2.3.26

Có một truyền thống phụ nữ làm giao thông, thông tin liên lạc ở Việt Nam

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS

Ở xã Minh Nông, nay thuộc thành phố Việt Trì có một đền thờ, thờ bố mẹ Nàng Nội và Nàng Nội. Tên thật của Nàng Nội hiện chưa rõ, chỉ biết nàng là con gái của Lạc tướng Đặng Thi Huy em ruột Đặng Thi Sách - chồng của Trưng Trắc. Nàng Nội quê ở ngã ba Bạch Hạc, kinh đô của nước Văn Lang cũ. Nàng sớm biết chữ, cưỡi ngựa, bắn cung, múa kiếm. Khi Đặng Thi Huy bị giết cùng với Thi Sách vì âm mưu lật đổ Tô Định không thành, Nàng Nội mới 13 tuổi, mẹ và Nàng Nội phải đi trốn, lập trại mới, và Nàng Nội được tôn là trai chủ. Ít lâu sau, Tô Định sai đô đốc Hoàng Sùng Chính đem quân lên triệt hạ trại Nàng Nội, bị Nàng chém chết. Được tin Trưng Trắc dấy quân, Nàng Nội mang quân về với Hai Bà và được Trưng Trắc phong chức "Nội các Văn thư trưởng quan" chuyên lo liệu việc tiếp nhận, gửi đi và soạn thảo các giấy tờ thư từ, mệnh lệnh. Thắng giặc, Nàng Nội được phong "Nhập nội Bạch Hạc nữ công chúa".

"Nối các Văn thư trưởng quan" là một chức vụ, với nội dung công việc mà ngày nay ta nghĩ tới đó là chức tư lệnh bộ đội thông tin hoặc tổng cục trưởng bưu điện kiêm chánh văn phòng. Một người, như Nàng Nội là từ cơ sở trưởng thành lên (như cách nói của người bây giờ). Tương truyền Nàng Nội "có sức khoẻ, cầm cương giỏi, cũng như viết chữ rất đẹp, có tài điều binh, khiển tướng", thì việc vua Bà giao cho trọng trách ấy thật cũng xứng đáng.

Cho đến nay, trước Nàng Nội, chưa tìm được tài liệu gì mới nói về một phụ nữ giữ trách nhiệm này. Do đó có thể mạnh dạn nói rằng: "Nàng Nội là tư lệnh bộ đội thông tin đầu tiên của nước ta", tất nhiên đứng về mặt truyền thống.

Từ chức năng và vị trí của phụ nữ trong xã hội, do việc am hiểu địa hình qua lao động sản xuất, biết kế thừa truyền thống của bà, của mẹ, nhiều phụ nữ trong thời đại phong kiến cũ đã làm công việc giao thông và đã được sử sách ghi chép thành văn bản lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Đời nhà Lý, năm 1103, vua Chăm-pa là Mana chiếm ba châu phía nam nước ta. Lão tướng Lý Thường Kiệt lại xuất chinh. Có một ông đồ họ Trần cũng xin tòng quân. Ông đồ có cô con gái là Trần Ngọc Tường, cứ nằng nặc đòi đi theo. Bà mẹ cô vừa gánh nước mắm đi bán vừa tiễn chồng cũng không giữ cô lại được. Vào đến phía nam, cô gái Trần Ngọc Tường mang rổ bánh lân la qua các trại giặc tìm kiếm tình hình về đưa tin lại cho quân ta. Sau khi quân Lý thắng to, vua Lý phong cho cô là "Ngọc Hoa công chúa", đến nay vẫn còn đền thờ ở làng Đại Yên, Hà Nội.

Gần đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo có một miếu nhỏ thờ một phụ nữ nghèo, mò cua, bắt ốc ven sông. Khi quân Nguyên bí mật tiến quân đánh úp quân ta, bà đã tức tốc chạy về báo tin cho Hưng Đạo Vương biết. Vương đã kịp thời bố trí đánh trả, phá tan quân giặc. Theo lệnh của Vương, miếu thờ người phụ nữ đưa tin ấy được xây ở Kiếp Bạc cho được gần Vương.

Đời nhà Lê, có bà Lương (quê xã Chuế Cầu, nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) dọn hàng nước giữa cánh đồng Lai Cánh trên bờ sông Đáy, cạnh thành Cổ Lộng của giặc Minh, án ngữ con đường thiên lý Bắc Nam. Dò xét được tình hình quân giặc, bà Lương đã vào tận Thanh Hóa trình bày với Lê Lợi. Năm 1426, nghĩa quân Lê Lợi do Tư mã Cao Ngự chỉ huy tiến đánh thành Cổ Lộng. Bà đã đưa đường và làm nội ứng cho quân ta diệt được thành. Khi mất (1432), bà được phong là "Kiến quốc phu nhân".

Lịch sử còn lưu truyền những phụ nữ khác ít nhiều đã làm giao thông như Hồ Đề (đời Trưng Vương), nay còn đền thờ ở Yên lãng, Vĩnh Phú, như 3 cô cháu gái của Phùng Hưng (nay còn đền thờ ở Hòa Mục, Hà Nội), như hai mẹ con (hiện còn đền thờ ở Thanh Oai, Hà Tây) đã chở đò cho đại quân Lê Lợi sang sông tiêu diệt giặc Minh trong trận Tốt Động; như Đỗ Quyên, cô gái chở đò trên sông Mã đã chỉ đường cho quân Nguyễn Huệ đưa đội tượng binh qua sông ra Bắc, báo tin để nhân dân đem gỗ ghép bè cho voi đi.

Từ khi giặc Pháp xâm chiếm nước ta, biết bao phụ nữ đã làm giao thông, trong các phong trào Văn Thân, Cần Vương, Đông Du, trong các đội nghĩa quân...

Đó là cô Tám con gái Hoàng Phúc, đẹp người, giỏi võ nghệ, khi cuộc khởi nghĩa của Hoàng Phúc bị thất bại, cô Tám đã ra Nghệ An bắt liên lạc với Phan Đình Phùng. Cô Tám nhận làm liên lạc cho nghĩa quân Vụ Quang, nhiều lần vượt Trường Sơn, đưa thư từ, mua thuốc đạn. Nhân dân Đồng Hới đã đặt một tên đường "Cô Tám" trong thị xã. Đó là bà Đinh, quê Thừa Thiên, chồng làm đốc học, khi chồng chết, bà đã tìm đến Đặng Thái Thân được giao làm giao thông cho hội Duy Tân. Năm 1908, bà bị bắt. Tuy bị giặc tra tấn dã man nhưng bà không khai báo. Cuối cùng, bà đã tự lấy tay cắn máu đề 4 bài thơ tuyệt mệnh lên tường rồi tự tử.

Trên dốc Bến Ngự (Huế) trong khu vườn của "Phan tộc từ đường" hiện còn tấm bia do Phan Bội Châu đặt năm 1928 và tự tay đề chữ "Ấu Triệu Lê Thị Đàn chi mộ". Phan rất đỗi xót thương người liên lạc của mình là Lê Thị Đàn mà Phan thường gọi là bà Triệu nhỏ (Ấu Triệu). Năm 1903 bà Đàn làm giao thông cho phong trào Đông Du, đã từng khoác áo cà sa để đi lại khắp Trung, Nam, Bắc. Năm 1910, bị giặc Pháp bắt, dù bị tra tấn bà vẫn giữ bí mật cho Hội và đã tự vẫn giữ tròn khí tiết (Hà Nội có một đường phố mang tên Ấu Triệu).

Có nhiều phụ nữ khác như chị Mai. phụ trách giao thông cho nghĩa quân Bãi sậy, bà Điều, bà Đỏ làm liên lạc đưa tin tức cho nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, Hoàng Thị Ba vừa thu thập tin tức vừa để liên lạc cho Đốc Ngữ, Nguyễn Thị Mão (thường gọi là Cô Đồng Đa) giữ trạm liên lạc cho Đông Kinh nghĩa thục và giúp Đề Thám...

Người Hà Nội lớn tuổi đều biết chuyện bà Nhiêu Sáu (tên thật là Nguyễn Thị Ba) vợ ông Nhiêu Sáu (tên thật là Nguyễn Tĩnh) người làng Tương Mai, huyện Thanh Trì, mở hàng bán cơm, chứa trọ ở số nhà 20, phố Cửa Nam, thực chất là một trạm liên lạc của nghĩa quân Đề Thám và binh lính được giác ngộ. Ngày 27-6-1908, vụ đầu độc Hà Thành bị lộ, việc nghĩa của cai Nga, đội Bình bị thất bại, bà Nhiêu Sáu bị Pháp bắt giữ. Quân thù đã bỏ bà vào thùng xi măng bên trong cắm đinh, lăn bà trên sân gạch. Đinh sắc nhọn đâm nát thịt, nát da nhưng bà vẫn không cung khai chịu chết... Nhân dân Mèo Vạc (Đồng Văn, Hà Giang) còn kể chuyện Sùng Thị Mỹ, em gái Sùng Mí Chang người H'mông đã tự lập một quân đội toàn gái đi liên lạc, tiếp tế cho nghĩa quân. Trong những năm chống Pháp (1910-1912) Cô Bắc, chị ruột cô Giang (vợ Nguyễn Thái Học) đảm nhiệm công việc giao thông cho Quốc dân đảng bị bắt đã mắng chửi quân địch, nhận án tù...

Từ khi chủ nghĩa Mác-Lênin du nhập vào Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của các tổ chức yêu nước công nhân, cách mạng, cộng sản, số phụ nữ tham gia làm liên lạc không những thêm đông đảo, mà nội dung công tác rất phong phú, biểu hiện sự biến đổi lớn về lượng và về chất.

Trong thời gian hoạt động ở Quảng Châu những năm 1925-1927, hai cô Lý Phương Thuận và Lý Phương Đức là những nữ chiến sĩ giao thông đầu tiên được đồng chí Lý (Bác Hồ) giao nhiệm vụ. Cùng với Lý Tự Trọng, hai cô đã được Bác giáo dục về lòng yêu nước, về đạo đức cách mạng, về cách đi giao thông. Thuận và Đức đã nhiều lần chuyển thư từ đến các cơ sở cách mạng, đến lãnh sự quán Liên Xô, các cơ quan của Bộ phương Đông... trong khu vực Quảng Châu, Hồng Kông, Thượng Hải1. Khi về Thái Lan, cô Đặng Quỳnh Anh cùng chồng là Võ Tùng đã từng làm liên lạc cho Thầu Chín (Bác Hồ).

Ở trong nước, mặc dù bị cảnh sát, mật thám rình bắt, các chiến sĩ gái giao thông đã xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng. Rất nhiều chị nay đã là bà nội, bà ngoại hiện còn sống đã từng là chiến sĩ giao thông của Đảng và cũng không ít phụ nữ, cô gái trẻ đã hy sinh để lại cho các thế hệ mai sau những tấm gương không bao giờ phai mờ.

Người chạy hàng giữa Sài Gòn và Phú Riềng, thực chất là "giao thông giữa Xứ ủy Nam Kỳ với chi bộ đồn điền cao su Phú Riềng" là một phụ nữ: Chị Tý. Chị Ngô ở Song Lộc, Nghệ An đã giấu tài liệu của Đảng vào trong thùng nước mắm 2 đáy để đi liên lạc. Những bà mẹ nghèo ở ngõ Đề Lao, Hải Phòng, dùng chiếc chõng bán nước vối để làm nơi liên lạc của Đảng. Chị Mai Thị Vũ Trang đã chuyển tài liệu, vũ khí. Chị Phan Thị Khương, thường được anh chị em gọi là "Chị Cả Khương" là chiến sĩ giao thông Xứ ủy Bắc Kỳ, đảm nhiệm đường dây giữa Hải Phòng - Quảng Yên - Kiến An - Hải Ninh... Chị Nguyễn Thị Thuận, tức chị Tư Già đã hy sinh hạnh phúc gia đình để cố gắng làm tròn nhiệm vụ giao thông. Chị Hoàng Thị Ái, năm 1929 vừa làm công nhân nhà máy chè ở Tua Ran, vừa làm liên lạc cho Đảng. Chị Tôn Thị Quế, chiến sĩ giao thông đã được tặng hai câu thơ:

"Mười năm hải ngoại em chìm nổi

Bao độ lao lung chị dọa đầy...

Chị Quang Thái (em ruột chị Minh Khai) sau này là một chiến sĩ giao thông ưu tú của Đảng, năm 16 tuổi (1930) trong bài thơ "Quyết chí dốc lòng", đã hứa:

"Ngọn cờ vô sản bao giờ phất

Chín suối hồn ta mỉm miệng cười!"

Còn biết bao các nữ chiến sĩ giao thông khác như chị Mai Thị Yên đã giả làm người buôn xương khỉ, măng khô để đưa cán bộ vượt biên giới sang huấn luyện ở Quảng Châu. Chị Yên là một trong mười phụ nữ ở Hà Nội làm giao thông của Đảng trong những năm 1930 (chị Tuyết, chị Nhàn, chị Đầm, chị Liên, chị Giữ, chị Minh Lãng, chị Lưu Thị Đĩnh, chị Thuận Mỹ, chị Hưng, chị Lưu...). Chị Vũ Thị Mai sau khi "vô sản hóa"ở Cửa Ông đã làm giao thông giữa hai Xứ ủy Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Chị Nghĩa giao thông của Xứ ủy Bắc Kỳ với Trung ương, là công nhân nhà máy gạch Cát Linh, khi bị bắt đã giả câm và hy sinh trong nhà tù để giữ bí mật cho Đảng, chị Lê năm 15 tuổi đã được vào "Đoàn thanh niên phản đế" hăng hái đi liên lạc, đưa thư từ, chị Kỳ, giao thông của đồng chí Hoàng Văn Thụ, người đã chuyển Chỉ thị Tổng khởi nghĩa của Trung ương vào Nam Bộ, chị Sáu ở Liên Mạc vừa là giao thông của đồng chí Trường-Chinh, vừa là cán bộ cơ sở...

Trong kháng chiến chống Pháp, phụ nữ Việt Nam đã phát huy truyền thống, tiếp tục đảm nhiệm công tác giao thông và đã làm vẻ vang thêm cho truyền thống giao thông của phụ nữ Việt Nam.

Trên các trang sách học của các cháu nhỏ ta mới biết đến những Võ Thị Sáu, Mạc Thị Bưởi... Nhưng còn bao nhiêu phụ nữ khác đã làm giao thông liên lạc cho Đảng, cho quân đội. Chị Nguyễn Thị Điều, người đã được Bác Hồ tặng một đồng hồ để như Bác nói "đi những đường thư cho đúng hẹn". Dương Thị Phú, giao thông Hà Nội đã giúp một hàng binh Đức ra hàng Việt Minh, khi về nước đã gửi lời "chào chị cả". Phùng Thị Nhàn, chiến sĩ giao thông của quận ủy II Hà Nội, những năm 1950. Đội giao thông Lãng Bạc gồm các chiến sĩ gái đã chuyển thư Bác Hồ và cành đào vào Liên khu I, thủ đô Hà Nội, Tết năm 1946.

Truyền thống tốt đẹp của "phụ nữ Việt Nam làm giao thông liên lạc" được phát huy mạnh mẽ, nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, lực lượng nữ cán bộ chiến sĩ thông tin, giao liên đã chiếm tới 30-40% trong biên chế đơn vị, riêng Trung đoàn 134 có tới 60-80%. Chính trong bức tranh kỳ vĩ ấy, những đường nét, hình ảnh của phụ nữ Việt Nam làm giao thông, thông tin liên lạc thật là đẹp đẽ hào hùng. Chi Năm Chiến ở Bến Tre, năm 1950 đã ngoài 50 tuổi, là chiến sĩ giao thông kiêm bảo vệ của đồng chí Lê Duẩn trong những năm 1958, 1959. Cùng với hai chiến sĩ gái giao liên khác, chị Bảy Thường đã đánh tan một tiểu đoàn ngụy, bị kết án 11 năm tù, 5 năm đày ra Côn Đảo. Dưới hình dạng của một người ăn xin, má Bưng đã bí mật làm giao thông mấy chục năm liền cho các chiến sĩ biệt động Cần Thơ. Khó có thể tin rằng, với gần 70 tuổi, 21 năm liền là giao thông của thành ủy Sài Gòn, bác Lê Thị Nhiễm đã có thể đương đầu với bao nhiêu mưu mẹo, đòn tra tấn của địch. Bác là một trong những anh hùng giao thông thông tin của quân đội ta, là giao thông "đơn tuyến" của đồng chí Vũ Ngọc Nhạ, "cố vấn" của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Trên miền Bắc, tổng đài Vĩnh Linh do các chiến sĩ gái phụ trách có Lê Thị Bích Giả đã xông ra dựng cột nối dây trong bom đạn. Tổ điện đài của các chiến sĩ gái báo vụ Hằng, Liên, An (Quân khu 4) bị bom đánh sập hầm, kẻ bị ngất, người bị thương vẫn giữ vững làm sóng điện tấn công. Cuối năm 1972, khi pháo đài bay B52 của Mỹ dội bom xuống Hà Nội, 5 cô gái quân bưu của đoàn Hải Vân thông tin quân bưu đã đạp xe đạp dưới ánh lửa đạn, tia chớp của bom để chuyển công văn. Trong những lần thi thu phát nhanh, ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài, Binh chủng Thông tin còn giữ được những huy chương vàng của những cô gái vô tuyến điện vô địch: Vũ Thị Túc, Nguyễn Hải Sinh, Nguyễn Thị Lợi... Nhiều nữ sĩ quan thông tin đã lao động trong các viện nghiên cứu, thiết kế, kỹ thuật, có người đã giành được học vị trên đại học, đã trở thành cán bộ cao cấp trong quản lý, chỉ huy cũng như trong khoa học kỹ thuật công nghệ như Thu Sương, Thanh Hà, Nguyễn Thị Thái, Minh Hà...

Lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của nước ta in dấu ấn khá rõ nét trong sứ mệnh giao thông liên lạc mà phụ nữ đã đảm nhiệm. Và lịch sử cũng đã chứng minh rằng phụ nữ đã làm và làm được, làm tốt, không phải vài ba người, không riêng ở một địa phương, không chỉ dừng lại một thế hệ, không giới hạn ở độ tuổi thanh niên, không chỉ ở một số dân tộc...

Trong nghiên cứu khoa học ngày nay, người ta cho rằng, trung bình cứ 1000 người, nữ có 431 người trong nam chỉ có 427 người có chỉ số thông minh. Nếu phát hiện màu sắc, nữ công nhân dệt có thể nhận thấy ngay 200 sắc thái của một màu đỏ, số lượng này gấp đôi ở nam công nhân (theo nhà nghiên cứu Anh, Mông-ta-gu).

Trong công tác, "bản năng tương trợ, giúp đỡ bạn bè, đồng đội của nữ phát triển mạnh hơn nam giới" (theo giáo sư bác sĩ Trần Hữu Nghiệp). Theo dõi và điều tra ở một đơn vị thông tin trong kháng chiến chống Mỹ (đoàn H05 anh hùng) nữ chiến sĩ thông tin hữu tuyến điện nhớ nhanh, nhiều và ít nhầm lẫn các ký hiệu, mật danh điện thoại, tổng đài hơn các chiến sĩ nam. Nữ báo vụ thu, phát vô tuyến điện lập thành tích cao hơn nam báo vụ về tốc độ, ít sai sót hơn nam.

Lịch sử và khoa học giúp ta nhận rõ hơn truyền thống quý báu, độc đáo của phụ nữ Việt Nam trong công tác giao thông liên lạc. Ở miền Nam, "trong chống Mỹ cứu nước, không có một công việc khó khăn nào mà cách mạng cần đến lại không có mặt chị em". Trong công tác giao thông liên lạc, ngoài những gian khổ, khó khăn, nguy hiểm như các chiến sĩ nam, phụ nữ còn có những nỗi khổ riêng, tủi nhục, oan ức thầm kín có khi cả cuộc đời không thể nói ra, chết cũng chưa được phép giãi bày. Một thống kê cho biết tỷ lệ chiến sĩ giao thông khi bị bắt, không chịu được tra tấn của địch đã khai báo, ở nam giới cao hơn nhiều so với nữ. C. Mác đã từng nói: "Theo tôi, tương lai của con người lại do chính đàn bà làm ra". Ở một khía cạnh nào đó, vẫn thấy ý nghĩa này trong phụ nữ làm giao thông liên lạc.

Trong thư gửi phụ nữ nhân kỷ niệm Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế phụ nữ 8-3-1952, Bác Hồ viết: "Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ". Sự thật là: "Ở Việt Nam đã có một truyền thống phụ nữ làm giao thông liên lạc".

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)

..............................................

1 Viện Hồ Chí Minh hiện còn bản lưu hồi ký của bà Lý Phương Đức về công tác giao thông ở Quảng Châu, 1925-1927, do bà Đức viết tặng tác giả trong những lần gặp vào năm 1980. 

0 comments:

Đăng nhận xét