Nhà văn Nguyên Trọng Tân, nguyên là sĩ quan thông tin,
biên tập viên báo Thông tin trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Gần 11 năm phục
vụ Quân đội, trong đó nhiều năm ở chiến trường Tây Nguyên, Khu V, đã để lại
trong ông những kỉ niệm sâu sắc về một thời vô cùng oanh liệt của dân tộc. Với
tư cách phóng viên chiến tranh trong Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên và Chiến
dịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Trọng Tân đã có loạt bài viết về gương chiến đấu của
chiến sĩ thông tin Quân Giải phóng gửi ra đăng trên một số tờ báo với nhiều bút
danh khác nhau.
Nhân dịp cuốn sách viết về bộ đội Thông tin liên lạc được
xuất bản, nhóm biên soạn tập hợp một số bài viết của nhà văn Nguyễn Trọng Tân
cách đây tròn 30 năm, giữ nguyên nội dung, văn phong, không sửa chữa, bổ sung,
đặt tên chung cho chùm bài là “Ghi ở chiến trường” với bút danh là: Phù Việt
Trang.
BBT
I. Trận địa lòng dân
Chiều gần tối, mặt trời vàng như quả cam lớn chín nẫu
rơi xuống rất nhanh, kéo theo những làn nắng cuối ngày yếu ớt trải đều trên đồng
lúa đang vào đội chín. Một nỗi buồn thương uất ức trào nghẹn lên cổ, tôi rẽ đám
lúa trước mặt nhìn về thôn Xuân Hoà, những khoảng trống ở dãy tre ven làng đen
ngòm như mắt cú. Màu xám đen từ những đôi mắt ấy loang dần lên ao liếm nốt những
giọt nắng còn đọng lại, làng xóm vắng tanh vắng ngắt.
Bà con mình sao mà cực vậy? Ba thằng nghĩa quân mặt
còn đầy lông tơ đứng ở cổng làng khám xét lục lọi. Chúng sờ nắn cùng mình từ những
người bằng tuổi nội, tuổi ngoại chúng đến tụi con nít. Chị em phụ nữ bị chúng lợi
dụng dở trò thú vật chỉ biết cắn răng chịu đựng rồi về nhà nằm khóc ấm ức.
Phong trào của Hương Bình sụt hẳn xuống, cái chết của hai đảng viên và một số
cơ sở bị vỡ là một dấu hiệu có kẻ phản bội mật báo cho địch. Tôi suy nghĩ miên
man, mắt vẫn nhìn về xã Hương Bình lúc này như một đống lá khô thu vội nằm áp
vào dãy đồi thấp mờ mờ rồi chìm hẳn vào màn đêm kín mít.
Tiếng chú Hiệp gọi làm tôi bừng tỉnh, ra khỏi ruộng
lúa. Chú chỉ cho tôi người thứ ba.
- Đây là o Lan cơ sở của xóm Lúa - Chú giới thiệu.
- Tôi và đồng chí Thủy đem chỉ thị của thường vụ về
Hương Bình tổ chức các đường dây liên lạc. Trước mắt có khó khăn vì qua đợt khủng
bố vừa rồi của địch, một số bà con tỏ ra lo ngại, chúng ta không được quên các
đồng chí vừa hi sinh, cũng không được quên rằng bọn Sư đoàn I đang ở đây. Chúng
định bóp chết cái xã mà chúng gọi là "Cộng sản" này - Giọng chú rắn
đanh lại. Chúng tôi ngồi lặng đi. Tôi hiểu tâm trạng chú, giữa lúc cơ sở bị vỡ,
đồng chí hy sinh, là bí thư chú phải làm cột trụ vững vàng. Kẻ địch đang cần sự
mềm lòng của mỗi đảng viên lúc này. Chúng tôi chia tay nhau, bàn tay gầy, chai
sạn của đồng chí bí thư như truyền cho tôi sức mạnh trước giờ thử thách lớn lao
này.
Đêm ấy là đêm thứ tư tôi và chú Hiệp tìm cách trở vào
thôn Xuân Hoà. Bọn địch tuần tiễu không theo một quy luật nào, xen kẽ cả bọn bảo
an, nghĩa quân, mật vụ... Gần tới nhà thím Thảo thì chú Hiệp làm hiệu cho tôi dừng
lại, một toán nghĩa quân lặng lẽ men theo vườn sắn vây quanh nhà thím ở. Ngọn
đèn dầu nhỏ bằng hạt đỗ như bị chao đảo dưới tiếng đạp cửa sầm sầm.
- Ê, mụ già mở cửa mau!
Bọn địch tràn vào lục soát, thằng chỉ huy hầm hầm đe
doạ:
- Liệu hồn đó, để đèn ám hiệu cho Việt cộng hả? - Trong
nhà vẫn yên lặng, ánh đèn tắt phụt, tối om. Không khí chết lặng đi dưới những
bước chân nghiến sỏi lạo xạo nặng nề.
Suốt đêm ấy, chúng tôi không bắt được liên lạc với một cơ sở nào. Bọn chúng chăng lưới khắp nơi, ám tín hiệu đều báo có địch. Gần sáng, chú Hiệp lần vào nhà một cơ sở thì bị địch phát hiện. Súng nổ loạn lên, xé tan màn đêm nặng nề phủ kín xóm làng. Những con chó giật mình sủa vang khắp các ngõ xóm, bọn địch ùa ra đuổi theo. Người tôi nổi gai, tình huống bất ngờ chưa biết đối phó ra sao thì tiếng súng của chú Hiệp nổ báo cho tôi tìm đường rút ra. Bọn địch dồn theo chú, một tốp khác sục vào khu vườn tôi nằm lục lọi, đèn pin loang loáng tôi nín thở, tay để vào vòng cò, đầu óc miên man nửa lo cho chú Hiệp, nửa lo bọn địch phát hiện ra, nhiệm vụ tới đây ai làm? Tôi bò lui dần ra phía bờ rào, bỗng một tiếng "cắc". Phía sau cũng có địch, tôi nhẩm trong bụng: Phải đánh mà lấy đường ra thôi. Tôi xác định hướng rút rồi nâng súng nhằm một tốp đông nhất đang lùi lũi tiến đến, vệt lửa nhằng lên quét mấy thằng đi đầu khựng lại, sụp. Bọn địch bắn rượt theo, nhưng lúc này tôi đã ra khỏi xóm, nhằm dãy đồi thấp có những bụi gai phủ kín phóng đại lên.
Đêm thứ năm trở về, lần này tôi quyết định vào hẳn nhà
thím Thảo. Sau khi thận trọng quan sát tôi gõ nhẹ cửa.
- Thím Thảo ơi... mở cửa giùm con mau.
Một tiếng se sẽ nặng nề phát ra:
- Ai đó? Đêm hôm khuya khoắt đi mô mà không đèn lửa
chi hết...
- Thím à, con là Thủy đây thím, thím cho con vô, con sẽ
thưa chuyện sau, mau lên thím...
Cánh cửa hé mở, tôi lọt êm vào trong. Ngày hôm đó thím
để tôi ngồi lên chuồng gà, chất rơm củi chung quanh. Thím nói:
- Tao chỉ cho ở một ngày thôi nghe, đêm mai mi đi đâu
thì đi, nhà tao ngày nào đêm nào mà không có đứa lục lọi khám xét.
Trời nắng rọi như hun nhưng tôi không thấy nóng, cái
chết của chú Hiệp đặt tôi vào một hoàn cảnh khó khăn quá lớn, vừa thương chú, vừa
lạ địa bàn, lạ cơ sở. Thím Thảo kể lại: đêm trước bọn địch dồn chú ra đến sát
cánh đồng. Đồng chí bí thư của Hương Bình đã chiến đấu đến lúc hết đạn và hy sinh.
Cay cú vì không bắt sống được chú, bọn địch đem xác chú để ngay ở cổng làng,
cho một trung đội phục kích hòng bắt ai ra đem xác chú về. Cả ngày hôm qua
chúng dựng xác chú ở nơi bà con thường qua lại để lung lạc tinh thần, để uy hiếp
phong trào. Nhưng một nghĩa quân đã vận động nhân dân và anh em binh lính chôn
cất cho chú - giọng thím nghẹn ngào. Tôi nhìn thím, cuộc đời người đàn bà đầy
đau khổ này có mối thù sâu tựa bể với bọn giặc. Thím có bảy người con, nhưng rồi
chúng đã cướp mất cả bảy người con, còn mình thím sống cũng không được yên.
Trong bữa tiệc máu mà chúng gọi là mừng chiến công tiêu diệt được tên
"trùm cộng sản", thằng xã trưởng gân cổ: "Phải bắn bỏ hết ba thằng
cộng sản, phải biết làm cho gia đình vợ con nó chết cũng không nhắm được mắt..."
Trời tối lúc nào tôi cũng không biết, thím Thảo rút bỏ
rơm cho tôi xuống, kéo tôi nhà trong, ở đó đã dọn sẵn một mâm cơm; tôi định nói
với thím một vài câu, nhưng thím đã chạy ra ngoài cửa ngồi gác. Cả ngày ngồi co
trên chuồng gà giờ mới thấy đói dốc ruột gan, tôi ăn uống thật ngon lành.
Đêm ấy hai thím cháu ngồi nói chuyện tới khuya, đôi mắt
thím cứ nhìn sâu thăm thẳm vào màn đêm. Tôi đánh bạo hỏi trước:
- Thím à? Chừ thím đuổi thì con biết đi mô? Mấy đêm
nay con lặn lội để bám lấy bà con, chẳng lẽ cứ để cho nó hành hạ, bắn giết
chúng ta mãi sao. Con cũng có thù sâu vô bờ bến với bọn giặc Mỹ, ngụy. Chú Hiệp
chết đi, việc của con là phải thay chú nối lại đường dây liên lạc với các cơ sở.
Thím và bà con cô bác mà không giúp đỡ thì con làm sao được... - Tôi nói một
thôi. Tiếng thở dài của thím làm tôi thấy hối hận, từ đôi mắt già u tối như cuộc
đời thím bỗng nhoè đi, hai hàng nước mắt lăn trên đôi má khô khốc, nhăn nheo.
Thím ôm lấy tôi:
- Con, con hiểu cho thím, đời thím còn sống được là
bao, nhưng thím phải sống, ráng sống để trả thù... Con cứ ở lại đây giao việc
cho thím, bọn chúng có cậy răng thì cũng đừng hòng moi được ở thím một lời nào
đâu...
Từ đó tôi đặt nhà thím là nơi liên lạc với các cơ sở
còn lại trong xã Hương Bình. Hàng ngày thím Thảo khôn khéo chuyển thư và các chỉ
thị của trên tới các xóm qua mắt bọn địch mà chúng không hề biết. Một đường dây
mới được hình thành. Ít lâu sau, được lệnh trên tôi rời nhà thím Thảo ra nằm ở một
hầm bí mật ngoài dãy đồi ven làng, nhận tin tức từ trên xuống và từ trong cơ sở
ra đưa vào thành Huế, chuẩn bị cho những trận đánh lẫy lừng của mùa xuân năm
1975 lịch sử.
(Theo lời kể của
đồng chí Nguyễn Thị Thủy - chiến sĩ giao liên thành Huế)
Còn nữa
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)
0 comments:
Đăng nhận xét