12.3.25

Truyền thống đoàn kết quân dân

Đại tá Đặng Đức Song - nguyên Giám đốc Nhà máy M1

Tình cảm của nhân dân Vĩnh Phú dành cho Nhà máy Thông tin M1 thật to lớn. Trong bài này, tôi chỉ xin nêu một vài nét trong không gian xung quanh vùng núi Thắm trong thời gian trước và sau lúc địch ném bom nhà máy chúng ta.

Ngày 5 tháng 3 năm 1965, Xưởng Thông tin được lệnh sơ tán lên doanh trại Trung đoàn 36 Sư đoàn 308 và Trung đoàn 259 công binh thuộc địa phận xã Võ Lao, Thanh Ba, Phú Thọ.

Ba tháng sau, chiến tranh phá hoại ngày một mở rộng và ác liệt. Nhà máy lại phải di chuyển vào xã Khải Xuân. Chậm nhất là sau ba ngày phải đưa một số phân xưởng vào làm việc. Đảng ủy và Ban Giám đốc trong lúc bàn bạc thực hiện mệnh lệnh di chuyển thì thấy nổi cộm nhất là địa điểm vừa rộng, thời gian lại khẩn trương. Nhớ câu: "Dễ trăm lần, không dân cũng chịu, khó vạn lần, dân liệu cũng xong" chúng tôi chia nhau đi làm công tác dân vận. Được bà con xóm Cao Sơn, xã Khải Xuân rất cởi mở và vui vẻ, mặc dù nhà lá đơn sơ, cả gia đình xuống bếp ở chật chội để nhường chỗ rộng, thoáng, sạch sẽ cho nhà máy mượn.

Ủy ban xã đã huy động hàng trăm người: già, trẻ, gái trai ra làm đường, đốn tre, đào hầm, v.v... để kịp cho đơn vị di chuyển đúng kế hoạch. Sau 2 ngày, một số bộ phận như vô tuyến điện, điện thoại, cơ khí đã bắt tay vào sản xuất trong cơ sở mới: những căn nhà lá của dân như nhà ông Cam, ông Khang, ông Cường, ông Dắc, ông Quang, ông Cơ, anh Thế, ông Lâm...

Cán bộ, công nhân nhà máy mệt quá ngả lưng trên bàn làm việc, đêm khuya, vào mùa đông bụng cồn cào lại được nhân dân mang sắn luộc cho ăn, thật như vớ được vàng. Vừa ăn, vừa uống trà Phú Thọ, vui vẻ chuyện trò bên bếp lửa hồng. Chính những lúc này đã làm cho anh em vơi đi nỗi nhớ nhà, nhớ thủ đô, tăng thêm sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ.

Nhiều lúc băn khoăn ái ngại cho ông bà già, cháu nhỏ xuống bếp hoặc ra hè ở, vợ chồng trẻ mới cưới cũng không biết ở đâu, thì nhân dân đã biết ý và khẳng định:

- Chúng tôi rất tự hào đã được góp sức cho bộ đội đánh Mỹ.

Đến năm 1969, gọi là tạm yên máy bay Mỹ đánh phá, Nhà máy Thông tin tiếp tục xây dựng lại doanh trại ở Võ Lao. Gần 2 năm cần cù lao động đã làm được gần 8.000m2 nhà xưởng, đội hình sơ tán lại trở về doanh trại mới hoàn chỉnh.

Vừa ổn định được mấy tháng đầu năm 1972, địch lại tiếp tục leo thang. Nhà máy một lần nữa lại phải sơ tán khẩn trương ra các khu vực lân cận. Lần này khó khăn hơn nhiều vì lượng người tăng gần gấp đôi, số gia đình tăng 2,5 lần, các cháu nhỏ tăng 3 lần, thiết bị 8.437 do Liên Xô viện trợ được đưa vào nên tăng gấp 10 lần, vì vậy phải sơ tán vào 6 xã: Võ Lao, Khải Xuân, Quảng Nạp, Đông Thành, Thanh Xá, Việt Trì.

Trong khi vừa sơ tán vừa sản xuất, địch đã ném bom vào đúng giữa khu vực nhà máy và một số khu sơ tán rộng 2,5km, dài 2,6km với 184 quả bom các loại.

Khu nhà máy bị phá hủy gần 80%. Khu sơ tán Cao Sơn bị cháy nhà, cháy kho gạo và kho quân trang, tan nát hàng chục ngôi nhà, hố bom chi chít, cây cối đổ lấp cả đường đi, một số hầm sập, 4 đồng chí hy sinh và 20 người bị thương.

Những lúc gay go ác liệt ấy thì nhân dân đã giúp cứu chữa thương binh, dồn nhà, sắp xếp chỗ ở cho công nhân. Trong lúc đang bối rối thì đồng chí Nguyễn Thị Trịnh - Phó Chủ tịch huyện Thanh Ba đạp xe xuống gặp tôi. Đứng giữa đám cháy cùng xúm vào dập lửa, chị hỏi tôi có khó khăn gì cấp bách lúc này?

Tôi báo cáo: thiếu gạo.

Lập tức chị Trịnh ra lệnh cho đồng chí Lực mở kho gạo lương thực dự trữ của huyện, trước mắt cấp cho chúng tôi 1,5 tấn, cấp thực phẩm và một số dụng cụ hậu cần.

Ông Sào ở xã Quảng Nạp đã cho mượn 7 gian nhà để làm trạm xá. Nhà cụ Ninh, ông Đính... bị tan nát biết bao bãi sắn, nương chè, ruộng lúa bị thiệt hại. Mặc dù thế, những cán bộ và nhân dân địa phương không hề kêu ca một lời, tiếp tục vận động đồng bào cho tre, lá cọ để sửa chữa nhà của đơn vị.

Các xã Khải Xuân, Võ Lao, Quảng Nạp, Thanh Xá... đã bỏ ra hàng ngàn ngày công làm cho 30 gian nhà gần 500m2, tổ chức san lấp hố bom sửa đường... cùng đơn vị ngày đêm giải quyết hậu quả để nhanh chóng đi vào sản xuất phục vụ chiến đấu.

Với truyền thống đoàn kết quân - dân, Nhà máy đã tiếp tục xây dựng, ngày càng trưởng thành toàn diện. Uống nước nhớ nguồn, cán bộ, công nhân nhà máy ghi lòng, tạc dạ tình nghĩa máu thịt với nhân dân đất tổ Hùng Vương qua bao năm đã hết lòng với đơn vị.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

0 comments:

Đăng nhận xét