9.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (4/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 3/8

26. Bỏ một mâm, lấy một đĩa

Ðồng chí Vũ Uy kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện mà đồng chí nhớ mãi.

“Đó là vào dịp cuối năm 1950, sau Chiến dịch Biên giới. Tôi được trên phân công lái xe đưa Bác đi công tác. Một tối, trên đường từ Ngân Sơn đi Cao Bằng, qua đèn chiếu tôi thấy một hòn đá giữa đường. Vốn là lái xe to, quen tay, tôi đưa xe vào giữa hòn đá, nghĩ bụng sẽ lọt thôi. Nào ngờ hòn đá tai ác bật lên chạm két nước. Nhảy xuống xe tôi phát hiện ra là két bị thủng rồi. Nguy quá. Tôi cuống lên.

Bác đến bên, chiếu đèn pin cho tôi, rồi nói:

- Cứ bình tĩnh mà chữa. Chữa cho cẩn thận.

Bác không hỏi vì sao xe hỏng, cũng không góp ý phê bình gì.

Vì trên xe có đồng chí Chủ, thợ máy đi theo nên chẳng mấy chốc lỗ thủng két nước đã hàn xong. Chúng tôi lại đưa Bác lên đường đi tiếp, đến địa điểm an toàn.

Nghỉ ngơi xong, Bác hỏi tôi:

- Xe làm sao thế?

- Thưa Bác, cháu quen lái xe tải, nên thấy hòn đá tưởng có thể vượt qua được, không ngờ nó lại kẹt vào thùng nên bị thủng...

Bấy giờ Bác mới nói:

- Đáng lẽ ra chú nên cho xe dừng. Ta lăn hòn đá xuống vực rồi tiếp tục đi. Có lâu cũng chỉ dăm ba phút không phải dừng lại đến gần nửa tiếng mà lại giúp các xe đi sau khỏi gặp nạn. Chú đã “bỏ một mâm mà chỉ lấy một đĩa”.

Tôi nhận lỗi và xin hứa với Bác rút kinh nghiệm, sửa chữa cách nghĩ, cách làm...

Cứ như ý tôi sáu chữ Bác dạy “bỏ một mâm lấy một đĩa” có thể áp dụng trong tất cả công tác cách mạng. Phải nghĩ tới cái lớn, cái lâu dài, cái chung. Phải cẩn thận chứ không nên vội vàng, hấp tấp, nghĩ tới cái nhỏ, cái hẹp, cái thiển cận...

 

27. Hỏi chú Việt ấy!

Trong kháng chiến chống Pháp để sẵn sàng để phòng sự bất trắc, tuy đã ở trong A.T.K (an toàn khu) nhưng cán bộ của Phủ Chủ tịch và Văn phòng Trung ương Đảng vẫn luôn luôn phải “quân sự hóa”, có thời gian phần lớn cán bộ đều phải ngủ đêm tập trung, đôi lúc còn bị “báo động thử”, điểm danh, mang ba lô tập hành quân.

Một lần đồng chí Việt có vợ lên thăm. Cơ quan cho phép đồng chí ra “chiêu đãi sở”1 trao đổi công việc gia đình với chị Việt. Được vài hôm thì có lệnh tập trung. Đêm hôm ấy có báo động thật. Điểm danh không thấy đồng chí Việt đâu. Anh em lo quá, báo cáo lên Bác. Bác nói:

- Ta cứ hành quân thôi. Yên tâm.

Sau đó mới biết rằng đêm ấy đồng chí Việt xuống làng, đến “chiêu đãi sở”. Anh em cũng “thông cảm” bỏ qua cho, nhưng cũng không quên nhắc nhở đồng chí Việt.

Ít lâu sau, trong một lần sinh hoạt học tập về quân sự, có người đề nghị Bác giảng dạy thêm về lối đánh du kích của Nga, của Trung Quốc, của ta.

Bác kể các mẩu chuyện nhỏ của các đội quân ngầm Hồng quân Liên Xô, của Bát Lộ Quân... Trong các vùng bị địch tạm thời chiếm đóng. Khi thời gian học đã gần hết, Bác nói:

- Về cách đánh du kích của ta, Bác sẽ nói sau. Ai muốn tìm hiểu trước thì hỏi chú Việt ấy...

Đồng chí Việt nói lại với chúng tôi:

- Ông cụ phê bình tế nhị, thân tình mà vẫn nghiêm khắc, nhẹ nhàng nhưng mình xấu hổ quá. Từ đó về sau, “cạch” không dám vi phạm nội quy nữa...

-------------------------------------------

1 Là nơi dành để đón gia đình vợ, con cán bộ đến thăm.

 

28. “Nhà máy có khỉ”

Sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với chủ đề Hà Nội do Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội in vào dịp tháng 5 năm 1985, trang 22 có viết:

Ngày 19 tháng 5 năm 1955, Hồ Chủ tịch thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm.Người căn dặn “Muốn thi đua có kết quả thì mọi người phải biết đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau...”

Đến thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, Bác nhắc nhở công nhân, cán bộ phát huy truyền thống cách mạng của Nhà máy, ra sức xây dựng miền Bắc, ủng hộ miền Nam.

Một công nhân trẻ Nhà máy sau này còn được nghe kể lại một mẩu chuyện nhỏ trong dịp Bác thăm lần ấy.

Năm 1955, Hà Nội mới giải phóng được một năm, Nhà máy bấy giờ còn có tên là “Nhà máy Cơ khí Gia Lâm”. Cái biển treo trước cổng nhà máy kẻ chữ to, đẹp nhưng không đánh dấu sắc chữ “i”. Không có “mũ chữ “â”, chữ “ơ” không có râu...

Đến thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, Bác nhắc nhở công nhân, cán bộ phát huy truyền thống cách mạng của Nhà máy, ra sức xây dựng miền Bắc, ủng hộ miền Nam.

Bác vào Nhà máy, gặp anh chị em công nhân, bỗng Bác hỏi:

- Nhà máy các cô, các chú có khỉ à?

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu câu chuyện thế nào mà lại sinh ra “khỉ” thế này. Giám đốc ra hiệu hỏi thư ký công đoàn, thư ký công đoàn hỏi bí thư thanh niên. Không ai trả lời được. Bác lại giục:

- Thế nào, biển đề “có khỉ” mà.

- Dạ, thưa có đâu ạ.

Bác cười:

- Có đấy!

- Biển Nhà máy Cơ khí Gia Lâm của các cô, các chủ viết bằng tiếng mẹ đẻ mà không đánh dấu. Vì vậy mà Bác đọc nhầm là “Nhà máy có khỉ mà khỉ lại “già lắm”...

Mọi người ngẩn ra... được một bài học đích đáng nhé...

 

29. “Qua kin mẹo”

Thời gian ở Xiêm năm 1927 - 1928, Bác thấy Việt kiều ta thỉnh thoảng vẫn “đánh đụng” chung nhau ăn “mộc tồn”1. Vì người Thái kiêng không ăn loại thịt này nên Việt kiều thường nói khác là thịt “mèo”, anh em nói lái ra “qua kin mẹo” (nghĩa là quạ ăn mèo) để diễn đạt: “keo kin mạ” (người Keo - người Việt ăn thịt cầy).

Tuy Thầu Chín không “tham gia” nhưng thấy anh em vui vẻ Người cũng vui lây...

Năm 1949, có một đoàn đại biểu ở Xiêm về nước báo cáo tình hình hoạt động yêu nước của kiều bào với Hồ Chủ tịch và Chính phủ, trong khi chờ ngày Hội đồng Chính phủ tiếp, Bác chủ động đến thăm anh em.

Trông thấy đồng chí Nhu, đồng chí Kiệt và một số kiều bào quen biết cũ, trong lúc các đồng chí này đang lúng túng không biết nên báo cáo thế nào với Chủ tịch nước, thì Bác đã tươi cười hỏi:

- Anh em mình vẫn mạnh giỏi cả chứ. Vẫn “qua kin mẹo” chứ?

Tất cả cười vang lên trong một không khí gia đình của những người thân thích ruột thịt xa nhau, lâu ngày mới được gặp lại và không thấy có gì ngăn cách giữa mình với Bác.

(Theo lời kể của đồng chí Hòa)

-----------------------------------

1 “Mộc” tiếng Hán là “cây”. “tồn” tiếng Hán là “còn”, “cây còn” nói lái ra là “con cầy” tức món thịt cầy, thịt chó (TG).

 

30. Phải đánh được bài “Kết đoàn”

Có một cán bộ cao cấp rất yêu thích văn học nghệ thuật. Trong năm đồng chí ấy đã tập đánh đàn dương cầm vừa để giải trí xen kẽ những giờ lao động trí óc mệt nhọc vừa thưởng thức những âm thanh huyền diệu của cây đàn.

Một lần, Bác đến thăm và yêu cầu đồng chí dạo một bản nhạc tự chọn để Bác nghe. Ngồi vào bàn đồng chí ấn phím và bài “Chiến thắng Điện Biên” hùng tráng vang lên. Dứt bản nhạc Bác hỏi:

- Chú có chơi các bài dân ca không?

Những phím đàn lại đưa Bác về với vùng quan họ với bài Trống cơm, rồi Trẩy hội đêm rằm...

Nghe xong, Bác tiến lại gần đồng chí cán bộ hỏi:

- Chú có biết đánh bài Kết đoàn không? Bài Kết đoàn ai cũng biết. Nếu chưa đánh được bài ấy thì chưa giỏi.

Bác bắt nhịp bài Kết đoàn trong buổi hòa nhạc mừng Đại hội Đảng năm 1960.

Đồng chí cán bộ đành thú thật với Bác là chưa đánh được bài Kết đoàn.

(Theo đồng chí H.D)

 

31. Dân chủ mà thành “quan chủ”

Ngay từ khi chưa giành được chính quyền, Bác Hồ đã dự báo trước căn bệnh “quan liêu” sẽ xuất hiện, sẽ làm xói mòn “cơ thể” một số cán bộ, một số cơ chế tổ chức, dẫn đến tai hại cho cả một xã hội.

Hôm đầu tiên về Hà Nội, tháng 8 năm 1945, Bác đã nhắc khéo một vài “quý vị” rằng “đã ra vẻ người thành phố, ra vẻ cán bộ rồi đấy”.Trong kháng chiến chống Pháp trong sách Sửa đổi lối làm việc, mỗi khi có hội nghị, gặp gỡ cán bộ cấp cao ở Trung ương, cấp cuối cùng ở thôn xã, bao giờ Bác cũng nhắc “cán bộ là đầy tớ của nhân dân”. Bác nghiêm khắc phê bình lối làm việc “quan liêu mệnh lệnh, xa rời dân chúng”, lên mặt quan cách mạng, “khắc hai chữ cộng sản lên trán” ra vẻ ta đây...

Hòa bình lập lại trên miền Bắc được vài năm, ở Hà Nội xuất hiện chế độ tem phiếu. Những bà nội trợ trong thời gian ấy cứ bù đầu lên vì những phiếu, những số A, B, C, 1, 2, 3... Có những ông chồng giáo sư, bác sĩ... cứ nghe “đức phu nhân” trình bày “giá trị, tác dụng” của các ô giấy nhỏ ấy cũng lắc đầu lảng tránh “Tôi xin chịu... không hiểu nổi, không nhớ nổi”...

Có phiếu bìa đỏ mua ở cửa hàng cung cấp cho cán bộ “cao”, bìa xanh cho cán bộ “vừa”, bìa trắng cho nhân dân... Lại có bìa mua ở cửa hàng đặc biệt. Lại còn bìa dành cho cán bộ được mua ở các cửa hàng quốc tế mặc dù có cán bộ “cả đời” cũng không bước chân vào xem trong đó có gì - có thể vì không thích, vì không đủ tiền; trong khi đó có một loại “con buôn” lại vào, ra “thì thọt” kiếm chác được!

Tháng 5 năm 1969, trong một lần làm việc với một nhà khoa học, những vấn đề tem phiếu cho các cấp “quan cán bộ” ấy đã được Bác lắng nghe. Bác yêu cầu cho dẫn chứng cụ thể các thể thức bán hàng, phục vụ quá phiền phức tại Hà Nội.

Bác không vui, quay lại hỏi Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Nội thương. Bác lại hỏi Bí thư Thành ủy Hà Nội. Biết chắc chắn tình hình đã có, đã có khá lâu, Bác lắc đầu: - Dân chủ mà thành ra quan chủ. Hà Nội mà còn nhiều quan như vậy sao!

Tất cả từ Thủ tướng đến nhà khoa học, ngồi im nghẹn ngào, xúc động không trả lời được Bác.

(Theo lời kể của giáo sư Hoàng Tụy)

 

32. Chiếc áo ấm

Một đêm mùa đông năm 1951, gió bấc tràn về mang theo những hạt mưa lâm thâm làm cho khí trời càng thêm lạnh giá. Thung lũng bản Ty co mình lại trong yên giấc, trừ một ngôi nhà sàn nhỏ còn phát ra ánh sáng. Ở đây, Bác vẫn thức, vẫn làm việc khuya như bao đêm bình thường khác.

Bỗng cánh cửa nhà sàn hé mở, bóng Bác hiện ra. Bác bước xuống cầu thang, đi thẳng về phía gốc cây, chỗ tôi đang đứng gác:

- Chú làm nhiệm vụ ở đây có phải không?

- Thưa Bác, vâng ạ!

- Chú không có áo mưa?

Tôi ngập ngừng nhưng mạnh dạn đáp:

Dạ thưa Bác, cháu không có ạ!

Bác nhìn tôi từ đầu đến chân ái ngại:

- Gác đêm, có áo mưa, không ướt, đỡ lạnh hơn.

Sau đó Bác từ từ đi vào nhà, dáng suy nghĩ...

Một tuần sau, anh Bảy cùng mấy người nữa đem đến cho chúng tôi 12 chiếc áo dạ dài chiến lợi phẩm. Anh nói:

- Bác bảo phải cố gắng tìm áo mưa cho anh em. Hôm nay có mấy chiếc áo này, chúng tôi mang lại cho các đồng chí.

Được một chiếc áo như thế này là một điều quý, nhưng đối với chúng tôi còn quý giá và hạnh phúc hơn khi Bác trực tiếp chăm lo, săn sóc với cả tấm lòng yêu thương của một người cha.

Sáng hôm sau, tôi mặc chiếc áo mới nhận được đến gác nơi Bác làm việc. Thấy tôi, Bác cười và khen:

- Hôm nay chú có áo rồi.

- Dạ thưa Bác, đây là áo anh Bảy đem đến cho tiểu đội chúng cháu mỗi người một chiếc ạ.

Nghe tôi thưa lại, Bác rất vui. Bác ân cần dặn dò thêm:

- Trời lạnh, chú cần giữ gìn sức khỏe và cố gắng làm tốt công tác.

Dặn dò xong, Bác trở lại ngôi nhà sàn để làm việc.

Lòng tôi xiết bao xúc động. Bác đã dành áo ấm cho chúng tôi trong lúc Bác chỉ mặc một chiếc áo bông mỏng đã cũ. Đáng lẽ chúng tôi phải chăm lo cho Bác nhiều hơn, còn Bác, Bác lại lo nghĩ đến chúng tôi nhiều quá.

Từ đấy, chúng tôi cũng trân trọng giữ gìn chiếc áo Bác cho như giữ lấy hơi ấm của Bác. Hơi ấm ấy đã truyền thêm cho chúng tôi sức mạnh trong mỗi chặng đường công tác.

(Theo lời kể của đồng chí Tiện)

 

33. Thế có nước mắm ớt không?

Đầu năm 1967, nhân dịp Tết Bính Ngọ, Bác Hồ đến thăm trận địa trung đội súng máy cạnh bờ đê Mai Lĩnh. Từ xa, các chiến sĩ đã nhận ra ngay cụ già từ trong chiếc xe sau bước xuống là Bác Hồ vô cùng kính yêu của họ. Không nén được vui mừng, cả trung đội cùng reo lên: Bác Hồ!

Mặc dù trời mưa, đường trơn, Bác vẫn nhanh nhẹn đi vào trận địa. Chỉ trong giây lát, cả trung đội đi vòng quanh Bác. Chân đi dép lốp, đầu đội mũ vải, Bác cứ đứng dưới mưa phùn nói chuyện với anh em. Giọng Bác ấm áp, hiền từ như một người ông nói với đàn cháu nhỏ. Bác hỏi:

- Các chú khỏe chứ. Có đủ ấm không? Các chú ăn tết có những gì?

Anh em đồng thanh đáp:

- Thưa Bác nhiều lắm ạ.

Một đồng chí cán bộ thay mặt đơn vị báo cáo:

- Dạ thưa Bác, chúng cháu khỏe, đủ ấm, Tết chúng cháu có bánh chưng, có thịt, có giò, có cả thịt gà nữa...

Bác lại hỏi:

- Thể có nước mắm ớt không?

Câu hỏi của Bác làm cả trung đội cười ầm lên thích thú và cảm động. Nghe những câu hỏi của Bác, nhìn cặp mắt hiền từ của Bác, càng thấy tấm lòng yêu thương của Bác đối với bộ đội như người mẹ hiền.

(Theo hồi ký của Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu)

 

34. Bữa cơm ở bản

Bác và đồng chí Phù Sấn thoát khỏi bốt gác Đôn Chương thì đi thẳng đến trạm Nà Mạ. Mới đặt khăn gói, chưa kịp nghỉ ngơi thì được tin: có tên tổng đoàn lên khám mạng một vụ giết người cướp của ở Kèo Già. Để đảm bảo an toàn, các đồng chí đưa Bác lánh vào một cái hang sau làng Nà Mạ, chờ đến tối sẽ đưa Bác vào làng ăn cơm. Trước khi vào hang tránh, Bác dặn làm thịt con gà mà tỉnh ủy Cao Bằng cho mang theo khi Bác cải trang đi đường.

Chiều hôm ấy, chủ nhà không thịt gà như Bác đã dặn mà thịt con vịt béo của nhà mình để làm cơm mời khách. Chủ nhà lọc riêng nạc với gan cho ra một đĩa và đặt sang mâm Bác.

Ngồi vào ăn, Bác nhìn mâm cơm và hỏi:

- Ai làm bữa cơm này?

- Thưa Bác, chủ nhà ạ!

Chỉ vào đĩa thịt nạc, Bác bảo:

- Sao lại làm như vậy?

- Thưa Bác, đó là phong tục địa phương đối với khách ạ.

Bác lắc đầu nói:

- Không được, phong gì thì phong tục gì thì tục, chủ xẻ đĩa thịt này sang mâm kia để gia đình cùng ăn.

Mọi người làm theo lời Bác.

 

35. Vận trù học

Dù đã đi bốn phương trời, tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ sau bao nhiêu năm xa cách Tổ quốc, Bác vẫn không bao giờ quên những âm nói riêng của “Xứ Nghệ”, nhớ thương, xúc động khi ở đất Thái, quê người, bỗng nghe bà Quỳnh Anh một đêm hè “ru con” bằng lối ru của những người mẹ hiền ở quê mẹ...

Ngành ngôn ngữ nước ta chắc sẽ không bao giờ quên, nhờ có Bác mà có thêm được những danh từ rất Việt Nam không kém trang trọng “bác học” mà vẫn “dân gian”. Một đoàn “ca vũ” Tổng cục chính trị, một hội “Hồng thập tự”, một lớp “phi công”, các “cung ứng hỏa xa viên”... đều đã được Bác đổi tên cho thành “Đoàn ca múa”, “Hội chữ thập đỏ”, “chiến sĩ lái”, “Đội phòng cháy, chữa cháy, nhân viên phục vụ”, rồi cho cả “vùng trời vùng biển”...

Nhà toán học Hoàng Tụy có chuyện kể rằng:

“Khoảng tháng 5 năm 1969, chỉ vài tháng trước lúc đi xa, trong một lần nào đó, Bác thấy nhân dân thủ đô phải “rồng rắn” xếp hàng dài trước các cửa hàng, nhất là ở các quán bia. Bác băn khoăn và trao đổi việc này với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ngày 30 tháng 7 cùng năm, nhà toán học được mời đến gặp Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ yêu cầu áp dụng khoa học trong việc phân phối hàng hóa, góp phần giải quyết tình trạng “xếp đuôi dài” trước các cửa hiệu. Nhà toán học đã phát biểu về khả năng áp dụng vận trù học trong ngành thương nghiệp để giải tỏa “rồng rắn”. Bác nêu việc người mua bia, bán bia và nói:

- Chú thử cố gắng áp dụng lý thuyết “vận trù học” của chú để cải tiến việc này.

Biết là Bác phê bình khéo ba chữ “vận trù học”, vì nhà khoa học đã đoán biết thế nào Chủ tịch nước cũng “nhắc nhở” về nhóm chữ này, nên đồng chí Hoàng Tụy thưa:

- Thưa Bác, chúng cháu chưa tìm ra được chữ khác...

Bác nói:

- Nên tìm chữ gì dễ hiểu hơn, chứ “vận trù học” thì Chủ tịch nước cũng không hiểu nổi!

Ngừng một lát, Bác lại hỏi:

- Thế chú có biết nguồn gốc chữ “vận trù học” ở đâu mà ra không?

Nhà toán học, mẹ đẻ ra đứa con yêu - danh từ “vận trù học”, xấu hổ quá, báo cáo thật:

- Thưa Bác, không ạ...

Bác nói:

- Đó là câu của Trương Lương “vận trù duy ác chi trung, quyết thắng thiên lý chi ngoại”. Vận trù cũng là tham mưu. Bộ đội ta có nhiều người không học tính toán được nhiều mà làm “vận trù” cũng khá, là nhờ cái này (Bác chỉ vào ngực, phía quả tim...).

Nghe thế, nhưng nhà toán học cho đến nay vẫn còn “nợ” chưa tìm được ba chữ gì thay cho “vận trù học”.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019) 

0 comments:

Đăng nhận xét