4.9.26

Một bài ca dao đáng nhớ

Đặng Trường Lưu

Sáng nay ngược đỉnh đèo cao

Lắng nghe thư Bác vọng vào trời xuân

Đường xa như xích lại gần

Mồ hôi thấm áo mấy lần vẫn vui

Ta đi trồng cột lưng trời

Gọi hoa sứ nở theo lời thư xuân

(Việt Nguyên - Nghe thư Bác)

Đây là bài cao dao in ở trang đầu tập sách "Hương thơm hoa sứ" của cán bộ, chiến sĩ Đoàn Thông tin Lam Sơn đầu năm 1969. Bài ca dao này cũng lại xuất hiện trên báo Thông tin của Binh chủng, số đầu tiên, ra đời sau đó vài tháng. Ở những tuyển tập thơ ca Binh chủng và Quân đội xuất bản trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bài "Nghe thư Bác" luôn được góp mặt như sự khẳng định vị trí của mình bởi giá trị nội dung và hình thức biểu hiện. Bài ca dao này được viết sau sự kiện Binh chủng Thông tin liên lạc mở "Đại hội thi đua lập công, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", và vinh dự đón nhận thư khen của Bác Hồ ngày 28 tháng 01 năm 1969. Sự kiện chính trị này đã tạo nên cảm hứng tuyệt vời, chắp cánh cho bài ca dao bay thẳng vào lòng người chiến sĩ, suốt những năm dài chiến tranh ác liệt và chiến thắng vẻ vang. Cũng có thể nói, đây là một trong những tác phẩm báo hiệu sự nở rộ sau này của dòng thơ ca Thông tin và đội ngũ những người làm nghệ thuật trưởng thành từ lính của Binh chủng Thông ttin liên lạc.

Không gian, hoàn cảnh mà bài ca dao nói đến đã khắc hoạ rất rõ tính chất công việc và tâm trạng người lính, nỗi vất vả gian nan khi dựng đường dây băng qua núi cao vực thẳm. Khi được nghe thư khen của Bác Hồ, lòng chiến sĩ rung lên bao âm điệu mới, ngỡ lời Bác vang vọng đâu đây nơi đất trời cao rộng. Người chiến sĩ như được tiếp thêm sức mạnh, quên cả "đường xa" nhọc nhằn, "mồ hôi thấm áo mấy lần", lạc quan vươn tới hoàn thành nhiệm vụ. Đó là ý nghĩa nội dung và cũng là cấu tứ của tác phẩm, khi tác giả sử dụng hình ảnh "trời xuân", "thư xuân" rất thực, tác động lên nhau, làm sáng lên hình ảnh mùa xuân thứ ba ẩn chứa trong cụm từ "gọi hoa sứ nở". Hình ảnh gợi cảm và sinh động này, thêm một lần, lắng sâu vào lòng người những giá trị vừa hiện thực vừa lãng mạn.

Trong thơ ca, việc sử dụng hình tượng này đắp chồng lên hình tượng kia với nhiều tầng ngữ nghĩa để tạo hiệu quả khái quát cho một hình tượng khác nữa là một thủ pháp thông dụng. Có điều ở bài ca dao "Nghe thư Bác", tác giả đã áp dụng kỹ thuật này thật hài hoà, thật nhuyễn, không một manh nha của bài trí, sắp đặt. Dường như cảm hứng và thi pháp xuất hiện cùng thời khắc nên hình ảnh và ngôn từ cứ thế hiện lên.

Từ câu mở đầu như lời kể chuyện nhẹ nhàng:

Sáng nay ngược đỉnh đèo cao cao

Lắng nghe thư Bác vọng vào trời xuân

khiến ta ngỡ mùa xuân thiên nhiên đến trước, nhưng khi đọc đến câu cuối:

Ta đi trồng cột lưng trời

Gọi hoa sứ nở theo lời thư xuân

mới vỡ ra một điều hiển nhiên: chính lời thư ân tình của Bác đã khiến đất trời thay da đổi thịt. Chính bởi cái nhìn lạc quan từ trong tâm tưởng mà những tích sứ vô tri vô giác cũng hóa thành bông hoa bừng nở. Sức cảm hóa từ lời thư khen ngợi của Bác khiến cho lòng ai cũng phấn chấn tràn trề, đường dây cũng nở hoa chiến công và mùa xuân trở về sớm hơn thường lệ.

Bài ca dao gồm sáu câu lục bát đã vẽ ra cả một không gian rộng với cảnh lao động của người lính Thông tin, gian truân mà phơi phới niềm vui. Cảm hứng có tính nhân văn đã đưa những câu ca dao mộc mạc, gọn gàng ấy lên tầm hoành tráng. Từ ngữ dung dị, gần gũi cho ta cảm nhận cái hay của thể loại ca dao truyền thống: "Đường xa như xích lại gần", ấy là cách nói mang sắc màu dân dã. Câu ca dao này cho ta nhớ về một bài ca dao khác cũng của người lính xây dựng đường dây,  được phổ nhạc thành bài hát truyền thống, đó là bài "Chịu lính đường dây" với câu mở đầu đậm đà kịch tính: "Cưỡi mây lên gõ cổng trời" và câu kết: "Lên tận cổng trời, chịu lính đường dây". Mới hay, cái ngôn từ thậm xưng đã nói được phần nào phẩm chất riêng biệt đầy cá tính, của những con người quanh năm ngày tháng đi xây dựng công trình thông tin chiến lược. Hơn thế, bài ca dao "Nghe thư Bác" còn cho ta dư vị ngọt ngào, mới mẻ của không khí thơ ca hiện đại. Khi tác giả "gọi hoa sứ nở" chính là khi tác giả - người lính, trong thăm thẳm tâm hồn đã ngập tràn xuân mới.

Cô đọng, khúc chiết và hứng cảm. Bài ca dao "Nghe thư Bác" là tâm tình, là niềm lạc quan, là ý chí quyết vượt qua mọi gian khó để hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng với lời khen ngợi và những bài học sâu sắc mà Bác Hồ kính yêu dành cho bộ đội Thông tin.

35 năm qua, đã có bao tác phẩm thơ ca chiến sĩ Thông tin nói về chiến công của mình và lòng nhớ ơn Bác Hồ vô vàn yêu quý. Nhiều bài thơ và ca dao đã vượt qua không gian, thời gian để đọng mãi trong lòng người đọc. "Nghe thư Bác" của Việt Nguyên là một tác phẩm như thế. Tác giả đã có nhiều đóng góp cho nền văn nghệ Binh chủng, Quân đội và Nhà nước. Việt Nguyên là một trong những bút danh của nhà thơ Quang Chuyền hiện nay.

Ɖ.T.L.

Tháng 12-2003

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005) 

2.9.26

Chiếu phim cho một chiến sĩ xem

Tống Choan - Đào Nhạc

Trước năm 1968, khi còn là Cục Thông tin liên lạc, nếu muốn cho bộ đội, ví dụ Trung đoàn Thông tin 205 xem phim, Phòng Chính trị Cục phải có kế hoạch trước một tháng trình đội chiếu bóng của Bộ Tổng Tham mưu mới hy vọng được giải quyết.

Sau năm 1968, bấy giờ đã là Bộ tư lệnh Thông tin, Ban Tuyên huấn chúng tôi đã được trang bị máy nổ, máy chiếu "độc lập, tự do". Không gì quý bằng. Vừa xin máy chiếu 35 ly, một bộ 2 máy, chúng tôi còn xin thêm một máy chiếu 16 ly, máy này có thể chiếu các phim ngắn 50-60 phút, không phải thay phim. Nếu phim dài hơn, người xem phải đợi ít phút mới xem tiếp tục được.

Máy móc của đội chiếu bóng chúng tôi được chất lên một xe Gát 69 Liên Xô - gọi là xe "đít vuông". Bỏ đi một bên ghế, chỉ để lại đủ chỗ cho ba, bốn người ngồi, còn lại trong xe là máy nổ, máy chiếu, xẻng, cuốc, dây cáp, dây thừng, ván (để chống lầy...). Phông và cọc bó chặt buộc dọc theo xe. Biên chế của đội gồm một lái xe, một phụ trách máy chiếu, một thuyết minh. Tuy là phân công trách nhiệm, nhưng anh em đều thực hiện "giỏi một việc, biết nhiều việc" để thay thế nhau. Đội trưởng Tống Choan kiêm thuyết minh, thợ máy Đồng Quang Tiến có thể vừa thuyết minh và khi cần cũng "to gan" lái vài chục mét xe ô tô... Còn các bạn "cán bộ đường lối" lái xe Nguyễn Quang Thích, Đào Văn Nhạc có thể kiêm phục trách máy nổ.

Trước, chỉ những đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn đóng quân tập trung mới được xem phim. Còn các tổ, trạm vô tuyến, hữu tuyến, quân bưu đóng quân trên núi cao, rải quân dọc Trường Sơn, 2-3 người một tổ, việc được xem phim dù một lần trong một năm vẫn là "dream"- mơ ước.

Đội của Tống Choan đi chiếu cho một tổ đường dây có ba chiến sĩ - hai đi trên đường, một ở nhà lo cơm nước, chăn gà lợn, trực máy. Anh chàng này một mình được xem trước gần hai tiếng, chạy ra, chạy vào. Xế chiều, hai chiến sĩ trên đường về, chưa cơm nước gì, vào xem cho đủ "tiêu chuẩn". Cán bộ địa phương nhiều nơi thấy có đội "điện ảnh" đến, thiết tha yêu cầu bộ đội chiếu phim phục vụ nhân dân. Uỷ ban và xã đội phân công phụ trách gác máy bay, ban ngày, ban đêm, bố trí súng máy trên núi đồi, kẻng báo động để bảo vệ buổi chiếu. Người xem phim phải ngụy trang kín bằng lá cây tươi, trông như một bãi cỏ, bãi cây xanh... Có đơn vị kết hợp huấn luyện bộ đội đi B, đeo ba lô gạch hành quân đến địa điểm xem phim, rất phấn khởi, rồi lại hành quân trở về... Có lần đội đi phục vụ bội đội ở Quân khu 4, qua Quán Hành huyện Nghi Lộc, Nghệ An tránh bom đạn, trú quân trong làng. Uỷ ban biết tin, đề nghị đội chiếu phim cho dân xem. Thế là đội bố trí màn ảnh vào trong đình, dân đến xem từ 9 giờ đêm cho đến 5 giờ sáng hôm sau. Uỷ ban lệnh, ai cũng chỉ được xem một lần, nhường cho người khác (trực canh, trực nhà, trực báo động,...). Nhưng có anh có chị xem "lậu" suốt mấy buổi chẳng "rút lui" cho.

Lần chiếu cho một trạm quân bưu gần A72 (Trường Sơn), xe chỉ đỗ được ở ngoài suối, anh em bộ đội được tin, lội suối ra "gánh" máy vào. Hai nhân viên chiếu phim, vì phải trông xe, ốm mệt, không vào được trạm, dù chỉ cách 4-5 km, nên đội trưởng Tống Choan phải "đào tạo cấp tốc" mấy chiến sĩ lắp phim, sử dụng máy chiếu. Trạm này ngoài hơn một chục chiến sĩ, còn có các anh, các chị thanh niên xung phong, gần một trung đội và một tổ Công an đóng quân gần đấy. Nghe tin có "đội chiếu bóng" về, mọi người đều đến thương lượng, xin xem "ghẹ"... Đêm ấy, tổ chiếu phim "Công phá Bá Linh". Hết phim, đồng bào, bộ đội, thanh niên xung phong, công an không chịu về, đòi xem nữa, đội lại phải "phục vụ" cho đến khi mặt trời lên, máy bay đã ù ù trên đầu...

Tiếng lành đồn xa, một đội không đủ khả năng phục vụ bộ đội Thông tin, phục vụ bộ đội bạn, làm "đối ngoại" nên từ một đội đã phải thành lập thêm ba đội nữa. Các anh "nhập đội" tiếp như Nguyễn Thanh Thản (sau là giám đốc Công ty Vinexad Hà Nội), Hoàng Đức Điềm, Doãn Từ, Nguyễn Văn Cậu, Nguyễn Văn Nguyên, Nguyễn Văn Phú...

Trong hoàn cảnh chiến đấu, đơn vị toàn thanh niên nam, đội đã kết hợp đào tạo thêm hai cô thợ máy Thái Thị Thanh Tâm, Nguyễn Thị Ngà vừa "đi chiếu bóng", vừa ca hát động viên chiến sĩ, nhân dân, "gọi là" có tiếng con gái Hà Nội (thực ra là người Thái Bình quê lúa).

Một kỷ niệm sâu sắc của đội chiếu bóng là vào những ngày tổ chức tang lễ Bác, đội được điều động vào Hội trường Ba Đình. Liên đội trưởng Tống Choan và Đồng Quang Tiến sử dụng hai máy chiếu Đức, đưa luồng ánh sáng qua một lỗ nhỏ bằng chân kim, để tạo ra một vùng sáng trải rộng khoảng 3cm đường kính lên đôi mắt thi hài Bác. Giữa tiếng khóc của đồng bào, thiếu nhi,... dưới ánh sáng của các ngọn đèn khác trong phòng hơn mấy trăm oát, đội trưởng Choan và Tiến đổ mồ hôi như tắm, bỏ cả cơm trưa, phục vụ cho công việc ghi hình, tận tối mới được "về nhà".

Lần bộ đội Thông tin bàn giao đường dây cho một đơn vị Giải phóng quân Trung Quốc tại Lào Cai, đội đã đem phục vụ bộ đội, nhân dân vùng biên giới bộ phim "Những cô gái Thông tin K6" và "Đường dây quyết thắng" được hoan nghênh nhiệt liệt. Bạn Trung Quốc mời đội dự bữa cơm nhưng đội chỉ có một người, máy lấy ở tỉnh đội Lào Cai, xe tỉnh đội đón nhân viên thuyết minh... nên đành phải khéo léo từ chối. Chẳng ai nghĩ là có đội chiếu bóng nào lại ít người đến thế.

Năm 1969, để chuẩn bị cho "Đại hội Thi đua quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ", đội chiếu phim vào Khu 4, khi trở ra, xe bị lầy giữa rừng, không thoát được, ăn hết lương khô, mãi mới "may quá" được một xe tải kéo cho, đến nông trường cam ở Nghệ An, các cô gái nông trường đến ôm choàng các chàng trai của đội thơm lấy thơm để rồi tặng cho một xe cam, ăn đi đường về đến Hà Nội vẫn còn. Lượt ấy, đi qua cầu Ninh Bình bị máy bay Mỹ đuổi, bom bị bươm bướm nổ lẹt đẹt sau xe, phải mở hết tốc độ 100km/h mới thoát "chết". Khi đi qua ga Khoa Trường, đội phải "van lạy" mãi các o thanh niên xung phong mới "cho phép" xe đi, vì các o này bắt xe phải ở lại qua đêm chiếu phim cho các o xem... Cuối cùng, chàng cán bộ lái xe Nguyễn Quang Thích phải chịu "phạt", giơ má ra cho gần chục o  "chút chút"...

Cái "Liên đội chiếu phim" này của bộ đội Thông tin đã trở nên "huyền thoại"!

Thế mà đã gần 40 năm!

T.C-Đ.N

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)