Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng
KHQS
Chiến sĩ lực lượng vũ trang, cán bộ dân, chính, đảng, các
nhà báo nước ngoài, cả những lính Mỹ "được" bắt đưa về căn cứ, ra Bắc
- trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của miền Nam không một ai
không có những ấn tượng đẹp đẽ, kính phục đối với những cô gái giao liên.
Giao liên! Đó là tên gọi của một ngành công tác – như Bác
Hồ nói - quan trọng bậc nhất trong cách mạng: Giao thông và liên lạc. Nhưng
giao liên cũng là tên của một người - tuy có tên riêng nhưng lại mang tên
chung: Giao liên. Họ có thể là một người đàn ông, lái xe ôm, xe ô tô, xe ngựa,
đi buôn bán... Có thể là một phụ nữ chạy hàng bán trái cây, ngồi đâu đó. Có thể
là đồng bào dân tộc với chiếc xà-léc (gùi nhỏ) trên vai, đôi chân dày và cứng
hơn đá. Nhưng hình ảnh chung nhất và sau đậm nhất vẫn là các bà mẹ, em nhỏ, cô
gái "đi giao liên".
Có O giao liên trên các đỉnh của dãy Trường Sơn như YHàn,
Y Dăm, Y Dâng... váy màu sặc sỡ, xà-léc trên vai trần, miệng phì phò khói thuốc,
đi "cách mạng" mà vui như đi hội. Bên cạnh các O người dân tộc còn có
các O giao liên giải phóng, mũ tai bèo, vai khoác súng, tuổi còn trẻ "ăn
chưa no mà lo đã tới" rất nghiêm khắc với các bạn trai, nhưng lại rất dễ
thương, dạ, vâng với tất cả đoàn khách. "Đi"với các O này, mấy chú
cán bộ tổng kết ba điều "đỡ sợ". Đỡ sợ đói, đỡ sợ địch, đỡ sợ lạc đường.
Thế thì còn gì "hạnh phúc" hơn!
Ở đồng bằng lại có các O giao liên cưỡi Hon-đa phóng như
bay, hoặc giấu dưới gánh hàng của mình trong bộn bề hoa quả, rau xanh... những
tài liệu, những truyền đơn rất nhỏ, gọn. Phần lớn họ chẳng có gì mang theo người,
trừ những câu ngắn gọn trong óc. Có chăng nữa là sợi dây vô hình giữa họ với một
anh thanh niên, bác công nhân... nào đó lững thững đi cách xa họ một tầm mắt...
Trong nội thành, các đô thị lớn miền Nam, hoạt động của
các O giao liên rất khẩn trương, táo bạo... Có những O đã đưa nhiều nhà báo ra,
vào Sài Gòn, đưa nhiều nhà quan sát phương Tây, phương Bắc đến địa đạo Củ Chi,
gần kề con lộ mà xe tăng địch vẫn ầm ầm chạy qua. Giao liên dẫn đường đánh các
vị trí chiến lược đêm tết Mậu Thân 1968; rồi 1975 là họ, chở vũ khí vào
"ém" trong đó, cũng là họ, đưa bộ đôi trở ra sau khi hoàn thành nhiệm
vụ, dìu dẫn thương binh về "cứ", cũng họ thôi... Khó mà kể hết tên
các chị, các em giao liên, những Hoàng Thị Kiểm, Dư Huệ Liên, Võ Thị Xem, Mạch
Đào, Nguyễn Thị Ren, Nguyễn Thị Tuyết, Phạm Thúy Phương, Hồ Thị Thu, má Tư Huynh,
Bảy Thường, Ngô Thị Hoa, Tuyết Mai... Hai mươi năm sau ngày Sài Gòn đỏ cờ, họ
hiện nay là những bà mẹ anh hùng là những cán bộ ở Huế, Đà Nẵng, là một giám đốc
xí nghiệp, là một người dân bình thường miệt vườn, mà câu chuyện giao liên họ kể
cho con cháu nghe như là cổ tích huyền thoại.
Vùng Đồng Tháp Mười mênh mang nước lớn đã làm “ớn” gáy
nhiều người qua lại. Trong những kỳ địch o ép mạnh, không ai có thể nghĩ rằng
giữa trắng nước, xanh rừng vẫn có các chòi giao liên, đêm đêm vẫn có các O ra tìm
điểm hẹn "rước" khách đi hết cung trạm mình. Có anh nhà báo trong một
tháng tròn qua lại 7, 8 lần trạm đó đã không được gặp lại các O giao liên những
lần trước. Người mới "thay quân" bổ sung cho cái trạm kỳ đó chỉ trả lời
"Chị ấy đi rồi"... Không thể thắp được một nén hương viếng O giao
liên đưa mình đi lần trước vì mênh mông trời nước. Tiếng cười vui, lời căn dặn,
giọng nói nhẹ nhàng của O Thanh, O Liên, O Huê... đó nén nặng thêm lòng căm thù
giặc cho mỗi "khách" qua đường trạm.
Đối với giao liên - nhất là với nữ giao liên đâu chỉ
có kẻ thù là Mỹ - Ngụy, với các trực thăng "cá lóc”, pháo, đạn với các dụng
cụ tra tấn tối tân, hiện đại của Hoa Kỳ. Kẻ thù của các O giao liên mảnh mai
thân gái còn là chặng đường quá xa, mưa rừng, nước lũ, sốt rừng, đói cơm, nhạt muối...
Không như một người chỉ huy có trực tiếp trong tay binh lính, vũ khí - giao
liên, họ chỉ có họ mà thôi. Nhưng nếu giao liên khai ra người, khai ra đường
đi, tuyến liên lạc thì sẽ là một hệ thống tổ chức vỡ tan, có thể một binh đoàn
bị sa bẫy...
Cũng như các nam giao liên khác, nữ giao liên không có
được những đơn vị to lớn, để có thể - ví dụ như - tập hợp tất cả lại để duyệt
binh, chào cờ. Họ phân tán triệt để và tổ chức của họ thường là một tổ 1, 2 người.
Trong chống Mỹ, duy nhất có tiểu đoàn 17 giao liên đoàn Quang Trung trên suốt
dãy Trường Sơn - đơn vị anh hùng, là có điều kiện tập trung được 1, 2 trung đội
giao liên nữ.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đã
có bao nhiêu bài thơ, bài hát, cuốn sách, cuốn phim nói về các O giao liên,
nhưng hình như vẫn chưa đủ. Riêng trong trận đụng đầu thế kỷ với Mỹ, toàn miền
Nam đã có gần 5.000 liệt sĩ giao liên, trong số này đa số là phụ nữ. Trong số
hàng chục vạn thương binh, có 2.000 là giao liên. Và cho đến nay, thật khó mà
biết được còn bao nhiêu các O gái giao liên, các bà, các mẹ giao liên đã hy
sinh, mất tích ở đâu đó, trên vùng núi non hiểm trở, trên một cánh đồng, bên
con lộ, trong nhà tù, giữa đô thị mà chúng ta chưa tìm ra được dấu vết, thi
hài. Để ít ra cũng "đưa" các bà, các mẹ, chị ta, em ta về... tập
trung lại trong một nghĩa trang giao liên, dựng một tượng đài như đồng bào Tây
Ninh mới dựng một công trình tưởng niệm "Nam nữ thông tin giao bưu"
trên đất căn cứ của Trung ương Cục, của Ban giao liên miền, nơi đã ra đi và nằm
lại rất nhiều giao liên cho cách mạng giải phóng miền Nam.
Tượng đài ấy của Tây Ninh cũng chỉ ghi được tên 173 liệt
sĩ thuộc Trung ương Cục miền Nam. Còn mấy ngàn liệt sĩ nữa, trong đó có bao
nhiêu O giao liên còn chưa được ghi tên
lên tượng đài? Cũng là tham gia cách mạng, cũng là chiến sĩ, là giao liên,
nhưng các O giao liên trong kháng chiến chống Mỹ luôn luôn làm chúng ta xúc động,
cảm phục, xót thương... và khiến chúng ta - những người đã được một lần gặp họ
- được họ "rước", được họ dẫn đường, cho ăn, cứu sống, bằng mạng sống
của họ... Chúng ta sẽ dựng một đài tưởng niệm trong mỗi trái tim ta.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)
0 comments:
Đăng nhận xét