2.9.26

Chiếu phim cho một chiến sĩ xem

Tống Choan - Đào Nhạc

Trước năm 1968, khi còn là Cục Thông tin liên lạc, nếu muốn cho bộ đội, ví dụ Trung đoàn Thông tin 205 xem phim, Phòng Chính trị Cục phải có kế hoạch trước một tháng trình đội chiếu bóng của Bộ Tổng Tham mưu mới hy vọng được giải quyết.

Sau năm 1968, bấy giờ đã là Bộ tư lệnh Thông tin, Ban Tuyên huấn chúng tôi đã được trang bị máy nổ, máy chiếu "độc lập, tự do". Không gì quý bằng. Vừa xin máy chiếu 35 ly, một bộ 2 máy, chúng tôi còn xin thêm một máy chiếu 16 ly, máy này có thể chiếu các phim ngắn 50-60 phút, không phải thay phim. Nếu phim dài hơn, người xem phải đợi ít phút mới xem tiếp tục được.

Máy móc của đội chiếu bóng chúng tôi được chất lên một xe Gát 69 Liên Xô - gọi là xe "đít vuông". Bỏ đi một bên ghế, chỉ để lại đủ chỗ cho ba, bốn người ngồi, còn lại trong xe là máy nổ, máy chiếu, xẻng, cuốc, dây cáp, dây thừng, ván (để chống lầy...). Phông và cọc bó chặt buộc dọc theo xe. Biên chế của đội gồm một lái xe, một phụ trách máy chiếu, một thuyết minh. Tuy là phân công trách nhiệm, nhưng anh em đều thực hiện "giỏi một việc, biết nhiều việc" để thay thế nhau. Đội trưởng Tống Choan kiêm thuyết minh, thợ máy Đồng Quang Tiến có thể vừa thuyết minh và khi cần cũng "to gan" lái vài chục mét xe ô tô... Còn các bạn "cán bộ đường lối" lái xe Nguyễn Quang Thích, Đào Văn Nhạc có thể kiêm phục trách máy nổ.

Trước, chỉ những đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn đóng quân tập trung mới được xem phim. Còn các tổ, trạm vô tuyến, hữu tuyến, quân bưu đóng quân trên núi cao, rải quân dọc Trường Sơn, 2-3 người một tổ, việc được xem phim dù một lần trong một năm vẫn là "dream"- mơ ước.

Đội của Tống Choan đi chiếu cho một tổ đường dây có ba chiến sĩ - hai đi trên đường, một ở nhà lo cơm nước, chăn gà lợn, trực máy. Anh chàng này một mình được xem trước gần hai tiếng, chạy ra, chạy vào. Xế chiều, hai chiến sĩ trên đường về, chưa cơm nước gì, vào xem cho đủ "tiêu chuẩn". Cán bộ địa phương nhiều nơi thấy có đội "điện ảnh" đến, thiết tha yêu cầu bộ đội chiếu phim phục vụ nhân dân. Uỷ ban và xã đội phân công phụ trách gác máy bay, ban ngày, ban đêm, bố trí súng máy trên núi đồi, kẻng báo động để bảo vệ buổi chiếu. Người xem phim phải ngụy trang kín bằng lá cây tươi, trông như một bãi cỏ, bãi cây xanh... Có đơn vị kết hợp huấn luyện bộ đội đi B, đeo ba lô gạch hành quân đến địa điểm xem phim, rất phấn khởi, rồi lại hành quân trở về... Có lần đội đi phục vụ bội đội ở Quân khu 4, qua Quán Hành huyện Nghi Lộc, Nghệ An tránh bom đạn, trú quân trong làng. Uỷ ban biết tin, đề nghị đội chiếu phim cho dân xem. Thế là đội bố trí màn ảnh vào trong đình, dân đến xem từ 9 giờ đêm cho đến 5 giờ sáng hôm sau. Uỷ ban lệnh, ai cũng chỉ được xem một lần, nhường cho người khác (trực canh, trực nhà, trực báo động,...). Nhưng có anh có chị xem "lậu" suốt mấy buổi chẳng "rút lui" cho.

Lần chiếu cho một trạm quân bưu gần A72 (Trường Sơn), xe chỉ đỗ được ở ngoài suối, anh em bộ đội được tin, lội suối ra "gánh" máy vào. Hai nhân viên chiếu phim, vì phải trông xe, ốm mệt, không vào được trạm, dù chỉ cách 4-5 km, nên đội trưởng Tống Choan phải "đào tạo cấp tốc" mấy chiến sĩ lắp phim, sử dụng máy chiếu. Trạm này ngoài hơn một chục chiến sĩ, còn có các anh, các chị thanh niên xung phong, gần một trung đội và một tổ Công an đóng quân gần đấy. Nghe tin có "đội chiếu bóng" về, mọi người đều đến thương lượng, xin xem "ghẹ"... Đêm ấy, tổ chiếu phim "Công phá Bá Linh". Hết phim, đồng bào, bộ đội, thanh niên xung phong, công an không chịu về, đòi xem nữa, đội lại phải "phục vụ" cho đến khi mặt trời lên, máy bay đã ù ù trên đầu...

Tiếng lành đồn xa, một đội không đủ khả năng phục vụ bộ đội Thông tin, phục vụ bộ đội bạn, làm "đối ngoại" nên từ một đội đã phải thành lập thêm ba đội nữa. Các anh "nhập đội" tiếp như Nguyễn Thanh Thản (sau là giám đốc Công ty Vinexad Hà Nội), Hoàng Đức Điềm, Doãn Từ, Nguyễn Văn Cậu, Nguyễn Văn Nguyên, Nguyễn Văn Phú...

Trong hoàn cảnh chiến đấu, đơn vị toàn thanh niên nam, đội đã kết hợp đào tạo thêm hai cô thợ máy Thái Thị Thanh Tâm, Nguyễn Thị Ngà vừa "đi chiếu bóng", vừa ca hát động viên chiến sĩ, nhân dân, "gọi là" có tiếng con gái Hà Nội (thực ra là người Thái Bình quê lúa).

Một kỷ niệm sâu sắc của đội chiếu bóng là vào những ngày tổ chức tang lễ Bác, đội được điều động vào Hội trường Ba Đình. Liên đội trưởng Tống Choan và Đồng Quang Tiến sử dụng hai máy chiếu Đức, đưa luồng ánh sáng qua một lỗ nhỏ bằng chân kim, để tạo ra một vùng sáng trải rộng khoảng 3cm đường kính lên đôi mắt thi hài Bác. Giữa tiếng khóc của đồng bào, thiếu nhi,... dưới ánh sáng của các ngọn đèn khác trong phòng hơn mấy trăm oát, đội trưởng Choan và Tiến đổ mồ hôi như tắm, bỏ cả cơm trưa, phục vụ cho công việc ghi hình, tận tối mới được "về nhà".

Lần bộ đội Thông tin bàn giao đường dây cho một đơn vị Giải phóng quân Trung Quốc tại Lào Cai, đội đã đem phục vụ bộ đội, nhân dân vùng biên giới bộ phim "Những cô gái Thông tin K6" và "Đường dây quyết thắng" được hoan nghênh nhiệt liệt. Bạn Trung Quốc mời đội dự bữa cơm nhưng đội chỉ có một người, máy lấy ở tỉnh đội Lào Cai, xe tỉnh đội đón nhân viên thuyết minh... nên đành phải khéo léo từ chối. Chẳng ai nghĩ là có đội chiếu bóng nào lại ít người đến thế.

Năm 1969, để chuẩn bị cho "Đại hội Thi đua quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ", đội chiếu phim vào Khu 4, khi trở ra, xe bị lầy giữa rừng, không thoát được, ăn hết lương khô, mãi mới "may quá" được một xe tải kéo cho, đến nông trường cam ở Nghệ An, các cô gái nông trường đến ôm choàng các chàng trai của đội thơm lấy thơm để rồi tặng cho một xe cam, ăn đi đường về đến Hà Nội vẫn còn. Lượt ấy, đi qua cầu Ninh Bình bị máy bay Mỹ đuổi, bom bị bươm bướm nổ lẹt đẹt sau xe, phải mở hết tốc độ 100km/h mới thoát "chết". Khi đi qua ga Khoa Trường, đội phải "van lạy" mãi các o thanh niên xung phong mới "cho phép" xe đi, vì các o này bắt xe phải ở lại qua đêm chiếu phim cho các o xem... Cuối cùng, chàng cán bộ lái xe Nguyễn Quang Thích phải chịu "phạt", giơ má ra cho gần chục o  "chút chút"...

Cái "Liên đội chiếu phim" này của bộ đội Thông tin đã trở nên "huyền thoại"!

Thế mà đã gần 40 năm!

T.C-Đ.N

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005) 

0 comments:

Đăng nhận xét