28.10.24

Anh phải sống (một chuyến liên lạc đặc biệt)

Đồng chí Lê Bá Hồi (kể), Nguyễn Thị Mão (ghi)

Năm 1949 tôi được lệnh lên Bộ Tổng Tham mưu nhận công tác. Tôi được giao nhiệm vụ phải đưa một sĩ quan (người Nhật) về Liên khu 3, trao tận tay Tư lệnh trưởng Văn Tiến Dũng vì Mặt trận Liên khu 3 lấy được một số pháo của địch mà chưa biết sử dụng.

Người Nhật này là quan ba pháo binh của quân đội Thiên Hoàng trốn sang hàng ngũ quân ta (ngày phải giải giáp đi theo quân Đồng minh về nước). Anh ta dáng người to mập, nét mặt lầm lỳ, chậm chạp, ít nói.

Lệnh của đồng chí Hoàng Văn Thái: "Cậu phải bằng mọi giá để bảo vệ, đưa anh ấy an toàn về Khu 3, trao tận tay đồng chí Tư lệnh trưởng".

Tôi hứa... "sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, dù phải hy sinh". Xuất phát từ Việt Bắc, có tôi và một liên lạc viên, đưa anh người Nhật đi. Cuộc hành trình êm ả, đã đến địa giới Khu 3, nơi hoạt động của quân Pháp, đến sông Kinh Thầy, quãng đó gọi là "Quế Lãnh" cách bốt Đông Triều hơn cây số. Phải vượt sông ban đêm, không được dùng đò, để giữ bí mật.

Tôi hỏi: Anh có biết bơi không? Anh người Nhật gật đầu... Tôi bàn với anh cùng đi, ở đây có cói tươi của đồng bào trồng, ta nhổ một ít làm cái phao để anh Nhật bám vào cho đỡ mệt, và chúng ta đẩy đi, là chắc ăn; ý kiến đó được thực hiện.

Không ngờ ra đến giữa sông bó cói vỡ tung, trôi tan tác, anh Nhật thì chìm nghỉm (té ra anh ấy không biết bơi). Tôi vội lặn xuống túm được anh, dùng đầu nâng đẩy anh lên mặt nước, lúc đó anh ho sặc sụa, tôi sợ địch gần đó phát hiện thì nguy, nên dùng bàn tay bịt chặt miệng anh, rồi nâng đầu anh lên khỏi mặt nước đẩy anh tiến vào bờ.

Tôi đã cảm thấy anh quá nặng, mà cách bờ còn xa, người mệt rã rời, chợt nhớ tới lời đồng chí Tổng Tham mưu trưởng dặn dò, như nhắc nhở tôi "phải cứu cho được anh Nhật, anh phải sống" tự nhiên trong tôi như được tiếp thêm sức mạnh, và tôi đã vật lộn với sóng nước không biết bao lâu. Đột nhiên, một cảm giác vui mừng như người sắp chết đuối được cứu hộ, đó là chân tôi đã chạm đất; niềm vui đó tiếp thêm sức mạnh, tôi vác anh lên vai, vịn cỏ cây, trèo lên bờ, đặt anh xuống đất, anh nằm im như đã chết. Tôi gọi cậu cùng đi, anh ta cũng nằm gần đó, nói tiếng đứt quãng... em mệt quá không dậy được...

Nỗi lo sợ anh người Nhật chết, tôi vội cầm chân, vác ngược anh lên vai, chạy vòng quanh, may quá nước trong mồm anh ộc ra rất nhiều, tôi đặt anh nằm trên thảm cỏ, làm động tác hô hấp, xoa ngực, cử động chân tay cho anh.

Một lúc sau, anh thở mạnh, và trong ánh sao đêm, đôi mắt anh đã mở to, tôi sung sướng quá, như muốn reo lên. Lúc đó đồng chí cùng đi đã ngồi dậy được, hỏi tôi "đã tỉnh chưa anh", tôi đáp khẽ: anh ấy tỉnh rồi, cậu lại đây.

Hai chúng tôi cùng xoa bóp liên tục cho anh, tự nhiên tôi tâm sự: Ngày còn bé mình đã mê bơi lội, làng mình có cái hồ tên là "hồ dài" rộng và dài lắm, cứ mỗi ngày đi học về là mình chỉ bơi ở đó, không chơi gì khác, có hôm bơi liền hàng tiếng dưới hồ, quên cả ăn cơm. Trong đám trẻ làng, nếu thi bơi lặn bao giờ mình cũng nhất, cũng nhờ bơi lội mà mình rất khỏe, chẳng ốm đau gì.

Anh bạn đồng tình, nói thực vậy, em thấy anh quá khỏe, nếu đêm nay không có anh, có lẽ anh người Nhật đã trôi tận đâu rồi.

Mải nói chuyện, anh người Nhật đã ngồi dậy được, anh cầm tay tôi vẻ biết ơn và trìu mến. Tôi mừng quá, xoa thêm dầu gió cho anh, hỏi anh đỡ mệt chưa? Anh mỉm cười gật đầu.

Chúng tôi thầm thì trò chuyện, bên bờ sông Kinh Thầy trong đêm vắng vẻ. Gió dưới sông phả lên mát rượi, như tiếp thêm nguồn sinh lực cho chúng tôi chuẩn bị lên đường. Tôi nhẩm tính, từ đây đến vùng tự do của Khu 3 khoảng hơn chục cây số, đường đi qua đất của 4 huyện Chí Linh, Kinh Môn, Thạch Thành, Thanh Hà, có ba trạm gác, ba bến đò, toàn người của ta, nằm trong xã (ngày làm tề ngụy, đêm làm Việt Minh), thành phần già có, trẻ có, thanh niên, phụ nữ có, những người này được ủy ban các xã cử ra để giúp đỡ quân dân, cán bộ đi về (đường dây này do tôi tổ chức và phụ trách).

Tôi quyết định lên đường, hai người chúng tôi xốc nách anh bạn Nhật đứng lên và dìu đi chầm chậm, anh cũng tỏ ra cố gắng bước theo chúng tôi.

Đến trạm giao liên đầu tiên, tôi làm ám hiệu, rồi ngồi chờ, một lúc sau thấy người vác vó tiến về phía chúng tôi cũng bật lửa hút thuốc. Nhận ra người của mình, chúng tôi theo cụ vào nhà, ăn uống, nghỉ ngơi cho lại sức rồi đi tiếp. Cứ thế, theo đường dây, chúng tôi đã đến Bộ Tư lệnh Liên khu 3. Đồng chí Tư lệnh trưởng Văn Tiến Dũng tiếp nhận, khen ngợi, cảm ơn chúng tôi.

Cầm giấy tiếp nhận, tạm biệt Quân khu và anh bạn người Nhật, chúng tôi quay về Việt Bắc, báo cáo đồng chí Hoàng Văn Thái: Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”) 

27.10.24

Trinh sát kỹ thuật trong Chiến dịch Biên giới

Đại tá Phạm Duy Tín - nguyên Phó Tham mưu trưởng Binh chủng Thông tin

Tôi làm công tác thu tin trinh sát kỹ thuật của Cục Tình báo và Cục Quân báo Bộ Tổng Tham mưu từ tháng 1 năm 1949. Tôi đã phục vụ những chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp: Chiến dịch Biên giới (Lê Hồng Phong II), Chiến dịch Trung du (Trần Hưng Đạo), Chiến dịch Đường 18 (Hoàng Hoa Thám), Chiến dịch Hà Nam Ninh (Quang Trung). Chiến dịch Biên giới (Lê Hồng Phong II) là chiến dịch lớn đầu tiên của quân dân ta do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh chiến dịch, Bác Hồ cũng ra trận động viên quân dân chiến đấu. Bộ phận thu tin trinh sát kỹ thuật của chúng tôi đã phục vụ đắc lực cho công tác chỉ huy chiến dịch và để lại trong tôi những kỷ niệm không thể nào quên.

Đầu năm 1949 tôi được chuyển từ đài vô tuyến điện Bộ Quốc phòng về Cục Tình báo làm công tác thu tin trinh sát kỹ thuật. Bộ phận thu tin do đồng chí Trần Hoàng phụ trách, trực thuộc Văn phòng Cục. Cuối năm 1949, phần lớn bộ phận này chuyển về trực thuộc Phòng Quân báo sau này là Cục Quân báo - Bộ Tổng Tham mưu. Toàn đài thu tin lúc ấy có vài máy thu do các xưởng vô tuyến điện (xưởng CRL) của ta lắp theo kiểu siêu phản ứng chỉ để thu tín hiệu "moóc". Vỏ máy và bệ máy bằng tôn gò lại. Đèn vô tuyến điện là các loại đèn máy thu thanh dân dụng vỏ sắt, đấu tắt các cực lưới thành đèn 3 cực. Điện áp sợi đốt 6V dùng ắc quy. Điện áp cực phiến dùng các bộ ắc quy sắt - kền dung lượng nhỏ mắc nối tiếp thành điện áp 45V hoặc 90V. Đài có một máy nổ chạy xăng hiệu Bernard W-O kéo máy phát điện để nạp điện. Sau này đài mới có các máy thu dùng đèn "chân tăm" điện áp sợi đốt 1,5V dùng pin.

Máy móc thô sơ như vậy nên tín hiệu rất nhỏ, hay bị nhiễu và không ổn định. Thu tín hiệu của một đài hôm nay ở độ sóng này, ngày mai vị trí vạch độ số lại thay đổi. Tay nắm vào núm điều chỉnh thì có tín hiệu, bỏ tay ra là mất tín hiệu; có lúc phải ngồi im ở một tư thế không được động đậy để thu điện. Chiến sĩ trinh sát chúng tôi phải làm chủ được những "cố tật" ấy của máy. Sau một ca làm việc chúng tôi thấm mệt vì phải liên tục chuyển đổi tần số, tìm đúng các đối tượng cần lấy tin một cách nhanh chóng. Phải tập trung cao độ để xử lý tín hiệu thu của các đối tượng đang làm việc trên sóng. Thu tin liên tục và điều quan trọng là phải thu điện được hoàn chỉnh không thiếu sót. Sau một phiên làm việc, các ngón tay của chúng tôi mỏi rã rời vì phải viết bằng bút chì ấn nét qua giấy than (carbon) thành ba bản để gửi cho các phòng ban cùng một lúc.

Tôi còn nhớ đài vô tuyến điện của quân Pháp mà tôi thu đầu tiên là đài vô tuyến điện của đồn Na Sầm trên quốc lộ số 4, có hiệu gọi 2BO. Tôi thu tốt, mặc dù với cách làm việc khác biệt của nhân viên vô tuyến điện đài địch. Nghe thế nào tôi ghi lại như thế ấy, đầy đủ các nội dung liên lạc, nội dung đàm thoại, đúng giãn cách các nhóm chữ cả từ các dấu gạch chéo, dấu phân dòng, dấu chấm hết. Tôi được chính thức phân công nhận phiên ban sau lần thử thách ấy.

Khoảng tháng 7 năm 1950, chúng tôi được lệnh tập trung theo dõi mạng lưới thông tin vô tuyến điện "vùng biên thùy" - Zone Frontière (ZF) - theo dọc đường số 4, và sau đó chuẩn bị đi chiến dịch. Chúng tôi được phổ biến không phải mang máy thu, lên biên giới sẽ có máy chi viện. Nghe tin có máy mới chúng tôi rất phấn khởi, nhưng vẫn chủ động mang theo hai máy thu tốt và bộ ắc quy đã nạp đầy. Chúng tôi không mang theo máy nạp điện, nghĩ rằng nếu có máy mới tất nhiên có đủ bộ nguồn cấp điện. Chúng tôi hành quân đêm theo quốc lộ số 3 qua Chợ Mới, Bắc Cạn đến Nà Phạc rẽ sang đường số 3B qua đèo Le, Nguyên Bình, Tà Sa... Chúng tôi được lệnh dừng chân ở Quảng Uyên, một vùng nhiều núi đá nhỏ lô nhô như vịnh Hạ Long trên cạn, ở một xã gần đường cái. Mở máy làm việc, máy vẫn chạy tốt nhưng toàn bộ mạng lưới vô tuyến điện của địch ở vùng biên thùy đã thay đổi tần số. Thêm một tin không vui: Không có máy chi viện của Ban 3, chiến dịch chỉ tăng cường máy được chi viện cho mạng lưới thông tin vô tuyến điện của chiến dịch (máy Pilot và MP15). Trinh sát kỹ thuật ở vào tình huống khó khăn: Phải nhanh chóng tìm lại hệ thống thông tin vô tuyến điện của địch vùng biên thùy và tìm nguồn nạp ắc quy.

Chúng tôi chỉ có một máy thu làm việc. Tôi và anh Mậu là những người làm việc có nhiều kinh nghiệm nhất được giao nhiệm vụ tìm lại hệ thống vô tuyến điện của địch. Đồng chí Kỳ, phụ trách đài, lo việc chung và lo tìm nguồn ắc quy. Đài thu tin trinh sát kỹ thuật được anh Cao Pha, Trưởng ban 2 chiến dịch tích cực chi viện. Anh được anh Đặng Văn Việt - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 cho một máy nổ phát điện, loại động cơ hiệu Frazar và thợ máy. Ít lâu sau thì được thay bằng máy Bernard W.1. Phần nguồn điện giải quyết được thì chúng tôi cũng tìm lại được hệ thống liên lạc vô tuyến điện các đồn biên thùy, cả hệ thống liên lạc của Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Bộ với vùng biên thùy và hệ thống chi viện hàng không. Trong quá trình dò tìm, chúng tôi đã thu được một số tin tức về cuộc hành binh của địch lên Phú Thọ (hành binh Chrysalide) nhưng không đủ người và máy theo dõi những đài này vì đây là hướng nghi binh, và nhiệm vụ chính là phải tìm lại được hệ thống liên lạc vùng biên thùy. Chúng tôi đã phát hiện và nhận được tin quan trọng báo cáo lên Sở chỉ huy: "Pháp tập trung quân ở Lạng Sơn".

Đầu tháng 9 chúng tôi hành quân từ Quảng Uyên đi Nà Lạn qua Phục Hòa. Nà Lạn, Sở chỉ huy của chiến dịch là một bản vùng núi đá gần biên giới Việt - Trung, cách Đông Khê chừng 10 km đường chim bay. Chúng tôi ở một khu núi đá, gần bộ phận tổng hợp của ban 2 chiến dịch do đồng chí Trần Bách phụ trách. Chúng tôi tìm được một cái hang có mái đá chìa ra phía trước làm nơi đặt máy để có ánh sáng làm việc và mắc ăngten thu được thuận lợi. Chiến dịch sắp bắt đầu, chúng tôi không biết giờ nổ súng, chỉ được lệnh theo sát đài Đông Khê (có tên Ojm).

6 giờ ngày 16 tháng 9 chúng tôi thu được từ đài Đông Khê: "Ici attaqué" (ở đây bị tấn công) và mất tín hiệu, chỉ còn tiếng rào, nhiễu trong tai nghe. Không còn Đông Khê, chúng tôi tập trung vào Thất Khê, Cao Bằng, chỉ huy vùng biên thùy và đài chi viện hàng không.

Sáng ngày 17 tháng 9, đài Đông Khê vẫn im tiếng. Tôi đang tập trung tìm tín hiệu thì đồng chí Cao Pha - Trưởng Ban 2 chiến dịch dẫn Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào đài. Tôi chỉ biết đứng dậy chào Đại tướng, tai vẫn đeo ống nghe. Đồng chí ra lệnh cho tôi ngồi xuống làm việc rồi cầm xem tập điện trên bàn, vừa nhìn quanh nơi làm việc.

Một bàn để máy, mấy cành cây làm ghế ngồi đặt trên các chạc cây chôn xuống đất. Tôi lúng túng quá, không có gì có thể làm ghế mời Đại tướng ngồi. Trước khi ra về, đồng chí dặn: "Ta sắp tổng công kích, chú ý theo dõi!". Chiếm Đông Khê ta bắt được tên báo vụ vô tuyến điện. Hắn khai: ngay từ những loạt pháo đầu tiên của ta, đài vô tuyến điện của hắn đã bị trúng đạn, cột ăngten bị phá hủy.

Chúng tôi thu được trên hệ thống chi viện hàng không tọa độ chúng oanh tạc (Bombing et Straffing), chính là khu vực đóng quân của Sở chỉ huy chiến dịch Nà Lạn. Tin được nhanh chóng báo cáo lên Sở chỉ huy. Chúng tôi được lệnh triệt để sơ tán và sẵn sàng đối phó. Mọi người lo lắng chờ đợi. Xế chiều, có tiếng động cơ máy bay và hai chiếc Hencát xuất hiện. Chúng lượn một vòng rộng và bổ nhào bắn mấy loạt súng máy trên đường cái gần khu đài chúng tôi rồi cút thẳng. Có tin "con ngựa của đồng chí Tổng Tham mưu trưởng bị trúng đạn chết". Sở chỉ huy tăng cường công tác bảo mật khu vực đóng quân.

Chúng tôi bám sát tìm mọi dấu hiệu địch điều động lực lượng chiếm lại Đông Khê. Chúng tôi phát hiện một đài mới xuất hiện, tên 1RB, liên lạc với Lạng Sơn, Thất Khê. Với các báo cáo liên tiếp của trinh sát kỹ thuật về các nội dung liên lạc của 1RB, Ban 2 chiến dịch đã báo cáo lên Sở chỉ huy: Binh đoàn Bay-a (Bayard) do Lơ-pa-giơ chỉ huy có nhiệm vụ thực thi kế hoạch Tê-re-do (Therèse) tiến đánh từ Lạng Sơn đã gần đến Thất Khê. Binh đoàn này đã bị quân ta chặn đánh và bị bao vây ở Cốc Xá. Sác-tông rút khỏi Cao Bằng. Lơ-pa-giơ và Sác-tông (Charton) hẹn gặp nhau ở cao điểm 477. Trinh sát kỹ thuật thu được điện của Lơ-pa-giơ gửi cho Sác-tông: "Chờ tôi ở 477 và 533". Binh đoàn Sác-tông đã bị chặn đánh ở tây bắc cao điểm 477 và quân ta tiến công Lơ-pa-giơ ở Cốc Xá. Hai binh đoàn Lơ-pa-giơ và Sác-tông bị hoàn toàn tan rã. Sác tông và bộ phận tham mưu bị bắt hôm trước thì hôm sau ta bắt Lơ-pa-giơ.

Trong quá trình chiến đấu, bộ phận trinh sát kỹ thuật chúng tôi bám sát từng giây từng phút các đài địch. Mọi nội dung chúng phát đi đều không qua được đôi tại trinh sát kỹ thuật. Chúng tôi báo cáo Sở chỉ huy sự xuất hiện một đài với tên 1RT. Đây là cánh quân do Đờ-la Bôm chỉ huy lên hỗ trợ cho Lơ-pa-giơ và Sác-tông. Hai binh đoàn bị tiêu diệt, Đờ-la Bôm phải quay về Thất Khê. Chúng tôi theo dõi và báo cáo Sở chỉ huy, địch rút khỏi Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng và Lạng Sơn. Tiếp sau chúng rút Lộc Bình, Đình Lập, An Châu. Toàn bộ vùng biên thùy của quân Pháp bị sụp đổ hoàn toàn.

Bộ phận trinh sát kỹ thuật phục vụ chiến dịch chỉ vẻn vẹn gần một tiểu đội, người làm được việc rất mỏng, có tôi và anh Mậu, hai người thay nhau làm việc. Đồng chí Kỳ phụ trách đài đã vào làm việc trong Sở chỉ huy. Anh Mậu sức khỏe yếu, tôi khỏe hơn nên bám máy nhiều hơn. Trong thời gian từ khi xuất hiện binh đoàn Lơ-pa-giơ đến khi ta tiêu diệt được cả hai binh đoàn, ngày nào tôi cũng làm việc từ 14 đến 18 giờ một ngày (chừng gần 15 ngày). Rời máy thu là ngủ, nằm ngay cạnh máy nổ đang chạy mà ngủ ngon lành.

Kết thúc chiến dịch, chúng tôi hành quân về tập kết ở khu vực xưởng quân giới Lê Tổ ở Lam Sơn, Nước Hai huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Từ Nà Lạn, chúng tôi hành quân theo đường số 4 qua thị xã Cao Bằng. Nhìn hệ thống đồn bốt, lô cốt phòng ngự ngoài và trong thị xã Cao Bằng dày đặc, tôi càng thấy sự sáng suốt của Bộ chỉ huy mặt trận khi quyết định trận mở màn chiến dịch là đánh chiếm cứ điểm Đông Khê. Đêm đó ở thị xã Cao Bằng có tổ chức lễ mừng chiến thắng, tập họp đông đảo nhân dân và bộ đội, chúng tôi dự định ở lại Cao Bằng dự lễ mừng chiến thắng. Chúng tôi ra khỏi thị xã khoảng 1 km thì nghỉ lại, chờ trời tối mới vào thị xã. Cơm chiều xong, chúng tôi kéo nhau vào thị xã. Gần đến nơi thì có tiếng máy bay. Ban đầu là hai tốp máy bay, mỗi tốp 4 chiếc lần lượt bổ nhào ném bom vào thị xã. Tiếng bom nổ lẫn tiếng súng bắn máy bay của ta nổ rầm trời. Tiếp sau là từng đợt, từng đợt máy bay đến ném bom. Khói bụi từ trong thị xã bay lên mù mịt. Cuộc chiến kéo dài 30 phút. Dứt tiếng máy bay thì trong thị xã vang lên bài ca "Chiến sĩ Việt Nam": "Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường... quân xung phong...". Tiếng hát vang lên, hùng tráng mạnh mẽ biểu thị tư thế hiên ngang, anh dũng tự hào của người chiến thắng. Tiếng hát vang lên, xua tan mọi sự lo lắng về những tổn thất sau đợt oanh tạc. Tôi thật biết ơn đơn vị nào đã cất tiếng hát hào hùng đó.

Làm công tác tổng kết chiến dịch ở Nước Hai, chúng tôi may mắn được gặp Bác Hồ nhân một buổi chiếu phim trong hội trường của Công binh xưởng Lê Tổ. Bác mạnh khỏe, vui vẻ với chiến thắng lớn của quân dân ta trong chiến dịch vừa qua. Hành quân từ Nước Hai về An toàn khu Thái Nguyên chúng tôi có nhiều dân công xung phong phục vụ khiêng, gánh máy. Người dân Nước Hai mong về Thái Nguyên để mua muối. Đi dân công được cấp gạo ăn khi đi đường, không phải mang gạo của nhà mà lại mang được muối về.

Về An toàn khu chúng tôi lại gấp rút chuẩn bị cho chiến dịch tiếp sau: Chiến dịch Trần Hưng Đạo – Chiến dịch Trung Du...

Tháng 10-2006

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”) 

26.10.24

Bảo vệ tài liệu thoát khỏi tay giặc

Bùi Tiến Đông - nguyên chiến sĩ liên lạc đặc biệt

Một số anh em hỏi tôi: khi bị địch bắt, làm thế nào giấu được công văn, trốn được về đơn vị (lúc này tôi mới 17 tuổi).

Tôi ở liên lạc đặc biệt chỉ vẻn vẹn có 19 tháng (12-1946 đến 7-1948), so với cuộc đời 45 năm quân ngũ của tôi thực là ngắn ngủi, nhưng những ngày tháng ấy đã để lại nhiều kỷ niệm tươi đẹp nhất trong tôi.

Tôi muốn ghi lại những dòng tâm sự này nhằm ôn lại những ngày sơ khai nhưng rất đỗi tự hào của Ban liên lạc đặc biệt - Bộ Tổng chỉ huy mà thành viên của nó lúc ấy phần đông ở độ tuổi thiếu niên. Mặt khác cũng là để trả lời điều thắc mắc của anh em.

Sau khi Pháp gây chiến ở Hải Phòng (11-1946), toàn dân ta sống trong không khí sục sôi, khẩn trương chuẩn bị vào cuộc kháng chiến. Là đội viên thiếu niên Tiền phong, tôi mong muốn được tham gia công tác. Tôi tìm anh Hứa Phong ở Đoàn thanh niên Cứu quốc Hà Nội xin anh giúp đỡ. Đầu tháng 12 năm 1946, tôi được anh giới thiệu vào một đội liên lạc tuyên truyền thuộc Bộ Quốc phòng. Đội đóng ở Dịch Vọng Hậu - Từ Liêm. Sau ngày 19 tháng 12 chuyển về Hậu Ái, Hoài Đức. Cùng ở đội này với tôi nay còn các anh Nguyễn Quang Huy, Doãn Nho, Nguyễn Quốc Thịnh.

Từ ngày 22 tháng 1 năm 1947, chúng tôi được biên chế về Ban liên lạc đặc biệt.

Khi địch chọc thủng mặt trận, tiến quân bằng xe rất nhanh từ Chèm đến Mai Lĩnh. Trạm tôi mất liên lạc với các trạm bạn. Tôi tìm về Mai Lĩnh, Trúc Sơn được biết cơ quan đã di chuyển theo hướng Sơn Tây. Tôi lần theo, đến Quảng Oai mới kịp, cùng đơn vị lên Hưng Hóa - Phú Thọ (làng Trù Mật). Có một chuyến công văn hỏa tốc đi Vụ Bản - Nho Quan. Chỉ huy hỏi tôi có đi được không? Tôi trả lời nếu được xem bản đồ thì tôi đi được, dù tôi chưa biết những nơi ấy. Tôi được giao nhiệm vụ, nhận một xe đạp tốt, dò theo bản đồ ghi những nơi phải qua và đích phải đến, rồi lên đường ngay. Từ Phú Thọ qua Hưng Hóa, Thanh Thủy, Tu Vũ, thị xã Hòa Bình, vượt dốc Cun, Đồng Lai, Quy Hậu đến Vụ Bản giao công văn thứ nhất, đi tiếp đến Nho Quan giao nốt công văn thứ hai, rồi quay về Vụ Bản. Khác với những ngày hôm trước, dân công đang phá những nhà cao tầng và phá cầu. Ông Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến cho tôi biết chính công văn tôi đã đem đến hôm trước đã mang lệnh đó đến.

Về Trù Mật, tôi được cử sang Thái Nguyên lập trạm giữ liên lạc với Khu 1, Khu 12. Rồi Đại Từ, Sơn Dương (thị xã Tuyên Quang), Tam Đảo, mỗi nơi tôi ở một thời gian ngắn. Mấy tháng cuối năm 1947, tôi ở trạm Khoan Lư (ngã ba Thiện Kế - cầu Bâm - Phan Lương). Trạm này liên lạc với Bộ qua trạm Kháng Nhật, với Khu 10 qua trạm Phan Lương và đi Khu 2, 3, 4 qua trạm Đạo Trì (dưới chợ Me, trên Thanh Vân - Vĩnh Yên).

Suốt thời gian trên, ở trạm nào tôi cũng tìm thêm đường tắt, đường vòng đến các trạm bạn, hỏi địa chỉ các trạm vượt, quy ước địa điểm dự bị để tìm nhau khi phải di chuyển bất thường. Ở Tam Đảo chỉ vài tuần, tôi đã theo dân buôn xuống Quân Chu để biết đường về Đại Từ, qua mốc 400 xuống ấp Nhân Lý làng Bùa ra chợ Me.

Địch tấn công Việt Bắc, một cánh quân từ Việt Trì sang Vĩnh Yên rồi lên Liễn Sơn, Hậu Phúc... Trạm tôi chuyển từ Đạo Trì (Long Trì) về làng Chanh. Tôi có nhiệm vụ đem 2 công văn hỏa tốc về Khoan Lư. Trạm trưởng của tôi liên lạc với công an Vĩnh Yên và trạm liên lạc Cục Tình báo, được biết đến 17 giờ địch vẫn còn ở Hậu Phúc (vì ở đó đang còn khói và thỉnh thoảng có tiếng nổ). Nhưng thực ra, địch đã đến Thiện Kế ngay chiều hôm ấy.

Tôi dự tính sáng sớm dịch từ Hậu Phúc hành quân thì sớm nhất cũng phải quá 12 giờ mới đến Thiện Kế. Tôi sẽ đi bộ theo đường sát chân Tam Đảo, từ làng Chanh qua Đạo Trù, Vĩnh Ninh đến Thiện Kế. Tôi sẽ vòng qua phía sau làng sát chân núi, lên Sinh Dò, đồn điền Lê Thăng đến trạm Kháng Nhật (vượt qua Khoan Lư).

Khởi hành trước 3 giờ, khoảng 7 giờ đến Vĩnh Ninh, hỏi dân quân gác đường, chưa có tin địch ở Thiện Kế. Tôi đi ngay, khi còn cách Thiện Kế chưa đầy 2 km, đang vượt qua một cánh đồng (dọc đường có nhiều cây chó đẻ cao ngang người) thì phát hiện một toán địch cách tôi khoảng 150 m. Địch cũng phát hiện được tôi, tôi rút công văn (đã cuộn tròn từ trước) buông cho rơi theo chân xuống mép đường, dẫm đẩy sâu vào cỏ rồi quay đầu chạy, chỉ chạy chậm cốt cho xa chỗ vứt công văn. Địch đuổi theo tôi chừng 50-100 m thì bắt được. Toán này có 6 tên, toàn là da đen. Trong bị cói của tôi có một số xà phòng, gíp đánh răng, bàn chải (mua cho anh em trạm trên) và tôi có giấy chứng nhận tản cư do trạm chuẩn bị cho từng người, không có giấy tờ tài liệu gì. Quần áo vẫn là quần áo từ nhà đem theo. Địch đưa tôi về Thiện Kế hỏi cung. Dựa vào tang vật, tôi khai: "Tôi là dân Hà Nội tản cư lên Vĩnh Yên. Khi các ông tiến đến, chúng tôi chạy lên Tam Dương, Liễn Sơn (nghĩa là đúng con đường địch tiến quân), đến Hậu Phúc tôi lạc gia đình, chạy đi tìm chẳng biết đây là đâu do vậy bị bắt".

Có lẽ địch nghi tôi là bộ đội, dù tôi còn nhỏ, vì nơi tôi bị bắt toàn dân thiểu số; nên địch hỏi cung vặn vẹo nhiều, có đánh để uy hiếp chứ không phải tra tấn, hỏi cung 3 lần trong 2 ngày. Các lần hỏi cung đều ăn khớp nên địch cho tôi xuống cùng anh em phu khuân vác.

Một thuận lợi cho tôi là người phiên dịch nghe và nói tiếng Pháp rất kém, tôi hiểu được nội dung trước, có thời gian suy nghĩ chuẩn bị, nên khi bị hỏi cung, phiên dịch hỏi, tôi trả lời ngay.

Địch ở lại đây 4 ngày, gặp cánh ở Phan Lương lên và nhận dù tiếp tế. Cuối ngày thứ 2, tên Pháp là y tá lấy tôi về nơi ở của hắn, ngủ cùng nhà với nó, đảm nhiệm việc dọn bàn ăn cho ngót chục tên da trắng ở đơn vị này. Tôi dọn bàn ăn rất gọn gàng, sạch sẽ. Tôi còn lấy bưởi, cắt phía trên và dưới tạo mặt bằng, chồng 2 quả đóng que xiên vào cho chặt, dùng làm đế đèn, rồi lấy mỡ lợn đổ ra đĩa thắp sáng. Tên chỉ huy đơn vị thấy tôi sạch sẽ, nhanh nhẹn nên đưa tôi về hầm của hắn, đêm về ngủ với phu. Ngay ngày đầu tiếp xúc với những người bị bắt trước, một bác khuyên tôi tránh dự điểm danh để khi trốn chậm bị phát hiện. Tôi dựa vào công việc hầu bàn, tránh được điểm danh cả sáng và chiều.

Địch hành quân từ Thiện Kế - Vĩnh Ninh đến Đạo Trù (nơi bộ đội tỉnh đóng trước đây) ngủ lại. Ngày thứ hai đến Km 8 trên đường Vĩnh Yên - Tam Đảo và ngày thứ ba lên Tam Đảo, đóng tại khách sạn Métropole. Tôi thuộc địa hình và biết được gia đình 3 anh: Long, Đài, Thước ở địa phương nên chuẩn bị trốn.

Đêm ấy, địch hỏi cung một người bị bắt, nhắc nhiều đến các địa danh Hướng Đạo, Me, Vàng. Sáng hôm sau, khi sắp hành quân, tôi chui vào một cái hầm rỗng, có lẽ là hầm chứa nước cũ ở tầng trệt, đợi vài giờ sau thật yên tĩnh mới chui ra, địch đi đã lâu. Tôi gặp một ông già quê ở Bạch Hạc bị bắt làm phu, bị đau chân không khuân vác được, địch bỏ lại. Tôi thu nhặt một số gạo, muối, mỡ đem theo cho ông già, xuống mốc 400 m, theo đường tắt xuống ấp Nhân Lý làng Bùa gửi ông già vào nhà dân rồi về ngay Thiện Kế để tìm tài liệu giấu mấy hôm trước, tất cả vẫn còn nguyên, tôi mừng vô kể, về ngay đơn vị.

Trạm đã di chuyển, tôi gặp công an tỉnh tại đây, báo cáo nội dung địch hỏi cung mà tôi nghe được (ngày hôm sau địch hành quân theo kế hoạch về Việt Trì). Do quen biết cũ, anh em cấp giấy đi đường cho tôi. Trở lại Thiện Kế, tìm được công văn, tôi về trạm Khoan Lư. Tại đây được biết đồng chí Nền cũng bị địch bắt trên đường từ Phan Lương về, đồng chí Kiệm về gần trạm bị phục kích đã hy sinh.

Sau vài tháng, tôi được gọi về ban, được anh Trần Tuấn Anh và vài đồng chí nữa nghe báo cáo, hỏi thêm chi tiết.

Ngày 30 tháng 1 năm 1948, tôi được đồng chí Tổng chỉ huy quân đội Quốc gia Việt Nam Võ Nguyên Giáp (thời kỳ này vẫn là quân đội Quốc gia) gửi thư khen kèm theo 100 đồng tiền thưởng vì tôi đã "không để lọt tài liệu vào tay địch, thoát khỏi vòng vây kẻ thù về với cơ quan".

Đó là một kỷ niệm sâu sắc nhất trong suốt cuộc đời quân ngũ của tôi.

Từ ngày bị địch bắt đến nay đã 45 năm, viết những dòng này, tôi hình dung lại bao đồng chí thân thương, như những người cha, anh mình (tuy có nhiều anh chỉ hơn tôi vài tuổi, lúc đó đã được coi là người lớn) đến nay ai còn, ai mất? Và tôi thật sung sướng tự hào đã được chiến đấu, công tác cùng các anh. Như các anh Trần Sơn, Nguyễn Duy Lạc - nguyên là Phó Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc. Anh Lê Bá Hồi - nguyên là chỉ huy cao nhất của Ngành Quân bưu Binh chủng. Rồi anh Sinh Hùng, anh Ngoạn, anh Bình, anh Luận... Một số anh đã chuyển đơn vị, chuyển ngành, có nhiều thành đạt như anh Côn, Giao, Hà, Ung, Học, Tín, Long, Hải, Lê Phương, Hanh, Đậu... Đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật có nhạc sĩ Doãn Nho, An Chung là người cùng lứa tuổi và từng hoạt động cách mạng cùng tôi ngày đó.

Hà Nội, ngày 3-12-1992

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”)

Ngày tái ngộ

 Trần Ngọc Duyện - Tặng Hội Liên lạc truyền thống 303

Hôm nay họp mặt Ba lẻ ba

Lưu luyến tình xa, vui cảnh già

Bạn cũ đa phần đầu râu bạc,

Gặp nhau tíu tít hóa trẻ ra.

 

Đến với các anh để chia vui

Đích danh kế nhiệm, ấy bọn tôi

Tổng trạm Anh hùng, d Bảy bảy

Truyền thống phát huy đẹp tuyệt vời.

 

Nhân ngày tái ngộ buổi đầu Xuân

Mộc mạc nôm na mượn mấy vần

Chúc anh, chúc chị tươi vui mãi

Cho tình xích lại ngày thêm thân.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”)

Đội Vô tuyến điện 101 ra đời và lập chiến công đầu

Trích hồi ký của Thiếu tướng Nguyễn Diệp - nguyên Đội trưởng Đội 101

Đầu tháng 7 năm 1950, tôi đang công tác ở xưởng CRL và làm giáo viên lớp cơ công sơ cấp đầu tiên của Cục Thông tin liên lạc thì được lệnh "Tập trung đi nhận nhiệm vụ mới". Tâm trạng tôi lúc đó vừa mừng, vừa lo, vừa vui, vừa buồn. "Vui mừng" vì được đi tham gia "Chiến dịch" dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Cục trưởng, người anh cả, người thầy kính yêu đã giáo dục, động viên tôi tham gia bộ đội thông tin từ sau Cách mạng tháng Tám, "Lo" vì đã chuyển sang công tác đảm bảo kỹ thuật ở xưởng 3 năm nay, trở lại làm nhiệm vụ chỉ huy, quản lý một đội vô tuyến điện, chắc không khỏi bỡ ngỡ; còn "Buồn" vì từ nay phải xa anh em ở xưởng, phải "Tạm biệt" người yêu đang theo học lớp cơ công. Tuy nhiên, nhiệt tình của một đảng viên trẻ và ý thức chấp hành mệnh lệnh vẫn là động lực chính thôi thúc tôi lên đường không vấn vương trước sự bịn rịn của người yêu lúc chia tay.

Bộ phận Vô tuyến điện chúng tôi tham gia chiến dịch lúc lên đường chỉ mang theo 2 bộ đài chiến lợi phẩm (1 bộ SCR 284 và 1 bộ MKIII đã được Xưởng CRL sửa chữa, cải tiến). Trưởng đài, báo vụ viên do Cục Thông tin lựa chọn, điều động được gần 20 đồng chí, hầu hết là các báo vụ viên giỏi đã có ít nhất 3 năm tuổi nghề, người ở Đội vô tuyến điện 59 của Bộ, người ở Sở Vô tuyến điện Việt Nam biệt phái sang. Trên đường hành quân chúng tôi được bổ sung thêm 30 tân binh quê ở Khu 4 để làm nhiệm vụ quay máy phát điện và phục vụ. Khi đến Đà Tàu, vị trí tập kết của cơ quan chỉ huy chiến dịch, tôi được giao nhiệm vụ đưa một trung đội tân binh đến cơ quan tiền phương của Tổng cục Cung cấp nhận khí tài mới. Đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp trực tiếp phụ trách cơ quan cung cấp chiến dịch cử người dẫn đường và đưa giấy giới thiệu chúng tôi sang Thủy Khấu - một thị trấn của Trung Quốc ở sát biên giới, nhận một số điện đài do Trung Quốc viện trợ. Lần đầu tiên được "Xuất ngoại" tôi dặn anh em tân binh chọn bộ quần áo lành lặn nhất, giữ kỷ luật chặt chẽ, mọi hành động phải làm theo lệnh của chỉ huy, không được tự do đi lại kẻo lạc. Nhận khí tài ở kho xong, chúng tôi đưa về cơ quan cung cấp chiến dịch mới mở ra kiểm kê và ký nhận trước khi chuyển về đơn vị. Thật không sao tả xiết nỗi vui mừng của tôi khi nhận được những khí tài đồng bộ, từ máy thu phát đến các phụ tùng đều có túi vải quai đeo mới nguyên, thơm phức mùi sơn. Ngoài 7 bộ máy kiểu 15PM do Trung Quốc sản xuất còn có 3 bộ máy kiểu Pilot-V101 do Mỹ sản xuất và trang bị cho quân đội Tưởng Giới Thạch.

Đối với tôi, chiến sĩ thông tin đã làm trưởng đài rồi làm thợ sửa chữa, lắp ráp điện đài, thường sử dụng các máy kiểu đơn giản, chắp vá, không đồng bộ, đây quả là một tài sản quý báu làm tôi tin chắc là đơn vị sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ trong chiến dịch này.

Sau khi nhận khí tài về Đà Tàu để làm tiếp công tác chuẩn bị, ngày 15 tháng 8 năm 1950 chúng tôi được chính thức biên chế thành đội vô tuyến điện trực thuộc Ban Thông tin chiến dịch với phiên hiệu là 101 vì được trang bị 3 bộ máy Pilot-V101 là loại điện đài cơ động, hiện đại nhất của bộ đội thông tin thời kỳ đó, có khả năng đảm bảo cả liên lạc báo và thoại. Cùng thời gian đó, Đội điện thoại 99 và Đội truyền đạt 103 cũng được thành lập, đều là đơn vị trực thuộc Ban Thông tin chiến dịch.

Đội vô tuyến điện 101 lúc này đã được trang bị 12 máy (gồm 2 bộ đem từ hậu phương và 10 bộ mới nhận) nhưng vì quân số thiếu nên chỉ tổ chức thành 10 đài trực thuộc Ban chỉ huy đội, mỗi đài có một trưởng đài, một báo vụ, ba đến bốn chiến sĩ quay máy phát điện và mang vác máy khi hành quân. Cán bộ đội có 3 người, tôi là đội trưởng phụ trách chung đồng thời trực tiếp làm 1 ca khi công việc nhiều, đồng chí Trương Đức Tiến - đội phó kiêm phụ trách một đài, đồng chí Đỗ Mạnh Đức - chính trị viên phụ trách công tác chính trị và hậu cần, ngoài ra còn có một cơ công, một thợ phụ, một y tá và hai chiến sĩ nuôi quân.

Sau khi ổn định về biên chế trang bị, chúng tôi huấn luyện trong 15 ngày nhằm làm cho các báo vụ viên sử dụng máy thành thạo, biết cách triển khai điện đài trong điều kiện dã chiến, nhất là sử dụng quy ước liên lạc PAGT do bác Nguyễn Cung soạn thảo, bác Cung là cán bộ của Sở Vô tuyến điện Việt Nam biệt phái sang làm trợ lý vô tuyến điện cho Ban Thông tin chiến dịch - PAGT là gọi tắt của phương án giờ và tần số, còn gọi là PAC.

Đối với chúng tôi, đây là lần đầu thực hiện một quy ước liên lạc phức tạp, có khả năng giữ bí mật cao nhằm chống địch trinh sát điện tử. Theo quy ước này, mỗi đài có một "Lịch liên lạc" quy định cụ thể việc thay đổi tên gọi, tần số và giờ liên lạc hàng ngày, hoặc hai ngày một lần. Riêng về tên, đây cũng là lần đầu mỗi đài có 3 tên: "Tên công khai" ghi trên sổ sách, trên bức điện là tên gọi cố định không thay đổi, "Tên bị gọi" là tên dùng cho đài bạn gọi mình khi bắt liên lạc và "Tên tự xưng" là tên mình xưng khi trả lời đài bạn. Tên tự gọi và tên tự xưng được thay đổi theo giờ liên lạc cùng với việc thay đổi tần số. Đối với các báo vụ viên ngày nay, việc thực hiện quy ước liên lạc tương tự trên đây không có gì khó khăn vì trong quá trình đào tạo đã quen dùng, mặt khác các máy thu phát hiện nay có độ ổn định tần số, độ chính xác tần số cao nên việc thay đổi tần số cũng thuận lợi còn đối với chúng tôi, từ khi vào nghề chỉ quen dùng một tên, một tần số, hàng ngày thay đổi thì thật là phức tạp. Mặt khác điện đài 15PM do Trung Quốc lắp ráp tuy đồng bộ và mới nhưng kiểu lại cũ, máy phát dùng đèn chủ sóng kiểu tự dao động, nguồn điện lại dùng máy phát điện quay tay nên tần số không ổn định, máy thu kiểu khuếch đại trực tiếp, mặt độ số của máy thu không thật chính xác so với tần số thực của máy nên việc thay đổi tần số rất dễ dẫn đến mất liên lạc hoặc phải tìm gọi nhau lâu mới bắt được liên lạc. Cũng may là anh em báo vụ đều là những người có kinh nghiệm nên sau 15 ngày huấn luyện mọi người đều tin rằng có thể thực hiện theo quy ước PAGT để giữ bí mật mạng thông tin vô tuyến điện của chiến dịch.

Gần đến ngày nổ súng, Trưởng ban Thông tin chiến dịch mới lệnh cho Đội 101 cử hai đài kiểu 15PM xuống Trung đoàn 174 và Trung đoàn 209 là hai đơn vị đánh trận Đông Khê mở màn chiến dịch, đồng thời cử 1 đài xuống Đại đoàn 308 là lực lượng sẵn sàng đánh quân tiếp viện. Ngoài ra đội còn cử 2 đài cơ động và 1 cơ công đi theo Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch.

Sở chỉ huy cơ bản triển khai 4 điện đài và 1 máy thu trong đó 1 đài liên lạc với hậu phương (Trung ương và Bộ Quốc phòng), với Liên khu 1, Liên khu 10 và 2 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Một đài liên lạc với Sở chỉ huy tiền phương và hai trung đoàn 174, 209. Một đài liên lạc với Đại đoàn 308 và sẵn sàng liên lạc vượt cấp tới các trung đoàn 36, 88, 102; một đài dự bị để liên lạc tay đối với một trong các đối tượng trên khi công việc bận rộn, còn máy thu để thu tin địch hỗ trợ cho bộ phận thu tin của Ngành Quân báo.

Trong đợt 1 chiến dịch, Ban Thông tin chưa sử dụng các đài Pilot-V101 vì cho rằng các đài làm nhiệm vụ công đồn có Sở chỉ huy ổn định, có thể dùng hữu tuyến là phương tiện chủ yếu, mặt khác cũng chưa dùng thoại trên vô tuyến để giữ bí mật. Tuy nhiên đường dây giữa Sở chỉ huy cơ bản ở Nà Lạn với Sở chỉ huy tiền phương ở gần Đông Khê không triển khai được đúng kế hoạch do thiếu dây nên đêm 15 tháng 9 trước khi nổ súng cũng như từ khi nổ súng (6 giờ 20 phút ngày 16-9 đến 11 giờ 20 phút), vô tuyến điện lại trở thành phương tiện liên lạc chính giữa đồng chí Tổng tư lệnh ở Sở chỉ huy cơ bản với đồng chí Tổng Tham mưu trưởng ở Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch. Trong đợt này, các đài kiểu 15PM tuy mới nhưng do thời tiết ẩm nên hay hỏng vặt nhất là hay đứt biến áp nối tầng ở máy thu. Điện đài biệt phái xuống Trung đoàn 209 cũng bị hỏng đột xuất khi đơn vị đang tiến công Đông Khê nhưng Sở chỉ huy tiền phương đã kịp thời cử đồng chí Nguyễn Văn Thúy cơ công xuống sửa nên vẫn bảo đảm liên lạc. Ở Sở chỉ huy cơ bản, tôi cũng phải kiêm cơ công, ngày làm ca, đêm sửa chữa máy còn đồng chí Chi thợ phụ chuyên cuốn lại biến áp.

Rút kinh nghiệm đợt này, khi chuẩn bị đợt 2 đánh địch vận động, Ban Thông tin chiến dịch cử 1 đài Pilot-V101 xuống Trung đoàn 174 có nhiệm vụ đánh địch trên đường Thất Khê - Na Sầm và một máy Pilot-V101 xuống Đại đoàn 308 đánh địch rút lui từ Cao Bằng về, còn 1 máy Pilot-V101 đặt ở Sở chỉ huy cơ bản để liên lạc với 2 đài trên cả bằng báo và thoại.

Trong đợt 2 này, các đài đi theo Trung đoàn 174 và Đại đoàn 308 đều bảo đảm liên lạc vững chắc với Sở chỉ huy cơ bản chiến dịch, cả khi đơn vị hành quân truy kích địch vì việc triển khai hoặc thu hồi máy chỉ cần 3 đến 5 phút.

Đặc biệt, ngày 6 tháng 10 năm 1950 khi Đại đoàn 308 đang vây binh đoàn do quan năm Sác-tông chỉ huy rút từ Cao Bằng về tới khu vực Cốc Xá, đài Pilot-V101 ở Sở chỉ nuy cơ bản đã vinh dự được Bác Hồ đến theo dõi cuộc đàm hoại giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh chiến dịch với đồng chí Vương Thừa Vũ - Đại đoàn trưởng. Đây là một kỷ niệm sâu sắc đối với toàn Đội 101 và cũng là nguồn cổ vũ lớn lao, động viên đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ trong suốt chiến dịch1.

Kết thúc chiến dịch, đồng chí Tổng tư lệnh nhận xét: "Thông tin đi tay không, lại bất chợt, mới mẻ mà bảo đảm được tốt...". Còn Bộ chỉ huy quân đội Pháp khi thú nhận thất bại cũng nêu: “Chúng ta đứng trước một kẻ địch có số quân đông hơn, hỏa lực mạnh hơn, lại có một hệ thống thông tin vô tuyến điện phối hợp tốt... Mạng vô tuyến điện quân viễn chinh đã thua mạng vô tuyến điện Việt Minh"2.

Với chiến công đầu này, Đội vô tuyến điện 101 vinh dự được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng Nhì3, Đội điện thoại 99 được tặng Huân chương Chiến sĩ hạng Ba, còn tập thể lực lượng thông tin trực thuộc Ban Thông tin chiến dịch được tặng Huân chương Quân công hạng Ba với phiên hiệu Tiểu đoàn 303 (là tổng cộng ba phiên hiệu: 99+101+103), tuy đến đầu năm 1951 Tiểu đoàn này mới chính thức được thành lập.

Cá nhân tôi cùng bác Nguyễn Cung, trợ lý vô tuyến - tác giả của quy ước PAGT và bác Nguyễn Văn Thúy - một cơ công quê ở Nam Bộ đã vượt qua lửa đạn đến sửa máy ở Trung đoàn 209 cùng vinh dự được tặng Huân chương Chiến sĩ hạng Ba. Ngoài ra còn hơn mười cán bộ, chiến sĩ trong đội được tặng Bằng khen, Giấy khen.

Phát huy truyền thống "Lập công trong chiến đấu" đơn vị chúng tôi tiếp tục được phục vụ các chiến dịch do Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp tổ chức và chỉ huy, từ chiến dịch Cao - Bắc - Lạng đến chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, trải qua 8 chiến dịch Đội vô tuyến điện 101 đều có mặt, đều thực hiện khẩu hiệu "Đã ra quân là hoàn thành tốt nhiệm vụ".

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”)

--------------------------

1 Xem bài “Một kỷ niệm sâu sắc” kể tỉ mỉ cuộc thăm điện đài của Bác Hồ.

2 Trích Lịch sử Bộ đội Thông tin, tập 1, tr. 237-238.

3 Sau này Huân chương Chiến sĩ được đổi là Huân chương Chiến công. 

25.10.24

Kể chuyện đại quân vượt Sông Hồng tiến vào Tây Bắc

Nguyễn Đình - nguyên cán bộ Tiểu đoàn 303

Thu đông 1952, bộ đội ta được lệnh: Tiến vào Tây Bắc. Đây là địa bàn chiến lược quan trọng, có diện tích khá rộng, nhưng mật độ dân số thấp.

Giải phóng Tây Bắc là yêu cầu cấp bách của cách mạng nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng nhân dân các dân tộc anh em Thái, Mường, Mán, Dao... đang rên xiết dưới sự kìm kẹp của quân xâm lược và phong kiến phìa, tạo.

Muốn tiến vào Tây Bắc, phải vượt Sông Hồng. Chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 303 phải đảm bảo thông tin chỉ huy vượt sông thông suốt và kịp thời bằng hữu tuyến điện.

Cách đây đã 48 năm rồi, song tôi không bao giờ quên được sự kiện vượt sông và thực thi nhiệm vụ thông tin lúc đó.

* Tôi đi làm ngoại giao.

Ban chỉ huy Tiểu đoàn phân tích: nhiệm vụ rất nặng nề, nhiều khó khăn, phương tiện dây máy đơn vị ít, quân số hạn chế, yêu cầu mạng thông tin chỉ huy chiến đấu phía trước rất lớn, nếu tỏa mạng chỉ huy vượt sông bằng dây máy, quân số của đơn vị sẽ không đủ thời gian thu hồi và đưa lên phía trước. Do đó phải phối hợp với thông tin bưu điện, tận dụng phương tiện, nhân viên của họ trong mạng vượt sông.

Hồi đó tôi là cán bộ doanh tác Tiểu đoàn - cái tên nghe là lạ, thực chất là trợ lý tham mưu. Tôi được giao nhiệm đi liên hệ với lãnh đạo Ty Bưu điện Yên Bái với tấm giấy giới thiệu của Bộ yêu cầu dành ưu tiên cho quân sự.

Quán triệt yêu cầu nhiệm vụ trên giao, hiểu rõ khó khăn về quân số của Tiểu đoàn, tôi tự xác định: "đi ngoại giao này quan trọng lắm đấy". Do đó tôi tự chuẩn bị cho mình từ ăn mặc đến thái độ giao tiếp, ứng xử, phương pháp trình bày nhiệm vụ và yêu cầu thông tin sao cho ngắn gọn mà rõ ràng. Kể cả lý lẽ về chiến tranh nhân dân tôi cũng chuẩn bị. Khi cần thuyết phục họ thông cảm thì "tuôn ra" ngay. Tôi đến gặp ông Trưởng ty Bưu điện Yên Bái với "bộ cánh" mốt của cán bộ thời đó. Thực ra cũng chỉ là bộ quân phục bằng vải phin màu lông ngựa phát cho cán bộ từ trung đội trở lên. Có khác chăng là ở chỗ sạch sẽ, được vuốt thẳng thắn và bên ngoài được khoác thêm chiếc “bờludông canađiêng”. Ông tiếp tôi tại một căn nhà tạm lợp lá cọ ở ngoại vi thị xã hoang tàn. Ông mời tôi uống trà búp, đặc sản của địa phương. Tôi mời ông hút thuốc lá Côtáp, loại thuốc thơm gọi là "sang" hồi ấy, từ trong địch hậu lọt ra vùng tự do. Tôi đưa giấy giới thiệu và xin đi vào việc. Tôi trình bày mạch lạc, ngắn gọn nhiệm vụ vượt sông, yêu cầu thông tin vượt sông, thông tin quân dân phối hợp phục vụ. Không biết với dáng vẻ một sĩ quan trẻ, lại có phần đẹp trai, lịch sự từ ăn mặc đến giao tiếp có gây được cảm tình hay ấn tượng gì không mà ông Trưởng ty đã nhanh chóng vui vẻ chấp nhận các yêu cầu đặt ra. Ông nói vui một câu: Thông tin dân sự cũng như thông tin quân sự đều cùng chung đánh giặc cả mà. Vậy là hợp đồng được ký kết. Tôi phấn khởi trở về báo cáo Tiểu đoàn đồng thời cũng nhận luôn nhiệm vụ phụ trách mạng.

* Sự ra đời và hiệu quả của mạng thông tin quân dân phối hợp.

Theo thỏa thuận, kể từ ngày N trong 6 ngày đêm liền tính từ 16 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ ngày hôm sau, Bưu điện Yên Bái dành toàn bộ tổng đài Cổ Phúc, toàn tuyến đường trục Yên Bái - Cổ Phúc, Cổ Phúc - Trái Hút dài khoảng 60 km cho quân đội sử dụng. Một nhân viên ở tổng đài phối hợp phục vụ, hai tổ bảo vệ tuyến đường trục sẵn sàng khắc phục khi có sự cố. Ngoài thời gian khống chế trên Bưu điện hoạt động bình thường. Hai bên lưu ý phải giữ bí mật tuyệt đối.

Về phía đơn vị, tôi có trong tay 8 km dây bọc, 6 máy lẻ, 8 chiến sĩ điện thoại và 6 chiến sĩ chuyển đạt.

Trước ngày N một ngày, tôi đến tiếp thu tổng đài Cổ Phúc và triển khai mạng thông tin vượt sông.

Tôi cho mắc từ tổng đài Cổ Phúc đi Xóm Bưởi (cơ quan tiền phương Bộ) khoảng 2,5 km, đặt một máy lẻ, 2 chiến sĩ điện thoại và tổ chuyển đạt 2 người trực ở đó. Mắc đường đấu đinh từ đường trục bưu điện đi bến Âu Lâu 1 và 2, khoảng 2 km, đặt 2 máy lẻ, 3 chiến sĩ điện thoại và tổ chuyển đạt 2 người trực ở đó. Mắc đường dây đấu đinh thứ hai ở đường trục bưu điện đi bến Mậu A1 và 2 khoảng 2,5 km, đặt 2 máy lẻ, 3 chiến sĩ điện thoại và tổ chuyến đạt 2 người trực ở đó.

16 giờ ngày N tôi kiểm tra lần cuối và đưa mạng vượt sông vào cấp 3, nghĩa là sẵn sàng phục vụ. Từ tổng đài Cổ Phúc gọi đi Xóm Bưởi, Âu Lâu 1, 2, Mậu A1, 2 tất cả thông suốt, âm thanh rõ. Ôi chúng tôi thật sung sướng. Tuy được phép theo dõi các cuộc điện đàm nhằm biết được chất lượng âm thanh, khả năng liên lạc để kịp thời can thiệp khi có sự cố, song suốt 4 đêm liền mạng chúng tôi đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Bộ. Từ các bến sông, các cấp trung đoàn, đại đoàn, các phái viên của Bộ đã báo cáo đều đặn về Xóm Bưởi tiến độ vượt sông, đại đội nào đã sang hết, tiểu đoàn nào mới bắt đầu,... Xúc động nhất là khi theo dõi các

cuộc nói chuyện của các đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ, Lê Trọng Tấn với Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, các anh xin chỉ thị trước khi lên thuyền, họ chúc nhau chiến thắng, hẹn gặp lại. Lúc này tôi càng cảm nhận vinh dự của đơn vị, của chính mình đã đóng góp phần nhỏ bé nhưng rất cần thiết cho việc chỉ huy đại quân vượt sông thắng lợi.

* Những đêm hội kháng chiến.

Trên một khúc Sông Hồng, bến Âu Lâu và bến Mậu A cách nhau khoảng 50 km, ở hai bến sông này đã diễn ra 4, 5 đêm liền một sự kiện hết sức kỳ vĩ, đó là:

- Hơn 3 vạn người, trang bị từ đầu đến chân đủ súng to, súng nhỏ, đạn dược, gạo muối, lừa ngựa, phương tiện chiến tranh đã hội tụ về đây.

- Khoảng 500 chiếc thuyền gồm phần lớn là thuyền gỗ, thuyền nan, một số thuyền độc mộc, phà loại nhỏ cùng nhiều bè, mảng nhỏ cũng tụ hội về đây. Ban ngày số người cũng như số thuyền bè nói trên "tàng hình" ở đâu không biết, nhưng khi màn đêm buông xuống thì những bóng người ấy cứ nườm nượp, lặng lẽ trèo lên những thuyền, bè mảng, phà đã đợi sẵn, để rồi lại lặng lẽ sang sông. Chuyến tiếp chuyến hối hả đi về lặng lẽ. Không một ánh lửa, không một tiếng nói to, chỉ có tiếng thì thầm, tiếng lách cách va nhẹ của vũ khí cùng tiếng mái chèo khua nước, tiếng rì rào sóng vỗ vào 500 mạn thuyền di động trên sông dưới ánh trăng bàng bạc hạ tuần. Ba vạn bóng người đó là các đại đoàn chủ lực, các tiểu đoàn bộ đội địa phương, các đơn vị dân công hỏa tuyến lặng lẽ sang sông, khẩn trương, náo nức, sôi sục căm thù, khát khao chiến thắng.

Ai được chứng kiến cái không khí ở hai bến sông này trong thời kỳ đó mới cảm nhận sâu sắc không khí những đêm hội kháng chiến. Người người đi chiến dịch như đi hội vậy!

Cuộc vượt sông bí mật, an toàn, thành công tuyệt vời đã làm cho địch có mắt như mù, có tai như điếc. Chỉ đến khi quân ta tiêu diệt đồn Sài Lương, Ca Vịnh (13-10-1952), bao vây chặt Nghĩa Lộ - Pác Chăng (16-10-1952) mới thấy xuất hiện máy bay "Đầm già" và "Hencát" của địch xoi mói, lùng sục, bắn phá trên khúc sông mà quân ta đã vượt qua mấy hôm trước đó.

* Tình yêu sơn cước.

Kim Oanh là người thị xã Yên Bái, gốc Thái Mường La. Em có khuôn mặt trái xoan, thanh tú, tóc dài buông xõa tự nhiên, mắt đen huyền, làn da trắng mịn, thân hình mảnh mai nhưng cân đối với những đường cong đẹp trong bộ quần áo hơi chẽn màu hạt dẻ. Đặc biệt em có nụ cười mê hồn: một lúm đồng tiền với hàm răng đều trắng muốt, tự nhiên, hoang dã như bông hoa rừng ven suối. Hơn thế nữa, giọng nói của em vô tư, ngọt ngào, lôi cuốn như tiếng chim rừng. Em tốt nghiệp trung cấp bưu điện.

Đó là cô gái trẻ tiếp tôi khi tôi đến tiếp nhận tổng đài Cổ Phúc. Thật bất ngờ khi em tự giới thiệu là nhân viên bưu điện được giao nhiệm vụ phối hợp phục vụ quân đội. Qua giây phút ngỡ ngàng, tôi lấy lại bình tĩnh. Bằng một động tác mạnh mẽ của người lính, tôi dập hai gót giày săng đá vào nhau và giơ tay chào: Báo cáo em, anh Nguyễn Đình, sĩ quan thông tin có mặt... Em cười khúc khích mãi, khi tôi bỏ tay xuống vẫn chưa thôi.

Tự nhiên, tôi linh cảm thấy những gì có thể xảy ra, nếu không tự xác định được mình ngay từ đầu. Tôi định thần rất nhanh và tự xác định: là một sĩ quan, lại đang chịu trách nhiệm về một mạng thông tin liên quan đến hàng vạn con người, chỉ có thể là người anh tin cậy, xứng đáng của em và coi Kim Oanh như là em gái của mình. Thế rồi qua giao tiếp, trao đổi công việc, qua ăn cơm, uống nước, tôi dùng thái độ chân thành, cởi mở, tự nhiên nhưng không suồng sã để xác định ranh giới.

Qua 3 đêm trực, tôi đâu biết em nghĩ gì về tôi. Chỉ biết em thường chăm lo cho tôi ở những bữa ăn. Bữa ăn thời chiến tuy đơn sơ nhưng rất chu đáo, nên bữa nào tôi ăn cũng cảm thấy ngon và rất vui. Em còn lo cho tôi những điều rất nhỏ khác như giấy trắng, bút mực và đèn bão đã thắp sẵn, vặn nhỏ hạt đỗ khi đêm vừa buông xuống trên bàn trực của tôi. Đúng ra là em chỉ trông nom tổng đài vào ban ngày, chứ không phải trực máy. Nhưng em cứ năn nỉ xin trực cả về đêm. Tôi không chịu thì em vẫn ngồi đó, nấn ná không chịu đi nghỉ. Làm sao tôi lại có thể nặng lời với em được. Tôi đành chấp nhận, nhưng trong đầu lại nảy ra ý đồ "phải buộc em có điều kiện". Tôi đột nhiên hỏi một câu "vô tiền khoáng hậu": Kim Oanh còn nhớ khái niệm về "lim" trong toán học không? Em ngỡ ngàng, nhớ chứ "lim" nghĩa là phạm vi giới hạn, mà anh hỏi để làm gì? Tôi đáp: để kiểm tra trí nhớ của em. Anh đồng ý cho em trực máy, trực cả về đêm, nhưng phải có "lim" để còn bảo đảm sức khỏe và làm hậu cần nữa chứ. Chỉ đến khi đó tôi mới buộc em đi nghỉ được. Chúng tôi đều hoàn thành các phiên trực.

Việc gì phải đến thì sẽ đến. Một lần vào đêm trực thứ 4 khi ngồi bên cạnh tôi, em rụt rè đặt bàn tay em lên tay tôi rồi bóp mạnh. Tự nhiên hai bàn tay chúng tôi hút chặt vào nhau như nam châm hút sắt. Tôi cảm thấy hơi ấm nồng nàn từ người con gái hình như có cả mùi thơm hoa bưởi từ mái tóc dài của em. Không biết cái giờ khắc ấy kéo dài bao lâu. Không, chắc chỉ trong khoảnh khắc thôi, em nói với tôi qua hơi thở gấp gáp: Em thương anh nhiều lắm. Tôi hiểu cái thời chúng tôi, người ta nói thương nghĩa là yêu rồi đấy. Khoảng cách giữa tôi và em vẫn được giữ vững mặc dù nó mong manh nhưng vẫn trong sáng.

Đến gần sáng, tôi nhận điện gọi và biểu dương tất cả anh em tham gia mạng phục vụ vượt sông. Cho thu hồi mạng. Bàn giao trang bị và lực lượng phối hợp Bưu điện, đến tối sang sông đuổi theo đơn vị, tập trung ở Ba Khe.

Chờ trời sáng, tôi lệnh cho các tổ thu dây, hẹn địa điểm tập trung để sang sông. Tôi gọi điện trực tiếp cảm ơn ông Trưởng ty Bưu điện về sự phối hợp và giúp đỡ Thông tin quân đội hoàn thành nhiệm vụ.

Kim Oanh cùng vài người bạn đồng nghiệp tiễn tôi ra phía bến sông. Ở một khúc ngoặt con đường, bất ngờ em níu tôi lại nói nhỏ "Anh đi rồi... em sẽ buồn nhớ anh lắm. Không biết rồi anh có còn nhớ tới em không?". Giọng em hơi ngắt quãng và trên má em nhòe nước mắt. Tôi đã ôm chặt em, hôn lên trán lên mái tóc em và nói vội: Anh hẹn gặp lại em sau chiến dịch.

Chiến dịch kết thúc thắng lợi, tôi xin phép đơn vị về thăm em. Nhưng lòng tôi quặn đau khi được tin: Oanh đã bị máy bay giặc Pháp ném bom giết hại khi những ngón tay thon mềm đang tiếp dây trên "phích" tổng đài.

Vậy là:        "Không chết người anh nơi khói lửa

Mà chết người em gái nhỏ hậu phương”

(Màu tím hoa sim - Thơ Hữu Loan)

Tôi ít khi khóc, nhưng khi đến viếng mộ em hôm ấy hai bờ mi tôi nhòe nước mắt... Tôi đặt mấy cành hoa mua hái vội lên mộ em. Thôi, vĩnh biệt em - Đóa hoa rừng - Tình yêu sơn cước.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1")

Kỷ niệm những năm tháng trong hậu địch Quân khu 3

Hoàng Xuân Giáp - Nguyên Trưởng đài vô tuyến điện

Về 101 tôi được phục vụ liên lạc mạng Nam Bộ và Khu 5, được bác Thanh "già" và chị Nga giúp đỡ về chuyên môn, nên nhanh chóng đảm nhiệm mọi ca vững vàng, càng làm càng hăng không biết mệt. Có hôm cháu Bình, con chị Nga quấy, tôi xung phong trực thay ca để nâng cao tay nghề, mong sớm được đi chiến dịch.

Vừa ấm chỗ quen việc, thì tôi nhận lệnh bổ sung cho Đại đoàn Bình Trị Thiên. Vì là nhiệm vụ bí mật quân sự nên lẳng lặng ra đi không liên hoan tạm biệt, chắc lúc đó 101 cũng không mấy ai quan tâm lắm bởi chiến dịch Tổng tấn công, Bộ đang tung cán bộ ra tiền phương, kẻ trước người sau lần lượt ra đi.

Tổ về Nam, vừa đi được năm cây số thì ngựa đuổi theo gọi tôi và các anh: Phù, Sáng, Tuân dừng lại trao quyết định không đi Bình Trị Thiên nữa mà chuyển về Khu 3 vào Thái Bình, Kiến An, Hải Hưng.

Bốn chúng tôi đều là dân Nghệ Tĩnh, đã bàn với nhau về thăm nhà trước lúc vào chiến trường. Lệnh mới đổi hướng từ lên rừng nay lại xuống biển, việc đó có xá chi, "đâu có giặc là ta cứ đi", chỉ xao xuyến là xa nhà lâu ngày ra trận mà chưa được về thăm quê và người thân, đã hơn ba năm không tin, không thư, anh nào cũng nao nao bần thần.

Lúc vào trạm nhận quyết định mới, đồng chí quân lực quan sát chúng tôi và hỏi: "Vào địch hậu các đồng chí có thắc mắc băn khoăn gì chăng?".

Một chốc suy tư rồi bình tĩnh, tôi trả lời:

- Có ạ, bốn anh em là dân Nghệ Tĩnh nay vào địch hậu, khó mà giữ được bí mật vì cái giọng xứ Nghệ dễ gì học được giọng Khu 3. Địch hậu thì bí mật là yếu tố quan trọng nhất ạ!

Đồng chí cán bộ quân lực (là ai chúng tôi đâu có biết) trả lời ngay:

- Trên đã cân nhắc và chọn lọc, rất tin các đồng chí sẽ hoàn thành nhiệm vụ, còn các đồng chí lo thì không ảnh hưởng gì đến công việc cả, vì yêu cầu các đồng chí nói bằng tay tối đa và nói bằng miệng tối thiểu.

Câu trả lời rắn chắc và nhắc chúng tôi giữ mồm giữ miệng vì hoạt động địch hậu.

Tới Chi Nê chúng tôi tìm đến trạm giao liên, chờ đoàn vào khu, lo lắng tìm hiểu tình hình và chuẩn bị trang bị.

Bốn chúng tôi vừa ở Trung Quốc về, anh nào cũng vác một ba lô gói to và nặng toàn quần áo kaki Trung Quốc mới toanh, sổ sách, bút giấy tất cả là đồ Tầu, từ chân tới đầu, thế là phải đổi bớt cho mấy anh ở vùng địch hậu ra đi học. Tôi chỉ giữ lại chiếc đồng hồ "Vile" của Thiếu tướng Trần Tử Bình, Hiệu trưởng Trường Lục quân tặng lúc về nước.

Hai bộ bà ba, một mặc, một cho vào tay nải cùng cái màn con đeo lủng lẳng bên vai, đầu đội nón và bắt đầu tập đi chân đất, lội bùn. Nhẹ cái vai lại nặng cái đầu từ đây.

Đoàn vào Khu 3 khoảng hai chục cán bộ, do một o du kích khoảng 17 tuổi dẫn đường. Chúng tôi ra đi vào khoảng 20 giờ, không đèn đuốc, không tạm biệt om sòm, tất cả đều im lặng và suy tư bởi sắp bước vào con đường chiến đấu không ranh giới, không giới tuyến; trời tối đen như mực, tất cả chỉ mặc áo lót và quần đùi, tay nải gói chặt trong một tấm nilông, lúc này rất hiếm và quý vì nó còn là phao để vượt sông và cũng là chiếu chăn lúc mưa rét; vũ khí và trang bị nay chỉ còn đơn giản là tinh thần chiến đấu.

Lội đồng Hà Nam nước ngập gần cổ, phải cố bám sát nhau mà đi, vì quá tối mà không có đường, tất cả là một cánh đồng nước, mà đích là các bốt địch, đèn sáng trưng, lâu lâu bắn lên một phát pháo dù chiếu sáng để quan sát, cứ lơ lửng mươi phút mới tắt, lúc có đèn là phải đứng yên tất cả, mặt nước phản chiếu càng sáng thêm rõ mồn một. Lúc ra đi chỉ vài chục cán bộ, sao bây giờ có tới bảy tám chục người, hỏi cô giao liên mới biết đó là số các ông các bà ra kháng chiến thăm con, vợ ra thăm chồng, họ phục kích rất bí mật, cứ thấy đoàn bộ đội vào Khu là họ theo, phần lớn là dân Thái Bình và Nam Định. Đi được vài giờ, chú ý quan sát mới biết đường đi là tuyến giữa hai bốt Tây có đèn sáng sẽ an toàn. Nguy hiểm nhất là vượt đường cái quan, các vùng tề công giáo, nhưng đáng sợ nhất là vượt đường số 1 Bắc Nam, xe địch tuần tra liên tục và lính nằm sẵn phục kích, có lần cất vó cả đoàn.

Lo và hồi hộp, ngày ngủ, đêm đi, rồi cũng tới Khu bộ. Anh Thân trưởng Ban 3 ra tiếp đón, bố trí cho chúng tôi nghỉ ngơi để ổn định tinh thần nhận công tác.

Qua tìm hiểu, chúng tôi mới biết đang ở trên đất Quỳnh Côi - Thái Bình, còn làng xóm đường sá ra sao chưa rõ, chỉ biết ăn ở tại nhà cơ sở và "chờ ở đó".

Mới ngủ được một đêm yên giấc trong nhà, trên tấm cánh cửa gỗ nhà chủ, thì nửa đêm hôm sau vừa chợp mắt, có liên lạc gọi bốn anh em dậy đi tập trung ngay. Chúng tôi xách tay nải chạy ra sân đình thì thấy hàng ngũ đã chỉnh tề. Vừa đứng vào hàng Ban 3, thấy một ông to khỏe, vai đeo tay nải, tay cầm gậy ra đứng trước sân đình (đồng chí Đỗ Mười) tuyên bố to: "Địch lại tổ chức càn lớn, nhằm bắt cơ quan Bộ chỉ huy, nay hai mặt sông canô tuần tiễu, bộ binh rải vây đồn ta từ đây ra Biển Đông". Vậy tối nay ta phải mở đường máu vượt sông sang Nam Định, một ngả đồng chí Tham mưu dẫn vượt sông sang Kiến An.

Tôi được biên chế xuống Kiến An, đi sâu ra tận mép biển, Quân khu bộ đã vượt vây an toàn. Nhớ cuộc hành quân không thể quên trong đời, từ Vân Nam về Việt Bắc, Đội 101, rồi vào Kiến An - Hải Phòng chỉ với một "đôi chân vạn dặm". Tôi về phụ trách đài trưởng Hải Kiến, vì lúc đó Ban chỉ huy Hải Phòng và Kiến An là một.

Đã có đơn vị sinh hoạt, đã có công việc làm, cuộc sống thật là bình thản và yên lặng vì kín đáo, xa chợ búa, xa đường cái, hạn chế giao tiếp, liên tục chuyển địa điểm, cứ ba ngày một lần. Hai đêm ngủ và làm việc liên lạc, lại một đêm hành quân và đào hầm bí mật phòng địch càn. Căng thẳng và gian khổ ngày qua ngày. Sinh hoạt lâu đã quen và vào nền nếp, chỉ có một nỗi khổ âm ỉ là muốn nói mà không được nói, hạn chế nói, hạn chế giao tiếp.

Đài ở trong tổ chỉ huy chiến đấu của tỉnh gồm: đồng chí Bí thư tỉnh, Tỉnh đội trưởng (đồng chí Đặng Kinh sau này là Tổng tham mưu phó Quân đội), cơ yếu, tôi và hai quay viên - gọn nhẹ, việc ai người ấy làm ít khi hội họp.

Bề ngoài thấy bình lặng, ngày lại qua ngày. Một hôm vừa làm xong đồng chí cơ yếu rỉ tai tôi hỏi máy móc thế nào, pin còn đủ không? Tôi ngạc nhiên sao ông ấy lại lo cho mình, tôi còn chần chừ thì ông ấy nói luôn: "Tối mai đài phải đi phục vụ đó". Tôi hỏi đi đâu để chuẩn bị, ông không nói mà bảo phải chọn một máy tốt và gọn nhẹ, thế là tôi chọn bộ SCR-694 máy mới thu được ở bốt Hệ đưa đi, còn cái Sinen hộp gỗ thì gói nilông giấu ở hầm.

Sáng hôm sau, đồng chí Đảng - cơ yếu, tôi và anh Thơm - quay viên hành quân cấp tốc ban ngày, vượt qua mấy bốt Tây xuống tận xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng bên sông Văn Úc nhìn sang Đồ Sơn. Vào một nhà cơ sở ở địa phương chuẩn bị, tôi vào buồng kín để lắp máy, căng ăngten lên ngọn cau và bắt liên lạc với đài Bộ (101) và Liên khu bộ. Suốt ngày có điện liên tục báo cáo việc chuẩn bị vào đánh chiếm điểm X. Chiều tối mọi việc đã xong thì anh Đặng Kinh - Tỉnh đội trưởng xuống và ngồi cạnh đài. Ăn cơm xong, anh đứng ngồi không yên, cứ đi ra, đi vào lo âu, anh lệnh cho tôi xin đài Bộ trực chiến Kiến An đêm nay. Rồi cứ lâu lâu, tôi lại gọi thử liên lạc, vẫn tốt.

Bỗng thấy góc trời phía Hải Phòng bừng cháy khói nghi ngút, tiếng nổ vang trời. Anh Kinh vào đưa tôi bức điện báo chuyển ngay cho Bộ. Bây giờ tôi mới rõ là ta tập kích sân bay Cát Bi.

Bao vui mừng phấn khởi được đi phục vụ một trận tập kích lịch sử, nhìn về Cát Bi như một biển lửa, lòng trần ngập sung sướng.

Đêm đã khuya, trời mưa mù nặng hạt, tôi gọi hai ba lần vẫn không thấy trả lời bắt đầu lo, cứ nóng mặt lên mà gọi nhưng vẫn không bắt được liên lạc. Anh Kinh đứng cạnh mong chờ, đồng chí Thơm quay mướt mồ hôi mà vẫn ZAN. Tỏ thái độ thông cảm, anh nhẹ nhàng chỉ thị: "Ta đã đánh đúng, đánh lớn, địch sẽ trả đũa. Chúng ta phải rút về Vĩnh Bảo ngay đêm nay, ở địa điểm cũ, sáng ra là không vượt sông được nữa. Các đồng chí gọi một lần nữa không được thì cho đóng máy rút về ngay, nếu bị vây thì có thể bỏ máy mà vượt về. Báo cáo sau cũng được, mai các đài thế giới sẽ báo trước chúng ta". Rồi đồng chí đi ngay.

Gọi lần nữa vẫn ZAN, đúng là thử kêu đốt xịt. Chỉ còn lại hai anh em đài làm đã mệt, cái mệt nhất lại bị ZAN; cấp tốc rút về cơ sở với quyết tâm phải giữ lấy đài để trưa mai về bắt liên lạc tốt báo cáo Bộ. Vai nặng, chân đau vì đường trơn, vừa đi vừa chạy, cái máy nặng cứ đập vào xương sống kêu lục cục, hai anh em cắm đầu chạy qua làng xóm vẫn yên ngủ, bốt địch vẫn sáng đèn, nó giúp chúng tôi xác định đúng hướng vượt sông an toàn về tới Địch Lương - Vĩnh Bảo, cơ sở tỉnh. Mặt trời đã lên cao, hai anh em lại lắp máy liên lạc, mình đau ê ẩm, xương sống sưng u lên, lúc đó tôi giơ tay xem mấy giờ thì ôi thôi chiếc đồng hồ "Vile", tặng phẩm của Thiếu tướng Hiệu trưởng tặng tôi, với lời dặn dò: “Vô tuyến điện là cần đúng giờ, vậy phải có đồng hồ tốt"; tôi có vẻ e ngại, đồng chí nói tiếp "Cứ lấy để làm việc chứ ở nhà hiếm lắm". Trong lúc chạy vượt vây, một kỷ niệm cũ đã rơi mất!

Công việc gấp, tôi hỏi khắp nơi để mượn đồng hồ, nhưng ở các xóm nghèo ai cần gì đồng hồ mà mua. Thế là chiếc đồng hồ đeo tay của Tỉnh đội trưởng lại về tay tôi, lúc này tất cả vì công việc chung. Chuyển xong bức điện, hai anh em thở phào như trút được gánh nặng; đi suốt đêm, mãi tới trưa vẫn chưa có gì ăn, rủ nhau tìm cái gì lót dạ đã. Ra cửa gặp các anh Ban chính trị cho biết đài các nước đã đưa tin tập kích sân bay Cát Bi, đốt cháy nhiều máy bay.

Làm xong ca chiều, lệnh đóng máy sớm, ăn sớm, hành quân sớm, tôi lại thấy lòng phấn chấn. Tuy nhiên, tôi vẫn ấm ức về chuyện tối hôm trước. Đài bạn là ai? Cớ sao lại ZAN; một đợt phục vụ không trọn vẹn! Cái "ZAN" cay đắng, ngậm ngùi cho mãi tới bây giờ.

Thế mới biết nỗ lực của riêng bản thân chưa đủ, vô tuyến điện là phải hợp đồng đồng bộ chớ bỏ những cuộc hẹn như vậy. Có lẽ bạn tôi ở xa kia đâu có biết hẹn vì một biển lửa đang bốc cháy ở Cát Bi.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”)

24.10.24

Xưởng Thông tin Vô tuyến điện thuộc Sở Vô tuyến điện Việt Nam - tiền thân của Nhà máy Thông tin M1

Đại tá Phạm Ngọc Chuẩn - nguyên Chủ nhiệm Cơ quan Kỹ thuật Binh chủng Thông tin liên lạc

Tiếng súng kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Tối 22 tháng 12 năm 1946, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam tại Thủ đô Hà Nội ngừng hoạt động, sơ tán, di chuyển về An toàn khu Việt Bắc1. Xưởng Vô tuyến điện của Sở Bưu điện Bạch Mai đồng thời cũng được lệnh di chuyển theo. Để đảm bảo bí mật, phải tổ chức di chuyển về ban đêm theo con đường riêng. Máy móc, trang thiết bị mang theo cồng kềnh, nặng nề, nên sau mấy tháng trời mới về tới vùng Thị xã Bắc Cạn. Quá trình di chuyển theo kiểu cuốn chiếu, xưởng tuy được ngừng sản xuất, nhưng vẫn phải đặt, tháo dỡ nhiều lần cho đài phát thanh và các trung tâm thu phát tín của các cơ quan Nhà nước ở các địa điểm mới để các cơ sở này hoạt động không bị gián đoạn. Anh em trong xưởng rất vui vẻ, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ2

Tới giữa tháng 5 năm 1947, việc khôi phục lại hoạt động của xưởng để đáp ứng yêu cầu sản xuất, sửa chữa các máy móc thông tin phục vụ cho xây dựng và chiến đấu của kháng chiến được đặt ra thành một nhiệm vụ rất cấp bách. Sở Vô tuyến điện Việt Nam được Bộ Quốc phòng chỉ đạo thực hiện, đồng thời Liên chi TQT3 cũng ra Quyết định thành lập Chi bộ Đảng lãnh đạo tại Xưởng Vô tuyến điện. Chi bộ gồm 3 đồng chí: Đỗ Ái Liên, Nguyễn Văn An và Phạm Ngọc Chuẩn; đồng chí Đỗ Ái Liên được chỉ định làm Bí thư.

Sau khi Chi bộ Xưởng Vô tuyến điện ra đời thì việc khôi phục lại xưởng được triển khai ngay một cách toàn diện. Ngày 20 tháng 6 năm 1947, Công đoàn được củng số lại, mọi sinh hoạt dần đi vào nền nếp, có tác dụng lớn trong việc giáo dục, ổn định tư tưởng anh em, động viên mọi người hăng hái, phấn khởi, tự giác đóng góp trí tuệ, công sức vào việc thực hiện nhiệm vụ của xưởng, góp phần thiết thực khắc phục những khó khăn chồng chất trong những ngày, tháng đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp thần thánh của nhân dân ta. Tiếp đó, các anh Nguyễn Văn Quý và Ngô Văn Thiệu được Giám đốc Sở Vô tuyến điện Việt Nam giao cho nhiệm vụ phụ trách xưởng.

Từ những điểm xuất phát ban đầu thuận lợi về mặt tổ chức như trên, việc triển khai xây dựng cơ sở doanh trại, nhà cửa, nơi ăn ở, sản xuất của xưởng cũng được tiến hành rất nhanh, rất bài bản. Từ khi khởi công đến khi hoàn thành chỉ trong vòng 2 tháng, đây là thành tích rất đáng ghi nhận thiết thực chào mừng kỷ niệm 2 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công (15.8.1945 - 15.8.1947). Nhà xưởng được xây dựng bằng gỗ, tre, nứa, lá trên một khu đất rộng, nằm sâu trong khu rừng rậm, có nhiều cây cổ thụ, gần Km 8 đường Bắc Cạn - Chợ Đồn. Đường ra vào xưởng là một lối mòn dân sinh, phải qua một số đoạn suối nhỏ, gần tới xưởng lại có con suối lớn có một cầu gỗ nhỏ bắc qua, rất tiện cho sinh hoạt, nhưng lại bí mật, tiện cả cho việc canh gác, bảo vệ. Nhà xưởng là một căn nhà 12 gian, 2 tầng. Tầng dưới làm nơi sản xuất, sửa chữa máy móc, được bố trí một số trang thiết bị, máy cái nặng và cồng kềnh di chuyển từ Hà Nội lên. Tầng 2 làm nơi ngủ, nghỉ, sinh hoạt cho cán bộ, công nhân. Các công trình phụ cũng được bố trí rất hợp lý, khoa học ở gần đó.

Sau khi hoàn thành xây dựng, xưởng bắt tay vào sản xuất ngay. Phải xem lại các máy thu phát vô tuyến điện mang theo từ Hà Nội lên để cấp cho các nơi; phải sửa lại các máy vô tuyến điện hư hỏng trong quá trình chiến đấu từ các đơn vị gửi về. Còn một số việc rất khó là phải làm sao có thêm nhiều máy thu phát mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quân đội. Trong giai đoạn đầu hết sức khó khăn, thiếu thốn của cuộc kháng chiến chống Pháp lúc bấy giờ, không kể đến nhiệm vụ thường xuyên mà xưởng lúc nào cũng phải lo là bảo đảm kỹ thuật phát sóng cho Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, các đài thu phát tin của một số cơ quan, đơn vị.

Để giải quyết những yêu cầu trên, Xưởng đã đề cập đến vấn đề phải tự nghiên cứu các loại máy đang dùng; thiết kế lại, rồi lắp ráp, sản xuất ra một số máy thu phát mới. Việc này được tập thể lãnh đạo và cán bộ, công nhân viên của xưởng bàn bạc kỹ rồi giao cho anh Nguyễn Văn Quý - quản đốc xưởng và anh Lê Bá Lộc, một công nhân có tay nghề giỏi tiến hành. Thế là chỉ sau ít ngày miệt mài lao động, hai anh đã cho ra một mẫu máy vô tuyến điện thu phát sóng ngắn mới, cho chạy thử, chất lượng bảo đảm, được cấp trên thông qua và cho đưa vào sản xuất theo kế hoạch, lấy tên là SX-A1. Loạt máy đầu tiên được ra lò là 10 bộ trong không khí hết sức phấn khởi của cả xưởng và Sở Vô tuyến điện Việt Nam (Sở Bưu điện Bạch Mai cũ).

Công việc đang tiến hành thì vào 6 giờ sáng ngày 7 tháng 10 năm 1947, giặc Pháp bất ngờ nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn, mở đầu cuộc tấn công lên Chiến khu Việt Bắc của ta với ý đồ là chộp gọn, tiêu diệt hết các cơ quan đầu não kháng chiến. Tuy nhiên, do phán đoán trước được âm mưu thâm độc của địch, kế hoạch sẵn sàng chiến đấu của quân và dân thị xã Bắc Cạn đã được đề ra. Một mặt, quân và dân ta chặn đánh quân địch một cách quyết liệt; một mặt sơ tán kịp thời nhân dân và các cơ quan trọng yếu về các căn cứ mới đã có chuẩn bị trước (riêng với các cơ quan đơn vị thuộc Sở Vô tuyến điện Việt Nam, thì cán bộ và nhân viên Đài phát thanh chuyển về Trung tâm phát tín sơ tán đi chợ Dờ, Ba Bể để tiếp tục làm việc; trang thiết bị để lại cùng trang, thiết bị của xưởng vô tuyến điện được cán bộ, công nhân viên của xưởng với sự hỗ trợ của dân quân tháo dỡ, di chuyển, cất giấu vào sâu trong rừng, có bố trí kế hoạch tự vệ canh phòng và chặn đánh địch từ xa).

Khoảng 9 giờ sáng ngày 7 tháng 10, địch từ thị xã Bắc Cạn đánh nống ra khu vực Km 3 đường đi chợ Đồn, anh Chuẩn đã chỉ huy một bộ phận anh em phối hợp với 1 trung đội tự vệ xưởng quân giới ở gần đó đánh trả quyết liệt, gây cho địch một số thương vong buộc chúng phải rút chạy, quay về thị xã Bắc Cạn, bỏ lại một xác lính Pháp chết nằm úp mặt vào một chiếc máy phát điện 24 kW của Đài phát thanh ta chưa kịp chuyển đi. Có một câu chuyện rất vui: cũng tối ngày 7 tháng 10, Đài phát thanh của địch tại Hà Nội vừa phát đi một bản tin khoe khoang là chúng đã tấn công phá tan được Đài phát thanh tiếng nói của ta tại một địa điểm thuộc ngoại ô thị xã Bắc Cạn. Tiếp ngay sau đó, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam (tại địa điểm mới) lên tiếng phát đi bản tin cũng tại địa điểm trên, cuộc tấn công của quân Pháp đã bị ta đánh trả tơi bời, một số tên bị chết và bị thương, có một xác lính Pháp bỏ lại.

Không cam tâm thất bại, sáng ngày 8 tháng 10, địch lại từ thị xã Bắc Cạn nống quân ra, tiến về Km 8. Chúng rẽ vào lối đường mòn dẫn tới xưởng vô tuyến điện của chúng ta thì gặp tổ 3 người của anh Nguyễn Văn An từ phía trong đi ra. Lợi dụng địa hình che khuất, các anh đã chủ động tấn công chúng bằng một loạt lựu đạn. Một số tên dịch ngã vật ra chết, buộc chúng phải dừng lại. Giữa lúc đó, anh em ở trong xưởng vô tuyến điện cũng được tổ anh An trở về báo tin, kịp thời đưa lực lượng ra tiếp ứng. Bị chết và bị thương nặng nề, những tên sống sót la ó, chửi bởi nhau ầm ĩ, lại bị tiếp tục tấn công mạnh. Tiếng súng các loại, tiếng lựu đạn nổ ầm ĩ. Lửa từ một số lán gần đó cháy rừng rực. Quá hoảng hốt, bọn địch đã phải tháo chạy một cách hỗn loạn, không một tên nào dám ngoái cổ lại.

Ngày 9 tháng 10, đề phòng địch có thể ngoan cố quay lại, xưởng vô tuyến điện tổ chức rút sâu vào trong rừng, chỉ để một tổ ở lại canh gác, bí mật nghe ngóng tình hình Tuy nhiên, cả ngày 9 và các ngày sau đó tình hình trở lại yên tĩnh. Một tuần sau, trong khu vực sơ tán lương thực, thực phẩm cạn dần, theo lệnh của đồng chí Nguyễn Văn Tình, Giám đốc Sở Vô tuyến điện, xưởng đã cử anh Phạm Ngọc Chuẩn vượt ra khỏi nơi có địch, giả là người Mán, chống gậy theo đường tắt về khu vực bản Mù, Định Hóa, Thái Nguyên báo cáo, xin chỉ thị cấp trên. Qua đó, Sở Vô tuyến điện cùng với Xưởng Vô tuyến điện đã được Bộ Quốc phòng đồng ý cho phép di chuyển ra khỏi vòng vây địch, về tạm thời ở khu vực bản Lác, chợ Chu, Thái Nguyên. Qua mấy ngày hành quân xuyên rừng rậm, đặc biệt phải qua dãy núi đá tai mèo, đèo Khuổi Piểu, đoàn mới về được tới đích. Dọc đường, tại suối Mỏ, dân sợ địch chạy vào rừng sâu hết. Hết gạo, đoàn phải liên hệ với dân xin gặt lúa ở ngoài đồng về xay giã lấy gạo ăn, nghỉ vài buổi cho lại sức.

Về bản Lác được ít ngày thì xưởng lại nhận được chỉ thị của Bộ Quốc phòng cho xây dựng gấp một đài phát sóng mới với chất lượng tiếng nói khỏe hơn, rõ hơn ở Khuôn Cướm, xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, Tuyên Quang để cho Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam lên tiếng vào đúng 0 giờ ngày 10 tháng 2 năm 1948, tức là phút Giao thừa năm Mậu Tý, thay cho Đài phát thanh sơ tán tạm thời đã có sẵn ở khu vực Ba Bể, chợ Rã. Việc này có ý nghĩa vô cùng quan trọng là để Bác Hồ, Đảng và Nhà nước chúc Tết nhân dân vào thời điểm thiêng liêng nhất của năm mới, đồng thời cũng là để thông báo cho nhân dân cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài và nhân dân thế giới biết sự thất bại nhục nhã của bọn thực dân xâm lược Pháp trong cuộc tấn công điên rồ của chúng lên chiến khu Việt Bắc, Thủ đô kháng chiến thần thánh của nhân dân ta.

Biết rõ việc trên đây là hết sức khó khăn. Tuy nhiên, đây là một việc có ý nghĩa chính trị đặc biệt, nên toàn xưởng vô tuyến điện, dưới sự chỉ đạo của Sở Vô tuyến điện Việt Nam đã hạ quyết tâm, động viên nhau dù có khó khăn đến mấy cũng phải vượt qua, đoàn kết, tận tâm, tận lực làm cho bằng được. Do được dân chủ bàn bạc kỹ, lên kế hoạch chu đáo, phân công tỉ mỉ đến từng người, từng bộ phận; triển khai gấp không kể ngày đêm, gặp khó khăn trở ngại gì là lại bàn bạc, trao đổi giải quyết ngay, nên cuối cùng chỉ thị của trên cũng đã được thực hiện nghiêm chỉnh. Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam mới đã được xây dựng xong, hoàn thành trước ngày quy định. Đúng vào phút Giao thừa năm Mậu Tý, đài đã lên tiếng với chất lượng âm thanh tốt hơn hẳn mọi ngày trước, đặc biệt là với một nội dung thật hấp dẫn, phấn chấn, đáp ứng lòng chờ mong của nhân dân ta ở khắp nơi và bạn bè toàn thế giới; động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước xông lên giết giặc lập công, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Sau 2 tháng tấn công lên Việt Bắc, quân Pháp đã bị thất bại thảm hại, phải rút chạy, bỏ lại trên chiến trường nhiều xác chết và nhiều quân trang, vũ khí, quân dụng trong đó có cả những máy móc, thiết bị thông tin, nhất là thiết bị thông tin vô tuyến điện.

Nghỉ ngơi trong dịp Tết Nguyên đán mấy ngày, Xưởng thông tin vô tuyến điện theo kế hoạch chỉ đạo của Bộ lại bắt tay vào việc khôi phục lại nhà cửa, nơi ăn, ở, nơi sản xuất, lắp đặt trang thiết bị, máy móc ở một địa điểm mới kín đáo, an toàn hơn, nhưng cũng khang trang, tiện nghi hơn, phù hợp với yêu cầu sinh hoạt, yêu cầu sản xuất và yêu cầu quân sự. Trong việc này, Xưởng Vô tuyến điện đã tiến hành với khí thế chiến thắng chung, đồng thời về vật chất kỹ thuật còn tận dụng được nhiều loại máy móc, thiết bị thông tin chiến lợi phẩm thu lại được từ các mặt trận gửi về. Đồng thời, vừa sửa chữa khôi phục, anh em công nhân vừa tranh thủ lắp ráp được một loạt máy SX-A1, rồi SX-A2 kịp thời đáp ứng được một phần yêu cầu phát triển của Quân đội ta lúc này.

Đến năm 1951, Xưởng vô tuyến điện thuộc Sở Vô tuyến điện Việt Nam được hợp nhất với Xưởng thông tin CRL của Bộ Tổng Tham mưu và Xưởng Vô tuyến điện Tây Bắc thành Xưởng 82 trực thuộc Cục Thông tin liên lạc. Xưởng được chuyển về xây dựng tại Nà Guồng, Định Hóa, Thái Nguyên. Sau ngày Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, xưởng được chuyển về Hà Nội. Những năm sau này, khi sáp nhập thêm một số xưởng khác vào, xưởng được đổi tên thành Nhà máy Thông tin M1. Đến năm 1985, nhân kỷ niệm 40 năm Ngày truyền thống, nhà máy được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”)

----------------------------

1 Đài đã được thay thế bằng các cơ sở dự bị đã được chuẩn bị trước ở nơi an toàn.

2 Vì xưởng được giao nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật cho các cơ sở trên.

3 TQT là tổ chức Đảng thuộc Bộ Tổng tư lệnh Quốc phòng, Thương binh. Sở Vô tuyến điện Việt Nam lúc này thuộc Bộ Quốc phòng; xưởng vô tuyến điện lại thuộc Sở Vô tuyến điện.

23.10.24

Kỷ niệm về bộ điện đài đầu tiên

Thiếu tướng Nguyễn Diệp (nguyên cán bộ Xưởng XRL)

Cuối quý I năm 1947, tôi được điều động từ Khu 10 về làm việc tại xưởng CRL thuộc Phòng Thông tin Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh.

Xưởng mới hình thành từ cuối năm 1946, chuyển lên An toàn khu sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) nên mới có hơn chục cán bộ, nhân viên gồm bộ phận cơ điện phụ trách nguồn điện của xưởng và sửa chữa máy nổ, máy phát điện, ắc quy... quấn mô tơ, biến áp; bộ phận sửa chữa lắp ráp máy điện thoại, tổng đài và bộ phận sửa chữa lắp ráp máy vô tuyến điện.

Là một trưởng đài, nhờ tự học, biết nguyên lý và mạch điện một số điện đài dùng phổ biến ở các đơn vị như: SST-SSR, máy phát kiểu Hắclây, kiểu Mesny, máy thu Schnell, điện đài MKII, MK15, SCR-694. tôi được phụ trách bộ phận sửa chữa lắp ráp vô tuyến điện.

Giữa năm 1947, do nhu cầu trang bị điện đài cho các đơn vị hoạt động trong vùng địch hậu nên xưởng đặt kế hoạch sản xuất một điện đài hoàn chỉnh cả máy thu, máy phát, nguồn điện phù hợp với yêu cầu sử dụng là phải gọn nhẹ, tiện cơ động, dùng máy phát điện quay tay (Ragonô), pin...

Căn cứ vào khả năng thực tế về linh kiện, phụ tùng hiện có, tôi đề xuất lắp ráp máy phát kiểu SST dùng đèn 6L6 dao động bằng thạch anh, cấp điện bằng Ragonô GN58 chiến lợi phẩm, máy thu kiểu Schnell dùng 3 đèn 6K7, 6J7 vì không có loại đèn dùng sợi đốt trực tiếp như 30.31; nguồn của máy thu: 6V3 cho sợi đốt có thể dùng GN58 vì loại Ragonô này có bộ điều tốc và bộ lọc tốt nên khi quay không tiếng ù, cao áp thì dùng pin 45V. Khi làm việc tuy phải quay Ragonô liên tục nhưng khi thu do máy tiêu thụ công suất ít nên rất nhẹ, mặt khác chuyển từ thu sang phát rất nhanh vì sợi đốt đèn máy phát vẫn được cấp điện, thậm chí với đối tượng cần làm liên lạc kiểu BK (đơn công có xen ngắt) vẫn dùng được.

Sau khi xác định được sơ đồ lắp ráp, việc sưu tầm linh kiện, làm bệ máy, hộp đựng máy cũng rất phức tạp vì trong kho chỉ có một số máy chiến lợi phẩm bị bắn hỏng hoặc cháy, dụng cụ cơ khí cũng thiếu thốn...

Tôi còn nhớ phải gỡ linh kiện từ bộ máy của một chiếc máy bay địch bị bắn cháy, bệ máy còn phảng phất mùi khói của xăng và xác phi công bị cháy khét! Việc làm bệ máy cũng tốn công vì phải lấy một phuy xăng 200 lít, dùng cưa, cắt, gò, khoan bằng các dụng cụ thủ công! Điện đài được lắp xong trông cũng gọn gàng, xinh xắn nhưng vỏ máy phải sơn bằng bút không có máy phun nên không bóng đẹp như máy "ngoại". Vì không có dụng cụ đo lường để kiểm tra chính xác các tính năng kỹ thuật, đồng thời là một trưởng đài cũ nên tôi đề nghị được đem máy đến cụm điện đài của Bộ để thử liên lạc với các đơn vị.

Phiên đầu tiên thử liên lạc với Liên khu 3 (cự ly đường chim bay khoảng 150 km) được đài bạn đánh giá tốt (QSA4) tín hiệu trong, dễ tìm. Sau đó tôi thử tiếp với đối tượng ở xa hơn là đài của Liên khu 4 ở cự ly khoảng 300 km, kết quả cũng khả quan, đài bạn cho QSA31.

Không dừng ở kết quả đó, tôi chọn một thạch anh ở tần số cao hơn và xin thử liên lạc với Liên khu 5 ở cự ly khoảng 800 km. Thật không ngờ, đài bạn cũng tìm được tín hiệu hơi nhỏ QSA2 nhưng vẫn có thể nhận được điện vì không bị nhiễu.

Sau thành công bước đầu đó, xưởng chúng tôi tiếp tục lắp một số điện đài đồng bộ để trang bị cho các đơn vị. Anh Lê Dung - xưởng trưởng cũng trực tiếp lắp một máy phát 2 đèn theo kiểu máy MKII có tầng chủ sóng và tầng khuếch đại công suất nên liên lạc tốt với đài Nam Bộ trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Ngày nay ở các trung tâm phát đều dùng những máy phát hiện đại, có độ ổn định tần số cao, có công suất lớn, nhưng chúng tôi vẫn không thể nào quên những loại máy đơn giản do ta lắp ráp trong thời kỳ bộ đội Thông tin còn non trẻ vì chính những bộ máy đó đã góp phần bảo đảm liên lạc trong cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”)

--------------------------------------------------------------------------

1 QSA3 là chữ tắt theo luật Q để đánh giá chất lượng tín hiệu thu được. Có 5 cấp QSA 1, 2, 3, 4, 5.