Nguyễn Duy
Tiếp theo phần 1/2
Chùm thơ từ mặt trận
Mặt trận Quảng Trị, mùa hè năm 1972
Với tư cách là phóng viên chiến trường, tôi theo một
đơn vị Thông tin của Sư đoàn 308 vào chiến dịch. Bom đạn nhiều tới mức không thể
tả lại bằng lời. B.52 "toạ độ" suốt ngày đêm. Máy bay phản lực cứ từng
đàn, từng đàn. Khủng khiếp nhất vẫn là pháo, pháo bầy, pháo tăng, pháp hạm đủ cỡ:
105, 175, 270, cả 406mm từ tàu chiến Niu Giơ-đi dội vào. Những mỏm đồi ở Đông
Hà, đặt bàn chân nào cũng là đặt lên mảnh đạn pháo, tôi có cảm giác, đó là những
mảnh sân phơi khoai thái lát. Hôm tôi tới thôn Tây Trì (Đông Hà), cả ban chỉ
huy Trung đoàn 56 bị tử trận vì một quả đại bác rót trúng hầm. Đại uý Bằng Lâm,
nhà quay phim của xưởng phim quân đội cũng hy sinh tại đây. Quân ta tổn thất
khá nặng vì hoả lực vô cùng mạnh của địch. Điều quyết định là chúng ta đã thắng.
Và tôi đã được gặp dân, lần đầu tiên gặp những người dân ở bờ Nam sông Bến Hải.
Trong căn hầm chữ A dã chiến, đung đưa như đưa võng dưới
bom và đạn đại pháo, tôi làm được hơn chục bài thơ ngắn, làm nhẩm, rồi tì cuốn
sổ tay nhàu nát, ngồi co ro tựa vào vách hầm mà chép ra. Theo đường thông hào
mù mịt khói và bụi, tôi lần tới hầm tổng đài của sư đoàn, từ đó gọi về tổng đài
Bộ chỉ huy chiến dịch.
- Một trăm... A lô, một trăm... cho xin hai trăm...
"Hai trăm" là tổng đài Bộ Tổng Tư lệnh ở Hà Nội.
Và, từ xa tít tắp, một giọng con gái rất trong trẻo:
- 4430 à? Báo Văn nghệ à? Ở đâu xin?
- Quảng Trị. Xin 4430...
- Ai xin?
- Tổng Cóc đây. Đọc bài cho báo, gấp lắm.
Hồi đó, tôi có làm một bài độc tấu rất vui, về một anh
chàng giữ kho thông tin biệt danh là "Tổng Cóc", và tự tôi nhảy lên
khua khoắng trên sân khấu Văn nghệ của bộ đội Thông tin. Nhiều anh chị
em ở Bộ tư lệnh không biết tên tôi, vẫn gọi là "Tổng Cóc". Xưng cái
danh này, tôi hy vọng mấy cô trực tổng đài có thể nhớ ra và ưu tiên cho tôi. Quả
như vậy thật.
- Chào cụ Tổng Cóc! Ở mặt trận khoẻ chứ?...
- Khoẻ. Nhưng suốt ngày ở hầm...
- Tổng Cóc thì ở hầm là đúng chỗ rồi. Có 4430 đó, nói
đi!
Đầu dây đằng kia là Hữu Nhuận, cán bộ biên tập báo Văn
nghệ. Anh không thể ngờ được rằng anh đang nói chuyện trực tiếp với người ở
giữa chiến hào mặt trận Quảng Trị, bằng đường dây trần xuyên Trường Sơn có hệ
thống các trạm tăng âm hiện đại. Hữu Nhuận chuyển máy cho anh Phạm Hổ. Rồi bác
Hoài Thanh. Hỏi thăm nhau vài câu, tôi đề nghị toà soạn chép thơ ngay. Bác Hoài
Thanh chuyển máy nói cho Hữu Nhuận. Phía này là mặt trận đang ầm ầm bom đạn.
Phía kia là Hà Nội, chắc là một buổi sáng yên tĩnh. Không biết ngoài đó có nghe
những tiếng nổ rung chuyển mặt đất vọng vào ống nói, nhưng những câu thơ tôi đọc
thì nghe được rất rõ. Anh Phạm Hổ và anh Hữu Nhuận thay nhau chép, sau đó còn đọc
lại cho tôi nghe xem có đúng không. Bác Hoài Thanh nói thêm, báo Văn nghệ
đang lên khuôn ở nhà in, sẽ có ngay chùm thơ của tôi trong số này... "Tôi
rất xúc động - lời bác Hoài - vì những dòng thơ này, từ mặt trận đi thẳng tới mặt
báo..."
Chúng tôi đang nói dở dang thì tổng đài cắt liên lạc.
"Tổng Cóc ơi – tiếng trong trẻo của cô gái trực đài - hết giờ ưu tiên cho
ông rồi. Khoẻ nhé!..."
Hai ngày sau đó, tôi về Cùa, chợt nghe ra-đi-ô giới
thiệu báo Văn nghệ, và đọc chùm thơ của tôi in trong số báo ấy. Đó là
chùm thơ từ mặt trận Quảng Trị.
Hoa đào năm ấy
Cuộc chiến tranh đi qua...
Thế là xong! Tôi thở phào nhẹ nhõm khi trút bộ quân phục
để chuyển ngành về làm biên tập viên cho tờ Văn nghệ giải phóng. Lúc đó
là đầu năm 1976. Năm 1977 tờ Văn nghệ giải phóng sáp nhập vào tờ Văn
nghệ trung ương, tôi trở thành biên tập viên thường trú tại thành phố Hồ
Chí Minh của tờ báo vốn có nhiều kỷ niệm sâu sắc với mình. Cứ ngỡ rằng đã
"vĩnh biệt vũ khí", nào ngờ, tháng 6 năm 1978, tôi - phóng viên báo Văn
nghệ lại lặn lội trong chiến hào ở Tây Ninh cùng với các bạn lính trẻ của Quân
đoàn 4. Chiến dịch biên giới phía Tây-Nam Tổ quốc đang thời kỳ ác liệt nhất.
Quân Pôn Pốt tràn sang dọc biên giới Việt Nam - Campuchia, tàn sát rất dã man đồng
bào ta, từ Tây Ninh qua Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang. Quân ta đánh
chặn và chuẩn bị tổng công kích... Lại những bài thơ chiến trận gửi về toà soạn
báo Văn nghệ.
Qua mấy năm im tiếng súng, nhìn lại quãng đường bom đạn
và đèo dốc dài dằng dặc phía sau lưng mình mà ngại ngùng. Cứ ngỡ rằng, đã quen hơi
phố phường rồi, nếu phải đi trở lại con đường chiến tranh vừa qua, chắc là
không đi nổi. Nhưng khi việc đã tới, giặc đã ở trước mặt, thật lạ, có một nguồn
sức lực từ đâu đó trong con người mình bỗng khởi phát, xốc mình đi, những bước
đi mạnh mẽ nguyên vẹn của người lính năm nào...
Nguồn sức lực ấy lại khởi phát một lần nữa trong tôi
vào đầu xuân năm 1979. Sau chiến dịch biên giới Tây Nam, tôi tự thưởng cho mình
một chuyến nghỉ phép, về ăn Tết ở quê nhà - thị xã Thanh Hóa. Ngày 15 tháng 2
năm 1979, tôi ra Hà Nội để chờ máy bay trở lại miền Nam. Sáng 17 tháng 2, chiến
tranh bùng nổ trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Nhóm phóng viên xung
kích của báo Văn nghệ, gồm năm người vốn xuất thân từ lính, được cử lên
mặt trận. Đồng chí lái xe Đào Ngọc Chi cũng vốn là lính chiến.
Chiếc xe Rumaini tổng tộc của chúng tôi hoà vào đoàn
xe chở lính lên phía Bắc. Tới thị trấn Đồng Mỏ chúng tôi bắt đầu làm việc với
trạm phẫu, với thương binh, với đồng bào các dân tộc chạy giặc từ mấy huyện
biên giới về. Ga Đồng Mỏ đặc kín người. Đường số 1 tắc nghẽn. Hầm Núi đá (do
quân Trung Quốc đào, hồi họ sang "giúp" ta chống Mỹ) thì dành cho người
bị thương nặng. Đêm ấy, chúng tôi ngủ ở chợ Đồng Mỏ cùng với đồng bào chạy giặc.
Tôi và Phạm Tiến Duật nằm chung cái bạt võng, trước vỉa hè nhà bưu điện. Anh
Hoài An ngủ trên xe với Đào Ngọc Chi. Anh Hồng Phi cùng với Đỗ Chu leo lên cái
bàn bán thịt trong lều chợ không có mái. Tiếng đại pháo từ Lạng Sơn vọng về ùng
ình suốt đêm. Những trang viết về mặt trận của nhóm chúng tôi bắt đầu từ đêm
đó.
Lạng Sơn, 18 tháng 2. Thị xã vắng ngắt. Trời se lạnh.
Hoa đào phai thấp thoáng trong sương mù. Đại pháo dội sang từ phía Bằng Tường,
tiếng đạn rít veo véo, tiếng nổ lộng óc. Xe chúng tôi băng qua cầu Kỳ Lừa, lao
về hướng Đồng Đăng.
Theo giới thiệu của Ban chỉ huy Sư đoàn Sao Vàng,
chúng tôi sẽ tới Trung đoàn An Lão đang chặn giặc ở nam Đồng Đăng. Có một chiến
sĩ liên lạc của trung đoàn An Lão dẫn đường. Ga Tam Lung hiện ra trước mặt. Chiếc
xe của bệnh viện Lạng Sơn vừa bị bắn lật, xe hồng thập tự. Tiếp đó, chiếc xe của
xưởng phim Quân đội trúng đạn (chiến sĩ Như Đạt, quay phim, đã hy sinh tại chỗ).
Cối 81 của địch nhằm vào xe chúng tôi. Nhanh như cắt, Đào Ngọc Chi quặt xe vào
con đường rẽ. Quân Trung Quốc từ các cao điểm gần đó nã cối theo tới tấp...
Hầm chỉ huy trung đoàn An Lão nằm trên sườn cao điểm
417. Vừa gặp chúng tôi, Chính uỷ trung đoàn đã đề nghị "các nhà văn trở về
Lạng Sơn ngay cho. Chiến sự đang ác liệt, đơn vị không thể bảo đảm an toàn cho
các anh được..."
Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Cái bề ngoài của mỗi người
quả là xa lạ với thực tế trận mạc. Tôi mặc chiếc áo trắng có hoa đen, quần loe,
kính cận, máy ảnh toòng teeng trên vai. Anh Hồng Phi, râu tóc bờm xờm, áo len,
quần dạ, đôi dép sam-bô cao đế. Phạm Tiến Duật và Đỗ Chu thì đúng là bạch diện
thư sinh, mảnh khà mảnh khảnh.
- Xin các đồng chí cứ yên lòng. Hồng Phi nói với Chính
uỷ trung đoàn - chúng tôi đều con nhà lính, quen thuốc súng đạn cả. Chúng tôi sẽ
ở đây theo dõi các trận đánh, và nếu có thể, xin các đồng chí phát vũ khí...
Đồng chí Biền, Chính uỷ, nói về tình hình chiến sự.
Căn hầm thỉnh thoảng lại rung lên, đạn cối của địch vẫn rơi xuống quanh đấy, tiếng
nổ nhức tai, và khói, bụi sặc sụa.
Những ngày ở Tam Lung, chúng tôi đã viết các bài in
trên báo Văn nghệ dạo đó.
... Nhóm phóng viên chúng tôi xuôi về thị xã Lạng Sơn
nghỉ đêm trong nhà khách tỉnh uỷ đã bỏ trống, cùng với tổ tự vệ của giáo viên
trường Đông Kinh Phố. Trang thơ về mặt trận của tôi được hoàn chỉnh trong đêm
này. Chúng tôi chụm đầu đọc thơ cho nhau nghe, rồi hát trắng đêm. Đêm chia tay,
đêm tạm biệt những cây đào nở muộn. Tiếng súng bộ binh đã nổ rát ngoài rìa thị
xã.
Mờ sáng hôm sau, tổ Công an vũ trang bảo vệ khu nhà
khách tới giục chúng tôi rời đi, họ nhận được lệnh phải rút ngay ra khỏi thị
xã. Chúng tôi thong thả chụp vài tấm ảnh cuối cùng với vườn đào, rồi chặt những
cành đào đẹp nhất cắm đầy chung quanh xe. Chiếc xe Rumani của tuần báo Văn
nghệ lần đầu tiên được nguỵ trang hoàn toàn bằng hoa đào. Lái xe Đào Ngọc
Chi phải yêu cầu bỏ bớt hai cành cắm phía trước để còn trông thấy đường.
Trên chiếc xe hoa đào ấy, chúng tôi ngoái nhìn thị xã.
Chào Lạng Sơn. Chào chợ Kỳ Lừa và dòng sông Kỳ Cùng, chào thành Tiên Xây và núi
Vọng Phu... Thị xã đẹp mê hồn trong sương mù. Không một bóng người. Chỉ có cây
với nhà, và hoa đào. Mấy con chó tìm chủ chạy lững thững dọc những phố nhỏ lặng
ngắt. Pháo từ phía Bằng Tường bất chợt gầm lên, súng bộ binh đồng loạt nổ rền
bên kia cầu Kỳ Lừa...
Chúng tôi đã mang về toà soạn những trang viết chưa
ráo mực cùng những cành đào còn ướt nhựa nơi vết cắt. Cành đào phai lớn nhất được
cắm trong cái bình đất nung đặt ở phòng khách toà báo. Những cành nhỏ hơn,
chúng tôi chia ra, phân phát cho bạn bè. Bài viết của chúng tôi dồn dập in trên
báo Văn nghệ, cùng lúc những nụ đào muộn mằn dồn dập nở, những cành đào
Lạng Sơn vẫn còn tươi thắm giữa lòng Hà Nội. Và, mãi mãi tươi thắm trong tôi,
cái màu hồng kỳ diệu của hoa đào năm ấy...
Hết
N.D.
3-1983
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)
0 comments:
Đăng nhận xét