Tuyết Lan
Chuyến ghé thăm của Đại tá Nguyễn Văn Khoan, người chỉ
huy cũ về công tác văn hóa văn nghệ của Binh chủng Thông tin liên lạc đặt bài "nhờ"
ghi lại câu chuyện về chuyến làm phim "Những cô gái Trạm thông tin K6" thực là yêu cầu quá khó đối với tôi. Bộ phim được quay từ cuối năm
1968, đã hơn 35 năm trôi qua. Hồi đó chúng tôi mới sàn sàn mười tám đôi mươi.
Bây giờ thì đã bà ngoại, bà nội cả rồi.
Tuy vậy với "thói quen" chấp hành mệnh lệnh của
người lính, tôi đành bò ra bàn mà chật vật viết. Thậm chí tôi cũng muốn ghi lại
để nhớ một thời con gái không thể quên, thời kì đẹp nhất, vô tư và đáng trân trọng
nhất đó. Các trạm máy thông tin tải ba thuộc trung đoàn bảo vệ đường dây là đầu
mối quan trọng thời chống Mỹ cứu nước. Thành tích của thông tin liên lạc không
cụ thể là bắn rơi bao nhiêu chiếc máy bay, diệt bao nhiêu kẻ thù, chặn đứng bao
nhiêu xe tăng địch nhưng cuộc chiến dù ở đâu, lúc nào cũng không thể thiếu được
chiến công thầm lặng của chiến sĩ thông tin. Trung đoàn tôi hơn một nửa là nữ
chiến sĩ.
Sau ca trực đêm, sáng sớm tôi được lệnh về ngay Trung
đoàn bộ nhận nhiệm vụ. Đến Phòng Chính trị, lấy giấy giới thiệu qua Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam (trong chiến tranh, Xưởng phim Quân đội đóng quân tại đó),
tôi vẫn chưa biết mình phải làm gì?! Thường trực chỉ lên gác gặp một đồng chí thiếu
tá người xương xương không thật rõ già hay trẻ, ông nhìn tôi chằm chằm, hỏi thủng
thẳng:
- Đồng chí nhập ngũ năm nào?
- Báo cáo, năm 1965.
- Bao nhiêu tuổi?
- Sắp 20 ạ.
- Ở thông tin làm nhiệm vụ gì?
- Sửa chữa và khai thác máy tải ba.
- Tham gia phục vụ bao nhiêu trận rồi?
- Báo cáo khoảng 200 trận ạ.
- Có năng khiếu văn nghệ gì không?
- Báo cáo, được học piano và chơi accordeon.
Ông cứ hỏi tôi như "hỏi cung" vậy, tôi không
rõ để làm gì nên cứ trả lời. Hồi đó việc điều động, thuyên chuyển đơn vị với một
quân nhân rất bình thường, chúng tôi luôn sẵn sàng ba lô lên vai là đi ngay.
Trong khi ông hỏi tôi thì có một đồng chí khác luôn bấm máy ảnh bên cạnh.
Hôm sau, tôi theo xe khí tài của Trung đoàn lên Trạm
A56 - tên K6 là dùng cho phim, phần để giữ bí mật, phần có thể A56 hơi rườm rà
với tên một bộ phim; vả lại A56 chỉ là một trạm của Trung đoàn, còn
"K6" lại khác, đó là hình ảnh của những cô gái thông tin trong Binh
chủng.
A56 phục vụ trực tiếp cho sân bay Kép và xung quanh
còn nhiều đơn vị pháo cao xạ, pháo mặt đất, công binh bám vào. Sân bay Kép là
nơi cất cánh máy bay phản lực chiến đấu đầu tiên của miền Bắc nên việc đảm bảo
thông tin vô cùng quan trọng và cẩn mật. Trạm nằm trong một vùng đồi đẹp lạ lùng,
những đồi sim nằm gối lên nhau bình yên, thơ mộng. Khi mặt trời lặn hắt màu tim
tím xuống hồ nước rộng làm ngăn ngắt cả một vùng. Phía sau lưng Trạm là vách
núi đá ong có những con suối nhỏ róc rách chảy. Nước hồ trong vắt, mát rượi, lại
có những tảng đá to nên bọn con gái chúng tôi thường ra đó tắm gội. Một trạm
thông tin có khoảng hai, ba chục đồng chí, trừ tổ dây, nguồn là nam, còn lại
hơn nửa là nữ. Chúng tôi chia làm ba ca trong một ngày, nếu không thật cần thiết
thì không ra khỏi khu vực Trạm. Trong phim "K6", ngoài những cảnh chiến
đấu ác liệt ra, đạo diễn Nguyễn Chí Phúc (viên thiếu tá đã "hỏi cung"
tôi hôm trước) lưu lại rất nhiều cảnh đẹp ở A56, nơi chúng tôi đã sống và chiến
đấu. Chúng tôi cùng nhau múa hát, chơi đàn, hái hoa sim, hái quả sim chín ăn,
tâm sự và làm thơ trên đồi sim trông xuống mặt hồ nước lăn tăn. Cũng trong những
ngọn đồi ấy, có trạm máy, có tổng đài là trận địa của chúng tôi.
Trạm bị ném bom là thường, đường dây bị bom còn thường
xuyên hơn vì nó trải dài trên khắp đất nước. Khi bị bom, mọi người tìm chỗ ẩn nấp
thật kín chờ hết phút nguy hiểm mới ra, còn những chiến sĩ bảo vệ đường dây thì
ngược lại, lúc ác liệt nhất thì lao ra chỗ bom ném mà nối cho thông tin liên lạc.
Chính vì thế, Trung đoàn 134 của chúng tôi có nhiều đại đội được phong danh hiệu
Anh hùng hai lần.
Trong phim có đoạn nữ đồng chí Thuận nối dây lúc bom
đánh, nằm trong hố bom với chiếc mũ sắt trên đầu, mặt mày nhem nhuốc, chung
quanh mịt mùng khói lửa nhưng bừng sáng lên nụ cười rạng rỡ khi bắt được liên lạc
với sân bay. Cảnh là dựng lại, nhưng sự kiện thì thường xuyên có, nên rất thật.
Lính thông tin chúng tôi chẳng có gì hạnh phúc hơn liên lạc thông suốt.
Chúng tôi được cử đi đóng phim nhưng hiểu biết rất ít
về công việc làm phim. Có lần đạo diễn cần quay cảnh bắn trả máy bay Mỹ, cận cảnh
nòng súng nhả đạn. Đồng chí Hiền đặt máy quay bên cạnh, bấm máy. Điều không ngờ
là đồng chí Tuyên của chúng tôi xem trên các phim có cảnh những người lính
giương súng đứng bắn rất hiên ngang; thấy sao làm vậy, anh đứng thẳng người,
ghì súng kéo cò. Súng giật mạnh hất anh ngã ngửa, đạn vẫn tiếp tục nổ, họng
súng quay đi. Thật hú vía! May mà cả cơ số đạn bay hết lên trời chứ không thì nguy
to.
Có một cảnh ngẫu nhiên chúng tôi phối hợp được với Quân
chủng Không quân rất thành công. Trong cảnh tôi khoác máy lẻ trèo lên đỉnh cột
gọi về trạm báo đường dây đã nối thông. Quay phim muốn có đủ cột, dây, xà, sứ nổi
bật trên nền trời xanh thắm và người nữ chiến sĩ thông tin là tôi với hai đuôi
sam tóc dài ngồi trên đỉnh cột. Để lấy được cảnh này phải chọn cột điện trên quả
đồi cao nhất. Gió ở đỉnh đồi thổi mạnh làm cột và dây đung đưa, nhân vật đeo
máy leo lên cao 7m, mà tôi lại là con gái Hà Nội, không biết có leo trèo được
không (?), ai cũng lo phải thay một đồng chí nam khác. Chiều rồi nên phía sân
bay máy bay chiến đấu lên xuống nhiều, đạo diễn gợi ý: "Giá bắt được vào
khuôn hình chiếc máy bay ngang qua đường dây thì tuyệt!" Lúc đó tôi đứng
sát chân cột nhìn lên cao, lo nhỡ máy vướng vào dây. Bỗng ai đó hô to:
- Máy bay ta kìa!
Thế là như có động lực vô hình, tôi bước lên thang
trèo rất nhanh, gọn gàng, máy vẫn khoác trên vai, không vướng víu gì. Quay có một
phút. Khi lên phim, đạo diễn hài lòng vì đúng ý ông, phía sau đường dây và cô
gái thấy rõ mồn một"con én bạc" nghiêng cánh trên bầu trời xanh trong,
bồng bềnh mây trắng.
Với các trạm thông tin, yêu cầu bí mật được đặt lên
hàng đầu. Trạm thường bố trí nằm sâu trong lòng đồi núi. Khi xây dựng trạm, bên
công binh phải làm đêm hoàn toàn, họ cho đất đá vào bao tải chở đi xa đổ, dân
trong vùng không hề hay biết. Để không lộ, các đồng chí công binh còn trồng dứa
nguỵ trang trạm, các loại cây khác còn có thời gian héo, riêng dứa từ lúc đặt
cây đến bén rễ lúc nào cũng giữ màu xanh. Vả lại sau này dứa tốt thành bụi to
làm hàng rào chống kẻ gian, người lạ hay trâu bò đến gần trạm. Nghe nói dứa còn
chống được cả rắn, nhưng đã có lần trực ca đêm, một đôi rắn to đuổi nhau rơi xuống
phòng máy làm chiến sĩ gái sợ xanh mắt.
Trong phim có cảnh trạm bị trúng bom, cột đầu cuối là
nơi chuyển từ dây trần sang dây cáp bí mật dẫn vào trạm cũng bị trúng bom, phải
thay thế bằng dây bọc. Cảnh lớn có nhiều người tham gia, quay ngay trong hầm trạm
mà thông tin vẫn không được để ngưng một phút nên đạo diễn dặn dò kỹ lưỡng lắm.
Ai cũng lo ngại nhỡ vì mình mà phải quay lại thì ảnh hưởng chung, tốn kém nhất là
phải bố trí lại khói lửa, rất mất công. Tiếng máy quay ro ro với tiếng lá báo đổ
(báo hiệu có cuộc gọi ở tổng đài) làm không khí chờ tương đối căng thẳng. Hai đồng
chí tổ dây được bố trí cận cảnh ngay trước cửa hầm máy, nghe hô "bắt đầu"
cả hai cùng chạy rất nhanh. Gió tạt bớt khói, đạo diễn tập trung mọi người lại,
không thấy hai đồng chí tổ dây đâu, phải gọi thật to mới nghe văng vẳng từ đồi
xuống. Thì ra khói bay mù mịt, nhầm hướng, họ chạy tít lên đồi, gỡ dây về đến
nơi, cả hai người bắp chân bị lá dứa cắt đầm đìa máu. Đồng chí Hiền quay phim
thì kêu khổ:
- Thể nào! Chạy sai tuyến nên nhoằng một cái chẳng thấy dây rải đâu cả. Quay lại đúp1 nữa!
T.L.
Hà Nội, 20-8-2004
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu
tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)
Còn nữa
----------------------------------------
1 Đúp (double): Tiếng Pháp nghĩa là "thêm một lần nữa".
0 comments:
Đăng nhận xét