23.2.26

Giao bưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước1

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS

Ngay sau ngày ký Hiệp định Giơnevơ, để đảm bảo sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, một đường dây giao liên đã được thành lập. Theo Quyết nghị của Xứ ủy, các đồng chí Nguyễn Bá Bội, Nguyễn Văn Thược phụ trách tuyến miền Đông Nam Bộ; đồng chí Nguyễn Văn Tươi, tuyến miền Trung, đồng chí Trần Văn Thẩm, tuyến miền Tây. Các tuyến đường dây này tiếp tục kế thừa địa bàn và cơ sở của các đường giao liên đã có từ trong kháng chiến chống Pháp, nay được tổ chức lại cho phù hợp với tình hình mới.

Từ các tổng trạm giao liên từng miền, hệ thống giao liên phát triển tới các tỉnh, huyện, xã, tới chi bộ. Giao liên có hai bộ phận: bí mật và công khai, hoạt động biệt lập nhau, bộ phận này, người này không biết hoạt động của nhau trong cùng một bộ phận hay khác bộ phận.

Do nhận thức được "giao thông là công việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng", cùng với vô tuyến điện, giao bưu là một trong hai phương tiện liên lạc cơ bản của cách mạng miền Nam. Trong trường hợp vô tuyến điện gặp khó khăn và chưa đáp ứng được yêu cầu, giao liên còn là phương tiện liên lạc duy nhất giữa Xứ ủy Nam Bộ và các cấp.

Trong những năm 1955 - 1956, ở miền Nam có nhiều biến động. Xứ ủy Nam Kỳ vẫn trụ tại một cơ sở giao liên Sài Gòn, cùng với nhiều cơ quan khác của Đảng. Từ đây, các đường giao liên mật và công khai nối thông liên lạc đến các tỉnh, lên miền Đông, miền Tây, đến khu căn cứ và sang nước bạn, xuống Vũng Tàu - Bà Rịa, nối với các tỉnh Trung Bộ, tiếp với mạng của Khu 5 ra Trung ương. Con đường mới này được tổ chức lại sẽ là một con đường vận chuyển vũ khí, khí tài từ miền Bắc chi viện cho miền Nam.

Tại nhà truyền thống của lực lượng vũ trang Quân khu 7, ngày nay khách tham quan dễ nhận ra số biển xe VNN952 do chiến sĩ giao liên Nguyễn Hữu Ích đã giả xe Bộ trưởng Nội vụ trong Chính phủ Ngô Đình Diệm, đưa Bí thư Khu ủy Sài Gòn Nguyễn Văn Linh đi công tác tại Châu Đốc. Cũng chính các chiến sĩ giao liên Sài Gòn đã đưa một nhà báo nước ngoài đến gặp Bí thư Sài Gòn - Chợ Lớn ngay giữa đô thành... Nữ giao liên Nguyễn Thị Loan đã chuyển các tài liệu của đồng chí Lê Duẩn từ nhà số 29 Huỳnh Khương Ninh (Sài Gòn) về các cơ sở...

Sau khi Trung ương Cục miền Nam được thành lập với sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam, tình hình đòi hỏi phải có một tổ chức giao thông liên lạc lớn mạnh hơn. Vì vậy, ngành giao bưu vận miền Nam được chính thức thành lập từ ngày 2 tháng 6 năm 1962, do đồng chí Nguyễn Quyết làm Trưởng ban, hai đồng chí Trần Văn Thâm và Trần Nam Thông làm Phó ban.

Ngành giao bưu vận mới này vẫn kế tục nhiệm vụ ngành giao liên cũ và đảm nhiệm thêm nhiệm vụ bưu chính vận tải, trước kia chưa có, hoặc đôi lúc có tiến hành nhưng chưa thành nhiệm vụ chính thức.

Tháng 1 năm 1963, Phòng thông tin Miền Nam (R) được thành lập mang bí danh J3-X20 do đồng chí Tư lệnh Trần Văn Trà trực tiếp chỉ huy. Trong biên chế của phòng có các ngành vô tuyến điện, quân bưu, xưởng sửa chữa, trường huấn luyện và giao bưu vận. Tổ chức này tồn tại cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các trạm được chuyển tên gọi là đoàn. Tổng trạm của Miền tên cũ là B1 trở thành Đoàn 49. Các đoàn: Đoàn 20 phục vụ ngoại ô, Đoàn 43 đón quân Miền Bắc, liên lạc chặt chẽ với các T (trạm các tỉnh). Quân số các đoàn đã được tăng cường. Riêng khu Gia Định - Sài Gòn (T4) có tới trên 300 cán bộ, chiến sĩ giao bưu phụ trách các tuyến đường trong khu và vươn xa tới Phnôm Pênh, Băng Cốc.

Những ngày đầu mới thành lập, dưới sức ép của kẻ thù ở vùng rừng núi, trạm giao bưu có thể chỉ là một hòn đá một gốc cây... Sau này mới có lán, trại hoặc ở một căn nhà của đồng bào. Chiến sĩ giao bưu một mình một trạm, 1 dao xoi đường, 1 xà léc (túi) nhỏ, 1 gùi nặng trên lưng. Dần dần mới có đôi ba người rồi một tổ, một đội... Họ nhận hàng ở một địa điểm mật, lội suối trèo đèo... giao hàng cũng ở một nơi kín đáo... Cách mạng càng phát triển, gùi hàng trên lưng họ càng nặng lên. Nữ đồng chí Y Hà, Y Ngân đã cõng trên lưng có chuyến tới 100, 110 kilôgam. Dũng sĩ Nguyễn Bồi, ba ngày liền gùi trên cả vai, lưng mỗi ngày 105 kilôgam...2. Các chiến sĩ giao bưu ở các thành phố cũng hoạt động rất đắc lực. Năm 1960, đồng chí Tư Bao đã đưa đồng chí Võ Văn Kiệt an toàn qua vùng Bến Sóc. Trong mùa Xuân Mậu Thân 1968, chiến sĩ giao bưu đã vận chuyển hàng ngàn vũ khí, đạn dược vào Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, cũng chính các chiến sĩ giao bưu đã đón các mũi quân ta vào giải phóng các thành phố.

Có những chiến sĩ giao lưu trong biên chế, nhưng cũng có rất nhiều chiến sĩ giao bưu là thanh niên xung phong, là thường dân được huy động từng chuyến, từng mùa, từng chiến dịch. Phần lớn những chiến sĩ giao bưu này lại là phụ nữ, từ những bà má, em học sinh, cô bán trái cây trên đường phố, đến các nữ thanh niên người dân tộc ở các làng bản heo hút. Nhiều người bị tù đày, cùm kẹp, tra tấn nhưng không hề lộ bí mật đường dây trước quân thù. Nhiều bà, chị, em gái đã được Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Dũng sĩ với nhiều huân chương cao quý. Chỉ xin nêu tên một số phụ nữ tiêu biểu như: Chị Nam Chiến giao liên của đồng chí Lê Duẩn, má Hai Khởi giao liên của cô Ba Định, bà Bưng Cần Thơ giả điên dại 20 năm trời để làm giao liên; rồi các chị: Trần Thị Ba, Mạch Đào, Võ Thị Xem, Nguyễn Thị Ren, Phạm Thúy Phương, Dư Huệ Liên, má Tư Huynh, Hồ Thị Thu, Ngô Thị Tuyến, Hoàng Thị Kiến, Y Găm, Y Dàng, Y Hoan, Bảy Thường, Ngô Thị Hoa, Nguyễn Thị Đùng, Tuyết Mai, v.v... Không phải duy nhất chỉ có "phái nữ" là làm công tác giao bưu nhưng phải nói rằng hình ảnh các bà và các chị là hình ảnh tiêu biểu nhất của giao bưu nhân dân miền Nam.

Các tuyến đường giao bưu, trạm và các chiến sĩ giao bưu trong kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã phải đối mặt với ba đối phương ghê gớm nhất.

Trước hết là đối với bản thân. Sinh hoạt vật chất ở vùng đồng bằng, đô thị còn khá hơn, còn nếu ở vùng cao thì đói cơm, đói muối là chuyện thường xuyên, kéo dài không phải một, hai tháng mà nhiều tháng. Dù đôi lúc có xe, có ngựa, có voi giúp sức nhưng phần lớn là dựa vào sức người là đôi chân, đôi vai cộng với sức mạnh của ý chí quyết tâm. Sự hy sinh của giao liên ở cả ba vùng hoạt động rừng núi, đồng bằng, đô thị là thường ngày. Ở vùng Đồng Tháp Mười, có thời gian gần như 2 trong 3 chuyến đưa khách đều có giao liên hy sinh. Thế nhưng điều đáng nói là trải qua trên 20 năm chiến đấu, số chiến sĩ giao bưu đào ngũ vì không có đủ tinh thần chịu đựng là không đáng kể.

Thiên nhiên với nước nổi, lũ lụt, dốc cao, suối sâu, rừng dày, thú dữ, rắn độc, bệnh tật, với gió "phớn" - một loại gió đặc biệt của Trường Sơn, cũng là một kẻ thù rất nguy hiểm cho các tuyến giao liên và chiến sĩ giao bưu. Không ít lần, các chiến sĩ giao bưu có đi mà không về vì một cơn lũ bất chợt, vì sốt rét ác tính, vì động rừng, vì chất độc màu da cam, vì sông nước Tháp Mười, sông Tiền, sông Hậu.

Song kẻ thù thứ ba, kẻ thù nguy hiểm độc ác nhất vẫn là Mỹ - ngụy. Thoạt đầu, chúng đánh giá thấp khả năng liên lạc truyền tin của ta. Như Mắc Ga, trưởng phái đoàn MAAG tại Sài Gòn cho rằng: "Nhược điểm thông thường thứ 6 của du kích "Việt cộng là thiếu thốn khả năng giao thông liên lạc". Theo Mỹ, căn cứ vào việc trang bị 5000 điện đài cho 1 sư đoàn bộ binh Mỹ, thì quả là Việt cộng không thể có được sức mạnh về thông tin liên lạc. Nhưng sau đó, thực tế chiến trường đã làm chúng phải thay đổi nhận thức. Đại tá ngụy Đỗ Ngọc Nhận - Phó Tổng cục trưởng Quân huấn, trong cuốn sách "Vấn đề chỉ đạo chiến lược trong chiến trường Việt Nam" xuất bản năm 1970, đã viết rằng: "Cộng sản coi giao thông liên lạc là một chiến lược" vì "chính nó đã đảm bảo cho sự chỉ đạo thống nhất từ trên Trung ương xuống các địa phương. Đó là một yếu tố rất quan trọng, có tính chất then chốt bảo đảm sự thành bại trong âm mưu thôn tính miền Nam của Cộng sản hiện nay". Và Nhận kêu gào “phải triệt hạ hệ thống giao liên Cộng sản" coi đó là một nhu cầu chiến lược, là góp phần phá vỡ hệ thống chỉ đạo chiến tranh của Cộng sản, là phá vỡ toàn bộ hệ thống vận chuyển lưu thông tiếp tế và cơ động lực lượng của Cộng sản. Sau khi nhận biết được tính chất nguy hiểm, chiến lược và khả năng giao bưu vận của ta, Mỹ và ngụy đã giở đủ mọi thủ đoạn để làm tê liệt ngành giao thông - giao bưu. Chúng đánh phá3, tung biệt kích, bắt bớ các chiến sĩ, cài người vào hàng ngũ giao liên, kêu gọi đầu thú, đầu hàng, lập ấp chiến lược "tát cạn ao bắt cá", rải "cây nhiệt đới", làm hàng rào điện tử để chăn bước chân của chiến sĩ giao bưu.

Song song với việc loại trừ các tuyến giao bưu, Mỹ đã xây dựng lần đầu tiên không phải trên đất Mỹ mà là ở Việt thống thông tin mang tên ICS (Integrated Communications System) với 20.000 nhân viên kỹ thuật truyền tin Mỹ dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng J.Ơn-bơ-rai (Jack Albrigth). Với hệ thống này, quân Mỹ có thể hành quân, bình định, ném bom theo sự đánh dấu và bắt người ở bất cứ địa điểm nào ở miền Nam mà vẫn liên lạc được với Sài Gòn, Manila, Băng Cốc, với nước Mỹ, đến tận bàn tiệc hay thuyền dạo mát của Tổng thống Hoa Kỳ. Nhưng vượt qua mọi hiểm nguy và mọi thủ đoạn đánh phá của địch, những con đường giao liên vẫn mở rộng, nối dài, các chiến sĩ giao bưu vẫn gan góc, kiên trì hoạt động, góp phần cùng quân và dân miền Nam lập nên những chiến công; Phong trào Đồng khởi 1960, Tết Mậu Thân 1968, Quảng Trị 1972 và cuối cùng là Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Không kể hàng vạn lần dẫn đường đưa đón cán bộ, chỉ riêng về thành tích vận chuyển tài liệu, năm 1965, giao bưu miền Nam đã chuyển 171 tấn thư từ, công văn, báo chí cho "Hải Yến" (tên mật của Trung ương cục miền Nam) và cho các "Dì Hai", "Dì Ba", "Dì Tư" (các cơ quan của Đảng, Dân, Chính). Năm 1974, Tiểu đoàn quân bưu Bộ Quốc phòng chuyển vào miền Nam gần 31 tấn công văn, thư từ, tài liệu4.

Mỹ-ngụy không thể triệt phá được những tuyến đường giao bưu, các trạm và các chiến sĩ giao bưu, vì con đường đi của giao bưu là đi trong lòng dân, trạm giao bưu cũng ở trong lòng dân, chiến sĩ giao bưu là nhân dân chiến đấu trong một cuộc chiến tranh toàn dân.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, toàn miền Nam đã có trên 4500 liệt sĩ giao bưu, trong đó có hàng chục cán bộ lãnh đạo của Ban giao lưu, Ban Thông tin Miền, khu, tỉnh, huyện xã. 2000 chiến sĩ giao bưu là thương binh và còn hàng trăm chiến sĩ giao bưu khác mất tích chưa tìm được dấu vết.

Năm 1994, tại Tây Ninh, nơi đóng căn cứ của Ban giao bưu Miền, tượng đài liệt sĩ "Nam nữ thông tin giao bưu" được xây dựng để tưởng nhớ tới 173 liệt sĩ giao bưu thuộc Trung ương cục miền Nam, đã hy sinh cho hệ thần kinh, mạch máu của Đảng, của Quân đội...

Giao bưu miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã hoàn thành vẻ vang, xuất sắc nhiệm vụ của mình trong những điều kiện khó khăn, gay go nhất, chưa từng có trong lịch sử của ngành giao thông - thông tin, liên lạc nước ta.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)

---------------------------------------

1 Danh từ "Giao bưu" xuất hiện tại miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là viết tắt và rút gọn cụm từ: giao liên, bưu chính, vận tải. Giao liên đón, đưa, dẫn đường cho "khách". Bưu chính thực chất là bưu tá, chuyển vận công văn, thư từ, văn kiện. Vận tải là mang vác, chuyên chở tất cả các hàng hóa, lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược, vũ khí, thương binh, di vật của liệt sĩ... Giao bưu miền Nam không phải là giao liên của Đoàn 559. Giao bưu là một ngành của Thông tin liên lạc miền Nam bên cạnh ngành vô tuyến điện và hữu tuyến điện.

2 Trần Đình Trực, Báo Quân giải phóng, xuất bản tại Miền Nam, số 4, tháng 11 năm 1964.

3 Ở Trạm A 120 (Vĩnh Long) riêng 3 tháng đầu năm 1974, địch đã phục kích 43 lần.

4 Theo "Trung đoàn 130”, Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc , 1990, tr. 92. 

0 comments:

Đăng nhận xét