31.8.26

Một thời để nhớ (3/3)

 Nguyễn Trọng Tân

Tiếp theo phần 2/3

Tiến mệt mỏi trở về quê. Chỉ còn chút trông đợi mỏng manh từ những lá thư bạn bè mà anh nhờ trước đây. Sự chờ đợi trở nên hết sức nặng nề. Chiều chiều mới thấy anh linh hoạt lên khi tiếng cọc cạch phát ra từ chiếc xe đạp cà khổ của người bưu tá già. Xe chưa đến ngõ, anh đã vọt ra. Biết nỗi lòng anh, bác đưa thư nhoẻn cười từ xa rồi an ủi:

- Bác với anh cứ phải kiên trì. Thế nào bác cũng lôi được cô ấy về cho anh.

Tiến cảm ơn bác, lòng buồn rượi trở vào nhà. Bố mẹ anh nhìn con thẫn thờ, thương lắm, nhưng không biết khuyên gì. Cuối đợt phép, trước hôm Tiến về đơn vị, mẹ anh kéo anh ra đầu nhà thì thầm:

- Mẹ hỏi thật con, các con gặp nhau, đã hứa hẹn gì chưa?

- Chúng con có với nhau những kỷ niệm còn sâu sắc hơn mọi lời thề nguyền mẹ ạ.

- Ừ thì mẹ hỏi anh thế. Bây giờ lạc nhau. Nó thì người thiên hạ, bóng chim tăm cá... Mà con gái mỗi tuổi lại đuổi xuân đi. Liệu nó có nghĩ như anh, hay đã chồng con đề huề rồi, mà anh thì cứ đêm ngày sầu héo?...

- Con tin Hà My. Những ngày con thập tử nhất sinh, Hà My vừa thay mẹ, vừa là chị gái, em gái chăm sóc, cứu con thoát chết. Con không thể phản bội cô ấy.

Mẹ Tiến khóc. Bao giờ nói chuyện tình duyên của anh, mẹ anh cũng khóc, Tiến thương mẹ, rất dễ mềm lòng trước nước mắt của mẹ.

Thôi thì tuỳ con. Bố, mẹ già rồi. Ý mẹ là muốn con lấy vợ ở quê nhà để được cậy nhờ.

- Lòng Tiến quặn thắt. Anh biết bố mẹ đặt rất nhiều hy vọng vào anh. Nhà cửa đất đai của tổ tiên, mồ mả ông bà, vợ chồng anh phải có trách nhiệm trông nom phụng thờ. Cả một đời nuôi con, đến lúc cha già mẹ héo, anh là người gách vác chính. Lấy vợ đi thoát ly, nghĩa là thoái thác bổn phận thiêng liêng của mình. Sự yên ổn, vui vầy của tuổi già nơi những người sinh hạ ra anh, sẽ bị xáo trộn. Dân làng sẽ cười chê. Mà người chịu tiếng ấy chính lại là mẹ anh.

Quê hương thiêng liêng và nhung nhớ, với Tiến đó là cái làng quê bé teo hẻo như đoạn ruột thừa bị kẹp giữa nơi tế dòng của con sông Hồng dữ tợn. Chiều chiều cái bến sông lầy thụt đất thịt pha cát, sục ngầu bởi đám trẻ chăn trâu đen đủi và nghèo đói. Chúng khuấy đảo, lặn ngụp một cách đầy thích thú trong làn nước phù sa đó đọc. Phía dưới kia nơi doi cát nhô mái đầu bạc phếch ra như một cái lá chắn, đám con gái lớn thẹn thò đứng ngâm mình dưới nước, vừa kì cọ, vừa e ấp đưa mắt về phía tụi con trai đang nô đùa như quỷ sứ. Cả trai lẫn gái đứa nào da dẻ cũng như lá chuối nướng. Tắm xong, nơi nhân trung, nơi hõm cằm cứ bờ lên một lượt phù sa, lại chạy vội vào vạt điền thanh thay quần áo. Nhóm nào, nhóm ấy theo con đường riêng về làng.

Đã bao năm rồi, cái làng bé nhỏ ấy dường như không hề đổi thay. Vẫn vẻn vẹn trên trăm nóc nhà, mà có tới hơn chục ngôi đền, miếu, đình chùa. Dòng họ nào cũng còn gia phả, bản đồ gia hệ. Phi nội, tắc ngoại, ngẫm ra có lẽ cặp việc nào cũng có họ xa với nhau. Dòng máu chảy trong người lớp con, cháu, chắt suy ra đều có cùng một cội gốc. Cái căn nguyên sâu xa ấy khiến quan niệm sống của làng Tiến vừa bền chắc vừa thủ cựu đến khó bề lay chuyển. Nhất cử nhất động của mỗi con người đều gắn với láng giềng, phải chịu mọi sự chi phối của dư luận cộng đồng. Cái riêng của mỗi người không thể đặt ra ngoài nền đời ấy. Bất luận thế nào, cứ phải ngấm ngầm tuân thủ những quy chế bất thành văn, mà bền chặt, kín bưng từ bao đời đã trở thành tập tục của làng.

Lấy vợ thiên hạ. Đó là sự thách thức và đối đầu với bao nhiêu điều tiếng, và vượt qua vô số ràng buộc đã trở thành luật lệ của làng. Nội một chuyện nộp cống cho làng - giờ gọi tên mới là đóng góp xây dựng quê hương - đặt ra cho ai lấy vợ thiên hạ: dâu trưởng năm trăm; thứ, thiếp ba trăm viên gạch chỉ để xây đường làng. Tất cả đều do nhà chồng phải lo, ngầm bị coi đây là nỗi nhục, là một kiểu nộp "vạ" mà cha mẹ dòng họ phải gánh chịu do không bảo được con trai.

Những điều đó đè nặng tâm trí Tiến trên đường trở lại đơn vị. Rồi một chồng thư bạn bè trả lời đầy thất vọng. Không ai biết Lê Hà My ở đâu. Tiến đã nghĩ đến cả một bất hạnh to lớn: Hay em đã nằm lại đâu đó trong chiến trường? Chiến tranh vẫn đè nặng trong anh nỗi hiểm hoạ. Ý nghĩa đó càng về sau càng choán ngợp tâm trạng anh.

Cuối năm ấy Tiến nhận được quyết định chuyển về học tại khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Anh lại về quê. Tin tức Hà My vẫn mịt mù vô vọng. Một tháng ở nhà, anh phải trực diện với những thúc bách quyết liệt của bố mẹ và họ tộc. Anh hốt hoảng thật sự khi mẹ anh cứ kiên tâm thúc ép anh:

- Kỳ này anh phải lấy xong vợ, mẹ mới cho đi. Mọi thứ lo sắm đủ rồi. Trong làng trong xã, chấm chỉ cô nào, gật một cái là xong. Làng mình giờ cũng tiến bộ lắm, cả hỏi lẫn cưới chỉ nửa tháng là xong, rõ gọn xoét.

Tiến bật cười, mẹ anh cười theo mắng yêu "Cha tổ bố anh chứ, còn bé bỏng gì cho cam. Tồng ngồng mãi, làng xóm người ta chửi cho". Rồi bà kéo ghế lại ngồi cạnh anh vẻ đầy bí mật: "Nhà bà Xuyến có con cái Mây, trông đến là kháu. Mỏng mày, hay hạt mà lại ngoan nết. Nó là bạn con Hằng nhà mình đấy. Từ dạo con về, nó cũng có ý tứ cả đấy. Mẹ nhắn rồi, tối nó lên chơi..."

Tiến như chạm phải nọc bò cạp:

- Chết, mẹ làm thế nhỡ...?

- Dào ôi, nhỡ với chả nhàng. Anh cứ gặp, cứ tìm hiểu, ai đã đóng gông anh vào mà lo.

Tiến thực sự phải lâm trận. Một trận đánh mà phía anh thì hết sức đơn độc. Vũ khí cuối cùng là những lời thề hẹn với Hà My cũng trở nên thật yếu ớt mỏng manh trong chính tâm linh anh. Mẹ anh, rồi họ hàng bè bạn hối thúc, động viên anh bằng một quyết tâm bền bỉ hiếm thấy.

"Ôi Hà My! Lúc này em ở đâu? Em còn sống hay đã chết? Em có cảm nhận trong sâu thẳm lòng mình chút nào nỗi buốt đau, lo sợ đến cháy bỏng về anh về em?"

Hình ảnh và tấm tình người con gái ấy cứ khắc khoải vừa như hạnh phúc tuyệt đỉnh vừa khiến anh thảng thốt, lo sợ như đứng trước một tai ương đời mình. Có lúc nó như sức mạnh tiếp cho anh vùng vẫy vứt bỏ tất cả, chối từ tất cả để chờ đợi, săn tìm cô. Song, mỗi đêm nghe tiếng thở nặng nhọc của mẹ, Tiến lại thấy mình nhẫn tâm, vô ơn thế nào.

Và một đêm, trong "hội nghị bất thường" của cha chú trong tộc hộ, anh đã tặc lưỡi. Cái tặc lưỡi tưởng như giản đơn ấy đã trói buộc Tiến gắn bó cuộc đời với một người con gái khác. Tiến không còn biết mình vui hay buồn. Người anh bải hoải. Mọi ý nghĩ cứ như của người khác. Điều an ủi duy nhất là khi anh bằng lòng đánh đổi hạnh phúc của riêng mình cho hạnh phúc chung của gia đình. Bố mẹ anh đã vui mừng đến ngần nào...

Hết

N.T.T

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

0 comments:

Đăng nhận xét