28.3.25

Nhớ mãi ngày 30 tháng 4 năm 1975

Đại tá Hà Duy Trọng - nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77

Đời người lính gần bốn chục năm trời đi suốt chiều dài cuộc trường chinh chống Pháp và Mỹ, tôi có rất nhiều kỷ niệm nhưng sâu sắc nhất, tự hào nhất và cũng là vinh dự lớn nhất được làm một nhân chứng lịch sử vào những giờ phút trọng đại oanh liệt của cuộc kháng chiến trường kỳ 30 năm liên tục đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc mình.

Ngay từ sáng sớm 30 tháng 4 năm 1975, tôi đã có mặt ở Sở chỉ huy của Bộ Quốc phòng trong nội thành Hoàng Diệu (khu A) bám sát từng phiên liên lạc, theo dõi từng bức điện chuyển nhận bằng vô tuyến điện, sóng ngắn và bằng sóng cực ngắn vô tuyến điện tiếp sức nối thông liên lạc với Sở chỉ huy Miền (B2). Khi mặt trận đang bước vào thời điểm quyết định, chúng tôi chấp hành yêu cầu đảm bảo để Đại tướng Tổng Tư lệnh nói chuyện thẳng với Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh. Tôi trực tiếp cắm máy theo dõi điều hành cuộc đàm thoại trở thành có một không hai này. Khi nghe lệnh Cục Tác chiến yêu cầu anh Tuấn (bí danh đồng chí Văn Tiến Dũng) ra máy nói chuyện với anh Chiến (bí danh Đại tướng), chúng tôi liền đáp ứng ngay yêu cầu ấy và chăm chú theo dõi ngay từ đầu từng lời Đại tướng Tổng Tư lệnh nói: "Những ý kiến các anh điện ra, các anh ấy (Bộ Chính trị) đã có điện trả lời; bây giờ các binh đoàn trên các hướng tiếp tục tấn công, không được dừng lại. Dương Văn Minh chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Chúc các anh đại thắng, ôm hôn các anh, ôm hôn tất cả các anh em"! Một mệnh lệnh rõ ràng báo giờ phút chiến thắng huy hoàng sắp đến. Trong lòng chúng tôi - những cán bộ, chiến sĩ thông tin ở Sở chỉ huy đều dâng lên niềm hân hoan vô cùng xúc động, náo nức, hồi hộp đón chờ cho đến khi nghe đài báo quân ta đã hoàn toàn làm chủ thành phố Sài Gòn, đã chiếm xong Sở chỉ huy Bộ Tổng Tham mưu ngụy và cờ giải phóng đã phấp phới bay trên nóc Dinh Độc Lập, cả bộ máy ngụy quyền đã cúi mình xin đầu hàng. Tôi lúc này như người bay bổng lâng lâng, xúc động chảy nước mắt kêu to lên: này các cậu ơi, Sài Gòn giải phóng rồi! Mọi người reo vang ôm lấy nhau mà hò hét sung sướng tột cùng.

Thuở đời Trần "Người lính già đầu bạc. Kể mãi chuyện Nguyên - Phong". Nghĩ về sự tích ấy, nhân ngày kỷ niệm 30 tháng 4 năm nay là anh lính già "Bộ đội Cụ Hồ" nghỉ hưu và lão tướng Võ Nguyên Giáp là Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh, tôi vẫn thấy lời nói và hình ảnh của anh Văn thân thiết và có sức mạnh diệu kỳ mà ngay tướng Pháp Bi-gia đã xác nhận:

"...Ông Giáp đã chỉ huy chiến đấu thắng lợi, trong một thời gian đặc biệt lâu dài. Đạt được như thế trong suốt 30 năm, là một kỳ tích chưa từng thấy...” Và tướng Oét-mo-len - Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở chiến trường Đông Dương ca ngợi: ..."mọi đức tính tạo thành một Thống soái quân sự lớn như: sự quyết đoán, sức mạnh tinh thần, khả năng tập trung suy nghĩ và hành động, trí thông minh. Tất cả những đức tính ấy, ông Giáp đều có, ông là một người quả quyết, một Thống soái vĩ đại...".

Không những thế, Đại tướng còn được cả thế giới biết đến và mến phục, đã được ghi danh vào từ điển của nước Anh, nước Pháp. Rất xứng đáng tiêu biểu cho các anh hùng dân tộc Việt Nam. Những điều đó không những là vinh dự của cá nhân mà còn là niềm tự hào chung của dân tộc.

Tôi suy nghĩ và ngợi ca như vậy!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

26.3.25

Thông báo mời họp

Kính gửi: Các đồng chí trong Ban liên lạc và các đồng chí Chi hội trưởng thuộc Hội Truyền thống Thông tin khu vực Hà Nội.

Thường trực Ban liên lạc Hội Truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc khu vực Hà Nội trân trọng kính mời các đồng chí Chi hội trưởng (hoặc phó) các chi hội truyền thống đến dự Hội nghị Ban liên lạc mở rộng của Hội.

Thời gian: 8h00, ngày 13 tháng 4 năm 2025.

Địa điểm: Hội trường SCH Tiểu đoàn 76/Lữ đoàn 205 (ngõ 168 phố Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, TP. Hà Nội).

Các đồng chí đi họp nộp báo cáo:

- Danh sách hội viên tăng và giảm từ tháng 4/2024 đến 4/2025 (danh sách tăng phải có họ tên, năm sinh, cấp bậc khi ra quân, chỗ ở, điện thoại).

- Danh sách hội viên của chi hội hiện tại.

- Danh sách hội viên được chúc thọ năm 2025 (những hội viên tuổi 70, 75, 80, 85, 90, 95, 100 tuổi - tính theo tuổi dương lịch).

- Danh sách hội viên cao tuổi đề nghị Hội chúc Tết Bính Ngọ - Xuân 2026 (1 bản tuổi 95 trở lên, 1 bản tuổi 90 đến 94).

- Hội phí năm 2025 (30.000đ/hv/năm).

- Danh sách hội viên có thay đổi thông tin.

- Danh sách hội viên từ trần.

Thường trực Hội trân trọng đón tiếp các đồng chí!

Hà Nội, ngày 26 tháng 3 năm 2025

Trưởng ban liên lạc

THIẾU TƯỚNG Vũ Dương Nghi 

25.3.25

Hội nghị Thường trực Ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội năm 2025

Sáng 25/3/2025, tại d76/lữ 205, đồng chí Vũ Dương Nghi – Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội đã chủ trì Hội nghị Thường trực Ban liên lạc nhằm bàn các nội dung công tác Hội năm 2025, trước mắt là Hội nghị Ban liên lạc mở rộng trong thời gian tới. Tham dự hội nghị có các đ/c trong Thường trực Ban liên lạc.

Đ/c Vũ Dương Nghi chủ trì Hội nghị.

Đ/c Trưởng ban liên lạc đã gợi ý một số nội dung thảo luận trong Thường trực BLL:

- Đánh giá, rút kinh nghiệm các mặt công tác năm 2024, đặc biệt là buổi Gặp mặt kỷ niệm 79 năm Ngày Truyền thống Bộ đội TTLL Anh hùng tổ chức tại SCH L205 ngày 24/8/2024.

- Rút kinh nghiệm về công tác chính sách 2024 thông qua các hoạt động mừng thọ và chúc Tết nguyên đán Ất Tỵ 2025 của Thường trực BLL và các chi hội; công tác thăm, viếng hội viên và gia đình hội viên có hoàn cảnh khó khăn năm 2024.

- Nghe báo cáo sơ bộ về công tác tổ chức Hội, về quân số hội viên.

- Nghe báo cáo về công tác tài chính năm 2024.

- Nghe báo cáo về tình hình thực hiện Quy chế Hội.

- Nghe báo cáo về công tác tuyên truyền các hoạt động truyền thống của các chi hội và những công việc dự kiến tuyên truyền nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công, Quốc khánh Việt Nam và Ngày Truyền thống Bộ đội TTLL.


Các đ/c ủy viên thường trực BLL dự hội nghị.

Hội nghị cũng đã thảo luận về các mốc thời gian tiến hành các hoạt động chính của Hội trong năm như: thời gian tổ chức Hội nghị BLL mở rộng, thời gian đăng ký làm việc với Thủ trưởng BTL và dự kiến thời gian tổ chức Gặp mặt toàn thể hội viên nhân dịp kỷ niệm 80 Ngày Truyền thống Bộ đội TTLL...

Đ/c Trưởng ban đã kết luận triệu tập Hội nghị BLL mở rộng vào ngày 13/4/2025 tại SCH d76/Lữ đoàn 205.

Tin, ảnh Quang Hưng 

15.3.25

Bữa cơm sau chiến dịch

Trung úy Nguyễn Thị Thuận - nguyên Chính trị viên phó Đại đội 20, Chính trị viên Trạm KC100B Trung đoàn 134

Câu chuyện kể về bữa cơm liên hoan sau chiến dịch của gia đình đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN với Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc Tạ Đình Hiểu và các chiến sĩ thông tin Trung đoàn 134, tham gia chiến dịch Trị Thiên năm 1972.

Đại tướng Lê Trọng Tấn (1914-1986). Ảnh tư liệu

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ chiến dịch Trị Thiên (1972), tôi được thủ trưởng Trung đoàn 134 cho nghỉ phép đúng vào dịp cả nước đang tưng bừng đón Xuân Quý Sửu 1973, cũng đúng vào thời điểm Nhà nước ta đấu tranh thắng lợi trên mặt trận ngoại giao buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri và ngừng ném bom đánh phá miền Bắc.

Ngày 10 tháng Giêng âm lịch, trên đường trả phép, tiết Xuân se lạnh, trời lất phất mưa, đang mải miết đạp xe trên đường Hoàng Diệu, chợt tôi nghe tiếng gọi: "Thuận! Thuận! Đồng chí Thuận". Phanh xe dừng lại, tôi ngỡ ngàng, một chiếc xe Vonga đen đỗ cách tôi chừng 50m, một anh bộ đội nhoài người ra cửa xe vẫy tay rối rít. Quay xe lại, tôi nhận ra người vẫy gọi là anh Tời, cán bộ bảo vệ đồng chí Lê Trọng Tấn - Vị Tư lệnh chiến dịch Trị Thiên cách đây hơn một tháng chúng tôi có vinh dự được phục vụ bảo đảm thông tin liên lạc. Thủ trưởng Tấn mở cửa xe nhìn ra hỏi: "Cháu ra bao giờ? Có khỏe không? Gia đình ăn Tết vui vẻ chứ? Bây giờ chú bận đi làm việc, chiều mai rủ các bạn cùng công tác trong chiến dịch đến nhà chú liên hoan mừng thắng lợi nhé, đến càng đông càng tốt". Tôi lúng túng chẳng nói được gì, chỉ đáp lý nhí: "Vâng ạ".

Về đến đơn vị, cả đêm ấy tôi không sao ngủ được, kỷ niệm về những ngày đi chiến dịch ùa về. Mặt trận Trị Thiên, chiến sự diễn ra ác liệt kéo sang cả mùa mưa, đường dây thông tin do chúng tôi phụ trách bị mưa gió làm đổ cột, hỏa lực, máy bay địch bắn phá liên tục, chất lượng thông tin ảnh hưởng, thủ trưởng Tấn thường xuyên gọi tôi sang địa đạo chỉ huy sở nhắc nhở, khi về bao giờ chúng tôi cũng được đồng chí cho quà (khi thì bao thuốc, gói chè, khi thì gói kẹo, bánh xà phòng thơm...). Đồng chí nhắc nhở tôi về động viên anh chị em chiến sĩ trong trạm giữ vững quyết tâm, khắc phục khó khăn, bảo đảm thông tin liên lạc cho tốt. Nhiều lần đồng chí còn hẹn: kết thúc chiến dịch ra Hà Nội chú sẽ tổ chức liên hoan. Không ngờ lời hứa tưởng như khó thực hiện ấy thì hôm nay đã thành hiện thực. Nhưng ngặt một nỗi, tại đơn vị, số chiến sĩ tham gia chiến dịch về chỉ có 3 anh em: kỹ sư Đàm Ngọc Thạch, chiến sĩ tải ba Nguyễn Thanh Mai và tôi, còn đồng chí Phạm Ngọc Thăng - trưởng ban cán sự và đồng chí Nguyễn Huy Văn, ủy viên ban cán sự tiền phương đơn vị 134 đi công tác vắng.

Đúng hẹn, 5 giờ chiều hôm sau chúng tôi có mặt. Thấy chỉ có 3 người, thủ trưởng liền hỏi: Sao đến ít thế? Tôi trình bày: Một số còn ở lại để bàn giao công việc với Quân khu, một số chuyển thẳng về đơn vị cũ, một số nghỉ phép Tết chưa lên.

Vẫn giọng nói trầm ấm, tình cảm như thời gian trong chiến dịch, đồng chí hỏi thăm sức khỏe chúng tôi và gia đình. Lần lượt 3 chúng tôi kể về những ngày vui đón Xuân cùng người thân tại quê hương. Một lát sau đồng chí Tạ Đình Hiểu - Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc cũng đến. Chúng tôi rất mừng và yên tâm hơn, sự hồi hộp lo âu cũng qua đi.

Đến giờ ăn, ngồi cùng bàn có hai vợ chồng thủ trưởng Tấn, anh Minh - thư ký, anh Tời - bảo vệ, anh Thận – bác sĩ, thủ trưởng Hiểu và 3 chúng tôi.

Trong khi ăn cơm, câu chuyện chiến đấu anh dũng của cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch, kỷ niệm về những ngày gian khổ ác liệt mà hào hùng của 10 tháng diễn ra chiến dịch Trị Thiên được mọi người đưa thành chủ đề bàn luận sôi nổi, cứ như cuộc nói chuyện trong bữa ăn gia đình. Chúng tôi vô cùng tự hào và nhớ mãi lời động viên của thủ trưởng Tấn: Với các cháu ở Trạm 100A, 100B phục vụ thông tin liên lạc trong chiến dịch, tôi đã có gặp và khen ngợi nhiều lần, hôm nay nhân có đồng chí Hiểu, Tư lệnh thông tin, tôi nhắc lại vừa là ghi nhận, vừa là động viên bộ đội thông tin:

- Chiến dịch Trị Thiên vừa qua có nhiều tình huống diễn biến bất ngờ, về thời gian dự định hết mùa khô kết thúc, nhưng rồi kéo dài sang cả mùa mưa. Chiến dịch mở màn được hai tuần thì địch quay lại đánh phá miền Bắc rất ác liệt. Tuyến đường trục dây trần với các trạm máy xây dựng dã chiến vừa gấp, vừa dài, qua nhiều địa hình rừng núi, sông suối phức tạp, khó khăn, hiểm trở, thường xuyên bị địch đánh phá. Khi chiến dịch kéo dài sang mùa mưa, những đợt mưa dầm dề, công sự chiến hào sụt lở, cột đổ, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng công tác bảo vệ khai thác đường dây. Tuy vậy, các cháu ở đường dây, trạm máy vẫn giữ vững quyết tâm không ngại mưa gió, đêm tối, vượt qua dưới làn bom đạn bảo đảm liên lạc thông suốt cho Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ huy chiến đấu thắng lợi. Cũng có những trận đánh đang diễn ra ác liệt, liên lạc bị gián đoạn, Bộ chỉ huy chiến dịch và Tư lệnh các quân binh chủng đòi hỏi liên lạc rất gay gắt, có lúc ra lệnh như áp đặt: phải đảm bảo "bằng được" liên lạc ngay, bất kể lúc nào! Trước sự đòi hỏi thông tin liên lạc cực kỳ gay gắt như vậy, điều đáng khen là các cháu bên tổng đài vẫn kiên nhẫn chịu đựng, bình tĩnh, bảo đảm thông tin liên lạc. Bộ chỉ huy chiến dịch, các cơ quan, đơn vị trong đội hình chiến dịch đều rất hài lòng với tinh thần trách nhiệm cao của các cháu và cũng đã trực tiếp biểu dương khen ngợi nhiều lần.

Đồng chí Tạ Đình Hiểu đáp lại:

- Cảm ơn anh đã có lời khen các cháu và các đơn vị thông tin trong chiến dịch, sắp tới bộ đội thông tin còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa mới đáp ứng được yêu cầu của chiến trường. Binh chủng sẽ rút kinh nghiệm để phục vụ thông tin tốt hơn.

Sau bữa ăn, trong lúc ngồi uống nước nói chuyện vui, thủ trưởng Tấn tâm sự: "Chiếc máy điện thoại luôn gắn liền với mỗi người chỉ huy, tôi cũng vậy. không lúc nào tôi rời xa nó được vì công việc. Trong chiến dịch vừa qua, anh em đã lắp cho tôi một chiếc máy mới nhưng nó làm tôi bị dị ứng, đỏ tấy cả hai tai". Nói xong, thủ trưởng Tấn nghiêng tai cho mọi người xem, chúng tôi nhìn nhau ái ngại, thương cảm.

Đồng chí Hiểu hỏi tôi:

- Sao không khắc phục được?

Tôi thưa lại: Trong chiến dịch, chiếc máy điện thoại TA-57 là chiếc máy tốt nhất, nhẹ nhất, chỉ dùng cho lãnh đạo chỉ huy, tai nghe được bọc cao su, thủ trưởng Tấn bị dị ứng với cao su, nhưng không có máy nào tốt hơn để thay thế. Khi nghe, hai chiến sĩ đường dây Trúc và Luận kiểm tra về báo cáo, tôi đã lấy miếng vải trắng mỏng sang bọc lại, song hạn chế một phần do vải mỏng, vì nếu bọc vải dày thì ảnh hưởng đến chất lượng tín hiệu.

Đồng chí Hiểu nói:

- Chúng tôi sẽ chỉ thị cho anh em Phòng Kỹ thuật nghiên cứu khắc phục.

Trước khi ra về, thủ trưởng Tấn ký tặng riêng cho tôi một tấm ảnh do chính thủ trưởng chụp một cành phong lan rừng mới nở trên đường hành quân đi chiến dịch làm kỷ niệm. Chia tay chúng tôi, đồng chí Tạ Đình Hiểu bắt tay tôi và nói: "Cảm ơn các đồng chí, cảm ơn đơn vị 134 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thông tin liên lạc chiến dịch, được đồng chí Tổng Tham mưu phó khen ngợi, khi về nhớ báo cáo lại cho thủ trưởng đơn vị biết buổi gặp mặt tối nay nhé".

Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh, tôi thay mặt ba người báo cáo với đồng chí Phạm Ngọc Thăng - Chính ủy, đồng chí Nguyễn Huy Văn - Tham mưu trưởng về buổi gặp mặt hôm đó. Các đồng chí rất phấn khởi.

Sau một thời gian ngắn, tôi được điều về cơ quan Tham mưu đơn vị 134, làm trợ lý tham mưu. Nhân một chuyến công tác xuống đơn vị, tôi được đi cùng Chính ủy Thăng và Tham mưu trưởng Văn. Khi qua Hà Nội, đoàn chúng tôi ghé thăm Tư lệnh Tạ Đình Hiểu tại nhà riêng, nghe đồng chí Hiểu kể lại lý do đồng chí cũng có mặt ở nhà đồng chí Lê Trọng Tấn ăn liên hoan cùng chúng tôi hôm đó là do đồng chí Tấn gọi điện thoại nhắn đến. Mặc dù bận rất nhiều công việc, đồng chí Hiểu cũng thu xếp đến ngay. Theo đồng chí Hiểu: "Buổi gặp mặt giữa đồng chí Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn với chúng tôi và đồng chí Tư lệnh hôm đó được xem như buổi gặp mặt giữa lãnh đạo chỉ huy Bộ Tổng Tham mưu với những người chiến sĩ đại diện Binh chủng Thông tin. Sau buổi đó về, đồng chí Hiểu kể lại với các đồng chí trong Đảng ủy, chỉ huy Binh chủng, các đồng chí rất vui, coi đây là niềm tự hào của Binh chủng..". Đồng chí Hiểu kể tiếp tình cảm chân thành, yêu thương, gần gũi các chiến sĩ của đồng chí Lê Trọng Tấn ở các đơn vị từ Chiến dịch Biên Giới thời kỳ chống Pháp đến chống Mỹ mà đồng chí đã chứng kiến. Đồng chí Tấn là một người lãnh đạo tài trí, đức độ, giản dị, sống gần gũi mọi người, ai cũng kính phục.

Kết thúc chiến dịch, trạm tôi được đại diện cho các đơn vị thông tin trong Mặt trận báo cáo rút kinh nghiệm trước Hội nghị của Bộ Tư lệnh Thông tin tiền phương về "công tác đoàn kết hiệp đồng bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ chiến đấu". Chiều tối hôm ấy, tại buổi liên hoan mừng thắng lợi, Bộ Tư lệnh Thông tin tiền phương còn kết hợp tổ chức lễ cưới cho đồng chí Phan Thị Xuân Sánh - chính trị viên kết hôn cùng đồng chí Hùng - tiểu đội trưởng đường dây Trạm KC100A. Niềm vui nhân đôi, mọi người đều phấn khởi vì kết quả đạt được trong chiến đấu gắn liền với hạnh phúc riêng tư của người chiến sĩ. Đợt phục vụ chiến dịch năm ấy, Trạm KC100B của tôi được Nhà nước tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công: 1 cho tập thể trạm, 4 cho cá nhân (Thuận, Duy, Phả, Lan) và nhiều bằng khen, giấy khen.

Kỷ niệm về bữa cơm sau chiến dịch Trị Thiên giữa đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam - Tư lệnh chiến dịch Trị Thiên với các chiến sĩ thông tin chúng tôi không bao giờ quên, nó theo tôi suốt hơn 32 năm công tác. Đây là kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời binh nghiệp của tôi, của 12 năm chiến đấu, công tác trong Binh chủng Thông tin liên lạc. Cuối năm 1977, tôi được chuyển ngành về cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bây giờ đồng chí Lê Trọng Tấn đã đi xa, tôi đã nghỉ hưu, nhưng những tình cảm sâu nặng và tốt đẹp nhất về một đồng chí lãnh đạo cao cấp, một vị tướng đức độ, giản dị, mặc dù bận trăm công ngàn việc nhưng vẫn dành một chút thời gian ngắn ngủi quan tâm đến các chiến sĩ nhỏ bé nhất trong quân đội như những chiến sĩ thông tin chúng tôi. Quả thật, chỉ có Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, chỉ có người lính Cụ Hồ mới có được tình cảm cán binh như vậy.

Tháng 9-2005

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Xưởng vô tuyến điện Quân khu 9 (T3)

Nguyễn Văn Giác (Ba Can) - nguyên Xưởng trưởng Vô tuyến điện T3

Tiền thân của Xưởng vô tuyến điện Quân khu 9 là tổ sửa chữa được thành lập tháng 12 năm 1961, do đồng chí Trần Văn Xuân (Ba Cảnh), cơ công trung cấp phụ trách, sinh hoạt chung với Ban thông tin Quân khu. Tiếp đó, trên bổ sung hai cơ công sơ cấp là đồng chí Phan Hữu Nghĩa, đồng chí Nguyễn Hữu Hạnh (Mai Sinh) và thu thêm 3 nhân viên học việc (Thế, Bầu, Đẳng), tất cả 6 đồng chí. Tháng 4 năm 1962 đồng chí Ba Cảnh qua thông tin Khu ủy học cách lắp máy Sinen và xin linh kiện vật tư về lắp ráp thành công được hai bộ máy đầu tiên cho lớp trưởng đài thực tập trong hoàn cảnh dụng cụ vật tư phương tiện của xưởng còn nhiều thiếu thốn.

Tháng 10 năm 1962, xưởng lắp thêm 4 bộ máy Sinen kịp thời trang bị cho 6 tiểu đoàn đầu tiên của Quân khu mới thành lập (4 tiểu đoàn bộ binh 306, 96, T70, U Minh 1 và 2 tiểu đoàn pháo). Thành công đầu tiên trên đây do sự nỗ lực của xưởng, nòng cốt là đồng chí Ba Cảnh và sự hỗ trợ tích cực của thông tin Khu ủy về vật tư linh kiện. Tiếp theo trên tăng cường số cán bộ cơ công, đồng chí Bùi Quang Chiêu cơ công sơ cấp về năm 1963, đồng chí Hà Đăng Chung cơ công trung cấp về 1964.

Lúc này xưởng có 8 đồng chí làm nhiệm vụ sản xuất, sửa máy, huấn luyện cơ công và đi phục vụ các chiến dịch như đồng chí Phan Hữu Nghĩa thường đi, nhờ đó cũng sửa chữa kịp thời tại các chiến dịch.

Năm 1965, xưởng lắp thêm 4 máy Sinen trang bị kịp thời cho các đơn vị. Song song với đó, đồng chí Ba Cảnh, Năm Chiêu huấn luyện 2 lớp cơ công được 18 đồng chí (năm 1964-1965: 7 học viên, năm 1967: 11 học viên).

Cuối năm 1969, xưởng gặp nhiều khó khăn, địch đánh phá ác liệt, 3 cán bộ hy sinh; đồng chí Hà Đăng Chung – cơ công trung cấp đi tiền phương, đồng chí Nguyễn Hữu Cảnh (Mai Sinh) đi lãnh máy ở biên giới Campuchia lúc về giặc càn nhưng máy móc vẫn còn và đồng chí Ba Cảnh đi xuống kho của Ban Thông tin do đồng chí Tư Hùng (Tuấn) và đồng chí Ba Thù (Sáu Ngải) phụ trách, bố phòng bảo vệ rất chặt chẽ chẳng may trong lúc tìm vật tư máy móc về thay thế đồng chí Cảnh bị vướng lựu đạn hy sinh.

Còn lại đồng chí Bùi Quang Chiêu - xưởng phó, Ban đã điều động đồng chí Nguyễn Văn Giác (Ba Can) đang huấn luyện báo vụ về xưởng huấn luyện cơ công. Từ đây đồng chí Ba Can làm xưởng trưởng, đồng chí Năm Chiêu làm xưởng phó. Đồng chí Ba Can xuất thân là báo vụ nhưng khi tập kết ở miền Bắc được học lớp cơ công 3 tháng đạt loại giỏi cộng với chịu khó tìm tòi học tập và lúc hành quân về Nam đã cất giấu, đem theo tài liệu chép tay nên có tài liệu huấn luyện và sửa chữa lắp ráp máy sau này.

Sau đó đồng chí Ba Can mở lớp huấn luyện cơ công ở rừng Kinh Đứng - U Minh Thượng trong hoàn cảnh thiếu thốn; mỗi ngày mỗi người ăn một lon gạo, bên ngoài giặc đánh, đồng chí Việt là học viên (con anh Ba Hảo thông tin) gài lựu đạn bảo vệ lớp học không may khi gỡ bị nổ, hy sinh trong niềm tiếc thương khôn nguôi của đồng đội.

Trước tình hình như vậy nhưng lớp học vẫn khắc phục khó khăn bảo đảm học tập đạt kết quả tốt. Ban điều đồng chí Nguyễn Sáng qua bộ phận sửa chữa của đồng chí Năm Chiêu. Tiếp theo lớp học dời về kinh Xán Cùn (Cà Mau) mở lớp thứ 2 gồm 13 học viên do đồng chí Ba Can và đồng chí Nguyễn Thành Nghiệp ở trường thông tin qua giảng tiếp phần điện công, lúc này xưởng và lớp học ở chung.

Năm 1972, trên Miền (B2) tăng cường cán bộ cơ công trung cấp tập huấn kỹ thuật sửa chữa máy PRC-25, 81, 71b, tiếp theo sự chỉ đạo của ban, xưởng tổ chức bồi dưỡng lại cho cơ công các đơn vị. Sau đó đồng chí Tám Trần Trưởng ban giới thiệu đồng chí Ba Can qua anh Mười Ân thông tin Khu ủy học cách lắp máy Sinen và xin vật tư linh kiện đồng thời cũng bồi dưỡng lại việc sửa chữa máy PRC-25 cho các đồng chí thông tin Khu ủy.

Cuối năm 1973 trên tăng cường 2 kỹ sư Vũ Đình Lộc (sau này là Giám đốc Đài truyền hình Cần Thơ) và đồng chí Do. Thời kỳ này xưởng, lớp học hoạt động tốt vừa kết hợp với tự túc làm ruộng nuôi heo khá sôi nổi, cũng năm 1973-1974 xưởng lắp ráp 5 bộ máy Sinen, huấn luyện 5 học viên. Sau giải phóng, xưởng cũng tham gia cùng cơ quan tổ chức cho trên 100 học viên được bồi dưỡng cấp tốc việc sử dụng bảo quản khí tài của địch, ta đang tiếp quản.

Trải qua 15 năm hoạt động và trưởng thành xưởng đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ, ác liệt, hy sinh, trình độ hạn chế và xa sự chỉ đạo, chi viện của Miền (B2) làm được một số kết quả như sau: lắp ráp 15 bộ máy Sinen, huấn luyện 6 lớp cơ công 46 học viên và sửa chữa trên 1.000 lượt máy các loại. Đơn vị được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba năm 1971 về thành tích công tác, huấn luyện và thường được biểu dương khen thưởng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

12.3.25

Truyền thống đoàn kết quân dân

Đại tá Đặng Đức Song - nguyên Giám đốc Nhà máy M1

Tình cảm của nhân dân Vĩnh Phú dành cho Nhà máy Thông tin M1 thật to lớn. Trong bài này, tôi chỉ xin nêu một vài nét trong không gian xung quanh vùng núi Thắm trong thời gian trước và sau lúc địch ném bom nhà máy chúng ta.

Ngày 5 tháng 3 năm 1965, Xưởng Thông tin được lệnh sơ tán lên doanh trại Trung đoàn 36 Sư đoàn 308 và Trung đoàn 259 công binh thuộc địa phận xã Võ Lao, Thanh Ba, Phú Thọ.

Ba tháng sau, chiến tranh phá hoại ngày một mở rộng và ác liệt. Nhà máy lại phải di chuyển vào xã Khải Xuân. Chậm nhất là sau ba ngày phải đưa một số phân xưởng vào làm việc. Đảng ủy và Ban Giám đốc trong lúc bàn bạc thực hiện mệnh lệnh di chuyển thì thấy nổi cộm nhất là địa điểm vừa rộng, thời gian lại khẩn trương. Nhớ câu: "Dễ trăm lần, không dân cũng chịu, khó vạn lần, dân liệu cũng xong" chúng tôi chia nhau đi làm công tác dân vận. Được bà con xóm Cao Sơn, xã Khải Xuân rất cởi mở và vui vẻ, mặc dù nhà lá đơn sơ, cả gia đình xuống bếp ở chật chội để nhường chỗ rộng, thoáng, sạch sẽ cho nhà máy mượn.

Ủy ban xã đã huy động hàng trăm người: già, trẻ, gái trai ra làm đường, đốn tre, đào hầm, v.v... để kịp cho đơn vị di chuyển đúng kế hoạch. Sau 2 ngày, một số bộ phận như vô tuyến điện, điện thoại, cơ khí đã bắt tay vào sản xuất trong cơ sở mới: những căn nhà lá của dân như nhà ông Cam, ông Khang, ông Cường, ông Dắc, ông Quang, ông Cơ, anh Thế, ông Lâm...

Cán bộ, công nhân nhà máy mệt quá ngả lưng trên bàn làm việc, đêm khuya, vào mùa đông bụng cồn cào lại được nhân dân mang sắn luộc cho ăn, thật như vớ được vàng. Vừa ăn, vừa uống trà Phú Thọ, vui vẻ chuyện trò bên bếp lửa hồng. Chính những lúc này đã làm cho anh em vơi đi nỗi nhớ nhà, nhớ thủ đô, tăng thêm sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ.

Nhiều lúc băn khoăn ái ngại cho ông bà già, cháu nhỏ xuống bếp hoặc ra hè ở, vợ chồng trẻ mới cưới cũng không biết ở đâu, thì nhân dân đã biết ý và khẳng định:

- Chúng tôi rất tự hào đã được góp sức cho bộ đội đánh Mỹ.

Đến năm 1969, gọi là tạm yên máy bay Mỹ đánh phá, Nhà máy Thông tin tiếp tục xây dựng lại doanh trại ở Võ Lao. Gần 2 năm cần cù lao động đã làm được gần 8.000m2 nhà xưởng, đội hình sơ tán lại trở về doanh trại mới hoàn chỉnh.

Vừa ổn định được mấy tháng đầu năm 1972, địch lại tiếp tục leo thang. Nhà máy một lần nữa lại phải sơ tán khẩn trương ra các khu vực lân cận. Lần này khó khăn hơn nhiều vì lượng người tăng gần gấp đôi, số gia đình tăng 2,5 lần, các cháu nhỏ tăng 3 lần, thiết bị 8.437 do Liên Xô viện trợ được đưa vào nên tăng gấp 10 lần, vì vậy phải sơ tán vào 6 xã: Võ Lao, Khải Xuân, Quảng Nạp, Đông Thành, Thanh Xá, Việt Trì.

Trong khi vừa sơ tán vừa sản xuất, địch đã ném bom vào đúng giữa khu vực nhà máy và một số khu sơ tán rộng 2,5km, dài 2,6km với 184 quả bom các loại.

Khu nhà máy bị phá hủy gần 80%. Khu sơ tán Cao Sơn bị cháy nhà, cháy kho gạo và kho quân trang, tan nát hàng chục ngôi nhà, hố bom chi chít, cây cối đổ lấp cả đường đi, một số hầm sập, 4 đồng chí hy sinh và 20 người bị thương.

Những lúc gay go ác liệt ấy thì nhân dân đã giúp cứu chữa thương binh, dồn nhà, sắp xếp chỗ ở cho công nhân. Trong lúc đang bối rối thì đồng chí Nguyễn Thị Trịnh - Phó Chủ tịch huyện Thanh Ba đạp xe xuống gặp tôi. Đứng giữa đám cháy cùng xúm vào dập lửa, chị hỏi tôi có khó khăn gì cấp bách lúc này?

Tôi báo cáo: thiếu gạo.

Lập tức chị Trịnh ra lệnh cho đồng chí Lực mở kho gạo lương thực dự trữ của huyện, trước mắt cấp cho chúng tôi 1,5 tấn, cấp thực phẩm và một số dụng cụ hậu cần.

Ông Sào ở xã Quảng Nạp đã cho mượn 7 gian nhà để làm trạm xá. Nhà cụ Ninh, ông Đính... bị tan nát biết bao bãi sắn, nương chè, ruộng lúa bị thiệt hại. Mặc dù thế, những cán bộ và nhân dân địa phương không hề kêu ca một lời, tiếp tục vận động đồng bào cho tre, lá cọ để sửa chữa nhà của đơn vị.

Các xã Khải Xuân, Võ Lao, Quảng Nạp, Thanh Xá... đã bỏ ra hàng ngàn ngày công làm cho 30 gian nhà gần 500m2, tổ chức san lấp hố bom sửa đường... cùng đơn vị ngày đêm giải quyết hậu quả để nhanh chóng đi vào sản xuất phục vụ chiến đấu.

Với truyền thống đoàn kết quân - dân, Nhà máy đã tiếp tục xây dựng, ngày càng trưởng thành toàn diện. Uống nước nhớ nguồn, cán bộ, công nhân nhà máy ghi lòng, tạc dạ tình nghĩa máu thịt với nhân dân đất tổ Hùng Vương qua bao năm đã hết lòng với đơn vị.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

5.3.25

Bảo đảm thông tin liên lạc Chiến dịch Hồ Chí Minh

Đại tá Đặng Khắc Thỏa

1. Bộ Chính trị đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Thắng lợi của quân và dân ta ở miền Đông Nam Bộ và các chiến trường khác, đặc biệt đòn chiến lược thắng lợi ở Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng đã đưa đến giải phóng hoàn toàn một dải đất rộng lớn gồm 16 tỉnh, 6 thành phố, chiếm ba phần tư diện tích và gần nửa dân số miền Nam. Những chiến thắng đó đã tạo ra tiền đề vô cùng thuận lợi cho trận quyết chiến cuối cùng chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

Ngày 31 tháng 3 năm 1975 Bộ Chính trị quyết định "Nắm vững thời cơ", với tư tưởng chỉ đạo "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng", quyết tâm thực hiện tổng công kích - Tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, Quân ủy Trung ương đã nhanh chóng chuyển lực lượng của các quân đoàn và binh khí kỹ thuật vào B2.

Ngày 9 tháng 4 năm 1975 tại Tà Thiết (Lộc Ninh) Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Đồng chí Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng với cương vị Chính ủy, đồng chí Trần Văn Trà và Lê Đức Anh làm Phó Tư lệnh.

19 giờ ngày 14 tháng 4 năm 1975, bức điện 37/TK của Bộ Chính trị gửi đến mặt trận toàn văn như sau: "Đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là chiến dịch Hồ Chí Minh".

2. Nhiệm vụ của các quân đoàn, mục tiêu đánh chiếm.

Chiến dịch Hồ Chí Minh hình thành các hướng:

Quân đoàn 1 hướng Bắc gồm có các sư đoàn bộ binh 320B, 312; đồng chí Nguyễn Hòa làm Tư lệnh, Hoàng Minh Thi - Chính ủy. Mục tiêu đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy. Lực lượng bảo đảm thông tin có Trung đoàn thông tin. Chủ nhiệm thông tin đồng chí Trần Sơn.

Quân đoàn 2 hướng Đông gồm có Sư đoàn bộ binh 304, 325 và Sư đoàn bộ binh 3 Quân khu 5; đồng chí Nguyễn Hữu An làm Tư lệnh, đồng chí Lê Linh - Chính ủy. Mục tiêu đánh chiếm Dinh Độc Lập. Lực lượng bảo đảm thông tin có Trung đoàn thông tin, Chủ nhiệm thông tin - đồng chí Nguyễn Khắc Ban.

Quân đoàn 3 hướng Tây Bắc gồm có các sư đoàn bộ binh 10, 316, 320. Đồng chí Vũ Lăng làm Tư lệnh, Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy. Mục tiêu đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Lực lượng bảo đảm thông tin có Trung đoàn thông tin 29, Chủ nhiệm thông tin Hồ Trọng Tuyến.

Quân đoàn 4 hướng Đông Bắc gồm có Sư đoàn bộ binh 7 và 341, Sư đoàn bộ binh 6 Quân khu 7 và Lữ đoàn 52 Quân khu 5 (dự bị). Đồng chí Hoàng Cầm – Tư lệnh, Hoàng Thế Thiện - Chính ủy. Mục tiêu đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu, cảng Bạch Đằng, Đài phát thanh. Lực lượng thông tin có Trung đoàn thông tin, chủ nhiệm thông tin Trần Ngọc Thư.

Đoàn 232 hướng Tây gồm có các sư đoàn bộ binh 3, 5, 9 và Trung đoàn bộ binh 16, do đồng chí Nguyễn Minh Châu làm Tư lệnh, Nguyễn Văn Tưởng - Chính ủy. Mục tiêu đánh chiếm biệt khu thủ đô. Lực lượng thông tin gồm có các tiểu đoàn 32, 33, 37 do đồng chí Nguyễn Duy Nhượng làm Chủ nhiệm.

Quân khu 8 hướng Nam do Quân khu 8 chỉ huy, các trung đoàn bộ binh 24, 88, 271B, mục tiêu đánh chiếm là Tổng nha Cảnh sát.

3. Nhiệm vụ thông tin chiến dịch, tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc.

Ngày 10 tháng 4 năm 1975, cơ quan thông tin Chiến dịch Hồ Chí Minh được thành lập trên cơ sở hợp nhất cơ quan thông tin Bộ Tư lệnh chiến trường B2 và cơ quan thông tin Sở chỉ huy tiền phương của Bộ ở Chiến dịch Tây Nguyên vào. Đồng chí Nguyễn Xuân Thăng phụ trách trưởng. Đồng chí Hoàng Niệm và Nguyễn Xuân Đào phụ trách phó.

Lực lượng thông tin gồm có các tiểu đoàn 34, 36, 38, 39, 40, 41, 45, Bộ Tư lệnh Thông tin tăng cường ba tiểu đoàn 2, 4, 7 và 1 xe trinh sát kỹ thuật phục vụ cho Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch xuống các cánh.

Nhiệm vụ của cơ quan và các đơn vị thông tin chiến dịch được Bộ chỉ huy chiến dịch giao:

1. Giữ vững thông tin liên lạc với Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh ở Hà Nội.

2. Tổ chức thông tin liên lạc chỉ huy các binh đoàn chủ lực (1, 2, 3, 4, 232) đột kích từ ngoài vào bằng 5 cánh quân, trong đó Quân đoàn 1 và Quân đoàn 3 là hướng chủ yếu chiến dịch. Tổ chức thông tin vượt cấp đến các sư đoàn bộ binh 7, 9, 10, 304, 320. Bảo đảm thông tin đến các lực lượng chiến đấu ở ven đô và nội đô. Chỉ huy các cụm pháo binh chiến dịch đánh vào các mục tiêu quy định theo thời gian và kế hoạch thống nhất, chỉ huy các cụm cao xạ, tên lửa, phòng không chiến dịch. Chỉ huy các hành lang chiến dịch và tổ chức thông tin liên lạc chỉ đạo các quân khu thực hành tiến công theo kế hoạch của Bộ chỉ huy chiến dịch.

3. Tổ chức thông tin hiệp đồng giữa các quân đoàn với các lực lượng chiến đấu bên trong, giữa các cụm pháo binh chiến dịch với các lực lượng ở ven đô, nội đô.

4. Tổ chức thông tin liên lạc cho trinh sát nắm địch do cấp trên thông báo hoặc do các đơn vị tham gia chiến dịch cung cấp, nhất là các nguồn tin của trinh sát kỹ thuật và thông tin kịp thời xuống các đơn vị tham gia chiến dịch.

5. Tổ chức thông tin liên lạc để chỉ huy các Đoàn Hậu cần chiến dịch.

Nhiệm vụ của cơ quan chiến dịch rất nặng nề, bảo đảm thông tin liên lạc cho một chiến dịch quy mô lớn chưa từng có, hiệp đồng nhiều hướng, nhiều binh chủng và binh khí kỹ thuật. Kết hợp tiến công và nổi dậy đánh vào một thành phố đông dân với nhiều mục tiêu chiến lược quan trọng. Thời gian triển khai gấp, địa hình chưa được nghiên cứu trước. Cơ sở vật chất kỹ thuật tuy có được tăng cường và cải tiến một bước, nhưng biên chế các đơn vị thông tin tham gia chiến dịch chưa đồng bộ và thống nhất, chưa có lực lượng thông tin dự bị mạnh.

Căn cứ vào yêu cầu thời gian và nhiệm vụ, cơ quan thông tin chiến dịch phân công nhiệm vụ cho các tiểu đoàn như sau:

- Tiểu đoàn 2 triển khai Tổng trạm Sở chỉ huy tiền phương.

- Tiểu đoàn 7 triển khai đường dây đi Quân đoàn 1.

- Tiểu đoàn 45 dây trần triển khai đường dây đi Quân đoàn 3.

- Tiểu đoàn 40 (nội cần) phục vụ Sở chỉ huy cơ bản.

- Tiểu đoàn 36 vô tuyến điện thoại, báo, tiếp sức liên lạc các cánh.

- Tiểu đoàn 38 phụ trách cụm vô tuyến điện báo Sở chỉ huy tiền phương.

- Tiểu đoàn 44 phụ trách cụm vô tuyến điện báo Sở chỉ huy cơ bản.

- Tiểu đoàn 4 liên lạc vô tuyến điện tiếp sức chiến dịch.

- Tiểu đoàn 34 bảo đảm quân bưu chiến dịch.

Tiểu đoàn thông tin A13 quân báo và A99 tình báo (tương đương tiểu đoàn) do Phòng Quân báo và tình báo chỉ huy.

Thông tin Hậu cần (tương đương tiểu đoàn) do Cục Hậu cần chỉ huy.

Sau khi nhận nhiệm vụ, ngày 25 tháng 4 năm 1975 đã hoàn chỉnh mạng thông tin liên lạc nội bộ Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch. Nối thông với trạm tiếp sức chuyển tiếp Núi Ông và các vị trí mới của các đài vô tuyến điện báo. Do tổ chức chu đáo, tất cả hệ thống thông tin bảo đảm vững chắc, nhất là liên lạc vô tuyến điện với các quân khu, quân đoàn, sư đoàn, tỉnh, thành, các binh chủng đều được thông suốt trước khi bước vào ngày N.

4. Giai đoạn nổ súng đánh chiếm ngoại vi.

17 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975, lực lượng toàn B2 tiến công các tuyến phòng thủ trực tiếp Sài Gòn. Thực hành bao vây cô lập triệt để Sài Gòn, tạo thế thuận lợi cho tổng tiến công.

Lực lượng thông tin của chiến dịch, các quân đoàn, các binh chủng, các quân khu đã phát huy tối đa các phương tiện trên các hướng bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ huy, hiệp đồng được thông suốt liên tục giữa các quân đoàn với quân đoàn, giữa quân đoàn với pháo binh, đặc công được nhịp nhàng trong quá trình tiến công từ bên ngoài vào trong.

- Quân đoàn 1: Tiểu đoàn 7 tiếp tục kéo đường dây hữu tuyến điện đến vị trí xuất phát tiến công phục vụ cho Quân đoàn bước vào chiến đấu đánh chiếm Tân Uyên, mở đoạn Bình Mỹ, Bình Cơ trên lộ 16 để triển khai lực lượng đánh chiếm nội đô.

- Quân đoàn 2: Bảo đảm bằng các phương tiện vô tuyến điện, nhất là tiếp sức để tấn công căn cứ thiết giáp Nước Trong, chi khu Đức Thạnh, Long Thành. Đặt trận địa pháo 130 ly ở Nhơn Trạch để bắn vào Tân Sơn Nhất. Ngày 27 tháng 4 giải phóng thị xã Bà Rịa, phát triển đánh chiếm Vũng Tàu.

- Quân đoàn 3: Thông tin chiến dịch phát triển đường dây hữu tuyến điện đến Bời Lời để Quân đoàn 3 thực hành cắt lộ 22, lộ 1, tiêu diệt đồn bốt địch, chia cắt sư đoàn 25 ngụy.

- Quân đoàn 4: Tiến công theo đường số 1, dùng sức mạnh binh chủng hợp thành chiếm khu Trảng Bom, phát triển về Biên Hòa nhưng bị tuyến phòng thủ của địch ngoan cố phản kích quyết liệt. Chiến sự diễn ra ác liệt. Thông tin Quân đoàn 4 tổ chức bảo đảm thông tin cho 3 mũi tiến công về Hố Nai - Biên Hòa, quân đoàn 3 ngụy, sân bay Biên Hòa, đã mở cánh cửa "thép" cho các quân đoàn đánh vào Sài Gòn.

- Đoàn 232: Trên cơ sở đường dây trần cột gỗ (đã triển khai từ trước đến Lò Gò). Từ đó đặt tiếp sức, kéo tiếp đường dây bọc đến Sở chỉ huy Đoàn 232. Bảo đảm Đoàn 232 chỉ huy Sư đoàn bộ binh 5 cắt đứt lộ 4. Sư đoàn bộ binh 3 đánh chiếm Lộc Giang, Hậu Nghĩa. Hai trung đoàn đặc công 115, 117 đánh chiếm Phú Lâm, mở đường cho Sư đoàn bộ binh 9 đánh vào Sài Gòn.

- Quân khu 8: Cắt hoàn toàn đoạn lộ 4 (từ ngã ba Trung Lương đến giáp Tân An).

- Quân khu 9: Khống chế hẳn đoạn Cán Vẫn - Ba Càng. Con đường chiến lược độc nhất xuyên suốt đồng bằng sông Cửu Long bị băm nát.

5. Giai đoạn đánh chiếm 5 mục tiêu bên trong.

Sở chỉ huy chiến dịch hoạt động nhộn nhịp trong đêm 29 tháng 4 năm 1975, những mái đầu bạc xen kẽ mái tóc xanh, cặm cụi trên bản đồ. Phía sau một dãy máy điện thoại dã chiến làm việc không ngừng. Các máy vô tuyến điện truyền vào không trung những tín hiệu, đó là những chỉ thị bổ sung của Bộ, của chỉ huy chiến dịch gửi xuống tất cả các đơn vị trước 0 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975.

- Cho pháo 130 ly ở Nhơn Trạch thôi bắn vào Tân Sơn Nhất.

- Phổ biến, kiểm tra các ký hiệu, tín hiệu hiệp đồng khi đánh vào nội thành.

- Giao cho Quân đoàn 3 đánh vào Tân Sơn Nhất thì cho một cánh đánh sang Bộ Tổng Tham mưu ngụy phối hợp với Quân đoàn 1.

- Tất cả các binh đoàn thọc sâu, tiến gấp, tiến thẳng đến các mục tiêu quy định.

Thật là giây phút tuyệt vời: "Đây là dàn nhạc hợp xướng đang cất lên không trung bài ca bất tử: "Chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng".

Giờ "G" ngày "N" của Chiến dịch Hồ Chí Minh là 00 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, giờ quy định hợp đồng cho tất cả các cánh quân tiêu diệt quân địch còn phòng thủ, chọc thủng vào 5 mục tiêu trọng yếu nhất theo quy định. Đó là giờ quy định cho tất cả tổ biệt động, các đơn vị đặc công từ nơi ém quân đứng dậy đánh địch từ bên trong. Chiếm lĩnh các mục tiêu được giao và bắt liên lạc với các cánh quân từ ngoài vào.

Thông tin từ chiến dịch đến các quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh, thông tin các binh chủng đặc công, biệt động, thông tin các tỉnh, thành,v.v... đã tập trung cao độ, sử dụng đồng thời các phương tiện trên từng hướng, để đảm bảo cho trận quyết chiến cuối cùng của lịch sử được thông suốt kịp thời trên từng hướng.

- Hướng Tây Bắc Quân đoàn 3: Tiến công tiêu diệt Đồng Dù, căn cứ sư đoàn 25 ngụy, bắt sống tên tướng Lý Tòng Bá, chiếm giữ Cầu Bông trên đường 1, đánh chiếm Hóc Môn. Thông tin chiến dịch đã bảo đảm hiệp đồng cho Trung đoàn Gia Định và Trung đoàn đặc công 115 giải phóng xã Tân Thới Hiệp và mở cửa phía bắc sân bay chờ Quân đoàn 3 đến đột phá tiến công đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và gặp phái đoàn quân sự ta tại trại Đa-vít.

- Hướng Bắc Quân đoàn 1: Đánh chiếm thị trấn Tân Uyên, tiến công thẳng xuống Lái Thiêu. Toàn bộ sư đoàn 5 ngụy bị bao vây. Thông tin đã đảm bảo hiệp đồng cho cánh quân Quân đoàn 1 và Quân đoàn 3 phối hợp với bộ đội địa phương bao vây toàn bộ sư đoàn 5 ngụy, buộc chúng phải treo cờ trắng đầu hàng. Quân đoàn 1 vượt qua cầu Bình Phước do Trung đoàn đặc công 115 đánh chiếm, để tiến vào mục tiêu chủ yếu là Bộ Tổng Tham mưu ngụy và bộ tư lệnh các binh chủng.

- Hướng Đông Bắc Quân đoàn 4: Sau khi đánh thẳng vào sân bay Biên Hòa, thị xã Biên Hòa, sở chỉ huy quân đoàn 3 ngụy. Sáng 30 tháng 4 năm 1975 đánh vào Sài Gòn, khi đến cầu Ghềnh xe tăng không qua được, phải quay đội hình trở lại xa lộ Biên Hòa, theo sau Quân đoàn 2 đánh vào Sài Gòn chiếm trụ sở Bộ Quốc phòng ngụy, căn cứ hải quân và đài phát thanh.

- Hướng Đông Quân đoàn 2: Thông tin Quân đoàn 2 đã phối hợp tổ chức hiệp đồng cho Quân đoàn tiến quân vào Quận 9. Cánh chủ yếu đánh vào Sài Gòn. Đi đầu là Lữ đoàn xe tăng 203 đến cầu xa lộ Đồng Nai, bộ binh còn ở xa phía sau chưa lên kịp, nhưng lệnh của Quân đoàn phải đánh chiếm nhanh Dinh Độc Lập trong ngày. Lữ đoàn 203 đã hiệp đồng với Trung đoàn 66 có khả năng tác chiến như bộ binh, nắm chắc đường và các khu vực. Trung đoàn 66 để lại một bộ phận giữ cầu, toàn bộ ngồi trên xe tăng Lữ đoàn 203 cùng hiệp đồng chiến đấu. Đoàn xe hùng dũng tiến về Dinh Độc Lập. Khi đến Trường Sĩ quan Thủ Đức, địch dùng pháo bắn thẳng vào đội hình, Lữ đoàn tổ chức thành 2 mũi đánh vào trận địa Liên Thường (xã Tân Nhơn Phú). Khi đến cầu Rạch Chiếc, gần cầu Tân Cảng, nhiều đạn bắn ra từ hai bên đường, lập tức các đơn vị đặc công nhảy xuống chiến đấu bắt sống nhiều địch. Đoàn xe tiếp tục hành tiến, chiếc xe T54 số 843 đi đầu được nữ đồng chí Nga dẫn đường đã húc vào cổng Dinh Độc Lập từ 11 giờ 10 phút. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận dẫn đầu lên cắm cờ trước Dinh Độc Lập đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Xe tăng Quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập sáng 30/4/1975. Ảnh tư liệu.

- Hướng Tây Đoàn 232: Thông tin Đoàn 232 đã tổ chức mạng hiệp đồng từ trước cho Trung đoàn đặc công 429, 117 phối hợp cánh Tây đánh chiếm một số mục tiêu then chốt, mở đường cho bộ phận chủ yếu Sư đoàn bộ binh 9 thọc sâu từ Mỹ Hạnh, Vĩnh Lộc đánh thẳng vào ngã tư Bảy Hiền, tiến chiếm mục tiêu chủ yếu Biệt khu Thủ Đô vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975.

- Hướng Nam Quân khu 8: Trung đoàn bộ binh 24 phối hợp cùng đặc công đánh chiếm cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, đến 10 giờ chiếm bộ tư lệnh cảnh sát. Trung đoàn bộ binh 88 sau khi diệt bốt Đa Phước, bức hàng đồn Ông Thìn, 18 giờ 30 phút chiếm khu vực Nhà Bè.

Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đồng loạt tiến công và nổi dậy, quét sạch quân địch và tự giải phóng. Đúng 11 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975 toàn bộ lực lượng ngụy ở thị xã Trà Vinh hạ súng đầu hàng; 14 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975 toàn tỉnh Gò Công hoàn toàn giải phóng; đêm 30 tháng 4 năm 1975 quân ta làm chủ thành phố Cần Thơ; 5 giờ ngày 1 tháng 5 năm 1975 thị xã Mỹ Tho được giải phóng; 9 giờ ngày 2 tháng 5 năm 1975 tỉnh Long Xuyên được giải phóng. Tại đảo Phú Quốc, lực lượng trong trại giam kết hợp lực lượng địa phương và nhân dân nổi dậy giành chính quyền trên toàn đảo lúc 17 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975.

6. Đánh giá kết quả.

Chiến dịch Hồ Chí Minh, chính diện rộng trên 4 hướng, gồm 5 cánh quân, từ ngoài đánh vào bên trong, phải đột phá nhiều mục tiêu phòng thủ. Với quy mô lực lượng lớn nhất, hình thành nhiều cánh quân cấp quân đoàn, hiệp đồng nhiều binh chủng, phối hợp nhiều lực lượng đặc công, biệt động, v.v... đánh từ ngoài vào trong chiếm lĩnh 5 mục tiêu. Trên mặt trận chính, thông tin chiến dịch phải bảo đảm đồng thời phối hợp chặt chẽ với các quân khu, các tỉnh, thành cùng phối hợp hành động.

Thời gian chuẩn bị gấp rút, chiến dịch diễn ra thần tốc, táo bạo. Địch tìm mọi cách phản kích, nhưng thông tin chiến dịch đã bảo đảm cùng một lúc trên các hướng bằng mọi phương tiện sẵn có.

Hữu tuyến điện đã đảm bảo cho 3 hướng (Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Đoàn 232). Vô tuyến điện đã bảo đảm cho các hướng, nhất là tiếp sức bảo đảm cho 5 hướng. Vì vậy, từ ngày N đến giờ G nổ súng thông tin đã bảo đảm cho chỉ huy chặt chẽ tới 5 quân đoàn. Bảo đảm hiệp đồng giữa Quân đoàn 2 với Quân đoàn 4 hướng Đông, giữa Quân đoàn 1 và Quân đoàn 3 hướng Tây Bắc và Bắc. Trên đường tiến công đánh chiếm các mục tiêu, từng hướng đã hiệp đồng liên lạc chặt chẽ với các lực lượng đặc công, biệt động..., đánh chiếm các đầu cầu, tạo điều kiện cho các quân đoàn tiến công vào bên trong.

Thông tin chiến dịch, các quân đoàn, binh chủng, quân khu, tỉnh, thành đã tập trung cao độ, mưu trí sáng tạo, dũng cảm bảo đảm thông tin liên lạc được thông suốt, kịp thời trong quá trình chiến dịch.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ta sử dụng 13 tiểu đoàn thông tin, phối hợp giữa lực lượng của Bộ Tư lệnh Thông tin với Thông tin B2, với lực lượng thông tin các quân đoàn mới chuyển vào tham gia chiến dịch. Thông tin trên dưới đã đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ. Sức mạnh hiệp đồng từ trên xuống là yếu tố quan trọng, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, vững chắc trong quá trình chiến đấu.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Truyền thống vẻ vang

Đại tá Nguyễn Ngọc Châu

Khởi đầu Đại đội 22

50 năm, chặng đường dài đã qua

Chúng ta thế hệ trẻ, già

Ôn lại truyền thống nơi ta trưởng thành

 

Bù Cho lịch sử lưu danh

Núi cao, vực thẳm! Thác ghềnh, suối

Mưa rừng, thác lũ, tiêu điều

Suối sông bờ bãi thủy triều dâng cao

 

Thuyền bè muốn vượt sông Khao

Biết bao nguy hiểm, sức nào vượt qua?

Thông tin tiếp sức chúng ta

Vượt qua tất cả, hướng ra chiến trường

 

Mười năm gối đất nằm sương

Ngày ngày lên xuống "con đường" Bù Cho

Vai gùi, chân bước sâu đo

Áo quần giày dép nát vò tả tơi!

 

Cơm ăn, gạo hấp, mì ngô…

Măng rừng thịt muối, cá khô nướng giòn!

Đêm nằm, chăn cuộn vo tròn

Cỏ khô làm đêm vẫn còn rét run...

 

Bỗng nghe chuông gọi đổ dồn

Thay ca khi giấc ngủ còn dở dang

Tin vui chiến thắng rộn ràng

Mỹ - ngụy sụt yếu ngày càng thua đau.


Xiêng Khoảng, Đường 9 - Nam Lào...

Tây Nguyên, Đà Nẵng… tuôn trào chiến công

Tên Bác chiến dịch cuối cùng

Thông tin tiếp sức được phong Anh hùng.

 

Tự hào, vinh dự vô cùng

Bảng vàng lịch sử đã từng lưu danh.

Kẻ thù mới lại hoành hành

Đánh chiếm biên giới, dân lành đau thương...

 

Tiếp sức lại gấp lên đường

Phía Nam, phía Bắc, biên cương sống còn

Kiên cường dạ sắt lòng son

Trái tim còn đập vẫn còn thông tin

 

Mừng ngày đất nước bình yên

Thông tin tiếp sức tiến lên Lữ đoàn

Chính quy hiện đại, đàng hoàng

Kỹ thuật nghiệp vụ, vững vàng tinh thông.

 

Đối lưu tiếp sức một lòng

Nối tiếp truyền thống anh hùng vẻ vang

Sự nghiệp còn lắm gian nan

Niềm tin son sắt thép gang sánh cùng.

 

Dù cho sông cạn đá mòn

Thông tin vẫn còn, tiếp sức đối lưu

Muôn vàn tình nghĩa thương yêu

Phát huy truyền thống là điều đừng quên!

12-4-2007

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

1.3.25

Thông tin vô tuyến điện tiếp sức phục vụ chiến cuộc Xuân 1975

Đại tá Nguyễn Ngọc Châu

Bị thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chấm dứt chiến tranh, rút toàn bộ quân đội của Mỹ và các nước chư hầu ra khỏi Việt Nam...

Do thấu hiểu bản chất và âm mưu của địch nên chúng ta không quá kỳ vọng vào thiện chí của chúng. Một mặt ta kiên quyết đấu tranh, buộc địch phải thi hành đúng những điều khoản của Hiệp định Pa-ri. Mặt khác ta tranh thủ thời kỳ hoà bình tạm thời, khẩn trương chuẩn bị phát triển lớn, tạo ra những đột biến lịch sử của cách mạng Việt Nam.

Cùng với toàn quân, toàn dân đi tới trận chiến đấu cuối cùng, bộ đội thông tin bắt đầu thực hiện kế hoạch tăng cường lực lượng thông tin ở cả 3 cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Hệ thống thông tin hữu tuyến điện đường trục Bắc - Nam phát triển tới Đắc Đam (1.284km). Lực lượng chủ yếu là Trung đoàn 132 và 136, kết hợp với Trung đoàn 596, 49 của Đoàn 559 và thông tin B3. Các đơn vị thông tin hỗn hợp của binh chủng cũng đã vào Tây Nguyên. Tuy có nhiều biện pháp về tổ chức và kỹ thuật, nhưng do cự ly quá xa, thi công theo hình thức dã chiến có nhiều nhược điểm về kỹ thuật. Vì vậy chất lượng tín hiệu rất kém (mặc dù đã qua nhiều trạm tiếp chuyển tải ba). Liên lạc bằng hữu tuyến điện từ B3 ra Hà Nội hết sức khó khăn, lúc thông, lúc tịt. Đường dây liên lạc bị đứt quãng... Từ thực tế, yêu cầu, một giải pháp tối ưu là sử dụng tuyến vô tuyến điện tiếp sức từ Hà Nội vào Tây Nguyên làm đường trục thứ hai, kết hợp với vô tuyến điện sóng cực ngắn làm đường công vụ trong phạm vi hẹp, cự ly gần.

Ngày 21 tháng 1 năm 1975, Đại đội 13 và 15 vô tuyến điện tiếp sức, do chính trị viên tiểu đoàn Phan Ngọc Đôn và tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Cử chỉ huy đã vào tới khu vực Sở chỉ huy chiến dịch.

Đại đội 13 do đồng chí Lưu Đức Doanh - đại đội trưởng, vốn là một chiến sĩ báo thoại và là một cán bộ trung cấp kỹ thuật vô tuyến điện, nên rất tường tận về kỹ thuật và nghiệp vụ chuyên môn. Vì vậy rất năng động, sáng tạo, xử lý các sự cố và tình huống phát sinh trong thông tin trên các hướng liên lạc. Hiệp đồng tốt với các phương tiện thông tin khác trong Sở chỉ huy chiến dịch.

Được giao nhiệm vụ, đồng chí Doanh chỉ huy đơn vị triển khai đường liên lạc từ Sở chỉ huy tiền phương Bộ Tổng Tham mưu đến Sở chỉ huy chiến dịch và đến Sở chỉ huy Sư đoàn 320. Do trình độ kỹ thuật sử dụng máy rất thành thạo, điều khiển giỏi, với trí thông minh linh hoạt, đồng chí Doanh đã xoay ăngten bắt liên lạc được với trạm của đồng chí Oanh ở X27 (Chư Pông) rồi tìm cách nối thông với các trạm trên đường trục tiếp sức về đến JK1 (Hà Nội).

Ngày 28 tháng 2 năm 1975 hệ thống thông tin liên lạc tiếp sức đã thông suốt và sẵn sàng chờ lệnh.

Ngày 8 tháng 3 năm 1975, đồng chí Chính ủy Lê Cư ở Hà Nội mời đồng chí Song Hào - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị nói chuyện với đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng ở Sở chỉ huy tiền phương Bộ Tổng Tham mưu ở Tây Đắc Đam (ZA75) lúc 20 giờ. Trước đó toàn bộ 14 trạm trên tuyến trục hữu tuyến điện đã phải điều chỉnh hàng giờ mới thông nhưng chỉ nói được vài phút lại gián đoạn do thú rừng (voi, hươu, nai) đi ăn làm đứt dây hoặc do bộ đội ta nấu ăn không đổ nước tắt bếp nên lửa đã cháy lan ra rừng làm đứt dây, cho nên cuộc nói chuyện đã không đạt được như mong muốn.

Quá trình chuẩn bị chiến dịch nhiều anh em phải đi sửa dây bất chấp ngày đêm, mặt mũi cháy xém, ngủ rừng bị muỗi đốt đêm nên bị ốm, bị sốt rét, mắt thâm quầng nhưng vẫn nêu cao trách nhiệm hoàn thành mọi nhiệm vụ. Bạn Đào Xuân Mai đã viết:

"Chung nhau cơn sốt rét rừng,

Một viên thuốc đắng đã từng sẻ san

Gập ghềnh đèo dốc non ngàn

Vai gầy chung gánh gian nan thủa nào"...

Đúng 5 giờ ngày 9 tháng 3 năm 1975 ta nổ súng đánh chiếm căn cứ Đức Lập, trong ngày Sư đoàn bộ binh 10 đã chiếm hoàn toàn cứ điểm.

2 giờ ngày 10 tháng 3 năm 1975 lệnh tấn công vào Buôn Ma Thuột, toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc đều thông suốt từ Sở chỉ huy chiến dịch đến các sư đoàn bộ binh 316, 320, 10 và các trung đoàn bộ binh 25, 95B, Trung đoàn 271, các đơn vị pháo binh, pháo cao xạ, đặc công, xe tăng, công binh và Sư đoàn 968 ở Plây Ku - Kon Tum. Đặc biệt là hệ thống thông tin liên lạc tiếp sức thông suốt, chất lượng tốt nên tôi đã lệnh cho đồng chí Doanh đảm bảo liên tục 24/24 giờ. Quá trình diễn biến chiến dịch, chất lượng thông tin tiếp sức rất ổn định nên đồng chí Lê Ngọc Hiền đã hỏi tôi: "Sao càng ngày thông tin càng tốt thế?". Nhờ có thông tin tốt mà đồng chí Nguyễn Tuyến – Bí thư của đồng chí Văn Tiến Dũng đã ghi âm được nhiều cuộn băng trong chiến dịch này.

Ngày 12 tháng 3 năm 1975 trinh sát ta phát hiện địch lên ô tô mang theo ba lô và súng đạn ở Kon Tum và Plây Ku cho xe di chuyển về Cheo Reo (Phú Bổn) đã báo cáo kịp thời với đồng chí Văn Tiến Dũng. Đồng chí Văn Tiến Dũng nhận định: "Do mất Buôn Ma Thuột nên địch có thể bỏ Kon Tum và Plây Ku về giữ vùng đồng bằng Nha Trang - Cam Ranh". Vì vậy, đồng chí lệnh cho Sở chỉ huy di chuyển và lệnh cho Sư đoàn 320 nhanh chóng cơ động lực lượng lên chặn địch ở đông Cheo Reo. Trạm tiếp sức ZA75 đã kịp thời bắt liên lạc với trạm tiếp sức của Sư đoàn 320, kịp thời chuyển lệnh cho Phân đội 9 cấp tốc hành quân lên chặn địch ở đông Cheo Reo. Sư đoàn 320 được tăng cường Trung đoàn bộ binh 95B và một tiểu đoàn xe tăng được sự chi viện của cụm pháo binh 675 để tiêu diệt địch co cụm ở thung lũng Cheo Reo.

Lúc 18 giờ ngày 15 tháng 3 năm 1975 đồng chí Văn Tiến Dũng đã đến sở chỉ huy mới (Tây đường 14). Chỉ sau ít phút nghỉ ngơi đồng chí đã trực tiếp nói chuyện với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về tình hình diễn biến chiến dịch và cuối cùng đồng chí nói: "Nhiệm vụ 2 năm tới xin phép Bộ Chính trị cho tôi thực hiện luôn".

Sư đoàn 320 đã nhanh chóng hình thành thế bao vây và đồng loạt tiến công. Đến ngày 24 tháng 3 năm 1975, toàn bộ lực lượng Quân khu 2 ngụy rút chạy về Cheo Reo đã bị tiêu diệt và bắt sống.

Sau khi Tây Nguyên được hoàn toàn giải phóng, các sư đoàn bộ binh 10, 320 tiếp tục phát triển tiến công về đồng bằng phối hợp với các đơn vị bạn đánh chiếm Tuy Hoà, Phú Yên, Nha Trang...

Đến ngày 3 tháng 4 năm 1975 chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi. Đồng chí Văn Tiến Dũng lệnh di chuyển Sở chỉ huy vào R (Lộc Ninh) căn cứ của Bộ Tư lệnh B2, đồng chí yêu cầu: "Tôi đi đến đâu phải bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời với Bộ Tổng Tham mưu và các quân khu, quân đoàn vì lúc này là "Khẩn trương, thần tốc".

Cơ quan thông tin chiến dịch chuẩn bị 3 xe vô tuyến điện 50W và 15W, 2 xe vô tuyến điện tiếp sức do đồng chí Hoàng Niệm - Phó Tư lệnh Thông tin phụ trách đi với đoàn.

Nhờ có trạm giữa thông tin tiếp sức trên đỉnh núi Bu Prăng đã được triển khai trước (cao 1.000m) nên khi đồng chí Văn Tiến Dũng nói chuyện rất kịp thời thông suốt. Sau này đồng chí Dũng dừng chân ở đâu đều có thể liên lạc (qua 7 trạm tiếp sức đường trục) về Bộ Tổng tư lệnh ở Hà Nội và các quân khu, quân đoàn đang hành quân thần tốc vào chiến trường.

Sau này tổng kết đồng chí Tổng Tham mưu trưởng đã nhận xét: "Tôi đi đến đâu tôi đều liên lạc được với Bộ Tổng Tham mưu và các chiến trường rất tốt".

Ngày 5 tháng 4 năm 1975 các đơn vị thông tin của Binh chủng đã tập kết tại căn cứ Bộ Tư lệnh B2 phối hợp cùng lực lượng thông tin B2 để bảo đảm cho Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ đạo các quân đoàn, sư đoàn tham gia chiến dịch.

Toàn bộ lực lượng thông tin vô tuyến điện tiếp sức tham gia chiến dịch là 69 xe - lớn nhất trong mọi chiến dịch. Để chỉ huy kịp thời Quân đoàn 4 đánh ngăn chặn địch ở Xuân Lộc, 1 xe tiếp sức do đồng chí Nguyễn Văn Thành phụ trách được phái sang Xuân Lộc phải vượt qua đường 13 do địch còn kiểm soát. Khi xe tới Mường Le (sông Bé) thì xuất hiện 20 máy bay HU-1A của địch quần đảo bắn phá. Nhờ có đồng chí Trần Văn Hải là cán bộ của cơ quan thông tin B2 dẫn đường, trạm đồng chí Thành đã đến Sở chỉ huy Quân đoàn 4 an toàn. Trạm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.

Ngày 18 tháng 4 năm 1975, cơ quan thông tin chiến dịch đã hoàn thành kế hoạch tổ chức và bảo đảm thông tin liên lạc cho chiến dịch.

Ngày 23, 24 tháng 4 năm 1975, Bộ đội Thông tin đã hành quân vào Sở chỉ huy chiến dịch để triển khai nhiệm vụ theo kế hoạch.

Đặc biệt, trạm chuyển tiếp ở núi Ông (cao 280m) phải triển khai 10 xe thông tin tiếp sức nhưng không có đường cho ô tô lên, nên anh em vừa phải làm đường cho xe lên vừa phải triển khai nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Riêng trạm tiếp sức đặt trên núi Bà Đen (cao 900m) lúc này địch còn đang kiểm soát nên anh em đã bí mật triển khai thông tin kịp thời, đó là một kỳ công.

Đúng 12 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975, toàn bộ hệ thống thông tin chiến dịch ở Sở chỉ huy Cam Xe đã liên lạc thông suốt theo kế hoạch.

Dự kiến lúc đầu của Bộ Tổng tư lệnh là Chiến dịch Hồ Chí Minh sẽ bắt đầu nổ súng vào ngày 28 tháng 4 năm 1975.

Tình hình quân ngụy có nguy cơ thất bại nên tổng thống Mỹ ra lệnh cho bọn cố vấn Mỹ và quân đội Mỹ còn lại di tản khỏi Sài Gòn. Trước tình thế đó, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu buộc phải từ chức và giao quyền cho Trần Văn Hương. Hương lên thay Thiệu nhưng thấy tình hình không thể cứu vãn nổi nên Hương lại giao tiếp cho Dương Văn Minh.

Dương Văn Minh nhậm chức và lên tiếng đề nghị "Việt Cộng ngừng bắn để thương lượng".

Ngày 26 tháng 4, Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận được chỉ thị của Bộ Chính trị: Lệnh tấn công ngay vào Sài Gòn bắt Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện.

Trước tình huống bất ngờ đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định vào Sở chỉ huy chiến dịch ở Cam Xe trước 2 ngày tức là ngày 26 tháng 4 năm 1975.

Do cơ quan thông tin chiến dịch đã sớm chuẩn bị kế hoạch và triển khai toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc thông suốt trước 2 ngày nên đã đáp ứng kịp thời lệnh vào sớm Sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh chiến dịch.

Đúng 17 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975, Bộ chỉ huy chiến dịch đã lệnh cho tất cả các mặt trận nổ súng tấn công theo kế hoạch vào Sài Gòn.

Ngày 27 và 28 tháng 4 năm 1975, năm cánh quân của ta thực hiện đánh tiêu diệt, đánh chiếm các mục tiêu vòng ngoài đúng kế hoạch (sáng 27 cụm pháo binh chiến dịch ở Nhơn Trạch bắn hơn 300 quả đại bác xuống sân bay Tân Sơn Nhất, làm rung chuyển đường phố Sài Gòn).

Ngày 28 tháng 4 năm 1975, thông tin bảo đảm tốt cho Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng Phòng không - Không quân dẫn đường cho một biên đội 5 máy bay A37 do Nguyễn Thành Trung phụ trách, cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) bay vào ném bom xuống khu vực máy bay địch ở sân bay Tân Sơn Nhất và trở về an toàn.

Đúng 10 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, Bộ chỉ huy chiến dịch yêu cầu Quân đoàn 3 báo cáo tình hình, lúc này chỉ có một phương tiện thông tin duy nhất là xe tiếp sức cơ động theo Sở chỉ huy của Quân đoàn. Đồng chí Cao Minh Tám - trạm trưởng đã mời đồng chí Nguyễn Quốc Thước - Tham mưu trưởng quân đoàn lên xe tiếp sức báo cáo tình hình về Sở chỉ huy chiến dịch là: đã chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Tư lệnh chiến dịch đã hạ lệnh cho Quân đoàn 3 nhanh chóng cho một mũi cả bộ binh lẫn xe tăng vòng phía Nam phối hợp và hỗ trợ cho Quân đoàn 1 đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy.

Lúc 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai xe tăng 843 và 390 dẫn đầu lực lượng đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2 húc đổ cổng Dinh Độc Lập cùng lực lượng bộ binh Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 và Lữ đoàn xe tăng 203 tiến vào Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các của Dương Văn Minh phải đầu hàng.

Ngay sau khi quân ta chiếm được Dinh Độc Lập, Trạm tiếp sức của đồng chí Trần Xuân Thủy đi cùng đội hình của lữ đoàn xe tăng, đã tháo máy đặt lên nóc Dinh Độc Lập và bắt liên lạc với Trạm ZA75 ở Sở chỉ huy chiến dịch.

Đồng chí Thủy đã mời đồng chí Bùi Quang Thận đến báo cáo với đồng chí Văn Tiến Dũng về tình hình chiếm Dinh Độc Lập và bắt nội các Dương Văn Minh đầu hàng không điều kiện.

Xe vô tuyến tiếp sức P-401M mang số hiệu FB-4387 do đồng chí Trần Văn Thủy phụ trách đã bảo đảm thông tin liên lạc từ Dinh Độc Lập đến SCH Chiến dịch ZA75 ngay trong ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ảnh Bảo tàng Thông tin liên lạc.

12 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đồng chí Văn Tiến Dũng lệnh cho thông tin vào Sài Gòn chuẩn bị Sở chỉ huy tiền phương Bộ Tổng Tham mưu. Đoàn chúng tôi hành quân cấp tốc cơ động vào Sài Gòn. Đúng 20 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975 Tổng trạm thông tin Sở chỉ huy tiền phương Bộ Tổng Tham mưu ở Sài Gòn đã triển khai và liên lạc thông suốt.

11 giờ ngày 1 tháng 5 năm 1975 đồng chí Văn Tiến Dũng cùng cơ quan chiến dịch đã vào tới Sở chỉ huy tiền phương Bộ Tổng Tham mưu ở Sài Gòn để chỉ huy các lực lượng của ta giải phóng các khu vực còn lại ở đồng bằng Nam Bộ. Thông tin được lệnh triển khai để bắt liên lạc bằng khí tài tiếp sức của Tiểu đoàn 4 với các nơi:

- Trung ương Cục ở Thủ Đức.

- Ủy ban quân quản ở tòa nhà thượng nghị viện.

- Bộ Tư lệnh Hải quân ở cảng Bạch Đằng.

- Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 ở Long Bình.

- Cục 2 ở tổng nha cảnh sát.

Đường trục tiếp sức từ Sài Gòn ra Hà Nội được giữ vững liên lạc 24/24.

Trong chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Tuyến - bí thư của đồng chí Văn Tiến Dũng đã ghi âm được 40 cuộn băng cát sét qua 55 ngày đêm chiến dịch. Đó là tài liệu vô giá để lưu giữ cho Bộ Quốc phòng làm tư liệu tổng kết chiến tranh sau này. Trong tổng kết chiến dịch, đồng chí Văn Tiến Dũng đã nhận xét: "Trong điều kiện rất khó khăn phải tổ chức và đảm bảo thông tin liên lạc cho tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn nhất từ trước đến nay, cơ động cao nhưng thông tin liên lạc đã rất cố gắng và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch".

Kết thúc chiến dịch có 6 đơn vị và 9 cán bộ, chiến sĩ được thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng các loại, 189 đồng chí được tặng Bằng khen.

Ngày 8 tháng 9 năm 1975, Tiểu đoàn 4 tiếp sức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là một trong số những đơn vị được tuyên dương đầu tiên sau khi kết thúc chiến tranh, đó cũng là niềm vinh dự và tự hào của cả Binh chủng Thông tin liên lạc.

Thời gian đã trôi qua 32 năm, là một cán bộ đã theo dõi bộ đội tiếp sức từ những năm 1960 cho đến năm 1993 khi nghỉ hưu, đã gắn bó với anh em gần suốt cuộc đời mình. Mỗi lần kỷ niệm ngày truyền thống của đơn vị là ngày vui gặp gỡ, cùng nhau nhớ lại những năm tháng hào hùng đã qua.

Chúng ta vui mừng phấn khởi thấy Đại đội 22 ngày đầu đã phát triển thành Tiểu đoàn 4, rồi thành Trung đoàn 138 và Lữ đoàn 614. Các thế hệ tiếp sau mãi mãi tự hào về Tiểu đoàn 4 thông tin tiếp sức anh hùng, chúng ta hãy giữ gìn và phát huy truyền thống Anh hùng đó.

Ngày 19-5-1997

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)