18.5.26

Phong cách Hồ Chí Minh (8/8)

Cố Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan (sưu tầm và biên soạn)

Tiếp theo phần 7/8

61. Tôi bị tấn công bằng tình thương yêu

Từ ngày 4/2 đến ngày 17/2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rời Hà Nội để đi thăm Ấn Độ và Miến Điện. Trong cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân Ấn Độ chào mừng Hồ Chủ tịch tại New Delhi, Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru đã nói:

“Chúng tôi đã có dịp hoan nghênh với lòng kính trọng và yêu quý nhiều vị thượng khách từ các nơi đến. Nhưng - Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị thượng khách mà chúng tôi hoan nghênh hôm nay thật là đặc biệt. Đặc biệt không phải vì chính trị hoặc vì lẽ gì khác, nhưng vì không vị thượng khách nào giản dị như vị thượng khách này và hễ gặp mặt là người ta phải mến yêu... Ba năm rưỡi trước đây, tôi đã gặp vị thượng khách này ở Hà Nội. Và tôi cảm thấy ngay là tôi bị tấn công bằng tình yêu thương, thật khó mà chống lại một cuộc tấn công như thế”.

 

62. Ăn no rồi hãy đến làm việc

Anh em, bạn bè, họ hàng lâu ngày gặp nhau, cùng uống một chén rượu, ăn với nhau một bữa cơm cũng là việc thường tình. Cái chính là ở tấm lòng trung thực, tình nghĩa, kính trọng, yêu thương nhau chứ không nên “khách một khứa mười tranh thủ chi tiêu “tiền chùa” xả láng. Khách không nên vì cương vị “gợi ý” khéo để chủ nhà “nghênh tiếp”.

Anh em ở gần Bác cho biết, dù trong kháng chiến ở Việt Bắc, hay khi đã về Hà Nội, kể cả trong những năm kháng chiến, hễ đi công tác xa, gần, là nhất định Bác “bắt” mang cơm đi theo. Khi cơm nắm, độn cả ngô, mì. Khi là bánh mì với thức ăn nguội. Chỉ có canh là cho vào phích để đến bữa, Bác dùng cho nóng.

Nhớ lần về thăm tỉnh Thái Bình, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân cố nài Bác ở lại ăn cơm. Bác nói: “Đi thăm tỉnh lụt còn ăn uống nỗi gì”. Nói xong, Bác lại thương cán bộ vì đã có cơm sẵn. Bác gọi đồng chí cảnh vệ đưa cơm nắm thức ăn mặn của Bác đến và bảo:

- Mời đồng chí Bí thư và Chủ tịch đến ăn cơm với Bác. Còn chú và chú bác sĩ sang mâm kia ăn với cán bộ tỉnh.

Thường là đi công tác, đến bữa, Bác cho dừng xe, chọn nơi vắng, mát, sạch, Bác cháu mang cơm ra ăn. Làm việc xong, Bác chọn giờ ra về để kịp ăn cơm “ở nhà”. Nếu không, lại có cơm nấu bữa thứ hai mang theo. Chỉ khi nào ở đâu, công tác lâu Bác mới chịu ăn cơm ở địa phương. Bao giờ Bác cũng dặn “chủ nhà”:

- Đoàn Bác đi có từng này người. Nếu được, chỉ ăn từng này, từng này...

Dù không nghe lời Bác, chủ nhà dọn “cỗ” ra, Bác cũng có cách riêng của Bác. Bác nói với anh em:

- Bác cháu ta chỉ ăn hết món này, món này thôi. Còn món này để nguyên.

Nhà chủ thiết tha mời Bác dùng thử món “cây nhà lá vườn”, Bác cũng chỉ gắp vào bát anh em và bát mình mỗi người một miếng rồi lại xếp ngay ngắn đĩa thức ăn ấy, kiên quyết để ra ngoài mâm, người ngoài nhìn vào thấy đĩa thức ăn vẫn như nguyên vẹn. Bác nói với cán bộ:

- Người ta dọn ra một bữa sang, Bác cháu mình có khi cũng chẳng ăn đâu, chẳng ăn hết. Nhưng đi rồi để lại cái tiếng: đấy, Bác Hồ đến thăm cũng làm cơm thế này thế nọ, cũng điều động người này, người nọ từ giao tế sang, mất thời gian. Thế là, tự mình, Bác lại bao che cho cái chuyện xôi thịt... Cứ ăn no rồi đến làm việc.

 

64. Một mình Bác có 4 “chánh văn phòng”

Được đọc các tư liệu, tài liệu của Bác Hồ tại Văn phòng Trung ương Đảng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng cách mạng, điều dễ nhận ra đối với người tiếp cận là Bác tự tay viết, tự tay đánh máy, gửi, nhận công văn, một mình làm hết, không có ai làm “thư ký”, thực ra cũng chẳng ai làm nổi thư ký của Bác, cũng chẳng ai chuẩn bị được đề cương bài nói, diễn văn giúp Bác. Những năm 60 thế kỷ 20, Bác có ủy nhiệm đồng chí này, đồng chí kia giúp Bác xem, đọc một số tài liệu, thư từ. Các việc quan trọng khác, Bác vẫn tự làm. Người nào, Bộ nào có đưa điện, thư viết sẵn, thế nào cũng được Bác sửa lại.

Những năm kháng chiến chống Pháp, trong khoảng từ năm 1946 đến hết năm 1947, Bác Hồ không có “trụ sở”, không có “nhà riêng”. Bác đi nơi này đến cơ quan nọ, “hành quân” liên tục. Khi dừng ở đâu, chặt vài cây bương, cây luồng, cây vầu, quây nứa, lợp lá làm một căn nhà nhỏ hai gian, một gian để Bác nghỉ, một gian làm nơi nghỉ của anh em cùng đi.

Sau Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, Bác mới cho làm một cái nhà sàn để đỡ bị hơi ẩm núi rừng. Cái nhà sàn này cũng không phải là nhà “cố định”. Bác chỉ ở độ 5, 6 tháng lại di chuyển, để giữ bí mật, và tiện cho công tác.

Bác yêu cầu làm nhà sàn cao bao nhiêu, rộng bao nhiêu, bàn làm việc của Bác đặt ở đâu, rất cụ thể. Nhà tuy nhỏ - anh em thường gọi là “chuồng chim câu” (chỉ có một mình Bác ở) – nhưng thuận tiện để Bác làm việc.

Bác còn yêu cầu là từ bàn làm việc của Bác, Bác có thể với tay đến 4 cái cột để ở gần bên. Vì thế các nhà “kiến trúc” - mà Bác gọi tắt theo kiểu Việt Nam cho tiện là ông “Kiến”, (như kiểu Bác gọi Napoléon là ông “Na”) phải tìm cách đưa bốn cột nhà vào giữa, không kể các cột khác. Không ai hiểu ý Bác ra sao cả.

Trong khi làm việc, Bác vẫn thường xuyên kiểm tra “tiến độ”. Làm xong, Bác lên xem lần cuối, đồng ý. Bấy giờ Bác mới đi chặt 4 ống bương to, rất sẵn ở trong rừng, buộc vào 4 cột. Sau đó, Bác viết tên bốn đồng chí phụ trách Đảng, Chính phủ, Quân đội, Mặt trận - theo hồi ký của một đồng chí bảo vệ đó là tên các đồng chí Thận (tức đồng chí Trường Chinh), Tô (đồng chí Phạm Văn Đồng), Văn (đồng chí Võ Nguyên Giáp) và Việt (đồng chí Hoàng Quốc Việt). Công văn đến chia ra 4 ngành theo 4 ống bương. Ngồi vào bàn làm việc Bác lấy công văn trong 4 ống bương ra, xem xét, giải quyết, viết thư trả lời. Cuối giờ, Bác lại bỏ các thư từ, công văn gửi theo 4 ngành với 4 tên các đồng chí vào các ống bương quy định.

Anh em gần Bác quen gọi đùa 4 ống bương ấy là “tứ trụ”. Có người còn nói: 4 ống bương đó là bốn ông “Chánh Văn phòng” của Bác.

 

65. Căn phòng người thợ điện

Cuối năm 1954, từ Việt Bắc về Hà Nội, Bác Hồ ở tại nhà thương Đồn Thủy - nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội. Ngày 19 tháng 12 năm đó, Bác mới đến ở khu nhà nhỏ trong khu Phủ Chủ tịch.

Trước đó vài ngày, Bác đã đến Phủ Chủ tịch. Lướt qua các nhà cao, Bác đi thẳng đến khu nhà thấp, tồi nhất, chỉ vào căn phòng nhỏ và nói:

- Bác ở đây.

Đây là căn phòng của người thợ điện, rộng chừng 12 mét vuông, bên cạnh có 3 phòng nhỏ. Hôm Bác đến dọn nhà, căn phòng của người thợ điện ấy còn đặt một bộ phận máy nổ, sàn đầy vết dầu mỡ. Anh em khuân máy đi, quét tước dọn dẹp, vừa làm vừa băn khoăn.

Bác chỉ ở 1 trong 4 phòng. Phòng của Bác kê cái gì cũng một - một giường, một bàn, một ghế, một tủ nhỏ đựng quần áo. Đến bữa, Bác sang phòng bên dùng cơm. Phòng làm việc của Chủ tịch nước nguyên là của người thợ điện. Bác ở đây không đủ ánh sáng. Mùa đông 8 giờ sáng còn phải để đèn, chiều 3 giờ đã phải bật đèn. Cái phòng này, người thợ điện cũng chỉ nghỉ và ngủ, chứ không ở. Mùa hè về, nắng hắt vào sân xi măng mặt đường hắt lại vào phòng của Bác, nên rất nóng. Các đồng chí cán bộ cấp trung, cấp cao được “phân phối những ngôi nhà, hoặc cho mượn biệt thự, vào làm việc với Bác, Bác không cho đến phòng này nhiều. Anh em thương Bác quá, đã nhiều lần “xin” Bác chuyển đến một nơi khác, nhưng Bác không nghe.

Như muốn để trả lời anh em, buổi tối mùa hè Bác thường cùng anh em đến thăm những khu phố cổ Hà Nội, những ngôi nhà như cái hộp trên những con đường hẹp, bàn cờ của thủ đô. Bác chỉ vào số đông đồng bào đem chõng, rải chiếu ra nằm trên hè, rồi nói:

- Đồng bào còn cực khổ như thế này, Bác “được” ở trong phòng người thợ điện ấy cũng phong lưu lắm. So với ngày ở lán trên rừng, ở hang, ở nhà sàn, so với đồng bào, Bác cũng đã sướng hơn rồi... Thôi Bác cứ ở đấy, không đi đâu hết.

Năm 1967, giặc Mỹ đưa máy bay ném bom ác liệt ở miền Bắc, có lần anh em đề nghị Bác đến ở nhà khách to (nhà của Toàn quyền Pháp trước đây), bây giờ đã là nhà tiếp khách của Chính phủ, Bác không đồng ý. Năn nỉ mãi, Bác nói:

- Bác không ở vì ở đấy có mùi hôi thế nào ấy.

Anh em tưởng thật định rủ nhau làm tổng vệ sinh tầng trên, tầng dưới, tầng hầm thật sạch sẽ để “xin” Bác ra.

Bác lại nói:

- Bác nói hôi là hôi mùi Toàn quyền Pháp ngày xưa thôi...

Và Bác vẫn cứ ở nhà sàn, trừ những lần phải tiếp khách.

Một lần, đi cùng đoàn đại biểu nước ngoài, Bác chỉ vào ngôi nhà tiếp khách của Chính phủ nói “Tôi có ý định khi đánh giặc xong, nếu chưa xây kịp cung Thiếu nhi thì tạm dùng cái nhà to này dành cho các cháu”.

 

66. Bác thương chiến sĩ

Lần thăm Hồng Quảng1, Bác có nghỉ lại đêm. Tỉnh ủy, Ủy ban, Công an tỉnh họp bàn “phương án” bảo vệ "A1".

Điều đó rất đúng và phải làm, không những là vì lòng kính yêu vô hạn với Bác, mà còn là chức trách, nhiệm vụ của tỉnh. Bác biết điều đó, Bác hỏi đồng chí công an:

- Ở gần đây có đơn vị bộ đội nào đóng quân trên đổi không?

Được Tỉnh ủy báo cáo là có, Bác đề nghị để Bác lên đấy ngủ qua đêm.

Biết chẳng trái được ý Bác, Tỉnh phải bí mật, yêu cầu đơn vị bộ đội bảo vệ.

Sáng sớm, Bác dạy tập thể dục, thấy dưới đồi có người đi đi, lại lại.

Vào giờ làm việc, Bác nói:

- Bác ở trên đó vừa bí mật, đỡ bảo vệ, lại gió mát. Bác nằm giường gỗ quen rồi, thoải mái rồi. Nằm giường đệm khách sạn của các chú nóng, Bác không quen. Thế mà các chú còn “bắt” anh em vòng trong, vòng ngoài...2

---------------------------------------------

1 Tên của hai tỉnh Hồng Gai và Quảng Ninh.

2 Có thông tin cho biết Bác còn nói “Mình ngủ mà để người ta thức gác cho mình ngủ thật là không nên”.

 

67. Ngân hàng Nhà nước phục vụ ai?

Một ngày trong năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm công nhân, cán bộ, Nhà máy Dệt Nam Định. Mọi người trong các phân xưởng đều làm việc. Chủ tịch đi qua một phòng thấy có ba người ngồi. Bác hỏi:

- Các cô, các chú làm gì đấy?

Anh Đoàn Duy Bảo đứng lên thưa:

- Dạ, thưa Bác, đây là bàn tiết kiệm của Ngân hàng đặt tại Nhà máy.

Bác cầm một quyển sổ lên, hỏi:

- Nhà máy có bao nhiêu người gửi tiền tiết kiệm?

Anh Bảo thưa:

- Dạ, có tám mươi phần trăm người gửi ạ.

Bác gặng:

- Thế còn hai mươi phần trăm nữa thì sao?

Anh Bảo báo cáo:

- Dạ, do hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Thấy cán bộ Ngân hàng trả lời chưa đúng vào câu hỏi có lẽ khó, Bác tìm hiểu sang vấn đề khác.

- Mỗi lần được gửi bao nhiêu?

- Dạ, gửi từ một đồng trở lên ạ.

Bác nói:

- Thế Bác có một hào, có gửi được không?

Tất cả từ Giám đốc Nhà máy, Bí thư, cán bộ Ngân hàng quỹ tiết kiệm đều không trả lời được...

Bác Hồ đến thăm Nhà máy Dệt Nam Định.

Vài thập kỷ sau, kỷ niệm “45 năm mùa sen nở” của ngành Ngân hàng, anh Bảo bây giờ đã thành ông cụ Bảo mới nói với cán bộ ngân hàng trẻ rằng:

“Mãi về sau tôi mới hiểu ra rằng Ngân hàng Nhà nước ta, là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, nên trước hết là phải giúp đỡ dân, giúp đỡ người nghèo, lo cho người nghèo có vốn để sống, để làm kinh tế, để có tiền gửi Ngân hàng, để nuôi Ngân hàng và phải tạo điều kiện có thể thu hút được nhiều tiền tiết kiệm, chẳng hạn sẵn sàng nhận gửi, dù là một lần nhận gửi với số tiền rất ít...

Một câu hỏi mà hơn một phần tư thế kỷ tự tôi mới tìm ra được ý nghĩa của câu trả lời.

 

68. Thi đua về lòng yêu nước thì ta thắng

Những bức ảnh Bác Hồ chúng ta biết được đến ngày nay, thường là không thấy Bác mặc com lê, thắt cà vạt. Nhớ lại khoảng tháng 10 năm 1945, khi đi thăm tỉnh Thái Bình, Bác gặp một đội viên bảo vệ chân đi giày ghệt, thắt lưng to bản (bấy giờ gọi là xanh-tuya-rông...) và thắt cả cà vạt nữa. Bác dừng lại nói:

- Chú mà cũng phải thắt cái này à?

Trong Bắc Bộ Phủ, thấy có một số cán bộ từ chiến khu mới về đã “xúng xính”, Bác nhẹ nhàng:

- Trông các chú ra dáng người thành phố rồi...

Bác bao giờ cũng mong đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Rồi Bác còn mong các cháu có áo đẹp, cụ già có khăn lụa... Bác không bao giờ lấy ý của mình áp đặt người khác, không bắt ai cứ phải theo mình.

Lần sang thăm một nước bạn, có cán bộ ngoại giao xin phép Bác ra phố. Bác bắt cán bộ đó mặc quần áo, thắt cà vạt nghiêm chỉnh rồi mới cho phép đi.

Bác nói:

- Đời sống khá hơn thì ăn mặc cũng được khá lên. Nhưng phải tùy cảnh, tùy thời.

“Thời và “cảnh” năm 1945 là đa số đồng bào ta vừa qua 80 năm bị áp bức nô lệ, qua cơn đói Ất Dậu, vừa bị lụt bão, miếng cơm, củ khoai chưa đủ ăn, áo không đủ mặc. Thế mà các cán bộ - là những đầy tớ nhân dân, như lời Bác dạy, lại mặc  những bộ quần áo sang trọng, đắt tiền, không phải lúc, thì “khó coi. Khi Bác đi thăm bà con nông dân, Bác đi dép, tới ruộng, Bác bỏ dép, xắn quần lội ruộng, tát nước với bà con. Trong khi đó, có anh cán bộ, đi giày bóng loáng, chỉ có thể đứng trên bờ hỏi thăm.

Báo Nhân Dân ngày 18 tháng 5 năm 1994, có đăng một bài, nội dung tóm tắt như sau:

“Chuyện rằng vào khoảng cuối tháng 4 năm 1946, do tình hình thực dân Pháp không chịu từ bỏ ý đồ trở lại xâm lược Việt Nam, để tạo điều kiện, thời gian chuẩn bị kháng chiến, Bác và phái đoàn sang Pháp điều đình với Chính phủ Pháp.

Trước ngày ra đi, vẫn thấy Bác làm việc theo đúng thời gian biểu đã định, chẳng thấy Bác “sắm sửa” gì. Trong khi đó, một số cán bộ trong phái đoàn lo tìm hiểu “mốt” Paris, lo may mặc những bộ com lê, sơ mi, cà vạt, đóng giày mới, và có người còn lo cả khoản nước hoa.

Việc làm ấy của cán bộ cũng là điều tốt. Nhưng có điều là các “vị” đi hơi xa, hay có thể hơi “ồn ào”, có vẻ như một cuộc thi đua mua sắm. Chuyện đó đến tai Bác.

Thương yêu, bình đẳng, nhưng không thể không nhắc nhở, Bác nói:

- Các chú muốn thi đua với Tổng thống, Thủ tướng nước ngoài về ăn mặc thì thua họ thôi, Bác cháu ta thi đua với họ về lòng yêu nước, thương dân thì ta mới thắng”.

 

69. Mênh mông quá!

Bác Hồ của chúng ta là Chủ tịch nước, nhưng trong cuộc sống hằng ngày Bác không coi nhẹ, coi thường các việc nhỏ. Bác yêu thương đồng bào cả nước, kiều bào ở nước ngoài, các dân tộc anh em bị áp bức. Một em bé da đen đói, một người con gái ở nước Pháp bị án tử hình đều làm Bác xúc động.

Bác không bằng lòng nhiều cán bộ “ra vẻ hăng hái, “kiên trung”, thấy bạn bè, đồng đội, đồng bào có lầm lỗi, chưa phân tích đầy đủ nguyên nhân, khách quan, chủ quan, mức độ đã “vơ đũa cả nắm”, “đánh một đòn chết tươi”. Thường là, nếu cán bộ, đồng bào có điều gì không phải Bác lại nhận lỗi ấy về mình “mong được lượng thứ”.

Đầu năm 1960, trong một cuộc họp cán bộ, có đồng chí “lên án” gay gắt “bệnh lười biếng”, “công thần”, đòi phải “xử lý”... bàn cãi hồi lâu, sắp hết giờ họp, Bác “xin được phát biểu”. Bác nói đại ý:

- Bể cũng là nước, giọt nước cũng là nước. Trong Đảng hằng ngày là giọt nước hay là bể. Nếu nói lười biếng, công thần cũng là tư tưởng tư sản thì mênh mông quá.

 

70. Bán “tru” mua chó, bán “ló” mua mèo

Ngày mồng một tết năm Ất Tỵ 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Hồng Gai, chúc mừng xuân mới và nói chuyện với công nhân, chiến sĩ, cán bộ trong tỉnh.

Bác khuyên bà con đoàn kết, cần, kiệm, liêm chính để xây dựng đất nước, cùng đồng bào miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Ngay sau buổi gặp mặt mừng xuân xong, từ chối không ở lại “ăn tết” với Tỉnh ủy, Bác về Hà Nội. Trên đường đi, Bác cho dừng xe thăm rừng cây trồng hai bên sườn núi, Bác có ý định vào sâu trong rừng để xem xét, nhưng cán bộ địa phương cho biết không có đường đi và cũng không có người để bảo vệ rừng.

Bác hỏi Bộ trưởng Lâm nghiệp:

- Chú có biết quê “choa” có câu “bán tru mua chó, bán ló mua mèo1” không?

Bộ trưởng Lâm nghiệp chưa kịp trả lời, Bác giải thích:

- Có đàn trâu, có khi phải bán đi một con để mua con chó canh giữ nếu không kẻ trộm bắt hết cả đàn. Có vựa lúa có khi phải bán bớt lúa để mua mèo nếu không chuột sẽ ăn hết lúa.

Bộ trưởng và cán bộ địa phương thưa với Bác: “Chúng cháu hiểu rồi ạ!”. Bác giao hẹn:

- Hiểu rồi thì phải làm đấy!

------------------------------------

1 Ở vùng Thanh-Nghệ Tĩnh, đồng bào ta còn hay gọi con trâu là “con tru”. Sông Lương Giang ở Thanh Hóa chảy qua huyện Thọ Xuân, Thiệu Hóa... vì nước chảy chậm như bước trâu đi nên gọi là sông Tru, khác với sông Mã nước chảy nhanh như ngựa phi. Còn “ló” là “lúa”. Đây là những tiếng Việt Mường cổ xưa nay còn lại trong ngôn ngữ nhân dân.

 

71. Bác Hồ “xin đồng bào và cán bộ cho biết”

Trong kho tàng lưu trữ của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam có một bài báo viết trên một tờ giấy “tiết kiệm” (là những tờ Bác Hồ tận dụng các giấy tờ mà anh em đã “bỏ” đi). Bài báo đánh số 153/11, kèm theo mấy chữ “đăng 21 tháng 1”. Chưa rõ vào năm nào - nhưng chắc chắn là trong kháng chiến chống Pháp và theo dự đoán có thể đăng ở báo Cứu Quốc hoặc báo Nhân Dân.

Bài báo như sau:

“Các đồng bào điền chủ gương mẫu.

Tục ngữ có câu “Có nước thì có đất

Nước đây là nước nòi, nước nhà, chứ không phải là nước sông, nước giếng.

Nhiều đồng bào điền chủ đã hiểu như vậy và đã hăng hái hiến đất ruộng cho kháng chiến.

Đây là vài ví dụ:

Ở Bắc: Ông bà Đỗ Đình Thiện hiến hơn 2.000 mẫu. Ông bà Đỗ Thúc Phách 600 mẫu, v.v.

Ở Trung: Tôi không biết rõ, xin đồng bào và cán bộ cho biết.

Ở Nam: 300 đồng bào điền chủ đã hiến 24.500 mẫu, trong đó miền Tây nhiều hơn. Theo báo cáo số ruộng hiến cộng tất cả đã đến 40.000 mẫu. Một điều đáng quý nữa là các điền chủ Hoa kiều cũng hiến ruộng để tỏ lòng ủng hộ kháng chiến...

Phong trào hiến ruộng ở Nam bộ do ông Huỳnh Thiện Lộc (cựu Bộ trưởng Canh nông, nay đã mất rồi) xung phong trước nhất. Đó cũng là một đặc điểm trong cuộc kháng chiến của Việt Nam. Nó chứng tỏ rõ rệt sự toàn dân đoàn kết. Mà đoàn kết thì nhất định thắng lợi”.

Chỉ một bài viết ngắn như vậy chúng ta vẫn tiếp thu được tư tưởng lớn của Bác về đoàn kết toàn dân, về động viên tài lực của dân... Và cũng ở đây có một nét phong cách làm việc của Bác để ta suy nghĩ và học tập, đó là:

- Việc gì Bác biết chính xác, Bác mới viết.

- Việc gì Bác biết gián tiếp, Bác viết “theo báo cáo”.

- Việc gì Bác không biết rõ, Bác “xin đồng bào và cán bộ cho biết”. Bác “xin đồng bào” trước, “xin cán bộ” sau, vì Bác ngại “cán bộ” vì một lý do nào đó báo cáo chưa đúng, còn đồng bào, nhân dân chắc chắn là sẽ thưa với Bác chính xác nhất mọi điều.

-----------------------------------------

1 Gia đình ông Đỗ Đình Thiện hiện ở Hà Nội, con trai ông Thiện là TS Đỗ Long Vân.

 

72. Ý kiến của Bác Hồ về văn hóa mới của Việt Nam hơn nửa thế kỷ trước

Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4 (1945 - 1946) đăng bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” trong ngày 3 tháng 9 năm 1945. Trong bài ấy Bác nói “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc họp ở Hà Nội ngày 24 tháng 11 năm 1946, Bác nói “Nhi đồng Việt Nam đã tiến bộ nhiều về văn hóa... Tôi xin thay mặt toàn thể thiếu nhi Việt Nam kêu gọi các nhà văn hóa Việt Nam hãy chú ý đặc biệt đến nhi đồng”. Báo Cứu Quốc số 415 ra ngày 24 tháng 11 năm 1946, đăng bài viết của Bác Hồ, có đoạn như sau:

Phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm cơ sở. Phải học những điều tốt đẹp của văn hóa nước ngoài, tạo ra nền văn hóa Việt Nam sao cho văn hóa mới phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ. Phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập. Phải chú ý đến nhi đồng”.

 

73. Trị cái gì? Sự cái gì?

Bác Hồ không ưa lối dùng chữ nước ngoài để nói hoặc viết, trong khi có thể dùng chữ nước mình. Có một câu chuyện của Bác về hai chữ “trị sự1”.

Năm 1951, Bác thăm báo Nhân Dân, bấy giờ đang “đóng quân” tại Bắc Kạn. Bác đi vào một căn buồng làm bằng tre nứa, thấy một người ngồi. Bác hỏi: “Chú làm việc gì?”, “Thưa Bác, làm trị sự ạ”. Bác lại hỏi: “Trị cái gì? Sự cái gì?”. Anh cán bộ không hiểu chữ “trị, sự” là gì, cũng không hiểu ý Bác phê bình “dốt hay nói chữ” nên “thật thà” thưa:

- Dạ, trông nom việc in và phát hành báo ạ...

Bác không nói gì, đi ra...

Mấy chục năm sau, số cán bộ đi theo Bác năm ấy mới “hiểu” ra được vì sao Bác không nói gì, không cần nói gì nữa, vì chính người nói “trị sự” cũng chẳng hiểu mình “trị cái gì, “sự” cái gì.

--------------------------------------------

1Trị” là việc đương làm, sửa sang công việc. “Sự” là việc làm, Trị sự là sửa sang, xem xét mọi việc.

 

74. Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Đồng chí Chương, cán bộ cấp cao của Đoàn 559 có lần kể chuyện như sau:

Bác Hồ hỏi một nhà “lý luận1”.

- Chú đã học, đã dạy Triết học Marx-Lenin ở các trường Liên Xô - Trung Quốc - Việt Nam, vậy chú có biết chủ nghĩa xã hội Việt Nam là gì? Nói tóm tắt trong vài chữ thôi.

Giáo sư “đỏ” suy nghĩ hồi lâu rồi thưa:

- Vài chữ thì khó lắm. Thưa Bác, cháu chịu ạ.

Bác nói:

- Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là 5 chữ: Lý kết hợp với Tình.

----------------------------------------

1 Có tư liệu cho biết “nhà lý luận” này là Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn.

 

75. Người Pháp, người Mỹ

Tuần báo “Đây Paris1” ra ngày 18 năm 6 năm 1946 là một trong những bài viết sớm nhất, tương đối đầy đủ nhất về phong cách của Bác Hồ. Xin hãy đọc:

“Chủ tịch nước Việt Nam là một người giản dị quá đỗi. Quanh năm ông chỉ mặc một bộ áo ka ki xoàng xĩnh và khi những người công tác quanh ông để ý, nói với ông rằng với địa vị ông ngày nay, nhiều khi cần phải ăn mặc cho được trang trọng, thì ông mỉm cười trả lời:

- Chúng ta tưởng rằng chúng ta được quý trọng vì có áo đẹp mặc, trong khi bao nhiêu đồng bào mình trần đang rét run trong thành phố và các vùng quê?

Sự ăn ở giản dị đến cực độ, như một ẩn sĩ, đó là một đức tính rõ rệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tuần lễ ông nhịn ăn một bữa, không phải là để hành hạ mình cho khổ sở mà là để nêu một tấm gương dè xẻn gạo đồng bào đặng làm giảm bớt nạn đói trong nước. Hết thảy mọi người xung quanh đều bắt chước hành động đó của ông.

Trong những ngày bình thường, ông dùng cơm ở Bắc Bộ Phủ, ngồi chung với hết thảy mọi người. Người ta thấy quây quần xung quanh bàn ăn: các bộ trưởng, những thư ký và cả những cậu thiếu niên phục vụ bàn giấy. Nhờ có đức tính giản dị của ông mà khi ngồi ăn với mọi người, ông không làm ai phải giữ kẽ nhiều quá, mà trái lại, không khí chung lộ ra, lúc nào cũng thân mật, cũng vui vẻ, gây cho bữa ăn một vẻ gia đình.

Tính giản dị và thân mật của ông còn biểu lộ ra trong những bài diễn văn. Không bao giờ ông tỏ vẻ thông thái, vốn rất rộng của ông. Ông thông thạo bảy thứ tiếng khác nhau và nói được rất nhiều tiếng thổ âm, trái lại ông chỉ dùng những câu nôm na, khiến cho một người dù quê mùa chất phác nghe cũng hiểu được ngay. Ngày ông viết xã luận cho báo Cứu Quốc, trước khi đem bài cho nhà in, bao giờ ông cũng đem đọc cho một số người không biết chữ, ông già, bà già cùng nghe. Nếu ông thấy thính giả tỏ vẻ không hiểu mấy những ý tưởng trong bài viết, lập tức ông viết lại ngay bài khác. Tất cả đức tính Hồ Chí Minh bao gồm trong một cử chỉ bé nhỏ đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất ghét lối nói khoa trương, văn vẻ. Mỗi bài diễn văn của ông là một bài học nhỏ kết luận bằng một ý kiến đạo đức. Bởi những ý tưởng hết sức giản đơn ấy mà bài diễn văn của ông có một tiếng vang lớn trong giới trí thức và dân chúng”.

------------------------------------------

1 Tiếng Pháp “Ici Paris”.

 

76. Bìa quyển sách Ho của David Halberstam

Hai mươi lăm năm sau bài viết trên, năm 1971 – sau khi Bác Hồ mất, một người Mỹ - nhà báo, nhà văn David Halberstam trong cuốn sách Ho của mình, do Nhà xuất bản McGraw-Hill ở New York ấn hành đã viết:

“... Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này - hơi giống Gandhi, hơi giống Lenin, hoàn toàn Việt Nam. Có lẽ hơn bất kỳ một người nào khác của thế kỷ này, đối với dân tộc của ông, và đối với cả thế giới ông là hiện thân của một cuộc cách mạng. Thế nhưng đối với hầu hết nông dân Việt Nam, ông là biểu tượng của cuộc sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh và thắng lợi của họ. Ông là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hòa nhã, không màng địa vị, luôn luôn mặc quần áo đơn giản nhất - cách ăn mặc của ông không khác mấy người nông dân nghèo nhất - một phong cách mà phương Tây đã giễu ông trong nhiều năm, cười ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không theo thời trang. Cho đến một ngày họ mới tỉnh ngộ và nhận thấy cái tính giản dị ấy, cái sùng bái sự giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân là cơ sở cho sự thành công của ông.

Trong một nước khi mà dân chúng đã thấy những người cầm đầu đạt tới một địa vị nào đó rồi trở thành “Tây” hơn là “Việt Nam”, bị quyền lực, tiền bạc và lối sống phương Tây làm thối nát, trong một nước khi những người đó đã ngoi lên khá cao thì không làm gì cho dân chúng cả, lập tức bị bán mình cho người nước ngoài. Tính giản dị của ông Hồ là một sức mạnh. Địa vị càng cao sang, ông càng giản dị và trong sạch. Hình như ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh cửu của người Việt Nam: kính già, yêu trẻ, ghét tiền của. Ông Hồ không cố tìm kiếm cho mình những cái trang sức quyền lực vì ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của ông với nhân dân, với lịch sử đến nỗi không cần những pho tượng, những cái cầu, những pho sách, những tấm ảnh để chứng tỏ điều đó cho mình và cho thiên hạ biết. Việc ông từ chối sự sùng bái cá nhân là đặc biệt đáng chú ý trong cái xã hội kém phát triển.”.

 

77. Bác không phải là “ngài Chủ tịch”

Ngày 24 tháng 8 năm 1961, Girard phóng viên báo Nhân đạo (L’Humanité) cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp - thường trú tại Việt Nam có gửi một thư lên Hồ Chủ tịch bằng tiếng Pháp.

Thư viết:

“Kính thưa Ngài Chủ tịch Hồ Chí Minh,

Thưa Ngài Chủ tịch,

Nhân dịp nhân dân Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 16 năm tuyên bố độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tôi xin đề nghị Ngài Chủ tịch cho phép tôi được tiến hành một cuộc phỏng vấn...”1

Tiếng “Ngài” trong nguyên văn là “Monsieur”.

Thư đến Văn phòng Trung ương Đảng ngày 26 tháng 8 năm 1961, số công văn đến là 7424.

Nhận được thư, Bác Hồ xóa chữ “Ngài mà viết thay bằng chữ “Đồng chí” (camarade).

Bác không phải là “Ngài Chủ tịch”, Bác không chỉ là đồng chí với Girard, với các đồng chí Pháp mà cả với tất cả những người lao động trên thế giới.

------------------------------------------------

1 Thủy Trường lược dịch.

Hết

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Phong cách Hồ Chí Minh". NXB Trẻ 2019) 

0 comments:

Đăng nhận xét