11.4.26

Chúng tôi - "Những cô gái thông tin K6" (phần 2/2)

Tuyết Lan

Tiếp theo phần 1/2

Trong phim có những gương mặt không phải là người của A56, nhưng họ tiêu biểu cho thành tích phục vụ chiến đấu của Binh chủng.

Chị Nguyễn Thị Nghiêm trong vai trạm trưởng K6 vốn là trạm trưởng A41 ở Hải Phòng - trạm trực tiếp phục vụ Bộ tư lệnh Hải quân. Trạm của chị bị đánh sạt một góc hầm, đứt hết dây nhưng chị đã chỉ huy cho khắc phục nhanh, đảm bảo liên tục. Sau này kết thúc chiến tranh, chị trở về Hải Phòng làm giám đốc một trung tâm khai thác dịch của bưu điện.

Triệu Thị Bộ là chiến sĩ trạm A53 Thái Nguyên, phục vụ chính cho Quân khu Việt Bắc, phong trào thi đua ở đó rất mạnh. Cô gái 18 tuổi người dân tộc Tày đã được chọn đi báo cáo điển hình trong Hội nghị chiến sĩ thi đua và được tặng danh hiệu"Chiến sĩ Quyết thắng" đợt đầu của Binh chủng Thông tin.

Lê Thị Cửu, công tác tại trạm A48 Tam Đảo, thời kì chiến tranh nơi đây đã diễn ra những cuộc họp quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trạm nhỏ, ít người nhưng nhiệm vụ nặng nề, yêu cầu không thể sai sót. Cửu là cô gái quán xuyến và chăm chỉ. Cô còn ở lại phục vụ Quân đội đến tận năm 1997, về nghỉ hưu với quân hàm thiếu tá.

Dương Thị Lệ Phái, cùng quê với Cửu, người nhỏ nhắn, rắn rỏi. Trực tổng đài, Phái thưa máy rất nhẹ nhàng. Tính Phái hay lam làm, chăm sóc mọi người. Hết chiến tranh, cô về làm Hội trưởng Phụ nữ của Quận uỷ Ba Đình, Hà Nội.

Kim Tiến thì chính là người của A56. Tiến ít nói, sống lặng lẽ; khi ở trạm có máy hỏng phải xử lý ngay, mọi người gọi cô. Kim Tiến còn là cây đơn ca trong các kỳ hội diễn của Binh chủng. Giọng Tiến cao, bay bổng và tình cảm lắm; cô hay ngồi ở võng và hát cho chúng tôi nghe vào những chiều rỗi rãi.

Đoàn làm phim “Những cô gái trạm thông tin K6”. Bà Đinh Tuyết Lan đứng đầu tiên, bên phải.

Và còn biết bao gương mặt nữ chiến sĩ của chúng ta mà tôi muốn kể nữa.

Quá trình đóng phim làm cho công tác của trạm A56 náo nhiệt hẳn lên, nhiều ca chỉ kịp thay nhau ăn cơm rồi lại lên trực. Có hôm thấy cả chiến sĩ lẫn diễn viên vất vả quá mà công việc chạy băng băng, đồng chí chủ nhiệm phim đắn đo bàn với đạo diễn duyệt cho anh em một ít tiền bồi dưỡng.

Có tiền, trạm trưởng cử anh nuôi đạp xe xem có gì thì mua. Mãi chiều muộn mới thấy đồng chí anh nuôi đẩy xe, thồ hai sọt mít đầy về, quả nào, quả nấy to lông lốc, rõ thật nây, anh em hò reo xúm vào đẩy giúp. Anh nuôi nhễ nhại mồ hôi, nghe động viên:

- Ăn mít vừa ngon vừa bổ, chị em lại thích nữa, khéo chiều phụ nữ ghê!

Thế là người thì đi vặt lá mướp, kẻ lấy nia, kiếm dao to bản, mỏng lưỡi. Có đồng chí cẩn thận bê cả chậu gạo ra xoa tay cho khỏi dính nhựa, rất rôm rả.

Ai dè, trông mít đẹp mắt, gai đều tăm tắp nhưng là mít rừng, chưa chín nên chẳng ăn được. Chúng tôi đành bóc lấy hột đem luộc nhưng vì mít non nên hột cũng dơn dớt, ăn không ra gì. Cậu anh nuôi lính mới người Hải Phòng trẻ quá, khổ thân, chưa biết chọn mít.

Còn hôm Thủ trưởng Thăng - Chính uỷ Trung đoàn lên thăm anh em, cứ xoa tay khen phim làm nhanh và thưởng cho một bữa cháo gà để toàn trạm ăn đêm. Từ chiều, khi đi quay phim, mấy người còn mò được một mớ ốc suối nữa. Cháo gà ăn với ốc suối nướng bên bếp lửa bập bùng, chuyện về những buổi quay phim làm ấm lòng những chiến sĩ thông tin chúng tôi.

Có điều ít ai biết, người đã viết một phần lời bình cho phim "K6" là Đoàn Thị Thanh Trà, người Hải Dương. Chị Trà hơn lứa chúng tôi, lúc đó cũng chỉ mới 23 tuổi. Chị tốt nghiệp Trung cấp Bưu điện, làm đơn tình nguyện đi bộ đội và vào Binh chủng Thông tin liên lạc. Chị Trà xinh gái, trăng trẻo và có cặp mắt bồ câu rất đẹp; chẳng thế mà sau đợt làm phim, chàng quay phim trẻ Nguyễn Thế Dũng của Xưởng phim đã phải lòng chị. Họ cưới nhau và sống hạnh phúc. Tiếc rằng vài năm sau anh Dũng hy sinh trên chiến trường B.

Tôi cũng nhờ có phim "K6" mà mới lấy được chồng. Số là trước đây hai chúng tôi cùng học cấp III với nhau. Những năm tôi đi bộ đội thì anh học ở Liên Xô. Đầu năm 1974, chiến tranh đã đến hồi kết thúc, tôi ở chiến trường ra bị sốt rét khá nặng, đang chờ tập trung để đi học. Anh đến tận nhà với cười hớn hở:

- Chào cô gái thông tin K6!

Tôi ngỡ ngàng, chúng tôi xa nhau từ 1965, chưa yêu nhau, không có liên lạc gì và lúc đó thì chưa có "Những cô gái thông tin K6"?!

Tôi được người bạn cùng lớp kể rằng phim "Những cô gái thông tin K6" được công chiếu ở Mátxcơva (Liên Xô cũ). Khi nhận ra bạn gái cùng lớp trên phim, anh lâng lâng hạnh phúc và tự hào. Khi đó, trong nước đang có chiến tranh ác liệt, các anh là những lưu học sinh sống xa Tổ quốc rất ít có tin tức ở nhà. Phim cho anh ấn tượng mạnh đến nỗi sau gần mười năm xa cách, khi tốt nghiệp về nước, ngay hôm sau "người bạn cùng lớp" đã đến tìm tôi với lời chào hỏi như vậy.

Sau này gặp lại những người bạn học ở nước ngoài về, họ kể cho nghe là phim K6 còn được chiếu cả ở Hungary, Bungari, Tiệp Khắc, Đức, Ba Lan và Pháp trong thời kì đàm phán hội nghị bốn bên tại Paris.

Tưởng 35 năm qua đi, nhiều người đã quên, nhưng tháng trước, trên truyền hình có đưa một phóng sự về những cựu chiến binh của chúng ta làm kinh tế tại Đức, các nhà kinh doanh đã từng đi chiến trường vẫn nhớ về "Những cô gái thông tin K6" chúng tôi. Truyền hình đã trích một đoạn phim, tôi được xem lại mà rưng rưng, cảm động.

Chiến tranh đã tạo cho chúng tôi nhiều số phận. Phim "K6" quay xong khi chiến tranh còn vài năm nữa mới kết thúc. Các trạm của chúng tôi có nhiều chiến sĩ gái đã hy sinh, chẳng hạn như một Trạm A69 Quảng Bình, nơi tôi đến lắp đặt máy, sau có nửa giờ Mỹ đánh bom B52, trạm có 11 đồng chí nữ, trừ 2 đồng chí đang trực ca trong hầm, còn lại 9 đồng chí đã hy sinh cùng một lúc. Họ đều 18 tuổi, chỉ khác nhau ngày tháng sinh mà thôi.

Bà Đinh Tuyết Lan và cha - Nghệ sĩ Nhân dân Đinh Ngọc Liên, năm 1967. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Tôi có người bạn gái cùng trạm, hai đứa phụ trách hai ca. Khi bạn lên thay ca thì tôi về và chui vào giường bạn ngủ tiếp, không phải mắc màn, bạn con chấy cắn đôi ấy mà! Bạn tôi có mái tóc dài chấm gót óng ả, mượt mà, khi gội đầu phải đứng lên ghế hong tóc cho khô. Gió thổi tóc bay bay làm cho bao trái tim xao xuyến. Tính bạn mơ mộng, khi cô kể những suy tưởng về "đấng phu quân" tương lai đẹp trai tuấn tú và "ga lăng" ra sao, chúng tôi cứ há mồm ra nghe, nuốt lấy từng ý, từng lời của cô. Ấy vậy mà ngày hoà bình, đồng chí thiếu tá bạn tôi nói trong long lanh nước mắt khi được hỏi thăm chuyện gia đình:

- Chưa! Không gặp được ai nữa rồi. Qua mất tuổi để một chàng trai bồng bột ngỏ lời với mình. Bạn biết không? Cho đến tận bây giờ vẫn chưa có ai nói với mình câu: "Anh yêu em!"

Bạn tôi cũng chỉ là một trong số rất đông những cô gái thông tin như vậy.

Nhưng dù sao, hầu hết chúng tôi đang sống hạnh phúc, thành đạt bên cạnh người chồng yêu thương, con cháu ngoan ngoãn, trưởng thành. Chúng tôi vui với những lo toan của người phụ nữ trong gia đình, của đất nước hoà bình, không có chiến tranh.

Hết

T.L.

Hà Nội, 20-8-2004

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

0 comments:

Đăng nhận xét