát lên sự hằn học. Tôi cảm nhận điều đó ở cô gái 19 tuổi. Cả tuổi đời và tri thức chỉ đáng là học trò của chúng tôi. Nhưng chọn lúc, chọn nơi để thể hiện nội tâm của mình phải nói là nhuần nhuyễn đáng nể.
Tôi nghĩ là, các đoàn đi qua trước đây, lính tráng có lời nói hoặc cách đối xử có gì sơ suất làm cô phật ý. Tôi cũng có dự kiến “bộc bạch” để cô hiểu về những người của Đoàn 239. Từ đó cô hiểu lính tráng. Đừng vì những cái nhỏ nhặt, vụn vặt mà có định kiến với từng đoàn, lớp lớp kế tiếp cha anh và các bậc tiền bối làm việc đại nghĩa.
Cơm nước, dọn dẹp xong, cô cùng hai em ngồi vào bàn học. Tôi kéo chiếc ghế ba nan ngồi cạnh. Một lát hỏi: “Em nào có bài toán khó, anh hướng dẫn”. Hai em đồng thanh: “Không ạ”.
Bấy giờ trần xì có một số trong sách giáo khoa chứ làm gì có sách bài tập riêng như bây giờ. Lại càng không có bài tập nâng cao. Bài tập điển hình có tính chất củng cố lý thuyết mà thôi. Nói đúng hơn là những lời ví dụ. Bây giờ học trò từ lớp 1 đến lớp 12, số sách trang bị cho nặng hơn trọng lượng người các trò.
Thấy các em toàn là trò giỏi, tôi chuyển sang nói chuyện có tính chất thuyết trình. Nói những mẩu chuyện về Ga-loa, Bô-li-ai, Niu-tơn, Anh-xờ-tanh, Lô-mô-nô-xốp:
- Nhà bác học vĩ đại Lô-mô-nô-xốp 19 tuổi mới đi học. Bằng tuổi em. Bây giờ em đã học lớp 9 rồi còn gì. Ông rất nổi tiếng về định luật bảo toàn năng lượng. Định luật Lô-mô-nô-xốp ra đời còn có một giá trị tư tưởng. Tức là đổi mới tư duy của một số nhà bác học cứ có hoài bão tìm ra “Động cơ vĩnh cửu”. Điều đó uổng công vô ích. Tránh được lãng phí tài năng và trí tuệ của các nhà bác học, tập trung đúng hướng. Thúc đẩy khoa học đi lên. Giá trị của nó là ở chỗ đó.
Tôi lại tiếp:
- Thế em đã học bài “Bầm ơi”, bài “Bà Bủ Việt Bắc” chưa?
- Rồi ạ.
- Đấy! Công trạng thì đùn cho nhau, lỗi lầm vất vả nhận về mình. Thật cảm động đến rơi nước mắt. Chỉ có trong đại gia đình dân tộc Việt Nam mà Bác Hồ làm chủ gia, mới có được tình cảm như vậy.
Lính tráng chúng tôi, kể các đoàn trước đây, hay vui đùa để quên đi nỗi vất vả nhọc nhằn. Chấp lê nhau có mà chấp suốt ngày. Ví như anh Thịnh quê ở Vũ Thắng, Vũ Thư, Thái Bình. Anh em cứ đùa nhau là “có va-li cói cầm tay, có nhà máy cháo ngút trời khói bay” hay là “tay bị, tay gậy khắp nơi tung hoành”…
Anh Đích ở Nam Hà, anh em đùa là dân “Cầu tõm”
Anh Trí ở Hà Tây, anh em đùa là “trên nui Ba Vi co con bo vang”.
Anh Tự ở Thái Nguyên, anh em đùa là: “lử khử lừ khừ, chẳng Đại Từ cũng Võ Nhai” hay “trâu gõ mõ, chó leo thang”.
Anh ở Phú Thọ thì đùa là “chó ăn đá gà ăn sỏi”.
Tôi ở Hà Nội anh em đùa là “dân kẻ chợ, chín người mười làng”…
Qua bữa liên hoan, qua buổi nói chuyện, cô Loan có vẻ hiểu thêm chúng tôi. Chiều hôm sau chia tay, coi bộ cô cũng bịn rịn thực sự.

                                                         * * *

Hành quân thâu đêm đến trạm tiếp theo vẫn đất Hà Tĩnh. Đến trạm sáng rõ, là nơi đồng bằng thực sự. Đi qua sân kho xa chừng 300 mét vào nhà dân, chúng tôi lăn ra ngủ li bì. Tầm 10 giờ ăn cơm, nhà nào ăn ở nhà nấy, không tập trung cả tiểu đội nữa. Cần một cái môi múc canh, mượn nhà chủ, cô con gái tầm sáu, bảy tuổi cầm cho mượn. Đưa hai tay, Lộc “Giôn-sơn” tấm tắc là cháu ngoan. Ăn xong lại ngủ. Tầm ba giờ chiều tôi dậy. Nhà đi làm cả. Chỉ có bà mẹ ở nhà bế đứa út độ 4 hay 5 tuổi gì đấy. Thằng bé sốt nóng. Bà trạc tuổi bu tôi, cỡ năm mươi, năm mốt tuổi, có nước da ngăm đen, người chầm chập, mặc tấm váy mốc, cởi trần, mặc áo yếm màu bã trầu. Người hao hao giống bu tôi, cách mặc lại càng giống.
Trạm trước gợi cảnh nhớ thầy, trạm này gợi cảnh nhớ bu. Nỗi nhớ nhà mãnh liệt.
Bu bế đứa út trong lòng, ngồi chiếc ghế con dưới nền nhà đất. Bát nước lá chanh để cạnh, cho con uống hạ nhiệt. Mặt bà đăm chiêu, buồn rười rượi. Tấm lưng đen cháy, giống tấm lưng bu tôi lúc nhỏ thường đứng tựa vào khi ngồi rửa bát sau bữa cơm trưa.
Bà bảo: “Mủng chanh mẹ để ở chạn bát, các con mang theo nhấp giọng cho đỡ khát nước”.
Tôi lùi lũi vào chạn bát lấy mủng chanh ra nhét vào túi cóc cho mỗi người một nắm.
Trạm trước, dứt tình thầy, trạm này, dứt tình bu. Năm giờ chiều trời oi ả ong ong, tập trung ở sân kho hợp tác xã đi tiếp…

                                                   * * *

Vượt qua Hà Tĩnh, thế là đã bỏ sông La ở phía sau. Trạm đầu tiên trên đất Quảng Bình, chúng tôi đi thâu đêm và tầm chín, mười giờ sáng mới đến nơi. Đó là xóm lèo tèo vài nhà, ở ven đồi thấp. Nhà dân ở thưa thớt. Đến đây lại nghỉ một ngày. Tết Độc lập 2 - 9, hợp tác xã thịt trâu chia cho xã viên. Nhà tôi ở, gia đình lĩnh một suất, cả thịt, da, xương được miệng xoong nhôm cao. Cỡ nấu được hai cân gạo. Cô gái nhà chủ trạc tuổi cô Loan ở trạm trước, cho lên bếp nhóm củi đun. Kỹ như kiểu hầm thịt. Chúng tôi ngồi quanh bếp xem. Năm giờ chiều lấy cơm ở nhà bếp về ăn. Cô chủ mở xoong thịt trâu ra chỉ còn lưng xoong. Cứ như là ăn vụng ấy. Chứ như miệng xoong thịt lợn mà nấu chín, đầy phè không đậy được vung. Xoong thịt trâu chưa ai lấy mà chỉ còn lưng xoong thế mới chết chứ! Cô chủ cười toe toét: “Ồ, thế người ta mới bảo là “làm rể chớ nấu thịt trâu, làm dâu chớ đồ xôi lại” là vậy đó mấy anh”.
Thì ra ở cái xóm lèo tèo hẻo lánh này, dân người ta cũng am hiểu kém gì cái đất cứ mệnh danh này mệnh danh khác. Cứ mệnh danh là “cậu tú”, “cậu cử”, đến giờ tôi mới được nghe câu nói này phát ra từ miệng cô gái trẻ chừng độ mười chín đôi mươi. Đỏ tai, lạnh gáy, thầm ngượng thực sự.
Tối đó là tối gò bó nhất sau gần một tháng kể từ khi xuất phát hành quân đến giờ. Bước sang trạm đầu của đất Quảng, mùi chiến tranh ác liệt đã nồng nặc rồi. Không như ở đất Tĩnh, Nghệ, Thanh. Mỗi lần hút thuốc lá đều phải xuống hầm trú ẩn, hút xong mới lên. Đó là cái lệ, kẻo dân người ta kêu ca.
Ông chủ bảo: “Coi như vậy, có đốm lửa là rốc-két phóng tới ngay lập tức đó các chú ạ”. Chúng tôi ngồi với ông chủ ở tràng kỷ tre nói chuyện, tối om om.
Nghỉ một ngày là đi tiếp đến trạm ở nhà đồng bào dân tộc. Chẳng rõ là dân tộc gì. Các đứa trẻ da đen cháy, trần truồng. Bữa ăn là xôi ngô. Ngô hạt ngâm có mùi thum thủm, cho vào cối, dùng cái chày cao hơn người đứng giã, dần lấy bột đồ xôi. Lẽ ra 3 giờ chiều là đi, mắc cái F4H nó cứ quần mãi. Nó cứ lượn trên bầu trời cao tít, chưa có điểm đánh ở đây, thỉnh thoảng lại xuất hiện cái “Không người lái”. Dân chúng vẫn cày cấy ở ruộng bình thường, chẳng trú ẩn gì cả. Khác với trạm trước. Hơn một giờ chờ đợi, chúng tôi mới hành quân được. Gặp máy bay ngồi thụp xuống như rặng cây.

                                                    * * *

Hôm sau vẫn trên đất Quảng, nhưng chúng tôi đi ban ngày. Đến trạm, chúng tôi tự nấu lấy mà ăn, tự mắc võng căng tăng.
Từ đây ở rừng.
Đến giờ, giao liên ở trạm dẫn đi. Theo định kỳ lại lĩnh gạo và thực phẩm. Ăn bếp theo đoàn, cử trực nhật nấu cơm, chia cho sáu A. Ở trạm có bếp nước, củi đuốc, dụng cụ đầy đủ, nên triển khai bữa cơm cũng nhanh. Bếp người ta phục vụ cả nửa nghìn người nấu ăn, huống chi Đoàn 239 có già nửa trăm người. Đoàn người ta ra trận đông vậy, hoành tráng vậy nhưng cái Đoàn 239 này như cái lỗ mũi ấy. Tự bảo: Bé nhưng mà nó “bé hạt tiêu”. Ông cứ tưởng tượng xem 64 trung thượng sĩ, tức là 64 tiểu đội, mỗi trung đội là 3 tiểu đội, vị chi là 21,3333… trung đội, nó là số vô tỷ. Ba B là một đại đội, vị chi là 7 đại đội. Bốn đại đội là một tiểu đoàn, như vậy là đoàn mình tương đương 2 tiểu đoàn!
- Đúng là “tự chính ủy”. Lý sự như ông ấy thì chỉ con trâu ăn lúa ảnh hưởng đến hòa bình thế giới!
Các thứ dùng xong để luôn tại bếp, giao liên đến là cuốn gói ra đi.
Một hôm, tôi và anh Thường, chẳng hiểu sao cứ gọi anh là Thường “Mít”, ở 314 phố Huế, trực nhật bếp.
Nấu xong khiêng xoong thịt hộp gồm 22 hộp, mỗi hộp 3 lạng 3. Trượt chân đổ ụp một cái. Nếu ở chỗ bằng phẳng thì hớt được ít ở trên ăn, đằng này ở sườn đồi cây non. Người thì hai chúng tôi nằm sõng soài ra thôi, nhưng còn nồi quân dụng bảy ki-lô-gam lăn long lóc đến chỗ gặp chướng ngại vật mới chịu nằm lại.
Trưởng đoàn hạ lệnh, ba đồng chí khui một hộp ăn. Đoàn bỏ qua hai chúng tôi không phải kiểm điểm kỷ luật gì cả.

                                                     * * *

Cũng trên đất Quảng Bình, hành quân hôm ấy bị mưa suốt từ sáng, mưa tầm tã không lúc nào ngớt. Khoảng ba giờ chiều gặp một đường sắt. Thỉnh thoảng lại thấy chiếc xe goòng chạy qua. Gây cho tâm tư chúng tôi không còn thấy ác liệt của chiến tranh nữa.
Đi mãi tới năm giờ chiều mới tới trạm, ngồi đợi ở cổng. Thì cứ gọi là cổng chứ gọi là gì được. Thực ra làm gì có cổng trạm. Cổng đi tứ phía. Nghỉ ở bãi tương đối bằng phẳng. Mộ mới la liệt, phải đến hai mươi cái. Mỗi mộ có một bia bằng tấm gỗ thông lấy từ thùng hàng của hậu cần ghi họ tên, ngày sinh, quê quán, ngày hy sinh. Giao liên cho biết là địch mới đánh bom, đội thanh niên xung phong bị hy sinh một số đồng chí. Đây là Trạm 36 hay Trạm 10 quên mất phiên hiệu.
Đi vào 100 mét là đến bãi khách.
Nhanh chóng triển khai tăng võng kẻo tối, rồi còn ăn cơm. Tối đó chẳng ai nói chuyện với ai, mỗi người chọn vị trí của mình mắc tăng võng nằm. Tôi chọn hai bên là hai tảng đá to, mắc võng vào giữa. Tôi và Tân “Mẩu” được phân công nắm cơm cho toàn đoàn, 66 nắm chính, 66 nắm phụ.
Bốn giờ sáng, người gác cuối cùng đến gọi Tân, Tân đến gọi tôi. Thấy vậy cậu phê bình:
- Tôi “lưu bình” anh, không có con mắt quân sự. Địch đánh bom, không trúng miểng thì hai tảng đá này nó ép vào anh cũng chết.
Tôi nhận khuyết điểm ngay.
Hai thằng mặc hai bộ cộc ướt đi nắm cơm. Tiện bếp lửa còn hồng thế là cởi tất ra sấy. Ngồi nắm cơm trần như nhộng với nhau. Ghê khiếp, mất vệ sinh!
                                                                                 ( Còn nữa )

                                                           Đăng bởi Nguyễn Như Khánh
                                                  

16.8.17

Tự truyện " Nẻo đường " Kỳ 2


Học Trường Sĩ quan Thông tin

      Khoảng trung tuần tháng 10 năm 1966, Trường Sĩ quan Thông tin cử cán bộ về Trường Trung cấp Bưu điện và Truyền thanh trước cả tuần lễ để chuẩn bị đón chúng tôi về tiếp tục học.
     Một hôm vào sau giờ ngủ trưa như thường lệ, trực ban đánh kẻng báo thức. Chúng tôi được lệnh tập trung ở sân kho hợp tác xã.
Đồng chí phụ trách tuyên bố: “Từ giờ phút này giải tán tổ chức, theo biên chế mới”.
      Tôi làm A trưởng A3 thuộc B1, C9, D3 Trường Sĩ quan Thông tin. Chưa biết hiệu trưởng, chính ủy, chưa biết tiểu đoàn trưởng, chính trị viên. Chỉ biết đồng chí đại đội trưởng đại đội 9 tên là Vũ Mầm, cấp trung úy phụ trách chúng tôi đang ở đây và đồng chí Phụng thiếu úy trung đội trưởng B 1 mà thôi.
      Tiểu đội tôi có mười bốn người, chẳng có ai ở trung đội cũ, đều mới cứng. Hầu như tám tháng qua chưa gặp nhau như đồng chí Đỗ Văn Thành, Vũ Quý, Phạm Đôn…
      Đại đội trưởng trung úy Vũ Mầm phổ biến kế hoạch chiều và tối nay: “Xong đây các đồng chí về nhà chuẩn bị quân tư trang gọn gàng, thanh toán mọi vay mượn nợ nần với dân, với nhà trường. 5 giờ chiều ăn cơm. 6 giờ 30 phút tập trung tại Trường cấp 1 ở đầu làng Đa Lộc, cạnh bến đò Ô. Hành quân về đơn vị nhận nhiệm vụ mới. Hết. Giải tán”.
                                                                        
                                                                              * * *

      Từ lúc ấy, người ở lại, người ra đi bịn dịn. Quân dân nước mắt giàn giụa. Đặc biệt là tiểu đội tôi ở B3. Trong A có mười người thì sáu người quay trở về trung đoàn cũ. Trong đó có Lộc. Sau Lộc đi chiến trường B và hy sinh trong trận Mậu Thân 1968.
       Đồng chí Lộc, cùng huyện, cùng nhập ngũ 15 - 4 - 1965, cùng tổ liên lạc của đại đội khi mới vào, cùng được cử đi học, cùng ở tiểu đội. Ở cùng nhà với nhau, đôi khi cao hứng Lộc “trích đoạn” vai Trương Phi ra sân khấu, vội quá bỏ quên râu, bao nhiêu lần mà vẫn làm cho mọi người cười sặc sụa.
       Nhớ nhất một lần hồi còn ở trên Tiên Lương, đến hôm Lộc trực nhật lấy cơm cho cả lớp, giờ cơm rồi mà cậu đi đâu chưa về. Tân đi thay, lĩnh bốn mâm cơm cho bốn A, mượn thuyền của dân chở về. Chỗ ở của B tôi dân sẵn thuyền, vả lại gần nhà bếp nên bàn chùn không làm mảng. Thuyền đến giữa vùng nước, máy bay đến ném bom Vũ Ẻn, Minh Tân, Ấm Thượng cùng một lúc. Tôi lấy thuyền của dân cắm cạnh đó chèo ra hộ tống Tân. Hai thuyền cứ xoay vòng quanh ở giữa làn nước. Tiếng la hét của dân ở trong bờ râm ran, mặc la hét, hai thuyền vẫn xoay. Cô Liễn, nuôi quân của đơn vị, là thổ dân, quen với sông nước từ bé, hai tay hai mái chèo bằng tre, đẽo như nửa cái quạt mo cau, rẽ nước bơi thuyền ra cứu chúng tôi. Cô Liễn dùng mẩu dây, một đầu đã buộc vào thuyền, còn đầu kia đưa cho chúng tôi. Tôi và Tân bỏ mái chèo, tay cầm đầu dây chị đưa, lên thuyền. Thế là cô rẽ nước, thuyền đi vèo vèo, kéo thuyền của tôi và thuyền cơm của Tân vào bờ bến B3. Lộc đứng trên bờ, lúc này máy bay địch đã đi xa, cậu lên thế “trung bình tấn”:
   - Đích thực Tiến Lộc đệ, khất lỗi nhị vị hiền huynh, vì mải đọc Điện Pháp của Hiển tiên sinh nên quên mất nhiệm vụ ẩm thực trung thiên của lớp.
    - Quá trời cậu Lộc đen. Chúng tôi phải phì cười. Mấy người dân đứng gần đó ngớ người ra.
     Bác Giang xã đội trưởng cũng ở đó, nhà bác ngay cạnh nhà tôi ở, bác hỏi: “Chú Lộc nói gì mà tôi không rõ”.
   - Chú ấy nói là: “Xin lỗi hai anh, vì mải học bài nên quên mất nhiệm vụ lấy cơm trưa cho lớp”.
Nay chia tay Lộc làm sao không bịn rịn.
      Lộc và Phiên khóc to nhất, hết trong nhà lại chạy ra sân, hết ở sân lại chạy vào nhà. Có lúc Phiên lại lấy chổi quét sân. Bà cụ chủ, hai bà con dâu, một cháu trai, bốn cháu gái, rưng rưng nước mắt. Nhất là cháu trai tên là Thu, học hết lớp 7, thi vào lớp 8 học được hơn tháng. Từ lúc biết chúng tôi sẽ di chuyển vào tối nay, cứ úp mặt trên phản mà khóc. Dạo học ở Trường Sĩ quan Thông tin, chú cháu liên lạc thư từ với nhau vài lần, sau biệt tăm hơn chục năm. Mãi năm 1979 đi công tác, có dịp tôi trở lại Đa Lộc. Ba gian nhà ngói cao ráo, sạch đẹp dạo chúng tôi ở bây giờ nay có thêm các giàn khoai tây giống buộc cửa bằng dây chuối. Tôi bước vào nhìn lên tường thấy bằng “Tổ quốc ghi công” của nhà nước tặng cháu.
     Bà cụ chủ tên là cụ Thóc, em chồng cụ là cụ Bay. Cụ Bay có một anh con trai đi hải quân, đã hy sinh, được cô con gái duy nhất, đã lấy chồng có con, mắc bệnh động kinh, đi làm hợp tác xã về ao làng rửa chân tay, ngã xuống ao chết. Cháu vừa chết được mấy hôm thì tôi đến thăm. Thế là hai nhà anh em ruột liền kề nhau tan tác. Không có người nối dõi. Thật là thương tâm, thật là ngậm ngùi!
    Đơn vị chúng tôi, trên phổ biến là đào tạo cấp tốc, dùng vào “chiến lược” gì đó, không rõ. Cho nên về học lực đều chọn lớp 10, hạn hữu có lớp 9. Hầu hết đã qua cán bộ, công nhân viên chức nhà nước.
                                                                              * * *

     Đã đến giờ tập trung ở trường cấp 1 đầu làng Đa Lộc, số anh em ở lại và bộ phận nuôi quân của Trường Trung cấp Bưu điện và Truyền thanh tiễn chúng tôi đến địa điểm tập trung.
     Trao nhau tặng phẩm, bịn rịn.
    Tám tháng học ở đó, anh em cứ gán tôi với cô Liễn nuôi quân. Cô là người sở tại nơi chúng tôi học hồi còn ở Tiên Lương, Phú Thọ. Thế hệ răng đen, khăn thâm mỏ quạ. Làm chị nuôi một thời gian, tân tiến lên, bỏ khăn mỏ quạ, tóc búi tó củ hành. Chị hơn tôi sáu tuổi. Anh em yêu mến tôi, yêu mến chị mới gán ghép như vậy để “vừa đôi phải lứa”. Thế mới có từ “Bủ Hay”, “Bủ Liễn”. Từ “Bủ Hay” có tự đấy, tồn tại cho đến nay, tức là những năm cuối của thiên niên kỷ thứ 2, và thế kỷ 21 này. Gặp nhau ai cũng gọi “Bủ” tự nhiên, lúc đầu tôi cũng chưa thoải mái. Có lẽ cô cũng cảm tình với tôi thật. Có lần còn ở trên Tiên Lương, Cẩm Khê, Phú Thọ, đi qua nhà bếp, cô mượn tôi cái mũ cứng đội gánh nước nấu cơm. Tối đến mang trả, cho đầy mũ kẹo Lu-ga, cả tiểu đội và nhà anh Cục ăn thoải mái. Rồi tết mùng 3 tháng 3, tết mùng 5 tháng 5, cho tiểu đội tôi cả một đùm to bánh “tò te”. Dân vùng ấy, ngày ấy hay gói bánh “tò te”. Gạo nếp với đỗ đen đổ lẫn đem ngâm như đồ xôi, xong vớt ra cái rá cho róc nước, lấy là chuối gói một đầu to, một đầu nhỏ như cái loa kèn của phường bát âm nên gọi là bánh “tò te”. Nhớ lúc đơn vị chuyển từ Cẩm Khê về Ân Thi, tiểu đội tôi thường được cô chu cấp. Khi cô cho một túi “tiết kiệm” chanh mận, móc thép, khi cô cho lưng nón bánh kẹo, khi cho mỗi người cái bánh chưng con, khi đi đến ga Gia Lâm mua cho mỗi người cái bánh mỳ hai lạng rưỡi kẹp thịt pa-tê. Anh em trong tiểu đội vốn đã quý lại càng quý mến cô. Ông Phạm Văn Phi, ông Lê Phúc Thứ và ban giám hiệu nói chung của Trường Trung cấp Bưu điện và Truyền thanh quả biết “chọn mặt gửi vàng”. Về Đa Lộc cô được chọn làm quản lý nhà bếp. Thỉnh thoảng cô đến chỗ tôi chơi, không quên mang theo quyển sổ “nhờ anh tính toán hộ” làm cớ. Tôi giới thiệu với bà cụ chủ. Cụ mừng cho tôi là “cô chú công tác được gần nhau”. Hai chị con dâu và các cháu trong nhà chỉ cười tủm. Các cháu cụ cũng quý chị đáo để. Cháu nào đi đâu, làm gì mà gặp chị, khoe với cả nhà là: “Hôm nay gặp cô Liễn, người yêu của chú Hay”.
      Hôm nay, chị ra tận bến sông Từ Ô để tiễn tôi xuống đò, đưa cái túi tặng phẩm. Chẳng biết trong túi có những gì, tôi không nhận mà chỉ xin chị cái lược gỗ đang cài túm tóc ở gáy. Tay run run, chị gỡ cái lược gỗ đưa cho tôi. Tôi bẻ lấy một nửa đút túi áo ngực. Đưa chị một nửa: “Chiến tranh, bị lưu lạc, khi đất nước thanh bình tìm đến với nhau, chắp khớp cái lược này là đúng”. Cả thuyền người, cười ồ lên, reo hò: “A, Bủ Liễn tặng Bủ Hay nửa cái lược gỗ, chúng mày ơi!” Lúc đứng cạnh chị, nước lá xả gội đầu, phả lên mùi thơm dễ chịu như mùi cỏ cây hoa lá của đồng nội giữa buổi ban trưa nắng hạ…
     Tôi giữ nửa cái lược gỗ cẩn thận. Trên Trường Sơn, những trận sốt rét ác tính “thập tử nhất sinh” mà không mất. Sau tết Mậu Thân chúng tôi tập kết ở khu vực A1, là một bộ phận của Xưởng Thông tin Miền (C35). Anh Phạm Quốc Minh hỏi: “Anh nào có lược cho mượn cắt tóc”. Tôi rút trong ví đưa ra, thế là anh nhách mép cười, giơ thẳng tay cho nửa chiếc lược “đáp” vào rừng rậm. Từ ấy tôi mất kỉ vật. Tiếc mãi nửa cái lược gỗ.

                                                                               * * *

    Chiều ấy rời Đa Lộc, chúng tôi hành quân rất “quy lát”. Đúng là trường sĩ quan có khác, không được nói chuyện to.
    Đêm đó có ba trường hợp đau bụng cấp, phải khiêng, Trường Sĩ quan Thông tin đã chuẩn bị cáng đem theo để đề phòng. Lần nào cũng lấy A tôi một người, chắc là vị chỉ huy Vũ Mầm cứ tiện miệng 1, 2, 3… vì mình là A3. Ba lần tôi đều cử Đỗ Văn Thành vì chẳng nhớ tên cậu nào khác. Mà cái cậu Đỗ Văn Thành cũng sốt sắng lắm cơ, cởi mở lắm cơ… Để “thủ trưởng” tiểu đội có ấn tượng sâu sắc. Chỉ nhớ mỗi tên Đỗ Văn Thành ở 17 Triệu Việt Vương, Hà Nội. Thành chấp hành nghiêm chỉnh, xong việc về báo cáo tiểu đội trưởng, nề nếp thật “đi thưa về hỏi”. Mãi đến giờ, tuổi ông, tuổi cụ, mỗi lần hai người gặp nhau nhắc đến chuyện cũ, thấy trẻ lại. May mà mỗi trường hợp, chẳng biết đau cái kiểu gì mà cứ lên võng cáng đi mười lăm phút là khỏi, tót xuống võng hành quân bình thường. Cái võng cáng của Trường Sĩ quan Thông tin cứ như có phép màu vậy. Sáng hôm sau, đến một trạm, chẳng biết thôn xã gì, chỉ biết là thuộc huyện Tiên Du, Bắc Ninh - nơi mà có câu chuyện “Từ Thức - Tiên Dung”. Đến nơi, chúng tôi ngồi ở cổng làng, xã viên hợp tác xã lúc này đã đi làm đồng. Sau lên dốc đồi thoai thoải, chúng tôi vào nhà dân ở, có cơm ăn ngay. Ngủ đến chiều dậy ăn cơm, tối hành quân tiếp.
    Qua đò ở bến Gầm. Nghe người ta nói: “Đầu cây quýt, đít bến Gầm” đó là thành nhà Mạc. Chẳng biết “đầu cây quýt” ở đâu, chứ đây là “đít bến Gầm” rồi. Tạm biệt sông Cầu, chúng tôi đi bộ chừng một cây số là đến thôn Thu Lỗ, xã Hòa Bình, huyện Hiệp Hòa, phủ Lạng Thương.
    Nghỉ một phần ba đêm và ba phần tư hôm sau. Cơm nước xong, hành quân từ Lữ đến Nứa vào hơn cây số. Từ phố Nứa đi vào độ sáu bảy trăm mét là đến thôn Đông Đoan Bái, xã Trần Phú, vẫn Hiệp Hòa, tỉnh Hà Bắc là đến nơi học. Cách kho gạo đồi sỏi một cây số và cách thị trấn Đức Thắng - huyện lỵ của Hiệp Hòa, năm ki-lô-mét. Đức Thắng đã có thời kỳ được mệnh danh là thủ đô của kháng chiến.

                                                 * * *

    Bảy giờ tối đến sân kho của hợp tác xã, ngồi thành từng hàng, từng lối chờ cán bộ đến dẫn về nhà dân ở. Tôi ở nhà ông Lịch, đội trưởng sản xuất và được biên chế vào B1 do thiếu úy Phụng phụ trách. Vài hôm sau củng cố doanh trại, giảng đường, cơ sở vật chất… Tôi được biên chế chính thức về làm A trưởng A7 thuộc B3 do thiếu úy Hào phụ trách và thượng sĩ Tiến cùng chuẩn úy Điệp làm B phó. Đại đội 9 có ba B, tức là ba lớp học.
    Kỹ sư chuẩn úy Phạm Ngọc Điệp, cái tên nghe quen quen. Cả đại đội có hai kỹ sư vô tuyến điện, còn toàn là giáo viên trung học vô tuyến điện. Hôm tôi trực ban đại đội (về đây, thay phiên nhau, cứ một trực ban, hai trực nhật) gặp anh Điệp vừa đi viện về, tạt vào nhà bếp báo cơm chiều. Chúng tôi gặp nhau đều mừng rỡ, hỏi chuyện tíu tít.
   - Anh về đây phụ trách khoa mục gì ở trường?
   - Học trò, A trưởng A7, B3.
   - Thế thì ở B mình rồi!
   Tôi và anh Điệp suốt cấp 3, cùng lớp, anh ít tuổi nhất lớp, mười bốn tuổi đã học lớp 8. Năm học lớp 9, có phong trào “Ga-len”, suốt ngày loay hoay cuốn ống nghe. Chúng tôi mang cả ống nghe bằng hộp đựng thuốc lào, dây dợ đến lớp giấu trong gầm bàn tranh thủ cuốn. Thường bị thầy cô giáo nhắc nhở. Tôi hơn anh những năm tuổi, cùng lớp biết nhau, suốt ba năm không thân mà cũng không ghét. Anh hiền lành như con gái.
    Hồi ấy, ghét nhất là Phạm Văn Tiến, em của Phạm Văn Ánh. Ánh chơi thân với tôi ngồi cạnh nhau. Ánh học giỏi, mỗi khi thầy cô giáo “pháp vấn”, Ánh biết nhưng không dơ tay phát biểu mà xúi tôi phát biểu. Gia đình Ánh là đại lý cho hãng nước mắm Vạn Vân, to nhất thị xã Phúc Yên. “Quý đệ” Tiến suốt ngày trêu ghẹo tôi, cứ gặp đâu là gọi “Trai Uẩn Ngẩu”, đến phát cáu mới thôi. Sự thật là có một lần viết chính tả Trung văn. Tôi làm bài khác, kiểu như viết sớ, từ phải qua trái, từ trên xuống dưới. Đề tên họ cũng đề chữ Trung Quốc. Tưởng rằng “Trai Uẩn Hảo” là Lại Văn Hay. Tôi nghĩ “Trai” là “Lại”, thực ra “Trai” không phải là họ Lại mà là “trở lại”, “tái lại”, “lại một lần nữa”… “Uẩn” là “Văn” thì đúng rồi, còn “Hảo” là “tốt” chứ không phải “Hay”. Nhưng tôi thiển nghĩ “Hay” mới “tốt” cũng thế. Nên mạnh dạn đề ở phía trên góc bên phải trang giấy “Trai Uẩn Hảo”.
    Bài viết sai nhiều lỗi, lại viết khác kiểu quy định, làm cho thầy bực mình.
    Khi trả bài, thầy Trần Nguyên Khôi hỏi đầu tiên, em nào là Tái Văn Tốt, biết ngay là bài của mình, tôi im thin thít. Khi thầy giơ bài lên, tôi nhận:
   - Thưa thầy, của em ạ!
   - Bài của em được 2 điểm, thế là cả lớp gọi tôi là “Trai Uẩn Hảo, Tái Văn Tốt”. Một số bạn đùa dai như Tiến, Huy, Minh… Nhất là Phạm Văn Tiến đùa ghẹo tôi suốt ba năm cấp 3, cứ gặp tôi là gọi “Trai Uẩn Ngẩu”.
    Từ ngày 31 tháng 5 năm 1967 tôi và anh Điệp xa nhau. Mãi đến ngày 6 tháng 8 năm 2000 mới gặp lại. Hội đi Nam của chúng tôi, đoàn 239, tụ tập ở khách sạn Tổng công đoàn Việt Nam, cạnh cung văn hóa Việt Xô, tôi thấy đại tá Phạm Ngọc Điệp vào hội trường trên tầng 6. Anh là khách mời của đoàn, danh nghĩa thầy giáo cũ. Tôi ngồi hàng ghế đầu, giơ tay ra định bắt tay thầy giáo.
   - Bủ là cái thá gì mà dám bắt tay thầy giáo. - Thịnh “Tư tỏi” kéo tôi ngồi xuống và nói vậy.
   - Quên à, bạn, bạn, bạn từ dạo học phổ thông cơ mà. Danh nghĩa ấy được không “Tư tỏi”.
   - Thế thì chiếu cố tạm cho là được.
     Bây giờ ông đại tá Phạm Ngọc Điệp không còn là kỹ sư vô tuyến điện nữa, mà là người có học vị cao hơn đang nghỉ chờ sổ hưu trí ở tuổi 56.
                                                                         * * *

    Tám tháng ở Trường Sĩ quan Thông tin, Đại đội 9 có ba trung đội là 3 lớp. Học máy quân dụng gồm: máy thu phát 102 E của Trung Quốc 15W; máy thu phát GRC 9 của Mỹ cũng 15W; máy bộ đàm 71B-1, 2W của Trung Quốc; máy bộ đàm K63 của Trung Quốc và máy bộ đàm điều tần PRC-10 của Mỹ. Cả thẩy có năm loại máy, thì bốn loại là nguyên lý “điều chế biên độ”, riêng có PRC-10 là nguyên lý “điều chế tần số”. Gọi tắt là “điều biên”, “điều tần”. Có năm loại máy mà học tám tháng.
     Vừa học vừa rèn luyện để đi B, hai người thực hành sửa chữa một máy, người sửa chính tiếp xúc với máy, người sửa phụ ngồi cạnh xem, phải đeo “cục cay” nặng hai lăm đến ba mươi cân đằng sau lưng để rèn luyện. Trong tháng có bốn tuần lễ thì hai tối thứ bảy hành quân trung đội. Cổ lệ cứ đi mười lăm ki-lô-mét và đeo “cục cay” sau lưng. Có một lần đi hành quân cả tiểu đoàn một tuần lễ, đi qua Bố Hạ, qua đèo Ỉng, lên Lạng Sơn, Cao Bằng rồi quay về.
     Trong huấn luyện, khí tài, máy móc ít. Đồng chí nào đánh gãy cái chân tụ điện, chân điện trở bị phê bình nhắc nhở. Gẫy chân đi-ốt, tờ-răng-xi-to bị kiểm điểm, kỷ luật khiển trách ở đại đội. Cháy hoặc vỡ đèn điện tử là chắc chắn cảnh cáo ở đại đội.
    Máy 15W (102 E, GRC 9 ) có đèn công suất loại 2E22 hay 807 to đùng. Anh em nói đùa với nhau là: “Cẩn thận kẻo vỡ “chum tương” thì khốn!” Cũng một lần, có đồng chí cho panh vào gắp con ốc rơi trong máy, không may tuột tay nó bung ra làm vỡ 2E22. Họp đại đội thông qua kiểm điểm kỷ luật. Lính tráng mới kháo nhau: Hôm nay họp kiểm điểm kỷ luật làm vỡ “chum tương”.
     Mấy bà, mấy chị trong thôn, nhất là mấy bà ăn trầu cắn chỉ môi, ngồi bạn trầu với nhau cứ chép miệng phàn nàn: “Khốn khổ cái nhà nào nó tiếc chum tương quý đến đâu, mà anh em lỡ đá bóng đánh vỡ thì thôi, lại còn nói ra để anh em bị kỷ luật. Cái nhà ấy hẳn không có con có cháu đi bộ đội cũng ở nhờ nhà người ta à?”
     Ông bạn Tân của tôi, một lần “thiêu” cả bộ đèn PRC-10. Tất cả có năm máy PRC-10 đèn điện tử chân tăm. Thiêu một bộ không có đèn thay, thế là từ ấy có bốn máy thực hành sửa chữa, còn một máy thực hành... nhìn!
    Máy K63 mới, đèn không hiếm nhưng thiêu một bộ đèn thì phiền phức lắm, phải nhả mối hàn cho các chân đèn mới thay được. Mà mỏ hàn nướng than, thiếc thỏi chứ đâu có mỏ hàn điện, thiếc dây như bây giờ. Vả lại làm gì có điện mà dùng mỏ hàn điện.
   Phần máy thu 102 E, 71B-1, K63, PRC-10, nguồn của nó là khối pin to đùng, nặng trịch.
  Máy phát 102 E dùng ra-gô-nô “đầu trâu” của Trung Quốc sản xuất từ năm 1938 thời Quốc - Cộng hợp tác, hơn mình một tuổi, quay nặng ơi là nặng, chỉnh máy phát cả ba băng sóng: đầu, cuối, giữa, vị chi chín lần. Đến lượt sửa chữa phụ, quay ra-gô-nô cho anh chữa chính thì “úi cả gáy”. Các tốp sửa chữa trong hội trường gắt nhau: “Ấn lâu thế”. Ra loại ra-gô-nô FS 65 quay viên được nhẹ hơn nhiều nhưng cả hội trường chỉ có một cái, để thực hành... xem!
   Riêng ra-gô-nô GN 58 dùng cho GRC 9 có nhẹ gọn hơn, quay cũng nhẹ.
                                                                           * * *

     Ở Đoan Bái, chúng tôi hưởng trọn vẹn vụ rét ở Bắc Giang. Quả là rét thật, rét tái tê, rét cắt thịt cắt da. Không biết các vụ rét trước đây ra sao, chứ vụ rét đông 1966 này thì trâu của hợp tác xã hay bị “kềnh”.
    Mỗi khi trâu chết, ông đội trưởng Lịch lại lên chòi phát thanh, dùng vỏ quả bầu khô để loa: “Loa, loa. Mời bà con đến nhà tôi để lấy thịt trâu, tôi nói thật chứ không nói dối đâu”. Tầm 9 giờ tối, trời rét chúng tôi nghỉ sớm. Nằm cả quần áo dài, mũ, tất, đắp chăn đến tận cổ. Chưa dám mắc màn. Sợ cán bộ trung đội đi kiểm tra mà mắc màn trước 10 giờ 30 phút đêm, tức là trước kẻng là bị phê bình. Nghe tiếng loa, bọn tôi bấm nhau bàn luận, ngôn ngữ của dân tộc ta thật tuyệt, xuất khẩu là thành chương ngay. Câu trên gieo vần “âu”, câu dưới bắt vận cũng vần “âu”. “Lấy thịt trâu..., nói dối đâu”.
     Tết Đinh Mùi năm 1967, tôi trực chiến sáng mùng một ở trận địa phòng không giữa đồi trọc phía nam làng. 12 giờ trưa thay ca. 
     Dân chúng ở cái thôn Đông Đoan Bái này bấy giờ đa số nghèo là nghèo. Tôi và anh Thảo ở cùng nhà, gia chủ có cụ bà lưng còng ngoài bảy mươi tuổi, chị con dâu thứ hai tuổi độ trên dưới ba mươi, cô cháu gái ba, bốn tuổi. Suốt ngày bà còng cõng cô cháu gái, mỗi khi đặt xuống nhà để làm việc vặt, khóc như tiếng mèo kêu. Anh chồng còn đang tại ngũ. Gia đình cũng nghèo rớt mùng tơi. 
     Ở Trường Sĩ quan Thông tin, ngoài nhiệm vụ học năm máy quân dụng đã kể trên. Nhiệm vụ tăng gia sản xuất là hàng thứ hai. Lính tráng đùa nhau: 
    - Đồng chí học ở đâu? 
    - Tôi học ở trường sĩ quan tăng gia. 
    - Thế là lại cười với nhau thoải mái. 
     Xin đất của hợp tác xã trồng rau, vỡ đất đồi trồng sắn. Ở B1 mà thiếu úy Thái Bá Dương làm B trưởng, buổi trưa lính tráng thay phiên nhau coi rau kẻo lợn gà của dân ra phá. Buổi sáng, chiều, xã viên làm đồng, lợn gà không dám ra. Một chiến sĩ dương cây lê CKC đâm phòi ruột con lợn xề của dân. Hai chiến sĩ loay hoay sợ sệt. Bác có lợn ra vác về và bảo: “Hai anh cứ mặc em”. Bác ta mừng vì được thịt lợn một cách hợp pháp, không phải thịt trộm. Trung đội kiểm điểm, bác ta đến xin cho. Thế là hai chiến sĩ thoát.
     Một dạo, đoàn tổ chức đọc truyện, đọc quyển “Ba mươi năm chiến đấu dưới là cờ vẻ vang của Đoàn”. Hôm ấy có đoạn nói về gương chiến đấu của chiến sĩ thi đua toàn quốc Lại Việt Dũng. Anh em xì xào là cùng họ với bủ Hay. Cả đại đội mình tôi họ Lại. Một giờ đọc truyện xong. Thiếu úy Nguyễn Công Thất, chính trị viên phó đại đội, bí thư chi đoàn hỏi: “Có phải Lại Việt Dũng cùng xóm và là chú đồng chí không?” 
    - Báo cáo đúng ạ. 
    - Có biết nhiều về chiến sĩ thi đua Lại Việt Dũng không? 
    - Báo cáo, biết tương đối ạ. 
    - Đồng chí lên đây kể một số chi tiết về Lại Việt Dũng. 
    - Báo cáo rõ. 
     Tôi lên bục hội trường kể. 

                                                       * * *

    Thấm thoắt đã tám tháng học ở Trường Sĩ quan Thông tin, rồi chúng tôi tốt nghiệp ra trường. 
     Chúng tôi được lệnh nghỉ phép mười lăm ngày, sau đó, tập trung ở Thường Tín để rồi tiếp tục hành quân vào Thanh Hóa tập luyện, chuẩn bị đi Nam chiến đấu. 
    Trưa ngày 31 tháng 5 năm 1967, được thông báo xem Văn công Quân khu 3 biểu diễu ở hội trường B2. 
    Ca sĩ Bích Hằng hát bài có câu “Mẹ đón quân ta về nhà nghỉ tạm, cầm tay mẹ hỏi...”. Anh Đức Miên hay là Đức Miêng không rõ, hát bài “Voi ra trận”. Rồi đến trích đoạn ở vở “Đường về trận địa”. Chỉ có ba tiết mục ấy thôi. Khoảng một giờ chiều giải tán, đội Văn công xung kích Quân khu 3 cũng về hiệu bộ. 
     Sau đó chúng tôi lần lượt lên đại đội nhận giấy về phép, thanh toán các chế độ đến hết ngày 15 tháng 6 năm 1967. Cũng rất nhanh thôi, ai cũng giống ai, chế độ như nhau, tiền ăn, tem phiếu gạo. Chỉ có giấy phép là của ai nấy giữ, mỗi người tên khác nhau. Lĩnh giấy phép, rồi tạt qua bàn quản lý Lành cầm một túm là xong. 
     Rất nhanh chóng, về nhà chào gia chủ, khoác ba lô đi phép. 
     Khí thế “mã hồi”, chỉ 1 giờ 30 phút chiều là người người ra khỏi thôn Đông Đoan Bái. Mạnh ai nấy đi, cùng tuyến rủ nhau đi cùng cho vui, không được đi đông. Chỉ tốp 3, tốp 5, tốp 7 còn để tránh máy bay địch. Tốp tôi có Trần Thanh Tân và Hoàng Hữu Chuyên cùng huyện. Còn Du, LươngTrí, Quang về ga Đông Anh, đêm sẽ ngược tàu Yên Bái.
                                                                                       ( còn nữa )

                                                        Đăng bởi Nguyễn Như Khánh





15.8.17

Tự truyện “ Nẻo đường ” của đồng chí Lại Văn Hay, hội viên chi hội Đoàn 239


     Ngày 6-8-2017 Chi hội truyền thống Đoàn 239 họp mặt nhân kỷ niệm 50 năm Đoàn cán bộ kỹ thuật Quân Giải phóng Miền Nam ( Đoàn 239 ) đi B. 

      Tại cuộc Họp mặt đ/c Lại Văn Hay đã phát biểu giới thiệu và tặng cho các bạn chiến đấu cuốn tự truyện “ Nẻo đường ” mà đồng chí đã bỏ công sức ngót 15 năm để hoàn thành và được Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông ấn hành năm 2016.

Trước khi vào nội dung, để bạn đọc hiểu rõ hơn về Tác giả và Tác phẩm, Ban biên tập xin giới thiệu bài viết của nhà báo Hà Ngọc đăng trên báo Người Hà Nội số 51 ra ngày 16-12-2016 với tiêu đề NẺO ĐƯỜNG của một người lính Cụ Hồ. 
Tuổi Kỷ Mão ( 1939 ), nhập ngũ ngày 15-4-1965, chính thức ra quân ngày 30-9-1987, mãi đến 2002 “ngài” sĩ quan mang quân hàm Đại úy mới đặt bút lên trang giấy và sau 4 năm ( 2006 ) miệt mài ghi chép thì hoàn thành tự truyện của đời mình, để 10 năm sau ( 2016 ) ra mắt cuốn sách mang tên “ Nẻo đường ”, dày hơn 500 trang khổ 16x24 cm, do Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông ấn hành. 
Ông Lại Văn Hay – tác giả cuốn tự truyện “ Nẻo đường ”, quê ở xã Vân Nội, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội, trước khi nhập ngũ đã tốt nghiệp khoa Toán trường Đại học Sư phạm. Ông Hay có một trí nhớ rất “siêu”, không những giỏi Toán, tiếng Trung mà còn đọc và nhớ nhiều tác phẩm văn học, cuộc đời các danh nhân họa sĩ, âm nhạc trong nước và nước ngoài. Bây giờ khi đã ngoài 77 tuổi, với tính tình thẳng thắn và cởi mở, pha sự khôi hài, ông Hay nói say sưa chuyện của ông, trong quá khứ và hiện tại, lôi cuốn người nghe bởi có nhiều tình tiết thú vị, chi tiết chính xác về nhân vật, địa danh… Điều này người đọc dễ dàng nhận thấy qua hàng trăm câu chuyện trong cuốn tự truyện của ông. 
Dưới dạng tự truyện, tác giả kể chân thực “ Nẻo đường ”của đời mình trong hai mươi năm phục vụ quân đội với những người và việc thật, từ ngày “Nhập ngũ ” 
Những tháng năm trong “ Trung đoàn Thủ Đô ”, ở “ Trường sĩ quan Thông tin ”, giai đoạn “ Đoàn 239 đi B ”, thời kỳ ở “ Chiến trường Đông Nam Bộ ”đến “ Năm hòa bình đầu tiên ”và ngày “ Trở về ”. Chia thành các phần mạch lạc như vậy, song giữa những câu chuyện thực tại ấy luôn pha trộn những mảng hồi ức trước đó ( của tác giả hay của các nhân vật ), khiến người đọc hình dung thấy bối cảnh của từng giai đoạn trong thời kỳ chiến tranh vệ quốc đầy gian khổ. Không hề mô tả các chiến dịch, các trận đánh, hãn hữu mới có tiếng bom rơi đạn nổ, tác giả tập trung kể những chuyện mình trực tiếp tham gia, mà vẫn thấy khẩn trương, quyết liệt trong hành động, vẫn thấy cân não trong những quyết định nhằm bảo toàn lực lượng, nhằm hoàn thành nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao nhất của những người lính bám sát sau lưng các đơn vị trực tiếp giáp mặt quân thù. Một đoạn trong “ Phần 5 – Chiến trường Đông Nam Bộ ”, tác giả viết :“Họp chi ủy mở rộng, chủ trương đơn vị rút ra khỏi khu rừng 181, Chi ủy có 5, vắng 1…ba phần tư nhất trí…Anh Tạo phản đối…song xuống nước :“ Nếu phải rút để một bộ phận ở lại bảo vệ căn cứ, chứ bốn tấn máy móc khí tài huấn luyện, những bốn tấn gạo vừa lĩnh xong. Không có người bảo vệ à ? Tôi ở lại phụ trách tốp đó ”( trang 330 ) và “ Tôi hiểu anh ( Tạo ) hơn ai hết, anh từng cầm phấn đứng trến bục giảng chương trình bán trung học. Rồi một tay súng, một tay phấn giảng dạy kỹ thuật vô tuyến điện. Anh chắt chiu từng hạt gạo, hạt cơm rơi vãi đưa xuống nhà bếp nuôi lợn, giữ gìn quân trang cẩn thận…Nên bây giờ ( đơn vị ) rút ra bỏ lại bốn tấn gạo là anh ấy tiếc lắm ”( tr.331 ). Với “ giọng điệu ”như vậy, ông Lại Văn Hay kể hết chuyện này sang chuyện khác, xoắn xuýt nhau, gọi nhau xuất hiện trên trang giấy, dày đặc sự kiện và con người. 
Hay thời học trường Sĩ quan Thông tin ở Hà Bắc và là người đọc bản thảo “ Nẻo đường ”đầu tiên, ông Nguyễn Duy Quý viết trong Lời tựa :“ Thỉnh thoảng đang kể chuyện bây giờ, bác ( Lại Văn Hay ) lại chuyển sang thời chống Pháp ở quê mình mà hồi nhỏ được chứng kiến. Tôi chú ý những nét văn hóa và ngôn ngữ ngày xưa hiện đang phai mờ trong hoàn cảnh mới của lớp người sinh sau năm 1975 (… ) “ Nẻo đường ”có nhiều đoạn mang chất A-mua viết theo tiểu thuyết “ Dòng ý thức, có hơi hướng văn chương Hậu hiện đại ”. 
Đọc tự truyện “ Nẻo đường ”, tôi nghĩ rằng, người lính – tác giả Lại Văn Hay không nệ bất cứ xu hướng, khuynh hướng nào. Ngòi bút của ông thả theo dòng ký ức đầy ắp của một người trai trí thức đầy nhiệt huyết, ghi lại một cách chân xác, tỉ mỉ, không chỉ chuyện đang và đã xảy ra mà rất khéo “ lồng ” vào trong tác phẩm những tâm tư, tình cảm đặc trưng của một thế hệ, không phân biệt tuổi tác, hoàn cảnh xuất thân, học thức, đều mang trong mình tình yêu đất nước, quê hương nồng nàn, sẵn sàng hy sinh thân mình vì nghĩa cả, vì mục tiêu “ thu non sông về một mối”. Cuốn sách có thể chưa đạt những tiêu chí nghệ thuật văn chương, nhưng trong đó chan chứa một tình cảm da diết, lung linh, hướng trọn niềm tin sắt đá của một người lính Cụ Hồ vào tương lai tươi sáng của dân tộc. 
Mở đầu tự truyện, tác giả viết :“Ta vinh dự, giờ đây được đi trên nẻo đường binh nghiệp ” ( tr.11 ), kết thúc ông tâm sự :“ Bốn mùa, đi đôi guốc mộc tự đẽo lấy. Khoan thai dạo bước trên các con đường làng quê ngõ xóm và suy ngẫm. Thì ra, nó là thu nhỏ những nẻo đường đất nước ở mọi lĩnh vực của CUỘC SỐNG ”( tr. 504 ) 
Sẽ không tìm thấy trong tự truyện “ Nẻo đường ”những tình huống gay cấn, những nút thắt cao trào, những tình tiết mùi mẫn, những chải chuốt câu văn, nhưng trái tim người đọc sẽ rung động trước cái thật từ suy nghĩ, hồi tưởng chân chất của người viết, soi thấy mình và người thân của mình. 
Để bạn đọc tiện theo dõi, Ban biên tập sẽ lần lượt đăng làm nhiều kỳ 1 số nội dung của tự truyện, với phụ đề do chúng tôi đặt ra. 

ĐI HỌC TRƯỜNG SĨ QUAN THÔNG TIN

 Loáng một cái đã hết bốn ngày đi “tranh thủ”.
Về đến bến xe Bỉnh Di, mấy ông tướng đi phép đợt sau tôi đã ở bến rồi. Qua quýt vài câu chuyện, các anh vội lên xe xuôi thế “mã hồi”. Chúng tôi ì ạch cuốc bộ về đơn vị.
Đến Hoa Lũng - đại bản doanh của C11 là 11 giờ trưa.
Hai ngày sau anh Nhung báo: Mai cậu tập trung ở tiểu đoàn đi học, học gì và ở đâu thì trên bí mật không cho biết.
Thế rồi làm mọi thủ tục với anh Toan như là: giấy giới thiệu cung cấp tài chính, thanh toán nợ nần, thanh toán tiền ăn tem phiếu gạo hết tháng… Còn các khoản giấy tờ khác về chính trị, nhân sự trung đoàn lo.
Bảy giờ sáng có mặt ở tiểu đoàn bộ. Từ C11 lên D bộ không xa. Nó cũng là địa điểm tập trung toàn bộ số anh em đi học đợt này của cả Trung đoàn 102.
Khi anh em đi học của các tiểu đoàn đã xếp hàng tập trung tề chỉnh thì đồng chí Ngưỡng chẳng biết là trưởng hay phó ban quân lực của trung đoàn, cấp hàm thượng úy, điểm danh. Quân số vào cỡ sáu, bảy chục người, xong đồng chí hỏi: “Có đồng chí nào thắc mắc gì không?”
Chẳng ai nói gì. Đồng chí Ngưỡng liền giao nhiệm vụ cho một đồng chí thiếu úy, mà chúng tôi không biết tên, đi giao quân.
Đúng tám giờ sáng xuất phát. Chỉ độ hơn chín giờ đến bến đò Phan Lương.
Ngày thứ nhất, chúng tôi nghỉ ở nhà dân dọc đường đi.
Ngày thứ hai đến thị xã Phú Thọ vào buổi trưa. Dân quân, tự vệ canh gác các “cửa ô” vào thị xã, không cho ai vào trước năm giờ chiều. Anh em nghỉ vạ vật cỡ bốn, năm tiếng đồng hồ. May quá gặp anh Trần Văn Thu, lúc nhỏ tên là Tở, vào bộ đội cải là Thu, xóm có nhiều Thu quá, gọi là “Thu Tở” phân biệt với “Thu Câu” , “Thu Trân”, “Thu Hồng”, “Thu Thư”… Anh hơn tôi sáu tuổi. Tôi với anh là cháu cô, cháu bác. Tức bà nội tôi là em ruột ông nội anh. Anh xung vào quân ngũ 1953 ở C476, sau chuyển lên bộ đội chủ lực. Năm 1955, 1956, anh đi làm mấy đợt cải cách ruộng đất. Năm 1958 phục viên. Chừng 1963, 1964, anh làm cán bộ Bưu điện Bờ Hồ. Hôm nay, anh lên Ty Bưu điện Phú Thọ công tác. Tình cờ, anh em gặp nhau.
Tôi dặn anh:
- Có dịp về nhà báo cho gia đình em biết là em đi học, chưa biết học gì với lại ở ga này nhưng chưa biết là ngược hay xuôi.
Năm giờ chiều, các ô cửa mở, từng ngả đường dân chúng kéo vào thị xã ùn ùn. Tôi chia tay anh và xiết chặt tay nói:
- Thôi chào “thầy Kiểm” của sở “dây thép” Bờ Hồ.
Đồng chí thiếu úy chỉ huy, dẫn chúng tôi vào cửa hàng mậu dịch ăn uống ở cửa ga Phú Thọ để ăn cơm chiều. Cơm đặt sẵn sáu người một mâm. Lướt mắt nhìn khu nhà ăn dành riêng cho chúng tôi phải đến trên chục mâm. Ba lần đi thị xã Phú Thọ, lần này oai nhất. Ăn xong không phải trả tiền, có người lo cho.
Chín giờ tối lên tàu hỏa, đồng chí chỉ huy không cho ai đi đâu xa. Tôi xin phép đi ba mươi phút đến chỗ kho lương thực gặp bố chị Nguyễn Thị Phúc mà không được. Chị Phúc học ở trường đại học, cùng lớp, cùng tổ với tôi. Hồi mới nhập ngũ đóng ở Thanh Ba, đi lĩnh gạo, đã vài lần được gặp ông trò chuyện khi ấy đã biết tin chị được bổ nhiệm về Cẩm Khê dạy học.
Chỉ huy trả lời: “Để giữ bí mật, không cho ai đi đâu”.
Đúng chín giờ tối chúng tôi lên tàu ngược Yên Bái. Qua ga Chí Chủ, thuộc đất Thanh Ba, thì quá quen thuộc rồi. Rồi về đến ga Vũ Ẻn thấy cũng quen quen. Còn phía trên ga đó thì mù tịt, nghe đâu trên Vũ Ẻn là Hạ Hòa, Ấm Thượng gì đó chẳng hiểu.
Trời kia đất nọ, được lệnh xuống ga Vũ Ẻn. Cũng như lần trước hành quân đến đây vào khoảng 0 giờ, lần này có sớm hơn. Bấy giờ cũng chỉ hơn 10 giờ đêm. Sau đó hành quân bộ qua đò sang sông tới xã Minh Tân, thuộc đất huyện Cẩm Khê, đi chừng năm, sáu cây số nữa đến một địa danh gọi là Tiên Lương, thuộc xã Trường Sơn cũng thuộc huyện Cẩm Khê.
Chúng tôi được thanh niên, dân quân dẫn từng tốp đến luôn nhà ở, thế là ngả lưng, chẳng mùng màn gì cả, làm một giấc ngay lập tức. Khi số anh em Trung đoàn 102 đi học được tập hợp, đồng chí thiếu úy chỉ huy bàn giao từng người một, cả người và hồ sơ. Xong, ký nộp và có lời tạm biệt chúng tôi, thiếu úy lại trở ra ga Vũ Ẻn xuôi Phú Thọ để về trung đoàn bộ.
*
Học Trường Trung cấp Bưu điện và Truyền thanh
8 giờ sáng hôm sau tỉnh dậy. Hôm nay, lần đầu tiên chúng tôi mới biết là đi học ngành thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc. Thời gian đầu này, ở Tiên Lương, chúng tôi được gửi học tại Trường Trung cấp Bưu điện và Truyền thanh bên dân sự. Có hai đại đội là C1 và C2: C2 gồm trung đội 5 và 6, gồm lính của toàn quân, có cả lính của hải quân, cả lính của tỉnh đội, quân khu… C1 gồm trung đội 1, 2, 3 và 4, mỗi trung đội là một lớp học. Trung đội 1 và 3 hầu hết là lính thuộc E102. Đồng chí Hiển, bộ đội miền Nam tập kết, chuyển ngành, kỹ sư vô tuyến điện là giáo viên của trường làm đại đội trưởng C1.
Trong biên chế chính thức, tôi được giữ chức trung đội phó, đồng thời với lớp phó phụ trách học tập. Là đảng viên nên tôi được chi bộ cử phụ trách làm bí thư chi đoàn.
Trung tuần tháng 2 năm 1966, chúng tôi bắt đầu vào học.
Tôi, Tân, Lộc, Chuyên bốn người ở nhà anh Cục, vợ là chị Giáo, có hai con trai, đứa lớn là Thi, đứa bé là Đua, bấy giờ chưa biết đi. Dân làng vẫn gọi anh là “anh Thi Cục”. Mỗi lần máy bay đánh bom, tôi lại xách nách cháu Thi chạy ra cái công sự tròn, dưới khóm tre cách nhà anh hai, ba thửa ruộng. Ở đó quang đãng, dễ quan sát máy bay bổ nhào.
*
Lớp tôi có 48 người, sau một thời gian binh nhất Nguyễn Khắc Tư, là chiến sĩ, học viên của lớp chuyển công tác khác. Hôm đầu tiên lên lớp bài số một của giáo trình “Điện kỹ thuật”, do kỹ sư Biên giảng dạy. Bước vào lớp học, sau những thủ tục báo cáo của lớp trưởng Lễ, mà điều lệnh nội vụ quân đội quy định, thầy giáo Biên cho cả lớp ngồi xuống. Đặt cặp tài liệu lên bàn chậm rãi nói: “Tôi rất vinh dự được hướng dẫn lớp các đồng chí, trong số các đồng chí ở đây, có những đồng chí thay chúng tôi giảng dạy được”.
Giờ giải lao mới biết thầy Biên nói ám chỉ anh Tư. Vì thầy Biên và anh Tư cùng ở Trường Đại học Bách Khoa. Thầy Biên tốt nghiệp được điều về Ty Bưu điện Sơn La. Nay có lớp quân đội gửi, thầy Biên được điều về giảng dạy. Anh Tư tốt nghiệp, giữ lại Trường Đại học Bách Khoa làm trợ giáo. Rồi anh Tư lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của Đảng. Trên dưới một tuần, học viên của B tôi, anh Tư học chăm chỉ, ghi chép cẩn thận, sạch sẽ. Giờ giải lao, thầy Biên thường trao đổi ý kiến với anh. Cách học ở đây là từng giáo trình một, học hết, ôn tập rồi thi luôn, kết thúc chuyển sang giáo trình khác. Thầy Biên phụ trách giáo trình “Điện kỹ thuật”, chuyển sang giáo trình “Đèn điện tử” do thầy Cường phụ trách, thi xong lại chuyển sang giáo trình “Khuếch đại âm tần bằng đèn điện tử”… cho đến hết mười một giáo trình. Có quyết định của trên điều anh Tư đi công tác khác. Nghe đâu, anh được phong hàm thiếu úy về làm kỹ sư của nhà máy thông tin M1.
Thời gian học ở đây, tôi nhớ mãi cái nạn thiếu giấy. Nhà trường có gì cấp ý. Cấp cả “sổ tay công tác” bằng giấy giang, cả giấy Pờ-rô-luy-a viết thư cho học viên chúng tôi. Số giấy anh Tư nộp lại, tôi cấp bổ sung cho một số đồng chí. Tôi được cấp một tập Pờ-rô-luy-a. Chỉ có tôi, độc nhất vô nhị khóa ấy là dùng giấy Pờ-rô-luy-a ghi cả hai mặt. Anh em mượn vở ghi để tra cứu, tham khảo chẳng ai đọc được. Một là nó lem nhem lèm nhèm quá, hai là dùng nhiều ký hiệu toán học để ghi, ba là chữ tôi viết xấu quá, người ta bảo “như gà bới” ấy. Vì tôi tiến thân từ bình dân học vụ: “i tờ, tờ i ti” mà lên.
Anh em chê, tôi thanh minh rằng: “Không phải là tôi quá ư tiết kiệm giấy, mà tôi cố ý ghi hai mặt Pờ-rô-luy-a, để lèm nhèm khó đọc, thế học mới vào. Nếu ghi sáng sủa, đọc lướt đi như người ta nói “cưỡi ngựa xem hoa” chóng quên. Dùng ký hiệu ghi cho nó nhanh, còn dành để tập trung nghe giảng nắm được ngay nội dung bài ở trên lớp, giờ tự học chỉ là nghiền ngẫm, suy rộng ra… Từ bình dân học vụ những năm 1946, 1947 mà lên chứ có được “tập viết” đâu”.
Chắc là sẽ có người thắc mắc rằng: “Sao lại học bình dân học vụ ở tuổi bé vậy, Bủ là Bủ nói dóc”. Chẳng là năm 1946, phong trào bình dân học vụ nó ghê lắm. Nghe lời kêu gọi của cụ Hồ là diệt “giặc dốt”, “giặc đói”, “giặc ngoại xâm”. Bấy giờ mình bảy tuổi theo học lớp vỡ lòng ở điếm xóm. Liên tục một tháng không thuộc bài. À mà sao học vỡ lòng lại có “đọc thuộc lòng” mí chết chứ! Có khi nó là lớp năm hay lớp bốn thì phải. Bấy giờ tính bậc tiểu học là lớp năm, lớp bốn, lớp ba, lớp nhì, lớp nhất. Mà ông thầy bắt đọc có lần có lượt không bỏ sót trò nào. Đến lượt mình cứ ngồi ì ra, không đứng dậy đọc, mà có thuộc đâu mà đọc. Thầy đuổi, trò Hay xấu hổ cứ ngồi ì ra không về. Thầy bèn sai anh lớn nhất lớp, lớn hơn tôi đến sáu bảy tuổi, vác về nhà vứt ở cổng. Ngồi giãy ra khóc, vừa khóc vừa chửi. Ông nội ra dắt về bảo: “Bỏ lớp điếm xóm, đi điếm Cả học bình dân với bu buổi trưa. Sáng chiều lại đi chăn trâu, làm lụng lợi hơn”.
Cả hai giáo trình “Khuếch đại âm tần” và “Máy phát vô tuyến điện” tôi đều ghi Pờ-rô-luy-a hai mặt. Thi vấn đáp hai giáo trình ấy, tôi đạt điểm 5. Anh em bảo: “À, ra cái lý sự của bủ Hay thế mà đúng”. Nếu tinh ý một tý mà vặn: “Thế giáo trình “Điện kỹ thuật” của anh có ghi lèm nhèm đâu mà vẫn 5”, thì mình bí thực sự.
*
Giữa tháng 7 - 1966, nước to, ngày ba bữa cơm, trung đội phải mượn mảng của dân để đi lĩnh cơm. Dạo này địch hay đánh bom ở Vũ Ẻn, Ấm Thượng, Minh Tân... Có lần địch đánh bom ở Minh Tân rồi bắn 20 li vào Tiên Lương.
Có lần Lộc được đi tranh thủ đột xuất. Vì nhiệm vụ học tập nên chỉ được đi từ trưa thứ bảy, đến sáng thứ hai phải có mặt. Cậu có kể với anh em ở cùng nhà là: Trên tàu có quen một cô tên là Kiều Thị Bắc, quê Hà Nam, đi công nhân đóng ở Bạch Hạc. Đoạn đường sắt, trên tàu từ Bạch Hạc tới Đông Anh, với bảy nhà ga mà hai người đã quen thân, đã hứa hẹn yêu đương, đã gửi nhau vật kỉ niệm. Lộc đưa cả chiếc khăn mặt có thêu hình cô gái “Tàu” khoe với chúng tôi. Ôi! Vắn tắt quá, cấp tốc quá!
Tôi bảo:
- Ồ, khăn mặt này mua đầy ở Đồng Đăng, Lạng Sơn.
- Không, đây là hình cô Bắc đấy ạ.
Đúng, cô gái đó là người Hoa, sang Việt Nam từ đời ông cha. Từ ấy Lộc hay thơ thẩn về chiều tối. Chúng tôi hơi tin tin. Riêng tôi khẳng định: “Mẹ kiếp, bốn lính ở nhà anh Cục này, tôi một vợ một con; Tân đang yêu cô Bảy “nuôi dạy hổ”, Chuyên đang yêu Quý lúc học ở Trường cấp 3 Xuân Đỉnh, giờ gia đình Quý lên Yên Bái khai hoang, hôm lĩnh quân trang được đôi giày vải thấp cổ và hai áo lót cổ vuông cất công ngày chủ nhật đáp tàu lên “đút lót” ông bố vợ tương lai, còn giờ Lộc bén duyên cô Bắc nữa là cả nhà ta “Xăng-puốc-xăng Gơ răng-ti” có nhân tình.
*
Sau mấy tháng ở Tiên Lương, Trường Trung cấp Bưu điện và Truyền Thanh chuyển từ Phú Thọ về Ân Thi, Hưng Yên để tiếp tục học tập.
Từ Tiên Lương chúng tôi đi bộ chừng 6 ki-lô-mét đến bến đò rồi qua sông vào ga Vũ Ẻn. Lên tàu hỏa xuôi. Khi tới ga Việt Trì xuống đi qua phà đến Bạch Hạc nghỉ.
Tầm lúc 2 giờ chiều mới tới Bạch Hạc, vào nhà dân nghỉ để tối xuôi tàu Hà Nội. Vừa lúc địch đến ném bom Việt Trì, chúng tôi vội sơ tán ra rìa làng thì gặp Lộc và Bắc ngồi nói chuyện dưới bóng mát khóm tre xanh ở đó. Lộc giới thiệu chúng tôi với Bắc. Cô gái “tàu lai” Kiều Thị Bắc nhỏ nhẹ e thẹn chào chúng tôi. Cánh này cũng hỏi qua quýt, còn cáo từ để anh chị tâm sự.
Tiếng F105 vẫn rú rít, khẩu 14 ly 5 bốn nòng của dân quân, phía bờ đập nước bên kia vẫn khạc đạn mỗi khi vòng cua của nó tới gần. Điểm hẹn hò của Lộc - Bắc thật là lý tưởng: khóm tre xanh ven hồ nước, dưới làn mưa bom bão đạn.
Tối lên ga Bạch Hạc xuôi tiếp. Chúng tôi xuống ga Gia Lâm. Hành quân bộ xuống Trâu Quỳ, trú tại Trường Đại học Nông nghiệp. Tầm tang tảng sáng, sinh viên đã dậy tập thể dục. Tiếng vắt diệt trâu cày đang giữa vụ cày cấy của dân ở những thửa ruộng ria trường nghe râm ran. Các bà, các chị gánh mạ đi cấy, trò chuyện rôm rả. Đoàn quân chúng tôi hơn ba trăm người lặng lẽ hành quân trên con đường nhựa, hai bên trồng phi lao dày khít từ ga Trâu Quỳ vào trường.
Tới cổng, được lệnh dừng lại nghỉ tại chỗ. Chiếc xe Sim-sơn tàng tàng, cũ cũ của trưởng phòng giáo vụ Lê Phúc Thứ chỉ huy đợt hành quân di chuyển này, phành phạch đi từ đầu hàng quân xuống cuối, giao nhiệm vụ cho tôi là: “Đồng chí toàn quyền chỉ huy đơn vị và xử lý các tình huống cho đến khi tôi về”.
Thế là ông Thứ quay Sim-sơn vào trường liên hệ chỗ ở. Không biết lý do gì, nhà trường không cho ở. Nào nhiều nhặn gì, có trên ba trăm người, trang bị gọn nhẹ, mỗi người chỉ một ba lô, không súng ống với mấy gánh nồi, xoong, chảo, bát, đĩa, xẻng, muôi… của mấy cô nuôi quân thì để ngoài vườn, chỗ nào chẳng được. Ở từ sáng nay tới sáu giờ chiều đã đi rồi, chỉ ở nhờ chưa tới mười hai giờ đồng hồ.
Tôi đoán là nhà trường ngại cho đơn vị bộ đội ở, e điệp báo địch biết, tới đánh phá. Chứ khu trường rộng như thế, một số lớp đã nghỉ hè, một số khoa đã sơ tán, rộng thênh thang, có mà gấp năm lần số quân này cũng chứa nổi. Các đồng chí chỉ huy hội ý chưa ra lẽ.
- Tôi góp ý kiến có được không ạ? Tôi nói chõ vào
- Được, đồng chí cứ nói. Ông Thứ bảo vậy.
- Đồng chí Thứ có giấy lưu không “Lệnh trưng dụng” không ạ?
- Có.
- Viết luôn “Lệnh trưng dụng một số ký túc xá của sinh viên Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội trong thời gian mười hai giờ đồng hồ”.
Anh khoái quá, vỗ vào đùi đánh “đét” một cái: “Thế mà không nghĩ ra. Đại úy Trân có đưa tôi mấy cái”. Thế là, chúng tôi có chỗ trú quân đàng hoàng, cấp dưỡng của nhà trường cáng đáng cơm nước cho nên hai bữa cơm hôm ấy chị nuôi không phải triển khai. Cơm phụ đêm là một bánh mì hai lạng rưỡi kẹp thịt ba chỉ rang. Chị nuôi của mình tha hồ mà rong chơi phố mua sắm.
*
Năm giờ chiều hành quân ra ga Trâu Quỳ, xuôi tới ga Lạc Đạo thì xuống. Từ ga Lạc Đạo hành quân bộ xuống thôn Đa Lộc, xã Phạm Hồng Thái, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên vừa sáng rõ. Hai trăm rưỡi học viên là lính thì cảm thấy bình thường, chứ còn trên năm chục nhân viên, giáo viên, cán bộ khung của Trường Trung cấp Bưu điện và Truyền thanh rất là uể oải. Nhất là thầy giáo, kỹ sư, đại đội trưởng Hiển tới nơi thì cứ sẵn thế, cả ba lô trên vai, lăn ra ria đống rạ của nhà dân ở ven xóm đánh một giấc ngon lành, chẳng biết khi nào thủ trưởng mới dậy.
B3 của tôi và B1 đóng ngay thôn Đa Lộc, một thôn giáp ranh với Từ Ô của tỉnh Hải Dương qua con sông Ô. Còn B4, B2 đóng ở Chạo Thôn cách chúng tôi ngót cây số, trên đường đi chợ Thi. Còn C2 gồm B5, B6 đóng ở thôn xa hơn gọi là Bắc Cạ hay thôn gì nay quên đứt, hai B đó khác đại đội, ít quan hệ.
Hiệu bộ cũng đóng ngay thôn Đa Lộc tôi ở. Nhanh chóng ổn định chỗ ăn ở để học tập tiếp.
Các lớp học ở nhà dân, không có bàn ghế như ở Phú Thọ. Lớp học chỉ có một cái bảng và bộ bàn ghế cho giáo viên. Ở Phú Thọ, chúng tôi học ở nhà dân, nhà rộng rãi, lợp lá gồi, vườn đất rộng, cây cối nhiều, nhất là cọ, nhà dân ở thưa thớt thoáng mát, bàn ghế tuy là những tấm ván “thô” nhưng đủ mỗi bàn bốn đồng chí ngồi. Ở đây, dân ở chật chội, nhà ngói nhỏ, nóng bức. Khi học ngồi phệt, để vở lên đùi mà ghi chép.
*
Tất cả là tám tháng học ở Trường Trung cấp Bưu điện và Truyền thanh với giáo trình: Điện kỹ thuật, đèn điện tử, máy phát vô tuyến điện, máy thu vô tuyến điện, ăng-ten. Còn về thực hành thì có: hàn thiếc, làm nguội, gò bệ máy, lắp máy tăng âm dùng đèn điện tử, lắp máy phát vô tuyến điện bằng đèn điện tử, lắp máy thu khuếch đại thẳng, lắp máy thu siêu ngoại sai dùng đèn điện tử. Điểm thi gồm mười một môn tất cả. Tôi bị hai môn bốn là hàn và nguội. Bị một điểm ba là lắp máy thu “siêu ngoại sai” dùng đèn điện tử, tôi lắp đúng nguyên lý nhưng đường dây đi lòng thòng, mối hàn sần sùi bân bẩn. Cắm điện để “OTK” nó cứ ì ra “không mở miệng”mới chết chứ, thế này thì ăn “ngỗng” là cái chắc, có khi còn ăn “gậy” là khác. Máy của anh em ra hết rồi, nói oang oang. Còn máy của lớp phó vẫn im. Dò đi soát lại kỹ càng, không sai nguyên lý.
Cô giáo Ngoạn và cô giáo Phiến hướng dẫn theo dõi chúng tôi thực hành giờ đây có thời gian sờ đến máy của tôi - cái cuối cùng của lớp B3.
Cô giáo đích thân chỉnh mạch cộng hưởng vào, chỉnh mạch dao động nội OSC, cũng không được. Sách cuối cùng là cô giáo phải dùng máy phát sóng chuẩn trung tần (IF) 465 ki-lô-héc để chỉnh “mạch cộng hưởng trung tần” mới được. Tôi ngồi cạnh nín thở theo dõi hai cô giáo chỉnh máy, cũng là theo dõi số phận mình. Cô chỉnh từ cái lõi đen, đến lõi trắng, đến lõi vàng cuối cùng. Máy chạy, nói oang oang, tôi thở phào nhẹ cả người. Đành nhận điểm ba vào học bạ và là điểm kém nhất lớp B3 ở cái bộ môn lắp máy thu thanh này. Té ra là ông tướng nào đấy, quý mến lớp phó quá, tiện trên tay có cái tuốc-nô-vít đã vặn cái lõi phe-rít (hay gọi là “Lõi than”) tụt đi tận đâu. May mà chưa bị vỡ, nếu quá tay chỉ tý nữa thôi mà vỡ ấy à, mình làm cái “Giấy khen đánh máy” là chắc.
Lắp máy thu bị 3, chứ lý thuyết máy thu tôi học tốt. Bài thi viết của tôi cũng 5, anh khác cũng 5, nhưng khối anh phải mượn bài của tôi tham khảo. Bài của tôi giáo viên chấm, có chỗ anh vạch hai ba vạch đỏ ở lề mà phê rằng: “Hay, Hay”.
Ông Phạm Văn Phi hiệu trưởng Trường Trung cấp Bưu điện và Truyền thanh ký giấy khen là học sinh tiên tiến. ( còn nữa )

                                                  Đăng bởi Nguyễn Như Khánh

Tiểu đoàn Thông tin 813 Quân khu Trị Thiên - đơn vị Anh hùng LLVTND tổ chức gặp mặt nhân ngày truyền thống (13/8/1966 – 13/8/2017)



Ngày 13/8/2017 Ban liên lạc Tiểu đoàn Thông tin 813 Quân khu Trị Thiên - đơn vị Anh hùng LLVTND  đã tổ chức gặp mặt hằng năm tại Hội trường UBND xã Trần Phú, quận Hoàng Mai, Hà Nội nhân kỷ niệm 51 năm Ngày truyền thống (13/8/1966 – 13/8/2017).

11.8.17

Đoàn cán bộ kỹ thuật Thông tin Quân Giải phóng miền Nam (Đoàn 239) gặp mặt truyền thống kỷ niệm 50 năm ngày đi B (6/8/1967 - 6/8/2017)



Sáng 6/8/2017, tại Trung tâm Kỹ thuật thông tin công nghệ cao/Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc đã diễn ra buổi Gặp mặt truyền thống Hội bạn chiến đấu Đoàn cán bộ kỹ thuật Thông tin Quân Giải phóng miền Nam (Đoàn 239) nhân kỷ niệm 50 năm ngày Đoàn đi B (6/8/1967 - 6/8/2017).

9.8.17

Danh sách mừng thọ của các chi hội năm 2017



Để chuẩn bị cho buổi gặp mặt nhân kỷ niệm 72 năm Ngày Truyền thống của Bộ đội TTLL (1945-2017) vào ngày 03/9/2017 tại SCH Binh chủng sắp tới, trong thời gian qua Thường trực Ban liên lạc Hội truyền thống Thông tin khu vực Hà Nội đã tích cực làm việc với các chi hội để lấy danh sách và rà soát các bác đã đến tuổi mừng thọ (70, 75, 80, 85, 90 và 95 tuổi) năm 2017. Sau khi làm việc với các chi hội, danh sách năm nay sẽ có 218 đồng chí được mừng thọ (tính đến ngày 08/8/2017), gồm:

2.8.17

Nghĩa tình đồng đội



Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2017), các đ/c trong Ban liên lạc Chi hội truyền thống Thông tin Trường Sơn (Đoàn 559) đã đến thăm và trao tặng những phần quà tại nhà các đ/c hội viên là thương binh (đ/c Phượng, đ/c Hiếu, đ/c Ngô, đ/c Nghiêm gia đình liệt sỹ và đ/c Kiên) trong khu vực Hà Nội.