Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)
Tiếp theo phần 5/8
44. Cờ của ta phải bằng cờ các nước
Đồng chí An Quân kể lại:
Vào khoảng ngày 23, 24 tháng 8 năm 1945, tôi được lệnh
đón đoàn cán bộ cấp trên về địa phương. Thôn tôi ở bên bờ sông Hồng. Cờ đỏ sao
vàng bay trên thôn xóm hai bên sông. Dưới sông, thuyền xuôi ngược, cờ bay trên
đỉnh cột buồm, tạo nên không khí quật khởi đẹp lạ thường.
Chiếc thuyền đưa đoàn cán bộ tới. Chúng tôi nhận ra trong
đó có Cụ Hồ. Trông Cụ gầy yếu xanh xao, tay cầm chiếc gậy song nhỏ, vai đeo túi
dết màu chàm. Sau vài phút chào hỏi, chúng tôi mời Cụ và đoàn cán bộ về trụ sở tự
vệ thôn. Tới cổng thôn, ông Cụ dừng lại xem các khẩu hiệu cách mạng kẻ trên tường.
Chợt nhìn thấy hàng dãy cờ căng trước cổng thôn, Cụ bỗng hỏi:
- Sao các chú làm cờ của ta nhỏ hơn cờ các nước đồng minh?
Một đồng chí thưa:
- Dạ, giấy đỏ và vàng nhân dân mua làm cờ nhiều quá nên
thiếu ạ! Vì muốn cho đủ nên chúng cháu phải cắt nhỏ đi một chút ạ.
- Không nên.
Cụ khẽ lắc đầu và bảo:
- Các chú phải hiểu là cách mạng đã thành công, nước ta
đã giành được độc lập và đã ngang hàng với các nước, vì vậy cờ của ta phải bằng
cờ các nước. Có thế mới tỏ rõ chí tự cường, tự trọng của mình.
Sau đó, một đồng chí chúng tôi đã trèo lên lấy cờ xuống
để sửa lại.
45. Bác nhớ các cháu
Tháng chạp năm 1968, các dũng sĩ thiếu niên miền Nam
đang học ở khu Tả Ngạn được đón về Hà Nội. Hôm sau, các cháu được vào Phủ Chủ tịch.
Vừa bước chân xuống xe, đã thấy Bác Hồ và Bác Tôn ngồi
ở một cái ghế gỗ dài kê trước cửa nhà. Tất cả chạy ào tới.
Bác cháu trò chuyện ríu rít thăm hỏi nhau. Sau đó Bác
Hồ bảo:
- Thôi các cháu vào ăn cơm với hai Bác!
Bữa cơm chẳng có thịt cá gì nhiều nhưng rất ấm cúng. Các
dũng sĩ thiếu niên được ngồi ăn cùng Bác Hồ và Bác Tôn. Có một em người nhỏ
quá, cái đầu chỉ lấp ló cạnh bàn, được Bác gắp thức ăn cho luôn.
Vừa ăn, Bác cháu vừa nói chuyện rất vui vẻ. Ăn xong, hai
Bác cho mỗi cháu một bông hồng, một quả táo, một quả lê và ba quyển sách Người
tốt việc tốt. Sau đó Bác Hồ bảo:
- Các cháu lại cả đây hôn hai Bác rồi ra về.
Các dũng sĩ hôn hai Bác xong, Bác Hồ lại dặn:
- Các cháu về trường cố gắng học tập cho giỏi.
Tất cả đều cảm động. Nhưng trong đoàn bỗng có một người
lên tiếng hỏi: Thưa Bác, chúng cháu cứ tưởng hai Bác gọi chúng cháu về có việc
gì ạ?
Bác Hồ cười hiền từ và bảo: Hai Bác nhớ các cháu thì gọi
về để gặp và hỏi chuyện cho vui...
Hai Bác tuổi đã cao, trăm công nghìn việc nhưng vẫn nhớ
đến các cháu miền Nam. Mọi người cảm động muốn trào nước mắt.
(Theo sách “Bác Hồ kính yêu")
46. “Ngó mí chắc lố”
Cuối năm 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước
sang giai đoạn quyết liệt. Phủ Chủ tịch
đặt tại một vùng rừng già thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Tuy gọi là
Phủ Chủ tịch, nhưng thực ra nhà cửa cũng chẳng khác gì nhà cửa của dân bản: một
căn nhà sàn nhỏ là nơi Bác ở và làm việc. Vài ba chiếc nhà tranh, xung quanh là
nơi ở và làm việc của thư ký, cán bộ, văn phòng và anh em bảo vệ; tất cả đều
khuất trong lùm cây.
Đến địa điểm nào, Bác cũng chăm lo đến đời sống của anh
em như chỗ ăn, chỗ ở, nhà tắm, nhà vệ sinh, nơi tăng gia và đặc biệt là giữ gìn
bí mật. Bác bao giờ cũng gương mẫu thực hiện nghiêm túc.
Trong đội bảo vệ của chúng tôi, đa số là anh em người Tày.
Một số quê ngay tại huyện Chiêm Hóa.
Một buổi sáng mùa đông, trời nắng đẹp, vào khoảng 10
giờ, Bác xuống ngồi đọc báo ngay dưới bãi cỏ, cách nhà sàn khoảng 2-3 chục mét.
Một bà già người Tày ngoài 50 tuổi, tay xách chiếc làn đan bằng nứa, đầu đội
nón, bất ngờ xuất hiện trong khu vực Phủ Chủ tịch.
Thấy ông già gầy gò, mặc quần áo chàm đang ngồi đọc báo,
bà đinh ninh đó là ông Ké người Tày. Bà đến tận nơi vỗ vai và cất giọng hỏi:
- Kẻ mi chắc cơ quan Phủ Chủ tịch dú hầu? (Ông Ké có biết
cơ quan Phủ Chủ tịch ở đâu không?)
Bác biết là bà già đến thăm con trai đang công tác trong
đội bảo vệ Phủ Chủ tịch, song Bác vẫn giữ nguyên tắc và thản nhiên trả lời:
- Ngó mí chắc lố! (Tôi không biết đâu nhé!)
Tôi đứng khuất gần đó cũng phải phì cười. Để bà già đi
qua, Bác vẫy tay gọi tôi lại rồi dặn:
- Chú theo bà cụ, hỏi xem bà là mẹ chú nào, đưa bà cụ tới
nhà khách, lo ăn ngủ chu đáo, rồi báo cho con trai bà cụ ra. Nhớ dặn chú ấy là
giữ gìn bí mật.
Tôi vâng lời và làm theo. Sáng hôm sau, Bác lại hỏi tôi
xem bà cụ đã gặp con trai chưa và chỗ ăn ở của bà cụ có chu đáo không?
Tôi báo cáo Bác là mọi việc anh em đã lo chu đáo. Bác nói
như tâm sự:
- Đã là đồng bào, đồng chí thì một lòng một dạ, sống chết
có nhau. Mẹ của bạn đến cũng như mẹ của mình đến, phải săn sóc ân cần. Có thế
thì bạn mình mới yên tâm công tác.
Tôi cảm động và đinh ninh nhớ lời Bác trong suốt đoạn
đường theo Bác đi kháng chiến.
(Viết theo lời kể của Ma Văn Trường)
47. Câu hát ví dặm
Chiểu 18 tháng 5 năm 1969, các diễn viên Đoàn văn công
Quân khu 4 vào Phủ Chủ tịch biểu diễn mừng thọ Bác 79 tuổi.
Sau một số tiết mục, đến lượt chị Mai Tư hát dặm đò đưa:
“Nước sông Lam biết khi mô cho cạn cũng như tinh thần cách mạng của dân ta...”
Bác hỏi mấy đồng chí ngồi xung quanh:
- Có hay không các chú?
- Thưa Bác, hay ạ!
Bác hỏi chị Mai Tư:
- Trong ta chừ có dệt vải nữa không?
- Dạ thưa Bác, có ạ!
Bác bảo Mai Tư hát một câu mà các cụ ngày xưa hay hát.
Mai Tư thưa với Bác
- Dạ, chúng cháu hát điệu phường vải nhưng không biết
lời cũ ạ!
Bác bảo:
- Thì cháu lấy câu ni để hát nhé: “Khuyên ai chớ lấy
học trò”. Cháu tiếp đi.
- Dạ, thưa Bác, có phải “Dài lưng tốn vải ăn no lại
nằm” không ạ!
- Giờ cháu tiếp câu nữa đi.
Mai Tư lúng túng không biết, Bác nhắc
- “Lưng dài có võng đòn cong
Áo dài đã có lụa hồng vua ban”
Mai Tư hát câu Bác vừa nhắc theo điệu hát ví Nghệ An.
Đến lượt Minh Huệ, chị đứng dậy thưa:
- Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền
Trung theo lời cũ ạ! Rồi chị cất giọng: “A ơ ơ... Ru em em ngủ cho muồi”.
Bác sửa lại: “Ru tam tam théc cho muồi”
Minh Huệ hát tiếp: “Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu”.
Bác sửa lại: “Để mạ chứ không phải mẹ”
Minh Huệ hát tiếp: “Mua với chợ Quán, chợ Cầu”
“Mua cau chợ Sải, mua trầu chợ Dinh”
Bác cười và nói: “Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ
Sải”.
Bác đã từng đi năm châu bốn biển mấy chục năm trời mà
vẫn không quên câu hát ví dặm của quê nhà.
48. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ đã “bay” đến
miền Nam
Trên Việt Bắc, tại A.T.K (an toàn khu), nhiều lần trong
những năm chống Pháp, sau buổi họp Hội đồng Chính phủ, Bác Hồ thường gợi ý đồng
chí Hoàng Đạo Thúy1: “Tối nay ta đốt lửa trại nhé”. Thế là anh em cảnh
vệ kiếm một góc rừng kín, xếp vài bó củi, lấy nứa khô làm mồi, nổi lửa lên. Các
vị trong Hội đồng, già có, trung niên có, cả anh em phục vụ quây quần nghe Bác kể
chuyện...
Một lần, Bác nói với đồng chí Thúy:
- Tối nay lại làm lửa trại nhé!
Đồng chí Thúy hóm hỉnh trả lời.
- Thưa Cụ, lửa trại phải có “Chúa lửa” chứ!
- Thì chú làm chúa.
- Tôi làm, sợ chỉ định ai đấy họ không nghe thì mất
vui.
- Phải tuân thủ “luật rừng” chứ!
Thế là lửa được nhóm lên. Chúa lửa Hoàng Đạo Thúy đi vòng
quanh đống lửa, giơ tay lên trời, quay người đi bốn hướng... rồi chỉ đúng vào
Bác Hồ: “Yêu cầu hát một bài.
Bác đang ngồi cạnh cụ Bùi2, đứng dậy, tiến
ra, vừa đi vòng quanh đống lửa vừa hát “Anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu,
dấy binh lấy lau làm cờ...3”
Mọi người hoan hô nhiệt liệt, vỗ tay hoan nghênh người
hát.
Cụ Bùi hỏi:
- Cụ học bài này hồi nào thế?
- Ấy, Hướng Đạo họ dạy tôi. Cụ cũng phải chuẩn bị “tiết
mục” lỡ chúa trại chỉ vào mà không có là nguy đấy...
Lần khác, đốt lửa lên, bác sĩ Trần Duy Hưng được bầu làm
chúa lửa. Sau những động tác theo thủ tục, Chúa lửa tuyên bố:
- Cụ Chủ tịch rời Sài Gòn đã hơn 40 năm. Nay máy bay sẽ
đưa Cụ vào miền Nam gặp gỡ đồng bào, nói chuyện với đồng bào... Thế là có hai
người đã được bố trí sẵn, khoác tay, đan vào nhau làm một cái “kiệu” công kênh Bác
lên. Mọi người trong lửa trại đều “ù ù” ra cái vẻ máy bay đang bay...
Chạy hai vòng lửa, “cả máy bay” lẫn hành khách “cùng phải
ù ù nên cũng mệt”. Máy bay “ngừng” động cơ “ù ù, tắt.
Đứng trước Chúa lửa – là người “giả vờ là đồng bào miền
Nam”, Bác Hồ nói:
- Kính thưa đồng bào miền Nam. Tôi được đến đây vui mừng
khôn xiết. Nhưng vì đi “máy bay” cũ nên chưa được khỏe. Tôi xin nhờ đồng chí Trần
Duy Hưng thay tôi thưa chuyện trước với đồng bào...
Tất cả các trại viên đều nhảy đứng lên cười vang trong
tiếng vỗ tay, hoan hô ầm ĩ. Một vị cao tuổi nói:
- Trần Duy Hưng4 “chết” chưa?
(Theo lời kể của Hoàng Đạo Thúy)
-----------------------------------------
1 Ủy viên trưởng Hướng đạo Bắc Kỳ, Trưởng ban thi đua ái quốc Trung
ương, Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc.
2 Bùi Bằng Đoàn: Trưởng ban Thường trực Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa khóa I (BTV).
3 Bài hát nói về Đinh Bộ Lĩnh.
4 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội.
49. Quà tặng của Bác
Một buổi sáng mùa thu năm 1950, Bác Hồ đi công tác, vừa
qua vọng gác ATK (an toàn khu) thì gặp một cô bé. Cô vừa đi vừa ngắm nhìn cây cối,
chim chóc. Thoáng thấy một cụ già mặc áo ka ki vàng, khăn quàng bên vai, cô sững
sờ giây phút rồi hét lên:
- Bác! Bác Hồ!
Bác đi gần lại, hỏi:
- Cháu đi đâu mà sớm thế.
Cô gái nhanh nhẩu thưa:
- Thưa Bác, cháu bên chú Tô (bí danh của đồng chí Phạm
Văn Đồng) sang đưa công văn ạ.
Bác lại hỏi:
- Cháu đi từ mấy giờ sáng mà đã đến đây sớm thế?
- Thưa Bác, tan sương là cháu đi ngay ạ.
Bác động viên:
- Giỏi lắm. Thế đi liên lạc có vui không?
- Dạ vui lắm.
- Thế bên ấy có ăn cơm độn không?
- Dạ có ạ, nhưng các anh thấy cháu là con gái nên dành
cho ăn cơm...
Bác dặn:
- Trưa nay ở đây ăn cơm rồi hãy về.
Trưa hôm ấy, bữa cơm gạo đỏ, tôm rim, canh rau muống đựng
trong ống bương nhưng cô gái ăn rất ngon lành.
Chúng tôi bảo cô:
- Rau muống Bác trồng đấy.
Ít lâu sau, cô liên lạc được chuyển sang Văn phòng của
Phủ Chủ tịch. Chúng tôi gọi cô là cô Hiền, vì thật sự là cô hiền từ quá, mặc dù
tên của cô là Đức. Hiền Đức. Cuối năm, cơ quan chọn một số thanh niên đi sang
Trung Quốc học. Cô Hiền cũng có trong danh sách, nhưng ý không muốn đi.
Một hôm, Bác cho gọi Hiền, Bác hỏi:
- Cháu có muốn công tác tốt không?
- Có ạ.
- Có muốn phục vụ nhân dân được nhiều không?
- Có ạ.
- Thế thì phải đi học. Học tập để hiểu biết thêm, hiểu
biết nhiều. Có hiểu biết nhiều mới phục vụ nhân dân được nhiều, được tốt.
Bác đưa cho cô Hiền hộp thuốc lá của Bác:
- Bác tặng cháu cái hộp này để đựng kim chỉ. Ngoài giờ
học phải học thêu thùa, vá may. Con gái là phải biết làm các việc đó.
Bẵng đi mấy năm, ngày 12 tháng 6 năm 1956, Bác đến thăm
lớp đào tạo hướng dẫn viên trại hè tại trường Chu Văn An, Hà Nội. Trong câu
chuyện, Bác nói đại ý: Trong giáo dục không những phải có tri thức, tham ô hủ
hóa thì hại dân hại nước. Có đức mà không có tài cũng như ông Bụt trong chùa,
không giúp ai được gì.
Nói xong chuyện, Bác bước xuống bục đến gần một cô
giáo hỏi:
- Cháu Đức phải không?
Cô giáo, cô Hiền Đức liên lạc ngày nào òa lên khóc.
Nhìn thấy em nhỏ trên tay Đức, Bác hỏi:
- Cháu được đầy năm chưa?
Cô giáo Đức trấn tĩnh lại, thưa:
- Dạ, được 3 tháng ạ.
Bác khen:
- Cháu bụ lắm. Chú ấy công tác ở đâu?
- Dạ, nhà cháu ở bộ đội ạ... Thưa Bác, nghe lời Bác cháu
đi học sư phạm rồi về nước dạy học. Cái hộp Bác cho, cháu vẫn giữ ạ...
Bác hỏi:
- Thế bây giờ cô giáo thêu thùa, khâu vá đã giỏi chưa?
- Thưa Bác, cũng tàm tạm ạ.
Bác dặn:
- Đã là cô giáo thì phải dạy cho học trò biết nữa. Vừa
dạy học vừa nuôi con được như thế này là giỏi. Nhưng phải cố gắng thêm.
- Dạ, cháu xin hứa.
Mấy ngày sau, đồng chí nhiếp ảnh trình Bác xem mấy tấm
ảnh, trong đó có bức ảnh Bác đang vuốt má con cô Hiền Đức.
Bác bảo một đồng chí trong Văn phòng:
- Chú tìm nhà cháu Đức đưa tấm ảnh này tặng cô giáo.
Không rõ năm nay cô giáo Hiền Đức ở đâu? Có còn giữ được
tấm ảnh quý ấy không? Và hai mẹ con đã đi một quãng đường hứa với Bác thế nào?
(Theo đồng chí Trung và một số đồng chí khác)
50. Không ai được vào đây
Sách Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 10, do
Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh biên soạn, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1996, trang 334 có đoạn:
“Ngày 27 tháng 4 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe
hai đồng chí Lê Đức Anh và Chu Huy Mân báo cáo công việc, sau đó Người mời hai
đồng chí ở lại ăn cơm với Người”.
Sáng hôm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bỏ phiếu Hội đồng
nhân dân cấp huyện, xã... Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, đơn vị 1, tiểu khu
1, khu phố Ba Đình, Hà Nội, đặt tại nhà thuyền Hồ Tây.
Bác Hồ bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội ngày 27 tháng 4 năm 1969.
Khi Bác Hồ đến, trong nhà thuyền đã có nhiều cử tri bỏ phiếu. Tổ bầu cử thấy Bác đến ra hiệu để đồng bào tạm dừng và tạo “điều kiện” cho Bác bỏ phiếu trước. Biết ý, Bác nói “sòng phẳng”.
- Ai đến trước, viết trước. Bác đến sau, Bác chờ. Bác chờ
cho đến hàng mình mới nhận phiếu và vào “buồng” phiếu.
Nhà báo Ma Cường chợt nghĩ thật là “hạnh phúc một đời
của người làm báo”, “cơ hội ngàn năm có một” và vội giơ máy lên bấm, rất nhanh,
Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy tay che phiếu lại, nói với Ma Cường:
- Không ai được vào đây. Đây là phòng viết phiếu kín của
cử tri. Phải đảm bảo tự do và bí mật cho công dân.
Nhà báo buông máy, nhưng vẫn thấy hạnh phúc.
Theo lời kể của các đồng chí ở gần Bác, trước khi đi bầu
cử, Bác không cho ai “gợi ý” cả, Bác nói:
- Ấy, đừng có “lãnh đạo” Bác nhé. Bác không biết Đảng ủy
hướng dẫn danh sách để ai, xóa ai đâu nhé. Đưa lý lịch của những người ứng cử
đây để Bác xem. Có chú nào dự buổi ứng cử viên trình bày ý kiến với cử tri, nói
lại để Bác cân nhắc, Bác tự bầu.
Còn nữa
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019)
0 comments:
Đăng nhận xét