13.8.26

Kỷ niệm về một tờ báo (1/2)

Nguyễn Duy

Những bài thơ đầu tiên

Tờ Văn nghệ (tờ báo của Hội Nhà văn Việt Nam) có ba mươi lăm tuổi, thì tôi cũng có hai mươi năm kỷ niệm với nó.

Cái kỷ niệm đầu tiên là: gửi bài mà không được in. Tôi đã gửi thơ cho báo Văn nghệ nhiều lắm, gửi cả tập giấy mỗi lần, gửi liên lạc từ năm 1962, cho tới 1972 mới được đăng bài đầu. Từ hồi còn đi học ở trường cấp ba Lam Sơn (Thanh Hóa), tôi đã "làm thơ" và lẳng lặng gửi, chỉ gửi cho báo Văn nghệ thôi, tôi nghĩ, đó là tờ báo đáng tin cậy về "tiêu chuẩn nghệ thuật". Và, cố nhiên là tôi cứ lẳng lặng mà chờ đợi... Lại lẳng lặng chép, lẳng lặng gửi, và lẳng lặng chờ... Nhưng ai lại đi in cái thứ mà tôi gọi là "thơ" của mình hồi đó. Thí dụ:

Người vợ của tôi

Tôi hình dung người vợ của tôi

da thịt bằng gang, tim gan bằng chì và ruột bằng cứt sắt

cái mặt nửa đỏ, nửa đen

răng lợn lòi chìa ra nhọn hoắt

đôi mắt là đôi đèn pha phòng không sáng quắc

khi trợn lên - mắt thiên hạ nhắm liền

nụ cười dịu hiền ngoác ra như hố bom

khi xuất hiện thì miệng đời méo xệ

và, giọng nói là xe tăng gầm ré

khi cất lên - tất cả phải im hơi...

Bởi rất yêu người vợ của tôi

nên tôi phải hình dung như thế.

(1965)

Tiếc thay, hồi đó tôi đã cho rằng đấy là thơ, thơ hay nữa là khác, ít ra thì cũng hiện đại! Tôi cũng đã tốn mất mấy năm mò mẫm theo cái cách làm thơ mà tôi cho là "hiện đại" này, để rồi chán nản, để rồi oán ban biên tập báo Văn nghệ là vô trách nhiệm với bạn viết...

Chiến tranh. Tôi nhập ngũ. Vẫn cặm cụi viết, gửi bài đi và chờ đợi. Cuối năm 1967 tôi mới được in bài thơ đầu tiên, trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, rồi sau đó được xuất hiện khá thường xuyên trên báo Quân đội nhân dân. Còn báo Văn nghệ thì chưa, cũng chưa có lấy một câu nhắn trả lời của toà soạn. Tôi càng oán báo Văn nghệ nhiều hơn trước. Càng oán, càng cay cú, càng gửi, bao thư trang trọng, giấy trắng, chép nắn nót, thỉnh thoảng lại có cả thư "kính thưa ban biên tập" đàng hoàng, kèm luôn cả bao thư dán tem sẵn để báo trả lời cho tiện nữa... Vẫn không ai trả lời tôi.

Có lần, tôi đánh bạo xông thẳng tới toà soạn báo Văn nghệ, định bụng sẽ hỏi cho ra nhẽ, nhưng vừa tới cổng thì sự hăng hái ban đầu cũng vừa tiêu tan hết, tôi lẳng lặng đi qua, đi lại, nhìn vào, rồi lại đi qua, đi lại... Rồi phát chán, bỏ về. Cũng may là tôi chưa chán viết và cũng chưa chán gửi. Tôi xoay lối viết theo cách chơi đồ cổ, làm thơ lục bát với những chi tiết thực, gần gũi với mình. Cứ "hiện đại hóa" mãi hóa tắc tị.

Sau một chuyến đi "B-ngắn, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), tôi có được mươi bài thơ mới. Tôi viết thoải mái hơn, có khá hơn - tôi tự nghĩ vậy. Tôi nảy ra ý định đổi bút hiệu. Họ và tên tôi gồm ba chữ số lẻ, nghe chừng xui xẻo quá, thôi, bỏ cái tên đi, giữ lấy cái họ, họ kép, thế là còn hai chữ. Có thể gặp may đây! Rồi một đêm, tình cờ tôi nghe đài, cụ Hoài Thanh đang "tán" về tính dân tộc trong thơ hiện đại... Tôi khoái quá, vì những điều cụ Hoài nói sao mà "hợp ý mình thế!" Tôi chép liền một bài, bài "Khúc dân ca", gửi tới "ông Hoài Thanh - nhờ Đài Tiếng nói Việt Nam chuyển". Tôi không hề có ý định gửi bài thơ này cho báo Văn nghệ, nó quê quê thế nào. Bất ngờ, mấy hôm sau, tôi nhận được thư của anh Phạm Hổ, đề nghị "cho báo Văn nghệ in bài "Khúc dân ca" do bác Hoài Thanh chuyển tới" và "đồng chí, nếu có thể được, gửi cho chúng tôi mấy bài thơ khác nữa, để báo Văn nghệ chọn in trong các số sau..." Tôi ngẩn cả người, vừa mừng, vừa lấy làm lạ. Lúc tôi gửi bài như điên thì họ không trả lời, lúc tôi không gửi thì họ lại đề nghị cho in. Cố nhiên là tôi rất sung sướng, chép gửi ngay. Không được cẩn thận như những lần trước, mấy bài thơ mới cùng mấy bài thơ cũ đã chép gửi đến chai cả tay. Tôi lại nhận được một văn bản đánh máy, dấu báo Văn nghệ đỏ tươi như hoa đào. Anh Vũ Tú Nam - thư ký toà soạn ký, mời tôi tới toà soạn chơi, và trao đổi về việc báo sẽ in cho tôi hẳn một chùm thơ. Chao ôi, tôi có bao giờ mong được như thế đâu!

Tôi xúng xính trong bộ quần áo lính mới toanh, rộng thùng thình, lần đầu tiên bước qua bậc cửa toà soạn báo Văn nghệ gặp ai cũng chào một cách cung kính và e dè. Ấy là lần đầu tiên tôi biết mặt anh Vũ Tú Nam, anh Phạm Hổ; lần đầu tiên tôi nhìn thấy chị Ngọc Tú, chị Xuân Quỳnh... Đến đó tôi mới biết là bác Hoài Thanh làm chủ nhiệm báo hiện bị ốm, ở nhà. Anh Phạm Hổ hẹn tôi tới thăm bác vào buổi tối. Tôi nhớ mãi cái buổi tối cuối đông năm 1971, gió bấc, rét căm căm và lất phất mưa phùn, anh Phạm Hổ ho nhiều, mặc dù đã quấn chiếc khăn len to xù, đạp cái xe Liên Xô cao lêu đêu mà từ xa đã nghe tiếng lọc xọc, lạch xạch. Anh đưa tôi tới nhà bác Hoài Thanh ở cùng phố với toà soạn. Bác Hoài Thanh, rất gầy, giọng nói yếu ớt, nói chậm, nói ít, nhưng lượng thông tin trong câu chuyện lại nhiều. Từng lời, từng chữ, cân nhắc và chính xác, bác nhận xét về những bài thơ của tôi mà bác đã đọc trên bản thảo, qua đó, đoán về tâm tính của người viết, tôi càng ngẫm về sau, càng thấy bác "bói" đúng quá. Sau ít phút trao đổi với anh Phạm Hổ, bác nói báo Văn nghệ sẽ in cho tôi hai bài trong số Tết sắp tới (tháng giêng năm 1972), sau đó in tiếp một trang, sau đó nữa, là bài phê bình của Hoài Thanh về một số bài thơ của tôi... Tôi lại ngẩn người, ngỡ là mình nghe lầm. Nhưng mọi việc đã diễn ra tuần tự đúng như lời bác nói.

Vậy là, bài thơ đầu tiên của tôi được in trên báo Văn nghệ cách bài thơ đầu tiên tôi gởi tới báo Văn nghệ đúng mười năm trời - mười năm lẳng lặng viết, lẳng lặng gửi, và lẳng lặng chờ đợi.

Người thầy đầu tiên

Người đầu tiên của toà soạn báo Văn nghệ mà tôi được gặp, cũng chính là người thầy đầu tiên dạy và dỗ tôi làm thơ một cách độc đáo nhất, là anh Trang Nghị.

Tháng 8 năm 1966, tôi là lính Thông tin, binh nhất, giữ đường dây liên lạc quân sự ở Hải Phòng. Nhà báo Trang Nghị tới đơn vị tôi để viết bài. Tôi thuộc loại chiến sĩ đang nổi, có thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu, bí thư chi đoàn, được đơn vị chọn ra để làm "nhân vật" cho nhà văn, nhà báo. Nhà văn, nhà báo quần tôi một ngày ròng, nào là "bối cảnh" các trận máy bay Mỹ oanh kích ác liệt nhất, nào là băng qua bom đạn nối đường dây liên lạc thế nào, tâm tư tình cảm ra sao, rồi lý lịch, quê hương bản quán... cho đến khi chả còn gì để mà khai báo nữa, tôi mới hỏi: nhà báo làm ở báo nào vậy? Văn nghệ! Ôi trời ơi, thế là tôi tóm được một ông Văn nghệ đây rồi! Tôi liền trút bầu tâm sự, ca cẩm... Anh Trang Nghị ôn tồn giải thích" bài vở gởi về toà soạn nhiều vô kể, biên tập viên không tài nào đọc cho xuể, bạn viết phải thông cảm cho báo, và nên kiên nhẫn gởi bài cho báo, gởi tiếp đi... Tôi quần lại ông Văn nghệ bằng cách đọc liền tù tì một thôi một hồi những bài thơ mà tôi sắp gởi tiếp cho báo Văn nghệ đây. Anh Trang Nghị cười hớ, hớ, hớ... Tiếng cười thật hồn nhiên, sảng khóai. Giọng Nam bộ thật diễn cảm: "Thơ chú mày dở ẹt!" Tôi đề nghị anh dạy cho tôi vài bí quyết, làm sao cho thơ hay lên được? Anh Trang Nghị gãi gãi vành tai, nói thản nhiên như không: "Dễ thôi mà, mày cứ đọc báo Văn nghệ ba năm liền là thơ của mày sẽ hay lên liền" và anh lại cười một tràng dài hớ, hớ, hớ...

Từ đó, tôi không gặp lại anh nữa. Cũng không thấy bài viết của anh đâu. Nghĩ mà buồn, mình muốn làm tác giả trên báo Văn nghệ đã không được, làm nhân vật trên báo Văn nghệ cũng không xong, thôi thì cứ theo lời khuyên của "thầy" Trang Nghị mà làm bạn đọc của báo Văn nghệ vậy. Khốn nỗi, cũng không có báo Văn nghệ mà đọc nữa. Tôi lang thang nay đây mai đó theo các tuyến đường dây liên lạc, hoạ hoằn mới vớ được một số Văn nghệ đã cũ rích.

Mãi cho tới cuối năm 1973, khi được tặng giải nhất cuộc thi thơ 1972- 1973 (cho trang thơ đầu tiên của tôi in trên Văn nghệ), tôi mới mò tới toà soạn lĩnh tặng phẩm, bất ngờ gặp lại anh Trang Nghị. Anh bắt tay chúc mừng tôi trúng giải. Tôi hỏi, anh có nhớ tôi không? "Không! - Anh Trang Nghị nói, tao đã gặp mày hồi nào đâu mà nhớ". Tôi kể lể: "Cái hồi ở Hải Phòng..." "A a... Tao nhớ ra rồi, nhớ ra rồi... đúng rồi... Tao phải đãi chú mày một chầu bia mới được". Anh kéo tôi ra quán bia hơi góc đường Trần Hưng Đạo - Phố Huế, lấy cái nắp hầm cá nhân làm mâm, bày lên đó mấy vại bia sủi bọt cùng một đĩa lạc rang húng lìu. Chúng tôi ngồi xổm, vừa uống bia hơi vừa ôn lại cái thời Hải Phòng bị oanh kích ác liệt, và tôi kể anh nghe công việc của tôi lúc này... Sau vài vại bia, anh Trang Nghị sôi nổi hẳn lên: "Mày thấy chưa, anh mày nói có đúng không nào, cứ đọc báo Văn nghệ ba năm là nên người". Anh lại cười một tràng dài hớ, hớ, hớ...

Năm 1976, tôi lại cùng anh Trang Nghị làm việc cho tờ Văn nghệ giải phóng, cùng ở một chung cư. Bây giờ tôi là bạn nhậu của anh rồi, thỉnh thoảng hai thầy trò gật gù với nhau, nhắc lại cái ngày xửa ngày xưa, cái lần gặp gỡ ở Hải Phòng, cứ ngỡ là thoảng qua, mà hóa ra một kỷ niệm thật nhiều ý nghĩa.

Còn nữa

N.D.

3-1983

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

 

0 comments:

Đăng nhận xét