12.6.25

Đường trục cáp quang đầu tiên của Binh chủng Thông tin

Thượng tá Nguyễn Thanh Hải - nguyên cán bộ Phòng KHCN Binh chủng

Dự án đường trục thông tin cáp quang quân sự Bắc - Nam là một dự án lớn, nhiều cơ quan, nhiều đơn vị tham gia. Dự án gồm nhiều công đoạn khác nhau; thành công của Dự án là thành công chung của Bộ Quốc phòng, của Binh chủng Thông tin, trong đó có phần đóng góp của đội ngũ cán bộ kỹ thuật Trung tâm Kỹ thuật Cáp quang của Công ty Điện tử - Viễn thông quân đội chúng tôi. Trong quá trình triển khai Dự án, tôi được giao làm Trung tâm trưởng. Trung tâm gồm 40 đồng chí là cán bộ kỹ thuật từ các cơ quan, đơn vị khác nhau trong Binh chủng Thông tin tập hợp về. Đây là lực lượng chính tham gia lắp đặt thiết bị, thông tuyến và bảo đảm kỹ thuật giai đoạn đầu. Với tư cách là một cán bộ kỹ thuật và may mắn được tham gia Dự án từ đầu, tôi xin được báo cáo với Đại hội những khó khăn mà chúng tôi đã phải cố gắng rất nhiều để vượt qua, chủ yếu là dưới góc độ của người làm kỹ thuật".

Đó là lời mở đầu bản báo cáo thành tích tại Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân diễn ra từ ngày 16 đến 18 tháng 10 năm 2000 ở Thủ đô Hà Nội của Thạc sĩ Nguyễn

Mạnh Hùng - Phó Giám đốc Công ty Điện tử - Viễn thông quân đội thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc.

Đường trục thông tin Bắc - Nam với dung lượng lớn và công nghệ hiện đại là mơ ước của những người làm thông tin quân sự qua nhiều thế hệ. Bởi vì, đó là hạ tầng cơ sở quan trọng nhất của một mạng viễn thông, nó cũng như quốc lộ 1 - xương sống của mạng lưới giao thông cả nước. Mạng tổng đài điện thoại, mạng truyền số liệu, mạng di động trung kế vô tuyến và bất kỳ mạng thông tin nào trên phạm vi toàn quốc đều phải cần đến đường trục Bắc - Nam. Nếu phải thuê dung lượng là 2 luồng 155Mb/s để đáp ứng một phần nhu cầu thì chi phí ước tính là 300 tỷ đồng trong 1 năm (bằng tổng vốn đầu tư toàn bộ dự án đường trục thông tin quân sự). Tuy nhiên, tài chính mới chỉ là một vấn đề, vấn đề quan trọng hơn là để đảm bảo các yếu tố về an ninh - quốc phòng, đòi hỏi chúng ta cần phải sở hữu và quản lý toàn bộ mạng truyền dẫn đường trục.

Để xây dựng được một tuyến trục truyền dẫn Bắc - Nam, phải đầu tư hàng ngàn tỷ đồng, với thời gian triển khai nhiều năm, trong khi điều kiện ngân sách quốc phòng hạn chế. Đảng ủy và Thủ trưởng Bộ tư lệnh Thông tin đã đề xuất với Bộ Quốc phòng trình Thủ tướng Chính phủ và Bộ Chính trị phê duyệt cho sử dụng 2 sợi quang của các ngành Bưu điện và Điện lực. Chúng ta xin được 2 sợi quang là một thuận lợi để mở rộng lượng thông tin trên đường trục quân sự Bắc - Nam.

Nhưng sau khi đã có 2 sợi quang trong tay, chúng ta đứng trước một loạt thách thức: cáp quang đi dọc đường Trường Sơn, toàn vùng rừng núi, địa hình hiểm trở, nhà trạm lại chưa có gì; đội ngũ kỹ thuật lại hoàn chưa có kinh nghiệm về thiết kế, lắp đặt hệ thống thông tin quang; chỉ với 2 sợi quang thì khó có thể xây dựng một đường trục có cấu hình 1+1, mà như chúng ta đã biết, đã là đường trục thì độ tin cậy phải rất cao, phải có dự phòng nóng; theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng, việc thiết kế, khảo sát và lắp đặt nhất thiết do người Việt Nam tự thực hiện, không được phép sử dụng chuyên gia nước ngoài. Đây là một trong những thách thức lớn đối với đội ngũ kỹ thuật Binh chủng. Theo dự kiến ban đầu, thời gian lắp đặt là 3 tháng, nhưng sau đó, thời gian lắp đặt chỉ còn 1 tháng. Đối với một dự án tương tự, Bưu điện phải mất tới 6 tháng. Còn đối tác bán thiết bị thì cũng khẳng định rằng, nếu Binh chủng Thông tin tự làm thì mất ít nhất 6 tháng. Một thách thức nữa đối với đội ngũ kỹ thuật được tham gia dự án là phải lắp đặt thiết bị truyền dẫn quang có công nghệ đồng bộ (SDH) là công nghệ hiện đại nhất hiện nay; đặc biệt là công nghệ ghép bước sóng, thu phát trên cùng một sợi dây quang được sử dụng tại Việt Nam lần đầu tiên.

Điều kiện lắp đặt rất khó khăn, đa số các trạm nằm ở khu vực rừng núi, đi lại vận chuyển khó khăn. Có những trạm phải vận chuyển hàng chục tấn hàng bằng xe bò, xe trâu qua 3km đường núi, với hàng chục chiếc xe trâu thuê của dân, mỗi xe chở 2 bình ắcquy, mỗi bình 68kg chứa đầy dung dịch axít, mà số lượng bình ắcquy cho một trạm là 48 bình. Còn đối với trạm nằm sâu trong rừng Trường Sơn, anh em kỹ thuật phải đi hàng trăm kilômét với tốc độ xe nhiều đoạn chỉ đạt khoảng 5-10km/giờ, cứ có mưa là đường bị đất, đá từ sườn núi đổ xuống làm tắc, có khi còn nguy hiểm đến tính mạng. Trong thời gian lắp đặt, nhiều cơn bão lớn và mưa lũ xảy ra, gây rất nhiều khó khăn cho việc vận chuyển thiết bị tới chân công trình.

Mặc dù khó khăn và nhiều thách thức, nhưng những cán bộ và nhân viên kỹ thuật của Công ty Điện tử - Viễn thông quân đội vẫn triển khai công trình thành công đúng thời hạn. Ngày 6 tháng 1 năm 1999, đường trục thông tin quân sự Bắc - Nam đã thông từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Các cuộc đàm thoại đường dài thực hiện trên tuyến cáp quang quân sự đạt chất lượng cao. Tiếp đó, Bộ tư lệnh Thông tin đã triển khai cáp quang đến Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng, để ngày 16 tháng 1 năm 1999 thực hiện báo cáo thông tuyến kỹ thuật bằng cầu truyền hình giữa Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh với các thủ trưởng Bộ. Qua cầu truyền hình trực tiếp, Tư lệnh Binh chủng Thông tin đã báo cáo với lãnh đạo, chỉ huy Bộ về quá trình xây dựng lắp đặt tuyến đường trục cáp quang quân sự Bắc - Nam và buổi truyền hình trực tiếp đã diễn ra thông suốt. Ngày 16 tháng 1 năm 1999 đã đi vào lịch sử Bộ đội Thông tin liên lạc trong thời kỳ từng bước hiện đại hoá ngành Thông tin Quân sự như một mốc son.

Tính đến tháng 10 năm 2000, Công ty Điện tử - Viễn thông quân đội đã lắp xong các trạm cáp quang, hệ thống đã đi vào hoạt động ổn định. Việc lựa chọn công nghệ và giải pháp ghép bước sóng thu phát trên một sợi quang để có cấu hình dự phòng 1+1 cả về sợi quang và thiết bị là hoàn toàn đúng đắn. Gần 2 năm khai thác và sử dụng, đường trục luôn luôn đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt. Theo đánh giá của các chuyên gia thì chất lượng đường truyền và mọi chỉ tiêu kỹ thuật của tuyến đều đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Về giá trị kinh tế của đường trục là rất lớn. Nếu như trước đây, Binh chủng chỉ có đủ kinh phí để thuê 50 kênh với chi phí khoảng 500 triệu đồng/tháng, thì nay Binh chủng đã cắt hết các đường thuê của Bưu điện và đã cấp gần 900 kênh trên đường trục. Nếu thuê 900 kênh này của Bưu điện thì chúng ta sẽ phải trả khoảng 9 tỷ đồng/tháng, tức là trên 100 tỷ đồng/năm. Nhưng điều quan trọng hơn là từ nay, dựa trên đường trục Binh chủng Thông tin liên lạc có thể tiếp tục mở rộng mạng tổng đài, xây dựng mạng truyền số liệu và các mạng khác chủ động bảo đảm kỹ thuật và bảo mật. Đường trục là cơ sở hạ tầng để thực hiện truyền hình, truyền ảnh đáp ứng yêu cầu tự động hoá chỉ huy, quản lý, điều hành của Bộ Quốc phòng đến các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng và các đơn vị vùng trọng điểm.

Đường trục thông tin quân sự đã trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống đường trục Quốc gia. Đường trục quân sự đã tham gia bổ sung, vu hồi và làm tăng độ tin cậy các hệ thống thông tin của các bộ, ngành khác như Công an, Hàng hải, Đường sắt và Bưu điện. Ngoài sự trưởng thành về mạng lưới, chúng ta có được thành công lớn nhất là sự trưởng thành về con người, về đội ngũ kỹ thuật thông tin quân đội.

Kinh nghiệm rất sâu sắc mà thạc sĩ Nguyễn Mạnh Hùng rút ra sau khi hoàn thành Dự án là: càng khó khăn thì càng có nhiều sáng tạo. Khó khăn là chất kích thích tốt nhất cho tư duy sáng tạo. Và bất kỳ khó khăn nào cũng có lối thoát của nó. Vấn đề là chúng ta phải kiên trì tư duy, mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Khi được giao nhiệm vụ thực hiện dự án có kèm theo một yêu cầu là người nước ngoài không được tham gia vào thiết kế mạng, lắp đặt thiết bị. Thực ra, đây là một yêu cầu quá sức nhưng là yêu cầu bắt buộc nên đội ngũ cán bộ kỹ thuật do anh Hùng dẫn dắt không có lý do nào khác là phải quyết tâm làm; phải tự học, tự tìm tài liệu để nghiên cứu và thông qua các hồ sơ dự thầu để có thông tin. Chính vì yêu cầu khắt khe đó của Bộ Quốc phòng mà đến nay Binh chủng đã có được một đội ngũ kỹ thuật có thể đạt mức chuyên gia.

Anh Hùng tâm sự: "Đội ngũ kỹ thuật của chúng ta rất có năng lực. Nhưng do điều kiện tiếp cận thông tin chưa nhiều, do vấn đề đào tạo và tự đào tạo chưa tốt nên chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhưng nếu có công việc cụ thể, nếu được tin tưởng giao việc, có điều kiện tiếp xúc thông tin, được tạo điều kiện học tập và có ý thức giúp đỡ lẫn nhau, người biết hướng dẫn người chưa biết, người đi trước chỉ dẫn người đi sau thì các cán bộ kỹ thuật sẽ trưởng thành nhanh chóng. Dự án cáp quang là một thí dụ: khi mới tập trung về Trung tâm Kỹ thuật Cáp quang có đến 80% các đồng chí chưa có kiến thức gì về truyền dẫn quang; nhiều năm chưa được tiếp xúc, cập nhật thông tin mới. Nhưng khi về Trung tâm, công việc nhiều, được tổ chức tin cẩn, có sự hướng dẫn của các đồng chí đi trước, được mạnh dạn giao việc, đa số các đồng chí đó đã trưởng thành và hiện nay đang là các cán bộ chủ chốt của hệ thống truyền dẫn quang và đủ năng lực sẵn sàng tham gia các dự án khác. Đến nay, đội ngũ cán bộ kỹ thuật đã làm chủ được kỹ thuật truyền dẫn quang, khai thác và xử lý sự cố bảo đảm đường trục thông suốt".

Sau khi thực hiện Dự án, vị thế của thông tin quân sự đã được cải thiện đáng kể trong sự trưởng thành chung của mạng lưới thông tin quốc gia, nhất là trong xu thế hội nhập của các ngành viễn thông, tin học và phát thanh truyền hình, nhằm tiến tới một xã hội thông tin trong thiên niên kỷ mới. Và chúng ta cũng hoàn toàn tin tưởng vào tài năng của đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Binh chủng trong đó có thạc sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, người đã đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quân năm 2000. Hiện nay Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng đang là Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viễn thông quân đội - Viettel.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Về thăm Ba Vì (cao điểm X72)

Hoàng Đình Văn - Đại đội 15 Tiểu đoàn 4 Tiếp sức

Đồng đội về thăm lại điểm cao

Vui sao nước mắt lại dâng trào

Năm mươi năm rồi! Sao nhanh quá

Cùng nhau ôn lại những năm nào...

Ba Vì dốc đứng rừng rậm rạp

Thú, sét, vắt nhiều dạ chẳng nao

Tay dìu đồng đội, vai gùi máy

Dắt díu cùng nhau lên điểm cao

Bát nước chia đều cùng rửa mặt

Cùng nhau hút chung điếu thuốc lào

Đời lính tiếp sức gian nan thế

Nhiệm vụ hoàn thành chất lượng cao.

Tháng 6-2007

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Một nhà giáo ưu tú

Lê Văn Chung

Sáu mươi tuổi đời, 42 tuổi quân, hơn ba mươi năm gắn bó với các nhà trường quân đội, Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ (PGS, TS) Nguyễn Chính Trung, Chủ nhiệm Khoa Thông tin - Điện tử (nay là Khoa Binh chủng), Học viện Quân sự Cấp cao đã nêu một tấm gương sáng về lòng kiên trì say mê trong học tập và giảng dạy.

Với trình độ văn hóa lớp 7 trước khi xa quê hương Trường Yên, Chương Mỹ, Hà Tây, bằng sự phấn đấu học tập không mệt mỏi, đến nay anh đã có học vị Tiến sĩ và là Phó Giáo sư.

Năm 1950 anh nhập ngũ, sau thời gian huấn luyện chiến sĩ, anh được đi học Trường Sĩ quan Lục quân, chuyên ngành Thông tin.

Tốt nghiệp Lục quân, anh về tham gia Chiến dịch Thượng Lào, rồi đánh đồn Him Lam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sau hòa bình, anh Trung về làm giáo viên Thông tin tại Trường Sĩ quan Lục quân. Với lòng ham học cầu tiến bộ, sau mỗi ngày lên lớp căng thẳng anh "đánh trận với những bài toán, bài văn, bài vật lý - không bao lâu, anh đã thi tốt nghiệp chương trình văn hóa cấp 3. Đồng chí Chính ủy Nhà trường lúc đó phát hiện được sự ham học của anh đã gửi anh đi học Khoa Vô tuyến, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội vào loại giỏi, Nhà trường có ý định giữ anh lại làm cán bộ giảng dạy, nhưng anh vẫn tiếp tục trở về công tác trong quân đội. Anh làm giáo viên rồi Trưởng bộ môn Vô tuyến điện Trường Sĩ quan Thông tin, sau đó "đi B". Ở hoàn cảnh môi trường sống chết chỉ trong khoảnh khắc nhưng anh vẫn tranh thủ lúc rảnh rỗi giữa hai mùa chiến dịch, hai mùa mưa nắng để học tập, tự đặt chương trình nghiên cứu. Quá trình tham gia Chiến dịch Tây Nguyên - Chiến dịch Hồ Chí Minh cũng như sau này tham gia chiến đấu ở Mặt trận Vị Xuyên với tư cách là Phó Chủ nhiệm Thông tin Quân khu, anh đã tích cực vận dụng những kiến thức lý thuyết vào trong thực tế chiến đấu. Đồng thời cũng từ thực tế rút ra những vấn đề cần đi sâu nghiên cứu, hoàn thiện. Anh tâm sự: "Học trong sách vở, học ở nhà trường và học ở chiến trường là sợi chỉ đỏ xuyên suốt phương châm học tập của tôi".

Trở về làm giáo viên ở Học viện Quân sự Cấp cao, anh bắt tay vào nghiên cứu đề tài: "Tính toán chiến dịch của Bộ đội Thông tin". Và một thời cơ đã đến với anh, anh được trên gửi đi thực tập sinh tại Viện Tự động hóa chỉ huy (IMAT) của một nước bạn.

Tại đây anh cùng các chuyên gia của bạn đi sâu vào nghiên cứu đề tài: "Tính toán phân bổ tần số tối ưu cho hệ thống vô tuyến toàn quân". Viện IMAT đã đánh giá công trình đạt mức xuất sắc. Về nước anh theo học bổ túc tại Học viện Quân sự Cấp cao và đã hoàn thành khóa học vào loại xuất sắc.

Tháng 9 năm 1987 Học viện tạo điều kiện để anh tập trung hoàn thiện các đề tài và bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ trong nước. Lúc này anh có 3 đề tài cùng có thể bảo vệ học vị Phó Tiến sĩ, nhưng vốn là người say mê với nghề dạy học, anh đã chọn đề tài thứ 3 mặc dù đề tài này anh mới bắt tay vào nghiên cứu, còn 2 đề tài trên cơ bản đã hoàn thành.

Tháng 3 năm 1988 anh bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ "Dùng phương pháp sơ đồ hóa (grap) lập trình tối ưu và dạy học môn thông tin chiến dịch" và công trình được chọn báo cáo tại Hội nghị khoa học giáo dục toàn quốc.

Trong học tập, nghiên cứu anh say mê bao nhiêu thì với cương vị là một nhà giáo anh cũng say mê nhiệt tình bấy nhiêu. Hơn 30 năm đứng trên bục giảng, dù là giáo viên ở các trường sĩ quan hay cán bộ giảng dạy ở Học viện Quân sự Cấp cao, anh luôn luôn suy nghĩ, trăn trở, nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy sao cho học viên chóng hiểu, dễ nhớ, truyền cho họ niềm say mê trong học tập và nghiên cứu.

Anh đã có đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo, xây dựng hệ thống tài liệu giảng dạy về kỹ thuật, chiến thuật thông tin điện tử, để huấn luyện cho cán bộ chỉ huy binh chủng hợp thành ở Học viện Quân sự Cấp cao và cho cán bộ Binh chủng Thông tin trong toàn quân.

Anh luôn quan tâm bồi dưỡng đồng nghiệp về nội dung phương pháp dạy học và phương pháp nghiên cứu khoa học. Với cương vị là Phó rồi Chủ nhiệm Khoa Thông tin Điện tử, với đức tính khiêm tốn, giản dị, đoàn kết gắn bó với đồng nghiệp anh đã góp phần xây dựng Khoa 6 năm liền là đơn vị quyết thắng; bản thân anh nhiều năm được bầu là Chiến sĩ quyết thắng, Chiến sĩ thi đua.

Hiện nay cùng với các đồng chí cán bộ, giáo viên chủ chốt của Học viện, anh tham gia giảng dạy cho lớp đào tạo cao hơn và hướng dẫn trực tiếp ba nghiên cứu sinh làm luận án Phó Tiến sĩ.

Nếu như trong lĩnh vực học tập anh luôn đạt kết quả xuất sắc thì trong lĩnh vực dạy học anh cũng luôn được công nhận là giáo viên dạy giỏi. Chỉ riêng thời gian ở Học viện Quân sự Cấp cao anh đã bốn lần được công nhận là giáo viên dạy giỏi.

Ghi nhận phẩm chất, tài năng, công lao học tập, rèn luyện và đóng góp của anh trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, anh đã được Nhà nước phong hàm Phó Giáo sư và danh hiệu Nhà giáo ưu tú.

Đại tá Nguyễn Chính Trung đã nêu một tấm gương sáng về một nhà giáo quân đội.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

11.6.25

Một thoáng Trường K

Trần Ngọc Duyện

Nhớ về một thoáng Trường K

Một thời gắn bó đã xa lâu rồi

Biết bao kỷ niệm buồn, vui

Gặp nhau gợi lại, rộn lời hân hoan

Sa La Vị Thi Dụ Tec Tôông1

Công trình hữu nghị vang danh một thời2

Giúp bạn, ấy việc mình thôi

Nghĩa tình quốc tế vẳng lời "O-rơ-cun”3

Kỷ niệm họp mặt bạn chiến đấu Trường K

Ngày 30-4-2011

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

------------------------------------

1 Tiếng Campuchia: Trường Thông tin.

2 Khối học viên Trường K tham gia duyệt binh kỷ niệm 1 năm ngày chiến thắng (07/01/1979 – 07/01/1980) được xếp là 1 trong 2 khối đẹp nhất của quân đội Hoàng gia Campuchia. Trong hội nghị công tác giúp bạn vào cuối năm 1980 do Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, Trường K được tới dự và báo cáo điển hình.

3 Tiếng Campuchia: Cảm ơn. 

Trường Thông tin K

Đại tá Trần Ngọc Duyện - nguyên Hiệu trưởng kiêm Chính ủy Trường Thông tin K

Giữa năm 1979, tôi và một số đồng chí nhận được lệnh sang Campuchia giúp bạn thành lập trường thông tin với chức năng đào tạo báo vụ và nhân viên kỹ thuật sơ cấp vô tuyến điện, hữu tuyến điện, nguồn điện... cho quân đội bạn.

Thời kỳ này cách mạng Campuchia vừa mới thành công, chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xa-ri vừa bị lật đổ, đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn, tình hình trật tự và an ninh xã hội rất phức tạp.

Danh nghĩa là sang giúp bạn, nhưng vì bạn còn thiếu cán bộ nên ban đầu chúng tôi phải đảm đương mọi việc từ A đến Z. Bắt đầu từ khâu chọn lựa địa điểm để đặt trường, lo chuẩn bị trang thiết bị dạy và học, tuyển sinh, lãnh đạo quản lý học viên cho đến việc chăm lo đời sống tinh thần, vật chất cho học viên. Nói chung là tất tần tật chúng tôi đều phải lo.

Về phía bạn, các đồng chí lãnh đạo Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu, Cục Thông tin rất quan tâm đến công tác xây dựng và đào tạo; thường xuyên đến thăm trường. Nhưng về việc lãnh đạo, chỉ đạo công việc đối với Nhà trường, chúng tôi vẫn phải trực tiếp quan hệ với Tiền phương Bộ tư lệnh Thông tin và Đoàn Chuyên gia 478 của Bộ Quốc phòng Việt Nam1.

Trong thực tế, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ rất vất vả, khác hẳn với ở trong nước. Nhưng nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát và chặt chẽ của cấp trên, sự cộng tác tin cậy, chân thành của bạn, sự đoàn kết phấn đấu hết mình của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, học viên Nhà trường nên chỉ sau 3 tháng chuẩn bị, vào đầu tháng 10 năm 1979, Nhà trường đã tổ chức được lễ khánh thành và khai giảng khoá học đầu tiên một cách trọng thể2 trong niềm hân hoan chung của cả ta và bạn. Khóa học này có 5 lớp: 2 lớp báo vụ, 3 lớp sơ cấp vô tuyến điện, hữu tuyến điện và nguồn điện. Việc dạy và học đều phải qua phiên dịch. Trình độ học vấn của học viên phần lớn đều là cấp I. Do vậy, công tác huấn luyện vừa làm vừa phải rút kinh nghiệm; vướng đâu, gỡ đấy. Do có sự cố gắng và quyết tâm chung của cả thầy lẫn trò, lý thuyết kết hợp chặt chẽ với thực hành mà đặc biệt là thực hành, nên cuối cùng khoá học được kết thúc đúng thời gian quy định, đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra. 100% học viên tốt nghiệp, một số đạt loại giỏi được giữ lại đưa vào biên chế khung của Nhà trường để làm trợ giáo cho các khoá tiếp theo. Số còn lại được phân phối ngay về các đơn vị. Số đông học viên sau khi tốt nghiệp được phân công về Tiểu đoàn 2 Thông tin Tổng trạm Bộ Quốc phòng bạn. Sau khoá học đó, tôi được điều về Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc nhận nhiệm vụ mới vào cuối năm 1980.

Sau khi Liên Xô tan rã, vào đầu những năm 90, lưu học sinh của ta lần lượt trở về nước, trong đó có đồng chí Vũ Anh Văn (nay là Tư lệnh Binh chủng). Qua đồng chí Văn, tôi nhận được phong thư tay và một gói quà nhỏ, nói là của Nghét Tha Va Ry gửi. Nghét Tha Va Ry là một sĩ quan quân đội Campuchia, cũng là lưu học sinh tại Nga về nước và trước đây là học viên khoá I của Trường K, tốt nghiệp loại xuất sắc có đạo đức tốt đã được chọn giữ lại khung Nhà trường. Mừng quá, tôi mở thư ra xem. Đây là một lá thư viết bằng tiếng Việt rất cẩn thận. Nghét Tha Va Ry gửi lời chào và hỏi thăm sức khoẻ của tôi cùng một số anh chị em cán bộ, chiến sĩ Việt Nam Trường K trước đây nay đã về nước công tác. Nghét Tha Va Ry nhắc lại nhiều kỷ niệm cũ và thông báo cho tôi biết sự trưởng thành tiến bộ của bản thân cũng như một so bạn bè nguyên là học viên khoá I mà khi đó tôi là Chính ủy kiêm Hiệu trưởng Nhà trường. Cuối cùng là những lời cảm ơn thắm thiết về sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Campuchia và bản thân Nghét Tha Va Ry. Vào giữa năm 2011, nhân buổi gặp mặt truyền thống của một số anh em cựu chiến binh thông tin đã có thời gian công tác tại Trường Thông tin K trước đây, tôi có thông báo cho anh em biết về lá thư trên. Mọi người vỗ tay nhiệt liệt. Nhiều người nói, bức thư thể hiện đúng bản chất của người viết vì Nghét Tha Va Ry là một người sống rất tình cảm, rất gắn bó với cán bộ và chiến sĩ Việt Nam. Anh em còn cho biết: học viên của Trường K sau đào tạo đều tiến bộ, trưởng thành rất nhanh, nhiều người hiện đã là cán bộ trung, cao cấp trong quân đội Hoàng gia Campuchia. Sau khi quân đội Việt Nam rút về nước, Nhà trường đã bàn giao cho bạn quản lý và nay vẫn đang là cơ sở đào tạo cán bộ và nhân viên kỹ thuật thông tin cho quân đội bạn.

Mối quan hệ đoàn kết chiến đấu để giành độc lập, tự do, chống kẻ thù chung giữa các nước anh em Việt Nam - Lào - Campuchia là mối quan hệ hiếm có, đôi khi nó còn vượt ra khỏi các khuôn khổ, thông lệ thông thường. Việc xây dựng, điều hành Trường K một thời là một trong những dẫn chứng cụ thể nói lên tính chất đặc biệt ấy.

Nội dung bài viết này bắt nguồn từ ký ức của bản thân tôi cùng một số anh chị em, kể cả Việt Nam và Campuchia có thời gian đã cùng sống và làm việc tại Trường K góp nhặt lại.

Đây là một ký ức đối với một sự việc đặc biệt, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong quan hệ quốc tế giữa bộ đội thông tin ta, quân đội ta và bộ đội thông tin, quân đội Campuchia anh em. Một sự việc đã được lịch sử ghi nhận.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

--------------------------------------

1 Phía Việt Nam có trao đổi với bạn: "Làm như thế này sợ có sai với mối quan hệ hai bên không?". Bạn nói: "Không sao, chúng tôi hoàn toàn tin tưởng các đồng chí và nhờ các đồng chí làm giúp kia mà! Có gì, sau này chúng tôi trưởng thành lên hãy hay!".

2 Buổi lễ do đồng chí Men Som On, Chánh Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu Campuchia (nay là Phó Thủ tướng thường trực thứ nhất của Chính phủ Hoàng gia Campuchia làm Trưởng ban tổ chức. Tới dự có đồng chí Sai Bu Thoong - Ủy viên Bộ Chính trị, đồng chí Bu Thoong - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, các đồng chí thủ trưởng các tổng cục của Bộ Quốc phòng Campuchia, đồng chí Đỗ Trọng Hợp cùng các đồng chí đại diện cho các cơ quan Đoàn Chuyên gia 478, đại diện các nhà trường quân sự của bạn, đại diện của Chỉ huy Tiền phương Bộ tư lệnh Thông tin... tới dự. 

10.6.25

Trường ta

Nguyễn Trọng Khoát

Tháng ba sáu bảy lập trường ta

Hà Bắc nhờ dân ấm mái nhà

Thầy giảng mê say giờ chẳng nghỉ

Trò ngoan mải miết buổi thêm ca

Học viên - phục vụ tình san sẻ

Cán bộ - anh em nghĩa vị tha

Tung cánh ra trường đi mọi nẻo

Xa rồi nhớ mãi chẳng hề xa.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

Chuyện đầu ra của Trường Kỹ thuật

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát

Đầu ra với bất kỳ một trường học, mỗi trung tâm đào tạo nào cũng là vấn đề then chốt, rất quan trọng, vì nó quyết định phương hướng, nội dung, thời gian, phương pháp đào tạo.

Đầu ra của Trường Trung cấp Thông tin do Đảng ủy và Thủ trưởng Bộ tư lệnh quyết định. Nhà trường tổ chức triển khai thực hiện.

Tôi là cán bộ phục vụ Binh chủng 40 năm, trong đó 22 năm là cán bộ trường, từ Trưởng bộ môn tới Hiệu trưởng nên nhiều lần tham gia bàn về đầu ra.

1. Đầu ra của Trường được Binh chủng xác định có điểm là cán bộ trung cấp kỹ thuật thông tin phục vụ lâu dài trong quân đội. Như vậy về mặt chiến lược, Binh chủng đã xác định vị trí người cán bộ trung cấp kỹ thuật trong lực lượng vũ trang ta. Dù chiến tranh hiện đại như thế nào (kể cả chiến tranh nguyên tử hay bấm nút)  cũng cần có cán bộ kỹ thuật tay nghề tốt. Trong kháng chiến vừa qua, do phải sẵn sàng chiến đấu, phải tích luỹ kinh nghiệm nên cán bộ kỹ thuật phải phục vụ lâu dài. Từ đó trong nội dung, phương pháp huấn luyện của Trường phải bồi dưỡng cho học viên yên tâm, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ lâu dài trong quân đội. Tất nhiên "phục vụ lâu dài trong quân đội" cũng có khái niệm thời gian của nó như hiện nay Bộ Quốc phòng đã xác định thời gian phục vụ cho quân nhân chuyên nghiệp.

Một hôm đồng chí cố vấn của Binh chủng xuống làm việc với Trường, sau khi Ban giám hiệu báo cáo, đồng chí đó hỏi:

- Học viên ra trường có giấy chứng nhận tốt nghiệp không?

Tôi đưa tấm bằng của Nhà trường để đồng chí đó xem. Đồng chí đó cầm tấm bằng nhìn hồi lâu hỏi:

- Các đồng chí có liên hệ gì với Bộ Giáo dục không?

- Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin là một trong 4 trường trung cấp mà Bộ Quốc phòng quản lý được Bộ Giáo dục công nhận là trường trung cấp chuyên nghiệp cấp Nhà nước.

- Nếu vậy nên đề nghị Binh chủng liên hệ nhận lấy bằng Trung cấp của Bộ Giáo dục cấp cho anh em, sẽ tốt hơn.

Tôi thấy ý kiến đó rất hay. Sau này được Binh chủng cho phép bằng tốt nghiệp của Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin đều do Bộ Giáo dục cấp. Học viên ra trường phấn khởi, liên hệ công tác thuận tiện hơn.

Cũng từ đó mặc dù đã xác định là phục vụ lâu dài trong quân đội nhưng Nhà trường đã đưa dần những kiến thức về quản lý kinh tế để học viên ra trường phục vụ sát thực tế đất nước.

2. Ra trường công tác được ngay. Các ngành kỹ thuật bắt buộc học viên sau khi ra trường phải có thời gian thực tập, mục đích để quen với thực tế. Những năm kháng chiến yêu cầu chiến trường khẩn trương nên tổ chức cho học viên đi thực tập là điều rất khó khăn. Để học viên ra trường công tác được ngay, Nhà trường phải cân đối giữa lý thuyết và thực hành, coi trọng lý thuyết lấy thực hành làm chính nhưng vẫn phải đảm bảo về tính cơ bản trong kiến thức của học viên. Vì vậy các môn kỹ thuật cố gắng 40% lý thuyết, 60% thực hành. Trong thực hành bảo đảm từ cơ sở đến thực hành sửa chữa máy để tay nghề của học viên từng bước được nâng lên.

Trong sửa chữa máy, lý thuyết chỉ đạo thực hành tức là từ phân tích trên lý thuyết mới bắt tay vào đo thử, tháo lắp, hàn nối mạch. Sau này khái niệm sửa chữa theo "Ăng-gô-rít", sửa theo các bước định sẵn, được đưa vào. Lúc đầu có người cho đó là sửa chữa của thợ sơ cấp, không có lý thuyết. Nhưng khi tiếp xúc với các máy sản xuất hiện nay thì thấy sửa chữa theo "Ăng-gô-rít" được nhanh, chính xác hơn. Tất nhiên có được giáo án sửa theo "Ăng-gô-rít" thì chuẩn bị của giáo viên phải mất nhiều thời gian suy nghĩ và chuẩn bị hơn.

Tôi xa trường, xa đơn vị 20 năm nay, tuổi cao, trí nhớ kém, những điều viết ra trên chỉ là chuyện cũ nhắc lại. Thực tế ngày nay khác rất xa.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Hà Bắc tôi yêu

Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Kỹ thuật Thông tin

Nơi sinh Hà Bắc huyện Hiệp Hòa

Danh thắng là tên xã, chẳng xa

Ngõ nhỏ nhà tranh tâm rộng mở

Chở che êm ấm mái trường ta.

 

Tay em cay đóng đã phồng da

Vai vác tre xanh dựng nếp nhà

Sông Cầu lơ đãng đôi bờ chảy

Mùa lụt, hộ đê có chúng ta.

 

Lớp học đầu tiên chẳng có bàn

Mỏ hàn lấy củi đốt thay than

Lèm nhèm con mắt khi dò mạch

Vẫn gắng tìm ra hết mọi "pan".

 

Ba lô cay đất tập hành quân

Chặng cuối Lục Nam chẳng phải gần

Tiền tuyến khi cần luôn có mặt

Tay nghề đã chắc quyết vì dân.

 

Đã tiễn bao em tới chiến trường

Vượt qua gian khổ với buồn thương

Mái trường xưa đã không còn nữa

Hà Bắc, hồn tôi mãi vấn vương.

24-3-2003

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

9.6.25

Kỷ niệm về Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Đại tá Nguyễn Tất Thắng

Ai đã là quân nhân đều lấy đơn vị là nhà, coi đồng đội là anh em ruột thịt.

Gặp khi máu lửa, gian nan, sẵn sàng xả thân chia sẻ. Lập được chiến công cùng hân hoan đón nhận. Vui có nhau, buồn cũng không thể thiếu nhau. Do vậy, sống bên nhau càng lâu, kỷ niệm về nhau càng đầy ắp.

Trong cuộc đời một quân nhân, thường đi qua nhiều đơn vị. Đơn vị nào cũng quý, cũng yêu, cũng nhớ. Nhưng có lẽ đơn vị cuối cùng trước khi rời quân ngũ là đơn vị lại nhiều nhớ nhung, nhiều ấn tượng nhất trong lòng mỗi người.

Đơn vị cũ lớn mạnh, trường tồn cùng sự nghiệp giữ nước, lòng người cựu chiến binh tự hào lắm, phấn khởi lắm.

Gặp khi đơn vị cũ không còn tên trên bản đồ Quốc phòng nữa, thì nỗi buồn của họ không tả được.

Rồi nữa! Khi đơn vị cũ không còn tên ấy, lại được tái thành lập, thì niềm vui của những người cựu chiến binh ở đơn vị ấy, càng khó có thể tả được bằng lời.

Bốn mươi năm tuổi quân của tôi, Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin là đơn vị cuối cùng. Nhiều đồng chí cũng có chung đặc điểm ấy.

Hôm nay, Trường chúng ta được tái lập sau 10 năm sáp nhập! Nguyên là cán bộ, giáo viên, học viên, công nhân viên, chiến sĩ của trường, người có mặt, người vắng mặt được tin này, chúng tôi đều sung sướng, chúc mừng nhau, chúc mừng Trường, tay bắt mặt mừng, chạm cốc cười vang như pháo nổ.

Chúng ta đều nhớ rất kỹ Quyết định thành lập Trường Kỹ thuật Thông tin ngày ấy: ngày 24 tháng 3 năm 1967 là do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương - Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký, mang số Quyết định 020/QĐQP lịch sử!

Tự hào thay bề dày truyền thống vẻ vang của Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin chúng ta!

Chúc nhà trường lớn mạnh không ngừng! Trường là niềm tự hào của mỗi cán bộ, giáo viên, học viên, công nhân viên chúng tôi, một thời đã từng sống, cống hiến và trưởng thành dưới mái trường thân yêu ấy.

Do vậy, chúng tôi không bao giờ quên Nhà trường, và chắc chắn Nhà trường - Hội truyền thống của Trường cũng luôn nhớ đến chúng tôi!

Sơn Tây, 16-6-2009

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Quy tập hài cốt liệt sĩ

Đại tá Đỗ Minh Đính

Sau ngày giải phóng miền Nam, cùng với nhiệm vụ tiếp quản, quản lý, khai thác Hệ thống viễn thông liên kết của Mỹ - ngụy để lại, Đảng ủy - Thủ trưởng Trung đoàn 596 quyết định tổ chức một bộ phận do đồng chí Nguyễn Duy Tân - Chính trị viên Tiểu đoàn 36 chỉ huy cùng đồng chí Ly và 12 chiến sĩ đi quy tập số liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trên tuyến đường Trường Sơn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Đây là nhiệm vụ đặc biệt có ý nghĩa rất quan trọng và kịp thời thể hiện sự tri ân của những người còn sống với đồng chí, đồng đội đã ngã xuống vì Tổ quốc, nếu không làm ngay để lâu thì sự thay đổi về nhân sự cán bộ và những biến đổi địa hình, địa vật thì việc quy tập hài cốt sẽ vô cùng khó khăn.

Bộ phận này được trang bị 2 xe đại xa 3 cầu, có thể vượt qua những đoạn đường lầy lội, núi rừng hiểm trở, mỗi xe có 2 tay lái vững vàng, mang theo cơ số xăng dầu trên 3.000km, đầy đủ lương thực, thực phẩm nhất là đồ hộp và lương khô, dụng cụ đào bới, cồn 90 độ và bản đồ mộ chí, danh sách liệt sĩ trích ngang.

Toàn đội xuất phát từ chỉ huy sở ở Phú Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17 tháng 3 năm 1976. Về thuận lợi, trước tiên phải nói đồng chí Nguyễn Duy Tân là một cán bộ đã từng chiến đấu, công tác và nhiều lần đã tiễn đưa các liệt sĩ đến an nghỉ nên rất am hiểu và thông thạo các địa danh. Nhưng khó khăn là sau chiến tranh bom mìn còn vương vãi khắp nơi, do thời tiết khắc nghiệt và bom đạn cày xới nhiều lần làm cho cảnh vật biến dạng, không còn nguyên như cũ. Với những chiến sĩ hy sinh đã lâu, các nấm mồ bị mưa gió bào mòn, việc tìm kiếm không phải dễ. Do đó anh em vừa đi, vừa phải dò mìn, đối chiếu bản đồ với thực địa và hỏi thăm đồng bào địa phương, cuối cùng cũng đã đến được những nơi cần đến.

- Ở Mường Noòng, trên đất Lào tìm được 2 hài cốt liệt sĩ.

- Ở Xê Băng Hiêng (Lào) tìm được 5 hài cốt liệt sĩ.

- Trạm B16 tìm được 19 hài cốt liệt sĩ.

- Bản Mèo tìm được 1 hài cốt liệt sĩ.

- Ở Bản Thắm (Hướng Hóa, Quảng Trị) tìm được 20 hài cốt liệt sĩ.

Trong quá trình đào bới để tìm kiếm phần lớn hài cốt của liệt sĩ hầu như nguyên vẹn do lúc chôn cất được bọc túi nilon rất kỹ. Anh em phải rạch mở ra và dùng cồn 90 độ rửa sạch sẽ, lau chùi cẩn thận mới đưa vào túi nilon. Làm việc này đòi hỏi phải có lòng yêu thương vô bờ bến, tính can đảm và tinh thần trách nhiệm cao. Về sinh hoạt vô cùng khó khăn, hơn một tháng toàn ở rừng, khi ngủ phải treo tất cả các bọc hài cốt ở trên cây cao, để ở dưới sợ thú rừng đánh hơi đến tha đi, có nơi gần nhà dân nhưng không dám nhờ vì đồng bào dân tộc họ kiêng kỵ. Ăn uống thì phần nhiều sử dụng đồ hộp và lương khô mang đi, thỉnh thoảng mới đi xa mua được một ít thực phẩm tươi sống và rau xanh thì bữa đó coi như bồi dưỡng để lấy lại sức.

Kết thúc đợt công tác đặc biệt, đơn vị tổ chức buổi lễ truy điệu và bàn giao cho Ban quản lý nghĩa trang Trường Sơn để được thường xuyên chăm sóc và tạo điều kiện cho gia đình người thân, bạn bè, đồng chí, đồng bào đến thăm viếng, để các liệt sĩ được an nghỉ trong lòng đất mẹ, mảnh đất thiêng của Tổ quốc, để được hội tụ trong đoàn quân chiến thắng. Xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh các liệt sĩ, mong các anh, các chị an nghỉ ngàn thu, máu các đồng chí đổ xuống cho nước nhà độc lập thống nhất, đồng bào Nam - Bắc sum họp một nhà và tô thắm lá cờ của Bộ đội Thông tin anh hùng.

Xin biết ơn các ông bố, bà mẹ sinh ra những người con anh dũng kiên cường, đã hiến dâng cuộc đời thanh xuân cho Tổ quốc và ngã xuống một cách vinh quang.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)