23.10.24

Lớp chuyên môn thông tin ở an toàn khu1

 Đại tá Trần Ngọc Duyện - nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng Thông tin

Tiếng súng kháng chiến chống Pháp bùng nổ, lời kêu gọi vang vọng núi sông của Bác Hồ như có sức mạnh thần kỳ thôi thúc mọi tầng lớp nhân dân đứng lên giết giặc, cứu nước.

Là một thanh niên thế hệ Cách mạng tháng Tám, quê hương lại gần Thủ đô Hà Nội, ngày đêm nghe tiếng súng đại bác vọng về, được biết những tin tức về những vụ bắn giết, cướp phá của giặc khi chúng lấn ra vùng tự do của ta, phải chứng kiến cảnh đồng bào tản cư lếch thếch bồng bế nhau đi qua, từng lúc, từng lúc lại phải lao xuống các hầm hố dọc đường để tránh máy bay địch đuổi theo khủng bố... lòng tôi se lại, mong sao được vào bộ đội trực tiếp cầm súng lên đường chống giặc2.

Thế rồi dịp may đã đến với tôi trong dịp “Đoàn thể” điều động một số cán bộ địa phương vào phục vụ quân đội. Riêng tỉnh Sơn Tây có 3 người được cử đi, đó là các anh Lê Văn Hỷ, Hoàng Ngọc Uông và tôi.

Khăn gói lên đường, chúng tôi qua các trạm Hạ Bằng, Hưng Hóa rồi Phú Thọ. Tại đây chúng tôi còn được gặp khoảng 40 anh chị em từ Hà Nội, Hà Đông cùng tới, một số đã từng tham gia chiến đấu trong Nội Đô rút ra. Nghỉ ngơi được ít ngày, thể theo nguyện vọng, chúng tôi được chia làm 3 bộ phận cho 3 ngành là Tình báo, Cơ yếu và Thông tin Vô tuyến điện. Riêng Thông tin có 18 người, trong đó có 5 là nữ, tuổi đời từ 17 đến 20, tính tình tuy mỗi người một khác, nhưng nói chung rất hoạt bát, sôi nổi. Chúng tôi được chuyển ngay về Đoan Hùng và làm thủ tục chính thức nhập ngũ về Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu vào ngày 27 tháng 3 năm 1947. Cũng trong dịp này, chúng tôi còn vinh dự được gặp đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Trung ương Đảng, nhân chuyến đi công tác qua, đã ghé thăm một cách chân tình, nói cho chúng tôi biết tình hình thời sự nóng bỏng, tầm quan trọng của công tác Thông tin liên lạc, nhất là Thông tin vô tuyến điện, nhắc nhở chúng tôi phấn đấu rèn luyện để sớm "thành tài" ra phục vụ. Tổ chức rất quan tâm và đặt nhiều hy vọng ở chúng tôi... Sau ngày đồng chí Lê Đức Thọ đến thăm, chúng tôi được đồng chí Xứng - phái viên của cấp trên đưa về Tân An, huyện Sơn Dương (cửa ngõ vào Tân Trào) giao cho đồng chí Nguyễn Chấp Kinh tổ chức lớp học ngay gần đàiCTA cũng do đồng chí Kinh phụ trách, giáo viên có thêm đồng chí Nguyễn Văn Thiệu (em ruột đồng chí Kinh).

Trong điều kiện khó khăn lúc này, lớp được tổ chức rất gọn trong nhà dân, trang thiết bị không có gì đáng giá ngoài cái buýtde và cái maníp gỗ, bàn ghế do học sinh tự làm bằng tre nứa, trong giờ học, ngoài giờ tập thu tín hiệu do thầy Kinh hoặc thầy Thiệu phát, nghe qua buýtde, còn giờ phát báo, học viên thay nhau phát trên maníp thật, còn chủ yếu tập gõ qua bàn. Không những vậy, điều kiện sinh hoạt vật chất rất thiếu thốn, cơm hàng ngày vừa thiếu chất vừa không đủ no, quần áo ai mang theo gì dùng nấy, chăn màn thiếu thốn nhất là màn, nhiều anh chị em

học viên bị sốt rét, thuốc men cũng không đủ3, ánh sáng buổi tối dựa vào bếp lửa. Tuy nhiên chúng tôi rất lạc quan, vô tư, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau khắc phục khó khăn, hăng say học tập, rèn luyện với tinh thần ngày không kể giờ, tuần không kể thứ. Ai lúc nào ốm mệt quá thì nghỉ, hơi nhúc nhắc được là dậy, lao vào học tập, vui chơi coi như không có chuyện gì xảy ra. Thời gian này báo đài hầu như không có chúng tôi ra báo tường để động viên, tâm tình với nhau, trao đổi kinh nghiệm học tập rèn luyện4. Để giữ gìn sức khỏe, sáng sáng chúng tôi tổ chức tập thể dục. Để nâng cao sinh hoạt tinh thần, tối tối chúng tôi tổ chức ca hát, vui chơi lửa trại

Ở Tân An độ một tháng thì lớp chúng tôi cùng đài CTA di chuyển về huyện Định Hóa - Thái Nguyên, một an toàn khu rất cơ mật được coi là Thủ đô kháng chiến chống Pháp, nơi có Đại bản doanh của quân đội và một số cơ quan đầu não quan trọng của Đảng, Nhà nước đóng. Tại đây lớp học được tổ chức tại các bản Luông và Pháng, đồng chí Lê Dung thay đồng chí Nguyễn Chấp Kinh phụ trách, giáo viên có thêm đồng chí Nguyễn Diệp, Nguyễn Tấn, Đỗ Minh. Về môn học ngoài thu phát còn toán, lý, hóa, điện và vô tuyến điện học. Trang thiết bị của lớp có khá hơn, chúng tôi có thêm máy âm hưởng và loa, một số maníp tự tạo bằng tôn uốn cong, có lò xo bằng cao su để cho học viên tập phát báo, đủ cho mỗi người một cái. Về tổ chức giảng dạy và học tập đã chính quy hơn, đã có nội dung chương trình hàng tuần, hàng tháng kiểm tra nhận xét theo chế độ quy định. Về đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cũng từng bước được cải thiện. Cấp trên nhất là các đồng chí Chánh, Phó Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu thường lui tới kiểm tra, nắm tình hình trực tiếp giải quyết các khó khăn cho lớp, động viên chúng tôi học tập, đã củng cố thêm quyết tâm cho chúng tôi, giúp cho mọi người thấy rõ trách nhiệm, tập trung cố gắng vào học tập, rèn luyện, chuẩn bị tốt cho mình về mọi mặt để sau này ra công tác được vững tâm hơn. Đến lúc này lớp học mới được gọi chính thức là CMTT2 (chuyên môn thông tin 2).

Giữa lúc chúng tôi đang hăng hái thi đua học tập tốt, chuẩn bị nước rút cho cuối khóa thì cuộc tấn công Thu Đông năm 1947 của giặc Pháp lên Chiến khu Việt Bắc nhằm tiêu diệt các cơ quan đầu não kháng chiến của ta lai nổ ra, lớp học phải sơ tán cùng nhân dân vào rừng sâu, rồi sau đó kết thúc trước thời gian quy định. Học viên một phần được đưa về thực tập tại khu Trung tâm Thông tin (Bãi Gió) của Bộ, một số anh em có trình độ tương đối khá, sức khỏe tốt được điều đi các đài lẻ "kẹp nách" của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội.

Thế là những con chim non chưa thật đủ lông, đủ cánh đã phải đứng trước phong ba, chúng tôi đã phải thực sự bước vào cuộc chiến đấu thầm lặng trên các làn sóng với bao nhiêu khó khăn, thử thách mới. Phải nhanh chóng trở thành người báo vụ giỏi, người trưởng đài vững vàng, đó là ao ước cháy bỏng trong lúc này. Với sự quan tâm của tổ chức, sự tận tình kèm cặp giúp đỡ của những anh em báo vụ, trưởng đài cũ, ao ước đó của chúng tôi đã được thực hiện. Nhiều người trong chúng tôi tiến bộ, trưởng thành nhanh chóng, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, trở thành cán bộ, đảng viên và đã có những đóng góp xứng đáng của mình giữ vững thông tin liên lạc phục vụ lãnh đạo, chỉ huy trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Kể từ ngày ấy tới nay, gần một nửa thế kỷ đã trôi qua, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta đã giành được thắng lợi huy hoàng, Tổ quốc ta đã được độc lập, tự do và đang đi lên xây dựng theo hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Điểm lại số anh chị em lớp chuyên môn thông tin 2 hồi ấy, nay đều đã trên dưới 70 tuổi cả rồi, 4 đồng chí đã qua đời, một số do yêu cầu điều động của tổ chức đã chuyển sang các ngành kinh tế - xã hội khác, bám trụ lại trong ngành thông tin không còn nhiều. Tuy nhiên khi gặp lại nhau, ai nấy đều phấn khởi, xúc động, nhớ lại thời quá khứ trai trẻ cùng chung sống học tập, rèn luyện trong lớp chuyên môn thông tin 2 ngày ấy.

Ngày nay, sau nhiều năm phục vụ Đảng và Nhà nước, Quân đội chúng tôi lần lượt đã nghỉ hưu “hạ cánh an toàn” về sống với gia đình, với bà con chòm xóm. Nhân kỷ niệm lần thứ 50 ngày Toàn quốc kháng chiến, tôi ghi lại ít dòng trên đây để nhắc lại một kỷ niệm khó quên đối với lớp chuyên môn thông tin 2.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”)

---------------------------------------

1 Viết nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 ngày Toàn quốc kháng chiến (19.12.1946 - 19.12.1996).

2 Thời gian này tôi đang là cán bộ Việt Minh thoát ly của huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây phụ trách khu Hát Môn.

3 Cô Quế là y tá của Bộ, hàng tuần tới thăm lớp một lần, ai ốm cũng chỉ có vài viên ký ninh may lắm mới được tiêm mũi kinôfoóc.

4 Đồng chí Nguyễn Đắc Hải còn gọi là "Hải ke" là người chịu trách nhiệm lên khuôn tờ “Bình dân báo”.

22.10.24

Tôi làm liên lạc đặc biệt

Lê Trung Thành

Tôi cùng các đồng chí Trần Tôn, Phạm Dưỡng Hiền, Cao Kim Sơn, Lê Duy Bình và Nguyễn Văn Long từ Mặt trận Hà Nội lên Bắc Giang làm công tác tuyên truyền kháng chiến lưu động tỉnh do tôi làm đội trưởng.

Khoảng trung tuần tháng 4 năm 1947 đồng chí Trần Sơn đến liên hệ với đồng chí Vũ Quang xin chuyển chúng tôi về Ban liên lạc đặc biệt.

Chúng tôi bàn với nhau để tôi đi nhận công tác trước, nếu có hoàn cảnh thích hợp thì các bạn đó sẽ chuyển đến sau.

Là một thanh niên trưởng thành ở thành phố, ham hiểu biết, thích bay nhảy, trên đường đi nhận công tác từ Dương Sơn - Cao Ngạn đến Đại Từ, mỗi bước đi thêm thích thú, được ngắm nhìn cảnh sông nước với đập Tắc Cun, cảnh thị xã Thái Nguyên tấp nập, người tản cư với đồng bào dân tộc thiểu số, cảnh chen chúc trong chuyến goòng đêm, đã đưa tôi từ Thái Nguyên đến Bờ Đậu để rồi tự hỏi thăm đường, cuốc bộ đến Đại Từ. Đường lạ, đêm tối cứ đi. Dọc đường lũ lượt kẻ đi ngược lại, bộ đội, cán bộ, nhân dân ơi ới gọi nhau, chân bước mải miết cho nhanh tới đích. Hai bên đường thỉnh thoảng lại có cửa hàng lập lòe ánh đèn dầu.

Theo chỉ dẫn trong giấy giới thiệu tôi tìm đến trạm liên lạc ở đầu cầu sông Huy Ngạc, ở đây, tôi gặp anh Cao Đắc Hiếu, người dong dỏng cao, nhanh nhẹn và vui tính. Mới gặp nhau lần đầu qua vài câu chuyện thăm hỏi mà tình thân giữa chúng tôi đã nảy nở chan hòa, gần gũi. Anh sắp xếp và chỉ dẫn cho tôi chỗ nằm, ngồi, nghỉ ngơi, quan hệ với chủ nhà và rủ tôi đi chơi phố Đại Từ và cùng ăn cơm ở đấy. Cơm trưa xong về, thường chúng tôi lại rủ nhau ra sông Công tắm, đằm mình trong dòng nước chảy ào ào mát rượi.

Một hôm anh Hiếu từ Ban về bảo tôi: Ban gọi anh vào gặp để giao công tác. Hồi hộp chờ đợi qua đêm, sáng hôm sau tôi theo anh đến gặp anh Hạc và anh Sơn. Các anh bảo tôi làm Đạo trưởng cùng với 6 liên lạc viên đi tìm đặt đường liên lạc từ Đại Từ qua Quân Chu lên Tam Đảo và xuống Me, tiếp nối vào đường dây đi Khu 3, Khu 4 mà trước đó phải vòng qua đèo Khế, Sơn Dương.

Nhận nhiệm vụ tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì đã được nhận nhiệm vụ, lo vì công việc hoàn toàn mới mẻ, nhưng khi họp bàn với anh em liên lạc viên thực hiện kế hoạch thì mọi người đều quyết tâm, phấn khởi lên đường nên tôi yên tâm, tin tưởng.

Đường Đại Từ đi Quân Chu là con đường do thực dân Pháp mở sau ngày khởi nghĩa Võ Nhai, chạy dọc theo chân núi Tam Đảo, đèo Nhe đi Vĩnh Yên dùng để hành quân vây ráp cách mạng, mặt đường rộng, cho ô tô đi lại, nay thực hiện tiêu thổ kháng chiến, nhân dân ta đã đào hố chữ chi phá hoại từng đoạn. Từ Đại Từ đi khoảng trên 10 km hai bên đường là đồng ruộng, tiếp đó liên tục là đường rừng, chủ yếu là rừng nứa. Có nhiều khúc nứa và gỗ đổ ngang kín mặt đường phải vừa đi vừa dọn, đôi chỗ còn bị suối cắt ngang chảy xiết.

Chúng tôi đến Quân Chu thì trời sắp tối. Quân Chu là bản người Cao Lan. Gặp chúng tôi bà con thực hiện “ba không” hỏi gì cũng không nói mà dẫn đến gặp Trưởng bản, thế mà khi được Trưởng bản giới thiệu là cán bộ kháng chiến thì mọi người trong nhà đều đón tiếp chúng tôi vui vẻ, thân mật, sai người nhà đi mổ gà nấu cơm cho chúng tôi ăn. Đêm đó chúng tôi hỏi đường đi Tam Đảo. Sáng hôm sau chúng tôi tiếp tục hành quân, nhờ con chủ nhà dẫn đường đến chân núi. Đi bộ hơn 1 giờ thì bắt đầu leo núi. Đường dốc đứng, có đoạn phải bước từng bước, có chỗ phải vịn cây để leo, mọi người thở nhanh, tim đập mạnh, áo ướt đẫm mồ hôi.

Lần đầu tiên tôi được đi vào rừng, núi cao, rợp bóng cây to, âm u, không nhìn thấy mặt trời, tai nghe vượn kêu, chim hót mà lòng phơi phới, quên cả mệt nhọc. Càng lên cao khí hậu càng mát. Khi đến đỉnh núi thấy người tỉnh táo, hết mệt, mồ hôi cũng ráo, tim đập không còn hồi hộp nữa.

Chúng tôi dừng chân nghỉ ở chỗ yên ngựa chỉ có cỏ mà không có cây to, đứng ở đây có thể nhìn thấy đồng ruộng mênh mông bên phía Vĩnh Yên. Đi thêm một đoạn thì bắt đầu xuống dốc và nhìn thấy lô nhô mái nhà dưới Tam Đảo.

Tam Đảo lúc này tuy bị phá hoại, nhưng nhiều nhà vẫn còn nguyên, dân vẫn sống bình thường, chủ yếu là người làm thuê ở lại giữ nhà cho chủ.

Trạm liên lạc đặc biệt do anh Nguyễn Hải Hào làm nhà có mấy mẹ con người giúp việc trong đó có anh Nhật trạm trưởng đóng ở nhà tuần phủ Hồ Đắc Điểm. Trong nhà có mấy mẹ con người giúp việc trong đó có anh Nhật sau này làm liên lạc viên của trạm.

Từ Tam Đảo đi Me mất 1 ngày đường, chúng tôi đến trạm Me thì trời sắp tối. Ngay tối đó chúng tôi bàn với anh em ở trạm Me thống nhất kế hoạch giao nhận công văn để hôm sau quay lại Tam Đảo, kịp về Ban báo cáo kết quả...

Đường liên lạc Đại Từ - Tam Đảo - Me vận hành được một thời gian, đến khoảng cuối tháng 8 tôi nhận được nhiệm vụ đi tổ chức đường liên lạc Đại Từ - Bắc Cạn. Đường này có thuận lợi là dựa theo trục quốc lộ số 3, hoàn toàn dùng được bằng xe đạp tuy phải vượt một số dốc cao.

Trước chiến dịch Thu Đông 1947 tôi lại được lệnh tổ chức đường liên lạc từ Đại Từ lên Phố Đu đến Võ Nhai - Na Lương - Tràng Xá; đường này chủ yếu là xuyên rừng, chặng Na Lương - Tràng Xá phải qua núi đá nhưng không cao.

Trước ngày địch nhảy dù Võ Nhai, một buổi tối chúng tôi vừa ăn cơm xong, đang chuẩn bị cho chuyến công tác hôm sau thì có một đoàn cán bộ đến yêu cầu bố trí chỗ nghỉ qua đêm. Chúng tôi thu xếp cho đoàn ngủ xong thì đi nghỉ. Sáng hôm sau đoàn lên đường rất sớm trong lúc chúng tôi vẫn còn đang ngủ. Mãi sau này chúng tôi mới biết đó là đoàn Chính phủ di chuyển cơ quan, trong đó có Hồ Chủ tịch.

Hai hôm sau, địch nhảy dù xuống Võ Nhai. Khoảng 8-9 giờ chúng tôi vừa cơm xong đang chuẩn bị đi công tác thì nghe tiếng máy bay, rồi tiếng bom nổ. Ra sân nhìn thì đã thấy phấp phới dù đang là là rơi xuống! Vội vàng thu xếp ba lô tài liệu, chúng tôi chạy vào rừng, đi về trạm Na Lương. Khi tới Na Lương thì ở đây giặc đã tràn qua đốt phá vừa rút đi rồi. Tối hôm đó đồng chí Lê Trọng Nghĩa Chánh văn phòng Bộ đi công tác qua cũng vào trạm nghỉ đêm. Nhà trạm cũng bị đốt nên chúng tôi ngủ ngoài trời, bên cạnh đống lửa. Sau khi tìm nhà đặt trạm, thu xếp ổn định chỗ ăn ở, tôi về Ban báo cáo.

Trên đường đi lần này tôi chứng kiến cảnh làng xóm bị giặc đốt cháy trơ trụi, chỗ này chỗ kia lửa vẫn âm ỷ cháy. Vài người dân sơ tán trở về, thấy nhà mình chỉ còn là đống tro tàn, sụt sùi khóc lóc bới nhặt những thứ còn lại... Thật xót xa!

Về đến Ban ở xã Chiến Đấu tôi báo cáo tình hình với anh Sơn trong khi anh đang ngóng chờ chúng tôi và tôi được biết thêm Ban mới có trung đội Z là trung đội giao thông phát hành. Anh Hạc đã chuyển đi nơi khác nhưng đã có một số cán bộ khác được bổ sung về: đó là các anh Lê Hồng Việt, Trần Tuấn Anh, Bùi Gia Lộc. Tôi được phân công phụ trách trung đội Z. Đúng sáng 30 Tết năm Mậu Tý (1948), tôi trực tiếp tổ chức chuyển gấp tài liệu “Phát động du kích chiến tranh” của Bộ Tổng chỉ huy xuống các Quân khu.

Trở về Na Lương công tác hơn một tuần thì tôi lại được gọi về Ban và lần này đã diễn ra những việc có tính quyết định - một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời công tác của tôi.

Tôi được phân công sinh hoạt ở bộ phận anh Lê Hồng Việt. Anh Việt thăm hỏi tình hình gia đình và công tác của tôi, đưa cho tôi đọc Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương, đến ngày 6 tháng 1 năm 1948 tôi được kết nạp vào Đảng. Buổi lễ đó do anh Lê Hồng Việt - Bí thư Chi bộ Lam Sơn chủ trì; cùng dự có các anh Lê Hồng Sơn, Bùi Gia Lộc. Đây là bước ngoặt trong cuộc đời mà mãi sau này trải qua công tác tôi mới hiểu được đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng của nó.

Sau đó ít lâu, tôi được anh Sơn cho phụ trách hơn 20 liên lạc viên mang theo hành lý gánh gồng như một cơ quan đang trên đường di chuyển lên Bắc Sơn để đánh lạc hướng địch. Chuyến công tác này đã cho tôi hiểu biết thêm về đồng bào Nùng ở Bắc Sơn. Tôi được ăn nước mắm nấm hương thơm ngon đặc biệt, được ngắm từng đoàn các “nhình” mặc đồng phục áo dài, quần dài hai ống, cuốn khăn piêu toàn nhuộm chàm, vai gánh hai sọt đi chợ, cười nói vui vẻ trong không khí chiến thắng, nhịp nhàng trên đường cái chạy dài bên chân núi đá.

Chúng tôi hành quân đến gần Bắc Sơn thì nhận được lệnh quay trở về. Sau đợt công tác này, tôi nhận chức vụ đội phó đội giao thông phát hành, cùng anh Việt, anh Sơn và cùng toàn đội chuyển sang Chính trị Cục nay là Tổng cục Chính trị - chuyên làm nhiệm vụ chuyển tài liệu chính trị và báo Vệ quốc quân cho quân đội. Sau một thời gian, anh Việt được điều động đi nhận công tác bên Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam. Tôi thay anh Việt là đội trưởng cùng anh Lê Thanh Sơn làm đội phó và anh Cao Kim Sơn làm chính trị viên đội.

Đến năm 1949 chuẩn bị Tổng phản công, Cục Chính trị chuyển thành Tổng cục Chính trị, hai tờ báo Vệ quốc quânQuân du kích sáp nhập, đổi tên là báo Quân đội nhân dân, do đó hai đội giao thông phát hành của hai tờ báo cùng sáp nhập làm một, anh Lê Cư làm đội trưởng. Tôi được cử đi học lớp chính trị Lê Hồng Phong rồi được bổ sung ra đơn vị chiến đấu làm chính trị viên đại đội của Trung đoàn 209 Đại đoàn 312. Từ đó tôi không có dịp trở lại làm công tác giao thông liên lạc nữa. Trải qua các chiến dịch Lý Thường Kiệt, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược. Tôi lại trở về Tổng cục Chính trị làm hiệp lý viên Cục Tuyên huấn. Đến năm 1958 được chuyển ngành sang Bộ Nông nghiệp làm công tác đào tạo cán bộ và công nhân nông nghiệp cho đến khi nghỉ hưu (1984).

Đối với mỗi con người, kỷ niệm mối tình đầu là sâu sắc. Đối với tôi, mối tình quân ngũ đầu tiên anh Bộ đội Cụ Hồ - ở Ban liên lạc đặc biệt đã ghi lại sâu sắc trong tâm khảm những kỷ niệm suốt đời là nguồn động viên trong mọi vui, buồn, thành công và vấp váp.

Ngày nay được sống những ngày "Cổ lai hy" trở về cội nguồn Liên lạc đặc biệt, sinh hoạt trong tổ chức, bạn chiến đấu cũ, mỗi lần họp mặt gặp nhau, ký ức lại bừng lên chân trời mới năm xưa, với bao tình cảm yêu thương da diết.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”) 

Đài vô tuyến điện LĐ1

Nguyễn Tấn (nguyên Trưởng đài LĐ1)

Vào khoảng cuối tháng 10 năm 1946, trong khi đang công tác ở Bộ Tư lệnh tiếp phòng quân, tôi được lệnh của Bộ Tổng Tham mưu nhận nhiệm vụ mới. Tôi được cử phụ trách một đài lưu động đặc biệt của Bộ, lấy phiên hiệu là LĐ1...

Tôi và anh Minh, sau có anh Hồng phụ trách máy nổ được đưa đến ở một thôn thuộc vùng Mai Lĩnh, chúng tôi được trang bị một bộ máy MK2 (do Canada sản xuất) có máy nổ và ắc quy khá tốt.

Nhiệm vụ của đài tuy không được công bố chính thức, nhưng chúng tôi ngầm hiểu rằng đài sẽ phải thay thế đài trung tâm khi chiến tranh nổ ra.

Chúng tôi được lệnh bắt liên lạc và đặt giờ liên lạc với tất cả các đối tượng mà đài trung tâm của Bộ ở ấp Thái Hà đang liên lạc. Chúng tôi thực hiện đầy đủ, duy chỉ có một đài ở Nam Bộ là liên lạc rất khó, phải chờ quá nửa đêm mới liên lạc được và chỉ làm được đến 2 giờ sáng là không thể nào tìm được nhau nữa. Các giờ liên lạc hàng ngày vẫn đảm bảo đều đặn nghiêm túc, nhưng chẳng có việc gì cả, chỉ gọi nhau, tiếp xúc được là báo không có việc gì, thế là xong. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cơ quan Bộ Tổng Tham mưu cũng gửi một bức điện cho nơi này hoặc nơi khác. Có lẽ chỉ để thử, để kiểm tra. Ở các thôn, các xóm xung quanh chúng tôi, cũng có các bộ phận của Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tổng tư lệnh đóng, nhưng mỗi bộ phận chỉ có vài người. Một hôm tôi đang ngồi buồn thì đồng chí liên lạc đến báo có thượng cấp đến thăm. Ngay sau đó có ba người đi vào, tôi nhận ngay ra một người là đồng chí Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp vì đồng chí đã là thầy giáo của tôi khi tôi học ở trường Thăng Long. Tôi rất xúc động và bối rối, chưa biết chào hỏi ra sao, vừa đứng dậy thì đồng chí đã đi rất nhanh đến bắt tay tôi và với ánh mắt tươi cười sáng như sao hỏi tôi bằng một giọng ôn tồn, ấm áp: “Đồng chí phụ trách đài phải không?”. Tôi thưa vâng. Đồng chí hỏi: “Máy móc tốt không?”. Sau khi tôi trả lời, đồng chí khen tốt và đi xem các máy. Khi xem máy nổ, đồng chí hỏi: “Có đủ xăng chạy không? Phải dự trữ nhiều xăng đấy nhé”. Sau vài câu hỏi chuyện vui của đồng chí, tôi đánh bạo nói: “Thưa thầy, em là học sinh của thầy khi thầy dạy ở trường Thăng Long, không biết thầy có nhớ không?”.

Đồng chí Tổng tư lệnh cười tươi và trả lời: “Làm sao thầy nhớ được hết trò. Nhưng là học trò ở trường Thăng Long thì phải làm việc cho thật tốt đấy nhé! Chúng ta sẽ có nhiều việc làm đấy!”. Cuộc gặp gỡ với đồng chí Tổng tư lệnh, với thầy giáo cũ của mình, mà sau này trở thành danh tướng trong lịch sử dân tộc, làm sao tôi có thể quên được.

Đêm 19 tháng 12 năm 1946, vừa làm xong phiên liên lạc cuối cùng, chúng tôi đang chuẩn bị đi nghỉ, chờ tới không giờ ba mươi (0h30) làm với đài Nam Bộ thì những tiếng đại bác nổ từ bầu trời Hà Nội vọng lại. Chúng tôi chạy ra sân thấy vầng sáng điện trên bầu trời Hà Nội đã tắt ngấm và những chớp lửa nhịp nhàng lóe lên từ một phía. Chúng tôi biết ngay giờ phút lịch sử của dân tộc đã điểm. Cuộc kháng chiến toàn quốc đã bùng nổ. Chúng tôi ngây ngất trong một cảm xúc khó tả: lo lắng vì chiến tranh đã đến, nhưng mừng vì thời cuộc đã rõ ràng, không còn nhập nhằng, chỉ có một con đường sống chết với quân thù để giữ được nền độc lập của Tổ quốc, mà chúng tôi bao giờ cũng tin rằng nếu phải chiến đấu nhất định chúng ta sẽ thắng. Bên sân mấy nhà hàng xóm lao xao, chắc họ cũng có tâm trạng bồi hồi như chúng tôi. Bỗng có mấy người tiến nhanh vào. Tôi nhận ra người đi giữa là một đồng chí lãnh đạo Bộ Tổng Tham mưu. Anh hỏi nhanh: “Các đồng chí vẫn thức cả à?”. Tôi trả lời: “Vâng thưa anh! Chúng tôi ngủ sao được!”. Anh cười: “Đúng, các đồng chí rõ cả rồi chứ?”. Tôi nói: “Vâng, chiến tranh đã nổ ra”.

Anh hỏi: “Máy móc vẫn tốt cả chứ? Đảm bảo liên lạc với các nơi được không?”.

Tôi trả lời: “Vâng, thưa anh chúng tôi sắp làm với Nam Bộ”. Một đồng chí đưa cho tôi một bức điện tối khẩn hỏa tốc. Anh bảo: “Chuyển ngay nhé, càng sớm càng tốt. Thế là Nam Bộ lại là nơi nhận được trước tiên phải không?...”.

Anh cười và mấy anh vội vàng đi ngay. Thế là từ đó, điện báo tới tấp đưa đến. Chúng tôi cực kỳ mệt nhọc. Đài Trung tâm ở Hà Nội đã ngừng hoạt động. Trong tuần đầu, chỉ có đài chúng tôi, đài LĐ1 là đài duy nhất hoạt động được, hoàn toàn thay thế Trung tâm của Bộ. Trong khi đó chúng tôi chỉ có 2 báo vụ: tôi và anh Minh, còn anh Hồng phụ trách máy nổ. Anh Minh lúc đó làm việc chưa thạo, nên mình tôi phải cáng đáng nhiều, nhất là giờ làm đêm với Nam Bộ, chỉ có tôi mới đảm bảo được. Còn đài cứ khoảng 2 ngày phải di chuyển một lần.

Tuần đầu, tôi làm việc quên ăn, quên ngủ. Hơn một tuần tập trung cực kỳ căng thẳng đã làm tôi bị đau mắt đến gần như toét nhèm. Có một chuyện kỳ lạ mà đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao?

Đêm ấy, đài chuyển sang một làng khác. Tôi phải làm việc với Nam Bộ đến gần 2 giờ sáng. Trong khi đó thì anh em đã chuyển dần đi. Đến phút cuối cùng, khi tôi vừa tắt máy thì anh em tháo ăngten, khiêng máy và ắc quy đi. Tôi mệt quá nên nằm ngả ra tranh thủ chợp mắt. Anh em chuyển đi hết mà quên không gọi tôi. Khoảng 4 giờ sáng, tôi sực tỉnh, bàng hoàng thấy mình nằm trơ ra một mình, chẳng còn ai cả. Gia đình chủ nhà nằm ở nhà dưới đều đang ngủ say sưa, tôi lại chưa biết đường đi đến địa điểm mới. Nhưng tôi cứ loạng choạng mò đi trong đêm tối, tôi cứ đi, cứ đi trong đường làng ngoắt nghéo, ra khỏi làng đi qua một cánh đồng, sang làng khác, rồi lại cứ đi sâu vào trong làng như một người mộng du... Bỗng đến một căn nhà có ánh đèn, có tiếng người nói. Tôi đập cửa. Người ra mở cửa ồ lên: “Ồ! Anh Tấn đây rồi! Làm sao anh đi được đến đây? Chúng tôi định cứ để anh ngủ rồi 5 giờ sáng sang đón anh”. Tôi ngơ ngác, mệt quá lại nằm lăn ra ngủ thiếp đi.

Đến khi có thêm anh em bổ sung, có thêm đài LĐ2 hoạt động, công việc không còn quá căng thẳng nữa, thỉnh thoảng tôi vẫn nghĩ đến hiện tượng kỳ lạ đó, mà tôi không bao giờ hiểu nổi.

Phải chăng đó chỉ là sự tình cờ kỳ diệu?... hay một sức mạnh tâm linh như những nguồn sóng vô tuyến truyền cảm huyền bí?... Hay tinh thần trách nhiệm và tình yêu gắn bó sâu đậm của tôi với điện đài mà tôi phụ trách, phương tiện duy nhất vào thời điểm đó nối liền Bộ Tổng tư lệnh với các đơn vị trong toàn quân?... đã tạo ra một lực lượng vô hình dắt tôi trong đêm tối đến nơi cần đến với khoảng cách đến 2 cây số mà trước đó tôi chưa hề biết.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”) 

19.10.24

Nhớ lại một thời làm lính thông tin Đoàn quân Tây tiến

Đại tá Phạm Ngọc Chuẩn

Sau ngày Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền ở Hà Nội, chúng tôi được lệnh chuẩn bị một tổ đài vô tuyến điện theo phục vụ Đoàn quân Tây tiến đánh bọn tàn quân Pháp ở Vân Nam - Trung Quốc đang lăm le quay lại vùng Tây Bắc nước ta, đồng thời cũng để dè chừng bọn “Tầu Tưởng” mà chúng tôi quen gọi là bọn “Tầu phù” với danh nghĩa quân Đồng minh vào Việt Nam giải giáp quân Nhật.

Lúc này Sở Vô tuyến điện Việt Nam, nơi chúng tôi công tác vừa giành lại được từ tay bọn Nhật, đang bộn bề trăm việc. Sở phải tổ chức lại toàn mạng vô tuyến điện để Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy toàn quân, toàn quốc; lại còn phải đảm trách phần kỹ thuật phát sóng cho Đài Tiếng nói Việt Nam, với yêu cầu phát sóng đúng vào ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình.

Tuy vậy, Giám đốc Sở đã cử tôi và anh Trần Viêm, là hai kỹ thuật viên tách ra khỏi tổ phát sóng Đài Tiếng nói Việt Nam sang làm việc này. Chỉ trong vài ngày, hàng tạ thiết bị thu phát vô tuyến điện, vật tư, máy phát điện, pin nước, xăng dầu... đã được kiểm tra, bao gói sẵn sàng.

Sáng ngày 3 tháng 9 năm 1945, đoàn chúng tôi lên đường. Đồng chí Nguyễn Công Môn, một đài trưởng kỳ cựu được cử làm trưởng đoàn. Tôi và anh Trần Viêm là hai kỹ thuật viên trẻ, vốn là học sinh trường kỹ nghệ Hà Nội, tốt nghiệp loại ưu, phụ trách kỹ thuật. Đài còn có 3 hiệu thính viên có tay nghề giỏi.

Vào thời kỳ này, đường từ Hà Nội lên Tây Bắc rất khó đi, không có đường ô tô. Do vậy, chúng tôi đành phải hành quân bộ. Khi đến thị trấn Phương Lâm, Hòa Bình, được sự giúp đỡ của chính quyền và các đoàn thể Việt Minh, chúng tôi chuyển xuống thuyền, ngược sông Đà lên Suối Rút, rồi Vạn Yên. Tới Vạn Yên, khi thuyền vừa cập bến, chúng tôi được một phân đội Tây tiến đã túc trực chờ sẵn, bốc hết số thiết bị, vật tư lên bờ rồi chuyển về bản Vật, cách huyện lỵ Mộc Châu chừng 5 cây số. Chúng tôi đóng quân tại tư dinh ông La Văn Minh, Chủ tịch lâm thời Ủy ban hành chính tỉnh Sơn La. Nơi đây bấy giờ cũng là bản doanh của Chi đội Tây tiến và nhiệm sở Cơ quan đại diện Tổng bộ Việt Minh tại Sơn La.

Đến bản Vật, chúng tôi triển khai ngay công việc đặt đài và rất may mắn, ngay buổi lên máy đầu tiên đã bắt được liên lạc với Hà Nội, với tín hiệu khá tốt QSA4, khiến chúng tôi vui mừng khôn xiết.

Đài làm việc luôn từ buổi đó. Tuần đầu 4 phiên/ngày với Hà Nội. Từ tuần thứ hai trở đi, do yêu cầu nhiệm vụ đài duy trì phiên liên lạc tăng từ 2 đến 3 lần. Đồng chí Lê Hiến Mai và Hoàng Sâm còn yêu cầu chúng tôi chuẩn bị gấp cho một đài đi phục vụ bộ đội đang làm nhiệm vụ ở Tuần Giáo, Sơn La và Bắc Lào.

Trước yêu cầu đó, chúng tôi điện về Hà Nội xin thêm thiết bị. Việc chở được thiết bị lên không dễ nên chúng tôi nghĩ cách tìm đến các cơ sở bưu điện cũ ở Mộc Châu, Vạn Yên tìm kiếm các điện đài cũ của Pháp bỏ lại trong các kho đồ nát. May thay, sau một vài ngày chúng tôi đã lượm được một số máy thu phát vô tuyến điện cũ nát mang về lau chùi, phơi sấy, sửa chữa, lắp ráp lại thành 3 bộ máy thu phát vô tuyến điện đồng bộ, sẵn sàng đi làm nhiệm vụ.

Cùng lúc các thiết bị vừa chuẩn bị xong thì nhận được lệnh lên đường. Đồng chí Trần Viêm mang đài lên Tuần Giáo. Tôi mang một đài theo đại đội Lê Tuấn Sơn vượt đèo Pa Háng sang Bắc Lào đánh bọn tàn quân Pháp vừa từ Vân Nam - Trung Quốc sang cướp phá làng bản của đồng bào các dân tộc Lào anh em. Cuộc tiến quân khá khẩn trương, vất vả, nhưng nhờ sự giúp đỡ của nhân dân Lào nên chỉ sau 2 ngày chúng tôi đã áp sát thị xã Sầm Nưa. Tuy nhiên, tại đây, chúng tôi được trinh sát cho biết tàn quân Pháp đánh hơi thấy quân Việt Minh sang, chúng đã rút chạy khỏi thị xã từ hơn một ngày trước. Ngay lập tức, hai phân đội được lệnh khẩn trương truy kích địch, hai phân đội còn lại chuẩn bị vào tiếp quản thị xã. Sáng sớm hôm sau, đội ngũ chỉnh tề, dẫn đầu là đại đội trưởng Lê Tuấn Sơn, quân ta tiến vào thị xã Sầm Nưa. Bà con Việt kiều đã từng sống ở đây nhiều đời cùng bà con các dân tộc Lào ở thị xã và các vùng xung quanh ra chào đón khá đông, tay cầm cờ đỏ sao vàng, tay tung hoa, hô vang những khẩu hiệu: “Hoan hô bộ đội Giải phóng Việt Nam!”, “Hồ Chủ tịch muôn năm!”, “Tình hữu nghị chiến đấu giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào muôn năm!”.

Vào tiếp quản thị xã, trước mắt chúng tôi là ngổn ngang quân trang, quân dụng và một số vũ khí của tàn quân Pháp để lại không kịp mang theo rải rác khắp dọc đường tháo chạy. Chúng tôi đã vận động bà con trong thị xã làm tổng vệ sinh đường phố, nhà cửa, mở lại trường học, trạm xá; mở lại các cửa hàng, cửa hiệu. Nhân dân tự do buôn bán, tự do sản xuất, thành lập các đội dân quân, tự vệ luyện tập quân sự và bảo vệ thôn bản.

Lại nói về việc tổ chức liên lạc, chiếc điện đài mang theo đại đội khi vào tiếp quản thị xã Sầm Nưa được lắp đặt chính quy ngay tại Sở chỉ huy có ăngten định hướng nên dù chỉ là chiếc máy phát 20W Mesny cũng liên lạc với Hà Nội, Mộc Châu rất tốt. Đài còn làm nhiệm vụ thu tin thông tấn xã Việt Nam, thu tin Đài tiếng nói Việt Nam chỉ bằng chiếc máy thu Schnell đơn giản để cung cấp thông tin cho bộ đội và nhân dân. Mọi người rất phấn khởi.

Đã 57 năm trôi qua, những kỷ niệm về đoàn quân Tây tiến chiến đấu giúp bạn luôn khơi dậy trong tôi những kỷ niệm rất đẹp về tinh thần đoàn kết, dũng cảm của bộ đội, về hình ảnh những người bạn Lào chất phác, thật thà rất dễ gần gũi, về những bà mẹ Lào nhân hậu, về những cô gái Lào xinh xắn luôn có nụ cười tươi tắn trên môi, về một thị xã Sầm Nưa nhỏ bé nhưng rất thơ mộng, quyến rũ và đã được chúng tôi mệnh danh là "thị xã hoa hồng" của thảo nguyên xanh kỳ thú; một thị xã mà trên khắp các ngả đường, ngõ phố chỗ nào cũng rực đỏ hoa hồng tỏa hương thơm mát dịu, làm vợi đi những vất vả, nhọc nhằn và như còn làm thắm thêm tình bạn chiến đấu Việt – Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.

Hà Nội, ngày 14-1-2002

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1") 

16.10.24

Ở Chiến khu 3

Nguyễn Tấn

Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, Sở Vô tuyến điện Việt Nam giới thiệu tôi đảm nhận công tác ở Bộ Tổng Tham mưu Vệ quốc đoàn. Bộ Tổng Tham mưu đưa tôi vào làm việc ở đài vô tuyến điện Trung tâm của Bộ. Làm việc tại đây khoảng hơn một tháng, tôi nhận được lệnh của Bộ chuyển xuống công tác ở Bộ chỉ huy Chiến khu 3.

Hôm đó khoảng cuối tháng 10 năm 1945, tôi nhận được giấy giới thiệu do đồng chí tham mưu chủ nhiệm Lâm Kính ký, đến Chiến khu 3 ở Hải Phòng. Ở đây, tôi được nhận một bộ máy chỉ bằng một chiếc vali nhỏ, để trong hộp sơn đen còn mới tinh. Một căn phòng khoảng 16 m2 trên gác 2 là nơi đặt máy và cũng là chỗ ngủ của tôi. Một dây ăngten còn cuộn tròn để trên một góc buồng.

Thế là bộ phận vô tuyến điện chỉ có một mình tôi. Người vẫn luôn bám sát và tỏ ra thân mật với tôi nhất là đồng chí phụ trách cơ yếu. Anh còn trẻ tuổi, trạc như tôi hay chỉ hơn một vài tuổi. Tôi không nhớ tên, xin tạm gọi là anh Tuân. Anh Tuân bảo rằng bộ máy này là do quân ta tước được của Quốc dân Đảng ở Móng Cái.

Tôi nói với anh Tuân là khi tôi ở Đài của Bộ Tổng Tham mưu, rõ ràng là có liên lạc với đài Chiến khu 3, sao ở đây vẫn chưa có gì.

Anh Tuân cười thật vui nói: Ồ! Đó là đài ở trên tàu thủy, hiện tàu đang ở Móng Cái, mấy hôm nữa mới về Hải Phòng.

Thì ra vậy!

Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đặt đài và bắt liên lạc với Bộ Tổng Tham mưu và đài tàu thủy đó.

Tôi ngỡ ngàng mở hộp máy ra. Nguy quá, tôi chẳng hiểu gì về bộ máy này cả. Không biết nó là kiểu máy gì, công suất bao nhiêu, có thể liên lạc được xa đến đâu?

Tôi lo quá, nhưng việc đến tay thì phải làm, không lẽ lại về Sở Vô tuyến điện cầu cứu. Tôi mày mò tìm hiểu máy suốt cả buổi sáng, chữ trên máy đều là tiếng Anh, may mắn trong lớp học vô tuyến điện hàng hải, tôi đã được học một số tiếng Anh. Cuối cùng tôi cũng hiểu ra máy phát sóng chạy bằng quartz, tuy trong chương trình học có học nguyên lý tạo sóng bằng thạch anh, nhưng thực tình tôi chưa được sử dụng quartz bao giờ và cũng chưa hề được trông thấy máy quartz. Nhưng sự hiểu biết chỉ mới qua lý thuyết ấy cũng giúp tôi biết rằng, những miếng bọc nhựa có 2 chân kim thò ra, có ghi một tần số nhất định chính là những miếng quartz, và chức năng kỳ diệu của nó là tạo ra tần số phát sóng. Còn máy thu thì là một loại máy siêu tha phách mà tôi đã được dùng nhưng kích thước rất nhỏ bé. Tôi biết là tôi có trong tay một máy thu-phát vô tuyến điện được sản xuất trong Chiến tranh thế giới thứ II.

Đó là bộ máy MKII do Ca-na-đa sản xuất và Mỹ đặt mua hàng loạt cung cấp cho các đơn vị chiến đấu. Sau này tôi còn có duyên dùng loại máy đó làm đài lưu động đặc biệt của Bộ Tổng Tham mưu, không những chỉ liên lạc với các đài miền Bắc, miền Trung và cả miền Nam. Trước đó, tôi chưa bao giờ dám nghĩ rằng một máy vô tuyến điện nhỏ bé như vậy lại liên lạc xa tới hàng nghìn cây số.

Tôi nhờ anh em giúp đỡ căng ăngten và tôi loay hoay điều chỉnh máy. Gần cuối chiều hôm đó, chiếc đèn nêông nhỏ bé của tôi đã lóe sáng trên trụ ăngten máy phát. Nỗi mừng vui của tôi thật không gì sánh kịp, nhưng tôi vẫn im lặng chẳng reo hò. Chẳng có ai cùng chia sẻ nỗi vui mừng với tôi cả.

Thế là đài của tôi đã sẵn sàng hoạt động. Anh Tuân thấy tôi làm xong công việc, cũng cho là bình thường. Anh hỏi: Đã liên lạc được với Bộ Tổng Tham mưu chưa? Anh không biết rằng tôi còn phải nhờ báo cho Bộ biết tần số phát sóng của mình và định giờ liên lạc...

Chiều tối hôm sau, tôi bắt được liên lạc với Bộ Tổng Tham mưu, ở đó cho QSA3 và khen tín hiệu rất trong.

Tôi nghĩ lần đầu tiên đã cho QSA3 thì chắc ít ra nó phải là QSA4.

Thế là đài vô tuyến điện chính thức của Chiến khu 3 đã hình thành, đáng tiếc tôi không ghi lại ngày tháng đúng, chỉ nhớ vào khoảng cuối tháng 10 năm 1945.

Nhưng tôi còn nhiều việc phải làm. Theo yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến khu: phải tiến tới các chi đội (sau gọi là trung đoàn) thuộc chiến khu có đài. Trước mắt cần bổ sung máy nổ và bộ nạp ắc quy để đài vẫn hoạt động được khi không có điện nguồn của thành phố, v.v. và v.v.

Công việc đầu tiên xong xuôi, đến ngày thứ ba tôi mới có thì giờ đi dạo phố Hải Phòng. Các phố xá Hải Phòng vẫn chẳng khác gì xưa nhưng có vẻ vắng hơn, ít ồn ào hơn. Đi qua nhà hát thành phố, tôi thấy nó như nhỏ quá, kiến trúc sơ sài quá.

Thấy dáng vẻ hơi buồn của tôi, anh Tuân nói: buổi tối sẽ vui hơn. Nếu cậu đi qua vũ trường ASIA thì cậu sẽ thấy nó còn rực rỡ, còn nhộn nhịp hơn cả Hà Nội...

Một buổi chiều, sau khi làm việc xong với đài tàu biển, tôi đang chuẩn bị xuống ăn cơm thì thấy dưới nhà có tiếng ào ào. Những tiếng nói lạ như tiếng Tầu vọng lên. Tôi đang định đóng cửa, chạy xuống thì mấy lính Tầu Tưởng đã sồng sộc chạy vào buồng tôi. Có mấy anh vệ binh ta cũng chạy theo. Chúng lơ láo nhìn ngó khắp buồng, rồi như bắt được của lạ, chúng bước vội đến bàn máy của tôi. Chúng xì xồ chỉ trỏ rồi sấn lại định gỡ máy ra. Tôi nhảy phắt ra ôm chặt lấy máy. Hai bên giằng co nhau, chúng cố đẩy tôi ra. Vừa sợ làm hỏng máy, và do tôi cũng yếu hơn, chúng đẩy được tôi ngã xuống. Nhưng tôi lại vùng dậy, cố gạt chúng ra, không cho tháo máy. Hai vệ binh cũng xô lại đứng chặn trước bàn máy. Hai bên hầm hè, tình huống hết sức căng thẳng.

Vừa may lúc đó anh Vũ Hiển, Chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến khu đến. Anh Hiển nói: đây là một đơn vị Vệ quốc đoàn, nên chúng tôi có quyền dùng máy vô tuyến điện...

Chúng cho rằng: máy là máy của Trung Quốc, Việt Nam không thể có... Hai bên nói đi nói lại một hồi, cuối cùng chúng bảo sẽ về báo cáo cấp trên, trước mắt chúng yêu cầu tháo ăngten, và chỉ được dùng máy thu không được dùng máy phát.

Anh Hiển bảo: được, các anh cứ về báo cáo cấp trên.

Sau sự kiện này, Bộ chỉ huy họp bàn và quyết định di chuyển đài đi nơi khác. Ngay đêm đó, một xe du lịch đưa đài và chúng tôi sơ tán đến một ngôi chùa ở ngoại thành. Lúc đó đài đã được bổ sung thêm một anh báo vụ tên là Nam. Anh là một hiệu thính viên đã làm việc được ba bốn năm ở BCR nên rất thạo việc và nhanh nhẹn.

Ở trong chùa tuy buồn và tĩnh mịch nhưng thật dễ chịu. Chưa có điện nên chúng tôi vẫn dùng điện thành phố.

Nhưng ở đây cũng chẳng được yên. Thỉnh thoảng vẫn có nhóm lính Tầu lảng vảng trên đường gần chùa. Một ngày lễ mùng một, lại thấy có hai tên sĩ quan Tầu vào lễ chùa. Được hơn nửa tháng, chúng tôi nhận được lệnh di chuyển. Lần này đi xa hơn, đến một làng cách thị xã Hải Dương 5 cây số. Chúng tôi không hiểu sao lại phải đi xa thế, nhưng không dám hỏi vì sợ vi phạm nguyên tắc bảo mật.

Chúng tôi ở nơi sơ tán này không lâu, đến khi thực hiện Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3, quân Tưởng chuẩn bị rút đi thì chúng tôi về Hải Phòng.

Nhiệm vụ lo thêm đài vẫn canh cánh trong lòng tôi. Khu phải cho tôi về Hà Nội để tìm kiếm, xin hoặc mua máy. Tôi cũng chỉ biết hai nơi: Bộ Tổng Tham mưu và Sở Vô tuyến điện Việt Nam.

Mỗi khi tôi về Hà Nội, Bộ chỉ huy đều cho xe ô tô, ít khi phải đi tàu hỏa. Có lần đi ghép một hai người, nhưng có lần chỉ một mình. Tôi lại được phát một khẩu súng nhỏ nữa.

Hôm đó tôi về Hà Nội, một mình một xe. Sau nhiều lần đi lại, chuyến này may mắn được Sở Vô tuyến điện cấp cho một bộ máy tự lắp, với một ragônô quay tay do Bộ Tổng Tham mưu cấp. Chiếc ragônô hình như cũng là tước được của một đơn vị quân Quốc dân Đảng.

Người thì Sở Vô tuyến điện cho một anh hiệu thính viên đã khá thạo việc.

Chúng tôi phấn khởi đưa máy lên xe về Hải Phòng. Nhưng đến đầu cầu Long Biên, mấy tên lính Tầu Tưởng ách xe chúng tôi lại đòi khám, chúng dễ dàng phát hiện bộ máy để trên xe. Sau khi thấy máy, chúng bắt chúng tôi xuống xe. Thế là chúng hò hét và huýt còi ầm ĩ... Trong khi láo nháo, có hai thanh niên đi qua, tôi vội nắm lấy một người nhờ anh ta báo với cơ quan Bộ Tổng Tham mưu ở phố Halais (nay là phố Nguyễn Du) là có 3 người và 1 xe ô tô của Chiến khu 3 bị bắt giữ, nhờ can thiệp.

Đúng là chúng bắt giữ chúng tôi. Hai tên sĩ quan lên xe và bắt anh lái xe lái về trụ sở của chúng (hiện nay là phố Lý Nam Đế) ở đó chúng chất vấn chúng tôi là súng và máy ở đâu ra?... Chúng tôi làm gì mà lại có thứ này?... Tôi trả lời là chúng tôi ở đơn vị Vệ quốc quân, đây là trang thiết bị của đơn vị (đại ý tôi nói như cách anh Vũ Hiển nói ở Hải Phòng)...

Cuối cùng người phiên dịch bảo rằng: Chúng tôi bị giữ lại ở đây để chờ chúng hỏi Bộ chỉ huy quân sự Ủy viên hội Việt Nam. Thế là chúng tôi bị chúng giam vào một căn buồng nhỏ trong ngôi nhà. Buổi chiều hôm đó, chúng cũng cho chúng tôi ăn cơm. Thức ăn có mấy miếng bí kho và mấy miếng thịt kho mùi lạ lùng thật khó nuốt. Tối hôm đó ba chúng tôi nằm co trên một chiếc giường không có màn, vừa nóng vừa muỗi, không tài nào ngủ được.

Mãi đến trưa hôm sau, chúng mới trả tự do cho chúng tôi cùng cả xe, súng và máy móc. Sau chúng tôi được biết là Bộ Tổng Tham mưu do có người báo cho biết đã cử người đến can thiệp, đàm phán với chúng suốt cả buổi sáng.

Mấy hôm sau, chúng tôi đưa máy đến đặt cho một đơn vị ở Hòn Gai. Chúng tôi đi trên tàu thủy nhỏ. Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Chiến khu Vũ Hiển và một đồng chí nữa cùng đi trên tàu với chúng tôi, cũng đến Hòn Gai công tác. Chiếc tàu nhỏ bập bềnh trên sóng biển. Khi tàu đến Quảng Yên, một canô của quân Tầu Tưởng đuổi sát chúng tôi và ra lệnh cho chúng tôi ghé vào bờ. Anh em thủy thủ còn lưỡng lự thì anh Hiển bảo cứ ghé vào bờ. Đến bờ chúng lên tàu khám. Thấy máy vô tuyến điện và nắn được súng lục trong người anh Vũ Hiển, một anh cán bộ và tôi... Chúng dẫn chúng tôi lên bờ, và lại bắt giữ chúng tôi. Ôi! Sao tôi lại nặng nợ với quân Tầu như thế này. Đây là lần thứ ba tôi gặp rắc rối với chúng. Mà cả Tham mưu trưởng Chiến khu cũng bị chúng tước súng và bắt giữ nữa. Nhưng anh Hiển chỉ nói là cán bộ thường. Không cho chúng biết là Tham mưu trưởng. Anh Hiển nhắn được người báo cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã. Một lúc sau thì Chủ tịch Ủy ban đến, tôi nhớ tên anh là Trương Tam Tỉnh, cũng là một người trông oai phong lắm. Sau gần một giờ thương lượng, chúng đã thả chúng tôi cùng toàn bộ vũ khí và máy móc.

Tàu chúng tôi lại rẽ sóng ra khơi, chả mấy lúc chúng tôi đến Hòn Gai.

Chúng tôi đổ bộ lên Hòn Gai, ở đây, vì có Tham mưu trưởng cùng đi, chúng tôi được Chi đội đón tiếp khá trọng thể và nồng hậu. Tôi đặt đài lên một lô cốt trong doanh trại, nó hoạt động tốt và nhanh chóng bắt liên lạc với Chiến khu. Thế là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ.

Thời gian tôi ở Chiến khu 3 chỉ vừa đúng một năm, nhưng đã có mấy tháng được khu biệt phái sang làm sĩ quan liên lạc trong Phòng Liên kiểm Việt - Pháp Hải Phòng, rồi tạm chuyển sang phụ trách đài vô tuyến điện của Bộ Tư lệnh Tiếp phòng quân, theo đề nghị của Thiếu tướng Lê Thiết Hùng nhờ Chiến khu giúp đỡ...

Chính khi tôi đang ở Bộ Tư lệnh Tiếp phòng quân đóng tại số 59 phố Quang Trung hiện nay ở Hà Nội, tôi nhận được lệnh của Bộ Tổng Tham mưu điều về Bộ và sau đó được cử phụ trách đài lưu động đặc biệt LD1 chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”) 

Đồng chí Hoàng Đạo Thúy với chiến sĩ thông tin vô tuyến điện

Phạm Duy Tín – P.D.T sưu tầm

Chúng ta là những chiến sĩ thông tin vô tuyến C19 gắn bó với nhau trong quá trình học tập và công tác ở một hoàn cảnh khá đặc biệt. Đến nay, mỗi người đã đi gần hết cuộc đời của mình, mỗi người một số phận nhưng chúng ta vẫn nhớ nhau với tình cảm đặc biệt của người chiến sĩ thông tin vô tuyến.

Tôi xin trích ra đây những lời tâm huyết của cố Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc Hoàng Đạo Thúy được ghi trong hồi ký “Lên đường hạnh phúc” - Bộ Tư lệnh Thông tin xuất bản năm 1985. Đồng chí Hoàng Đạo Thúy đã viết về tình cảm đặc biệt của mình với chiến sĩ thông tin vô tuyến điện để chúng ta cùng nhớ lại và suy ngẫm.

“... Mạng vô tuyến điện là một mạng liên lạc vô hình nên tình cảm giữa các báo vụ viên là một tình cảm lý tưởng. Làm hàng ngày, hàng giờ với những người bạn không quen biết, bằng những bộ máy thô sơ, phải căng tai, căng óc ra mới nghe được một tiếng thoi thóp. Làm không kể giờ, không kể phiên nào. Anh chị em báo vụ đã tiêu rộng rãi cái vốn sức khỏe của mình. Khó mà hiểu được với các đồng chí; lắng nghe rồi lại gọi, gọi rồi lại lắng nghe. Thâu ngày, thâu đêm, đầu óc căng thẳng, tính khí hóa ra bẳn gắt hay lầm lì. Có khi bao nhiêu ngày một đài bạn ở phía sâu bên kia mặt trận bỗng im bặt. Mệnh hệ đồng chí ta thế nào? Nhưng lại cũng dễ thông cảm với đồng chí ở trong vòng nguy hiểm. Chỉ liên lạc với Trung ương bằng máy vô tuyến điện mà máy bị hỏng, bị phá hay bị mất, phải lăn lộn, mày mò, tìm kiếm, chắp nối thành một cái máy cổ sơ. Mà không có đồng hồ. Điều chỉnh lên một tí, xuống một tí, lắng tai, khổ tâm. Không gì khổ tâm bằng mất liên lạc. Đói chịu được. Không có vũ khí thì còn cái khác chứ không có liên lạc với trên, không nhận được chỉ thị, tin tức thì khác nào dòng máu ngừng lại, dây thần kinh cứng đờ. Đã cô đơn, lại cô đơn một cách xót xa hơn nữa. Nay máy làm được rồi nhưng bạn có còn nghe mình không? Ai oán thay tiếng gọi của đài đi tìm liên lạc. Sung sướng thay khi chắp được liên lạc. Không những chỉ vì nối lại đường dây, dù nó vô hình, không những nhận được chỉ thị, mệnh lệnh mà còn cảm thấy nỗi yêu thương của đồng chí mình.

Có những phiên ruột quặn lại... Người ngoài chỉ thấy, nghe thấy những tiếng tịch tè, tè tịch đánh đều đến lạ lùng. Nhưng đối với những người làm vô tuyến điện là những người đọc bằng tai thì những tín hiệu ấy như xoáy vào óc, vào tai. Ôi tiếng gọi của người mẹ hiền, gọi con trong cơn nguy kịch. Bẵng đi một phiên... hai phiên... gọi suốt canh giờ không thấy trả lời. Cái gì xảy ra với bà con, với đồng chí vô tuyến điện trong ấy. Đến hết phiên, đồng chí báo vụ buông thõng tay, lặng đi không nói năng gì. Mà những người xung quanh không ai dám hỏi một câu. Khoảng giữa hai phiên sao mà lâu thế. Rồi giờ đến, lại ngồi vào đài, lại gọi, gọi không mệt mỏi để rồi cuối phiên lại buông thõng tay, từ từ đứng dậy, người mà như chỉ còn cái bóng.

Nhưng đến giờ sau vẫn không chần chừ vẫn gõ vào giây thứ nhất. Không cần hỏi nhưng nhìn mặt anh ta bừng lên. Dòng máu ngừng đã lại chảy rồi. Chắc anh em trong kia gặp việc gì đây phải bỏ phiên nhiều ngày nhưng vẫn tin là ngoài này chờ đợi, nên mới qua tín hiệu thứ nhất, liên lạc đã nối lại ngay. Thật là đồng bào, thật là cùng máu mủ. Dòng máu từ tay đến tim như ngập ngừng rồi qua tiếng thét, tiếng súng vẫn cứ vọt về, vọt đi, toàn thân vẫn rung động.

Tình cảm của những người làm vô tuyến điện, của những chiến sĩ thông tin.

“Anh chị em báo vụ của chúng ta trung kiên vô cùng, ít khi phải cầm súng bắn, nhưng cứ làm việc và làm được là rất dũng cảm”.

Liên lạc Nam Bắc, người ta thường dùng máy 1000W, chí ít cũng phải 200W. Thế mà mình chỉ có máy 15W lại còn liền liền đổi chỗ. Chỉ cứ dán tai vào mà nghe, gọi bạn đã đủ vã mồ hôi. Những tín hiệu nó có đến được cũng như từ thế giới nào đến ấy. Mà anh chị em không chịu để điện đọng lại. Vì biết rằng có khi vì tin chậm mà các đồng chí mình tốn xương máu thêm. Đánh hết thì thường phải mười giờ, nhiều khi hơn không có giới hạn nào cho công việc, cũng như không có giới hạn nào cho tấm lòng của đồng chí báo vụ.

Đánh được bức điện là thở phào, ấy thế mà có khi không chỉ là một bức điện mà là cả một cuốn sách, tài liệu học tập mà đưa chuyển đạt chân thì thường mất sáu tháng.

Một lần đến thăm đài, cụ Chủ tịch hỏi anh em làm ngày mấy giờ. Anh em thưa: ít là mười giờ còn thì hết điện mới ra. Cụ thương lắm, cụ bảo: Trước kia tôi cũng có độ làm việc nghe vô tuyến điện đến bốn giờ thì mệt rồi.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Hồi ức Cưu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1")

15.10.24

Tìm hiểu về tư tưởng Hồ Chí Minh về giao thông, thông tin liên lạc

Đại tá, Tiến sĩ sử học NGUYỄN VĂN KHOAN1 (nguyên cán bộ bảo tàng Binh chủng TTLL)

Trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Bộ đội Thông tin liên lạc ngày 28 tháng 1 năm 1969, bức thư cuối cùng Người để lại cho lực lượng vũ trang ta – chính tay Người đã viết chữ “chung” sau các chữ “chiến đấu và ... công tác”. Câu hoàn chỉnh là “giữ vững thông tin liên lạc bảo đảm tốt cho chiến đấu và công tác chung”. Chỉ qua chữ “chung” ấy, Người muốn trở lại câu nói trước đó gần 30 năm:

Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mệnh vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó đảm bảo thắng lợi”.

Ảnh tư liệu.

Người không hề đề cập riêng cho liên lạc quân sự, liên lạc dân sự. Vì dù quân sự, dân sự đề là công tác cách mạng, mà việc quan trong nhất trong công tác cách mạng lại chính là thông tin liên lạc. Không nói tới Bộ Quốc phòng, Nội vụ, Ngoại giao, Hàng không, Y tế, Giáo dục và các ngành kinh tế... nếu không nhận thức rõ vị trí của công tác thông tin liên lạc, chắc sẽ gặp khó khăn, thiệt hại, thua lỗ và có thể thất bại...

Do hoàn cảnh và thực tiễn hoạt động cách mạng của bản thân mà Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Vương Bạt nhược – Thầu Chín – Hồ Chí Minh phải làm sao có được những đường dây thông tin, những mối liên lạc với Tổ quốc, với các bạn, đồng chí trong nước cũng nnhuw quốc tế. Không có những thông tin này, mối liên lạc này, có thể khawnngr định nng]ời cách mạng Việt Nam ấy không thể hoạt động được, không thể thực hiện được mục đích cuối cùng của mình là giải phóng dân tốc, không thể thực hiện được “ham muốn tột bậc” là làm sao cho đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành, hạnh phúc. Và cũng có thể đặt vấn đề là nếu không có được phương pháp tổ chức mạng lưới, chọn người để có thông tin tin cậy bằng kinh nghiệm và tri thức, thì toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chắc cũng sẽ gặp nhiều khó khăn.

Hồ Chí Minh đã suy nghĩ như thế nào về thông tin liên lạc? Không thể nhầm lẫn vị trí của Đảng, hạt nhân lãnh đạo, đầu não lãnh đạo – với thông tin liên lạc. Điều dễ hiểu là thông tin liên lạc chỉ là một phương pháp, một công cụ, một công việc của Đảng, của cách mạng, nhưng là một công việc , phương pháp, một công cụ - theo Hồ Chí Minh là quan trọng bậc nhất.

Nói như vậy có lẽ cũng chưa chặt chẽ. Vì trước khi có Đảng, đã có phong trào yêu nước, phong trào cách mạng và trong hai phong trào đó đã có thông tin liên lạc. Và nếu Hồ Chí Minh nói “hai phong trào đó cùng với việc truyền bá tư tưởng Mác – Lênin vào Việt Nam đã dẫn đến sự thành lập Đảng”, thì thực chất sự truyền bá đó là công việc thông tin liên lạc, là chuyển sách, báo, chỉ thị, nghị quyết, đưa người đi huấn luyện, mỗi cuốn sách là một sợi dây thông tin liên lạc, mỗi cán bộ là một cuốn sách tuyên truyền, thông tin liên lạc sống...

Chính vì vậy mà Hồ Chí Minh là người yêu nước, người cộng sản đầu tiên đã tự mình tổ chức ra mạng liên lạc cho Đảng ta, một mạng liên lạc hoạt động vững chắc nhất, hiệu quả nhất so với tất cả các thời kỳ, các giai đoạn của phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam hiện đại.

Người cũng đã giải thích thêm cho chúng ta hiểu tại sao lại là “quan trọng nhất” (hàng đầu), vì theo Hồ Chí Minh đó là “thân kinh, là mạch máu” của Đảng ta, của cách mạng, của mọi người, mọi ngành, mọi cơ quan. Trong cơ thể con người, cho đến nay – khoa học tiên tiến hiện đại nhất cũng chưa thể tìm hiểu cho đến tận cùng sự hoạt động của bộ não người. Đó là một tổ chức tinh vi nhất mà mọi kỹ thuật vật chất do con người sáng tạo ra chưa thể thay thế được. So sánh thông tin liên lạc với hệ thần kinh, Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở mọi cán bộ cách mạng, con người, mọi cơ quan cách mạng phải tổ chức cho khoa học, cho vững chắc mạng thông tin liên lạc, để “quyết định sự thống nhất, để chỉ huy, để phân phối lực lượng” trong cách mạng thì mới có thể giành thắng được. Tổ chức ấy phải do con người cụ thể phụ trách. Con người trong thông tin liên lạc cũng là một con người cách mạng. Nhưng vì ở trong khâu “quan trọng nhất” là thần kinh, là mạch máu nên Hồ Chí Minh đã dạy”không được để cho vi trùng thâm nhập vào mạch máu thông tin liên lạc”... Vi trùng vào chân có thể cưa chân, tuy khó khăn nhưng con người vẫn sống. Vi trùng vào não thì con người chết, hoặc sống mà như đã chết. Chọn người cho các công việc “bậc nhất” ấy mà lại chọn nhầm thì sẽ nguy hiểm biết chừng nào?

Thông tin liên lạc là việc của cách mạng mà cách mạng là của toàn dân, nên thông tin liên lạc như Hồ Chí Minh xác định là thông tin liên lạc nhân dân, đường liên lạc trong dân ấy là vững chắc nhất. “Đường dây” không phải chỉ là con đường cụ thể. Bác đã nói: “Xa đồng đạo, đạo đồng đồ”, con đường ở đây còn có nghĩa là “lòng dân, sự giúp đỡ, sự tin cậy, niềm tin tưởng của dân vào cách mạng, vào những người làm thông tin liên lạc của cách mạng”... Có một lần, một đồng chí cán bộ của tỉnh Bình Trị Thiên báo cáo với Bác rằng khi ra Bắc phải đi đường núi vất vả, mà hay bị địch phục kích, Bác đã trách nhẹ: “Sao chú không đi xuống đồng bằng, đi vào dân. Đường đi trong dân là đường đi vững chắc nhất”.

Ngày 9 tháng 10 năm 1947, trong “Những điều cần chú ý cho cán bộ chỉ huy cao cấp của quân đội”, Bác Hồ đã nói: “Phải có liên lạc, phải có báo cáo. Ban nhạc hàng chục người đều theo sự điều khiển của người cầm nhịp. Nếu đoàn thể trên dưới, không liên lạc, báo cáo thì cũng như người bán thân bất toại, đầu óc, chân tay không liên lạc được với nhau”2.

Chiến tranh, dù hiện đại đến đâu, khốc liệt đến đâu, quyết định cuối cùng là con người. Cho dù thế giới có máy móc, thiết bị, thông tin số, có xa lộ thông tin... thì vẫn không thể không coi trọng con người, con người thông tin liên lạc trong cách mạng, trong quân đội, trong sử dụng khai thác khí tài, trong tư cách cuối cùng là một phương tiện thông tin liên lạc sống.

Hơn nửa thế kỷ qua, kể từ khi quyền lãnh đạo cách mạng theo quy luật đã chuyển giao sứ mạng lịch sử vào tay giai cấp công nhân Việt Nam, công tác giao thông liên lạc đã góp phần quan trọng quyết định trong sự nghiệp cách mạng. Đồng chí Trường Chinh đã nói: “Trong những năm phong trào bị đàn áp khốc liệt, chính nhờ các cơ sở giao thông, mà Đảng đã tồn tại để phát triển”. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, ở rất nhiều Hội nghị cấp ủy từ khi còn bí mật, lúc công khai, Đảng ta đã đề ra những chỉ thị về giao thông, thông tin liên lạc, nêu rõ những ưu điểm của công tác này, hướng dẫn cách tổ chức các mạng liên lạc, cách chọn người, cách dạy xử trí cho mỗi giao thông viên khi gặp địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu "giao thông phải do Bí thư Đảng hoặc Phó Bí thư Đảng phụ trách”. Người không nói bí thư cấp nào nhưng ý muốn nhấn mạnh bí thư của mọi cấp, kể từ bí thư cao nhất.

50 năm qua, kể từ khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời, quân đội ta đã viết nên những trang sử vẻ vang trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, bảo vệ biên giới, hải đảo của Tổ quốc, giữ vững an ninh quốc gia. Trong thành tích đó, không thể không đặt thành tích lên hàng đầu hoặc ít ra cũng là quan trọng nhất của lực lượng giao thông, thông tin liên lạc.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chiến dịch cuối cùng kết thúc sự nghiệp giải phóng dân tộc 30 năm, Bộ Chính trị Trung ương Đảng, với mệnh lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã yêu cầu “thần tốc”, “thần tốc hơn nữa”. Về thần tốc, Napôlêông đã nói “Hãy đi, hãy chạy và chớ quên rằng sáng tạo nên thế giới chỉ có 6 ngày”. Còn Xuvôrốp, danh tướng của nước Nga lại kết luận rằng: “Một phút quyết định thắng lợi một trận đánh, một giờ quyết định thắng lợi chiến cục, một ngày quyết định vận mệnh một quốc gia...”.

Trong cuốn sách “Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh” do Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Bộ Quốc phòng biên soạn được xuất bản đã dẫn một câu nói của Bác nhắc lại ý của Nensơn3: "Trong chiến tranh giờ phút có quan hệ lắm. Chỉ sai nhau 5 phút, có thể định được thắng, bại”.

Bộ đội Thông tin liên lạc trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, ở trận này, chiến dịch kia có thể chậm vài giây, vài phút, làm cho người chỉ huy bị động khó khăn, làm cho thành tích chiến đấu bị ảnh hưởng, bị hạn chế. Nhưng nhìn toàn bộ quá trình, Bộ đội Thông tin dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Quân ủy Trung ương đã không chậm “không sai nhau 5 phút” - như lời Bác nói, nên đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của toàn quân, toàn dân.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”)

1 Đ/c Nguyễn Văn Khoan hiện là hội viên Chi hội Truyền thống Phòng KHQS – Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội.

2 Tư liệu lưu trữ Bộ Quốc phòng.

3 Nensơn: (Honatip, Quận công) là Đô đốc Hải quân Anh (1758-1805), đã đánh thắng Hải quân Pháp trong các trận ở Abukia và Traphangar. 

14.10.24

Binh chủng Thông tin liên lạc sáp nhập cơ quan hậu cần và kỹ thuật

Ngày 14-10, Binh chủng Thông tin liên lạc tổ chức Hội nghị công bố quyết định của Bộ Quốc phòng sáp nhập và tổ chức lại Cục Hậu cần và Cục Kỹ thuật thành Cục Hậu cần-Kỹ thuật thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc.

Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng, Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc dự, phát biểu chỉ đạo hội nghị. Dự hội nghị còn có Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị, Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc.

Đại biểu dự hội nghị.

Những năm qua, hai cơ quan hậu cần và kỹ thuật luôn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; chủ động, sáng tạo tham mưu đề xuất với Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc nhiều chủ trương, giải pháp mang tính đột phá trong công tác hậu cần, kỹ thuật, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi "Chiến lược phát triển hệ thống thông tin liên lạc quân sự giai đoạn 2011-2020" và giai đoạn 1; giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng lực lượng thông tin liên lạc quân sự hiện đại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng, Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc phát biểu chỉ đạo hội nghị.

Trao quyết định đối với Cục Hậu cần-Kỹ thuật.

Hội nghị đã nghe công bố Quyết định số 4362/QĐ-BQP ngày 23-9-2024 của Bộ Quốc phòng về việc sáp nhập và tổ chức lại Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật thành Cục Hậu cần-Kỹ thuật thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc; Quyết định số 2591/QĐ-TM ngày 24-9-2024 của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam về ban hành biểu tổ chức, biên chế cơ quan Cục Hậu cần-Kỹ thuật thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc.

Phát biểu tại hội nghị, Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng cho biết: Binh chủng Thông tin liên lạc đã xây dựng, đề xuất Bộ Quốc phòng ban hành biểu tổ chức biên chế cơ quan hậu cần-kỹ thuật của các lữ đoàn, nhà trường và Cục Hậu cần-Kỹ thuật Binh chủng. Tháng 12-2023, Binh chủng đã triển khai thực hiện tại 5 lữ đoàn, 2 nhà trường.

Sau gần một năm đi vào hoạt động, cơ quan hậu cần-kỹ thuật các đơn vị trực thuộc Binh chủng đã ổn định, hoạt động hiệu quả, đúng chức năng nhiệm vụ và luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ.

Khẳng định việc sáp nhập cơ quan hậu cần và kỹ thuật là chủ trương đúng đắn, đánh dấu sự trưởng thành, phát triển của Binh chủng Thông tin liên lạc, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại, Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng yêu cầu cấp ủy, chỉ huy, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Cục Hậu cần -Kỹ thuật nhanh chóng ổn định tổ chức, biên chế; xây dựng, ban hành các quy chế, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của Cục Hậu cần-Kỹ thuật; phân công, giao nhiệm vụ cụ thể, bảo đảm sự kế thừa và phát triển vững chắc.

Quang cảnh hội nghị.

Kiện toàn tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân hoạt động đúng chức năng, hiệu quả; xây dựng cơ quan và Đảng bộ Cục Hậu cần-Kỹ thuật đoàn kết, trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất chính trị kiên định vững vàng; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tham mưu đề xuất với Thường vụ Đảng ủy, Thủ trưởng Binh chủng giải quyết tốt công tác chính sách, hậu phương quân đội, nhất là số cán bộ, nhân viên nghỉ hưu, nghỉ chờ hưu, cán bộ, nhân viên được điều động, sắp xếp phân công ở vị trí mới, bảo đảm ổn định vững chắc về tư tưởng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Tin, ảnh: Lê Hiếu

Đăng bởi: Quang Hưng (nguồn báo QĐND) 

9.9.24

Chi hội Truyền thống Thông tin Tranh Trì gặp mặt kỷ niệm 79 năm Ngày Truyền thống Bộ đội TTLL

Hòa chung không khí tưng bừng, phấn khởi của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân kỷ niệm 79 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2024) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2024), ngày 06/9/2024 Ban liên lạc Chi hội Truyền thống Thông tin Thanh Trì tổ chức gặp mặt truyền thống toàn thể hội viên thân mật và tình nghĩa kỷ niệm 79 năm Ngày Truyền thống của Bộ đội Thông tin Anh hùng (09/9/1945 – 09/9/2024).

Đồng chí Đại tá Nguyễn Đăng Đằng - Trưởng ban liên lạc chủ trì buổi gặp mặt.

Về dự buổi gặp mặt có trên 50 hội viên Chi hội, đồng chí Đại tá Nguyễn Đăng Đằng - Chi hội trưởng đã trình bày báo cáo trung tâm về các hoạt động của Chi hội năm 2024, thông báo một số nét lớn về tình hình Binh chủng, phổ biến kết quả thực hiện nhiệm vụ và phương hướng năm 2025 của Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội.

Các hội viên rất phấn khởi được biết tổ chức Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội ngày càng phát triển lớn mạnh, hoạt động trên nhiều lĩnh vực có hiệu quả, đặc biệt là công tác chính sách và tình nghĩa. Riêng Chi hội Thanh Trì ngày càng có nhiều hội viên tình nguyện tham gia vào Chi hội và là một trong những chi hội hoạt động có nề nếp, chu đáo và tĩnh nghĩa trong Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội. Theo đó, năm 2024 Chi hội Thanh Trì đã tổ chức mừng thọ cho 7 đ/c (85 tuổi: 01 đ/c, 70 tuổi: 06 đ/c); chúc Tết nguyên đán Ất Tỵ 2025 cho 01 đ/c (đ/c Võ Phát, 1932); cũng trong năm 2024, Chi hội đã thăm hội viên ốm, đi viện 9 đ/c; viếng thân nhân hội viên từ  trần 02 đ/c.

Buổi gặp mặt còn trang trọng tổ chức lễ trao bằng và quà mừng thọ của Binh chủng và Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội cho 07 hội viên trong Chi hội.

Hiện nay, Chi hội đang tích cực triển khai các nội dung công tác của Thường trực Ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội và của Chi hội, tích cực chào đón những ngày kỉ niệm lớn, trọng đại của Đảng, đất nước và Binh chủng năm 2025.

Một số hình ảnh gặp mặt của Chi hội Thanh Trì:

Văn nghệ chào mừng của Chi hội Phụ nữ tập thể Thông tin d8.
Trao quà và bằng mừng thọ cho các hội viên năm 2024.
Ban liên lạc chụp ảnh lưu niệm với các đại biểu nữ.
Các hội viên chụp ảnh lưu niệm.
Tin, ảnh: Nguyễn Đăng Đằng

8.9.24

Binh chủng Thông tin liên lạc bảo đảm kịp thời, thông suốt thông tin liên lạc ứng phó với bão số 3

Những ngày qua, bão số 3 diễn biến phức tạp, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Binh chủng Thông tin liên lạc tích cực chỉ đạo các cơ quan, Lữ đoàn 134, Lữ đoàn 205, lực lượng Thông tin Quân khu 3 triển khai bảo đảm tốt thông tin liên lạc, truyền hình phục vụ Ban chỉ đạo Quốc gia về phòng, chống thiên tai, lãnh đạo Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam, lãnh đạo các tỉnh, thành phố chỉ đạo phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố bị ảnh hưởng.

Phó thủ tướng Trần Hồng Hà chủ trì họp tại Sở chỉ huy tiền phương chỉ đạo công tác phòng, chống bão số 3 ngày 7-9.

Ngay sau khi nhận lệnh, chỉ trong thời gian ngắn, Binh chủng đã chỉ đạo các cơ quan, Lữ đoàn 134, Thông tin Quân khu 3 hoàn thành triển khai Tổng trạm thông tin Sở chỉ huy tiền phương chỉ đạo công tác phòng, chống bão số 3 của Ban chỉ đạo Quốc gia về phòng, chống thiên tai vào lúc 11 giờ 10 phút, bảo đảm cho Ban chỉ đạo điều hành các tỉnh, thành phố ứng phó với bão, kết nối liên lạc gồm đầy đủ các thành phần vô tuyến điện, hữu tuyến điện, Radio Trunking, truyền hình tới các tỉnh, thành phố chịu ảnh hưởng của bão Yagi.

Đồng thời, chỉ đạo Lữ đoàn 205 triển khai, bảo đảm kết nối truyền hình từ Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng tới Sở chỉ huy tiền phương chỉ đạo công tác phòng, chống bão số 3, triển khai các xe Thông tin cơ động sẵn sàng phục vụ đoàn công tác của Chính phủ, Bộ Quốc phòng chỉ đạo công tác ứng phó với các tình huống của cơn bão số 3 tại thực địa.

Bảo đảm thông tin liên lạc, truyền hình  từ Sở chỉ huy tiền phương và các địa phương về Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng.

Với tinh thần chủ động, tích cực, không quản ngại gian khổ, hiểm nguy, Bộ đội Thông tin liên lạc, trực tiếp là Lữ đoàn 134, Lữ đoàn 205, Thông tin Quân khu 3 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn Quân khu 3.



Lực lượng thông tin cơ động của Lữ đoàn 205 khắc phục khó khăn triển khai bảo đảm TTLL trong điều kiện mưa bão.

Sáng 8-9, Binh chủng Thông tin liên lạc đã chỉ đạo thành lập 16 tổ bảo đảm kỹ thuật cơ động để khắc phục sự cố trên toàn tuyến, quyết tâm giữ vững thông tin liên lạc phục vụ Ban chỉ đạo Quốc gia về phòng, chống thiên tai, Bộ Quốc phòng chỉ đạo khắc phục hậu quả bão số 3, sẵn sàng với các tình huống hoàn lưu bão gây mưa lũ tại các tỉnh miền núi phía Bắc.

Tin, ảnh: Nam Anh

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn báo QĐND)