Thượng tá Nguyễn Thanh Hải - nguyên cán bộ Phòng KHCN
Binh chủng
“Dự án đường trục thông tin cáp quang quân sự Bắc -
Nam là một dự án lớn, nhiều cơ quan, nhiều đơn vị tham gia. Dự án gồm nhiều
công đoạn khác nhau; thành công của Dự án là thành công chung của Bộ Quốc phòng,
của Binh chủng Thông tin, trong đó có phần đóng góp của đội ngũ cán bộ kỹ thuật
Trung tâm Kỹ thuật Cáp quang của Công ty Điện tử - Viễn thông quân đội chúng tôi.
Trong quá trình triển khai Dự án, tôi được giao làm Trung tâm trưởng. Trung tâm
gồm 40 đồng chí là cán bộ kỹ thuật từ các cơ quan, đơn vị khác nhau trong Binh chủng
Thông tin tập hợp về. Đây là lực lượng chính tham gia lắp đặt thiết bị, thông
tuyến và bảo đảm kỹ thuật giai đoạn đầu. Với tư cách là một cán bộ kỹ thuật và
may mắn được tham gia Dự án từ đầu, tôi xin được báo cáo với Đại hội những khó
khăn mà chúng tôi đã phải cố gắng rất nhiều để vượt qua, chủ yếu là dưới góc độ
của người làm kỹ thuật".
Đó là lời mở đầu bản báo cáo thành tích tại Đại hội
thi đua Quyết thắng toàn quân diễn ra từ ngày 16 đến 18 tháng 10 năm 2000 ở Thủ
đô Hà Nội của Thạc sĩ Nguyễn
Mạnh Hùng - Phó Giám đốc Công ty Điện tử - Viễn thông quân
đội thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc.
Đường trục thông tin Bắc - Nam với dung lượng lớn và công
nghệ hiện đại là mơ ước của những người làm thông tin quân sự qua nhiều thế hệ.
Bởi vì, đó là hạ tầng cơ sở quan trọng nhất của một mạng viễn thông, nó cũng
như quốc lộ 1 - xương sống của mạng lưới giao thông cả nước. Mạng tổng đài điện
thoại, mạng truyền số liệu, mạng di động trung kế vô tuyến và bất kỳ mạng thông
tin nào trên phạm vi toàn quốc đều phải cần đến đường trục Bắc - Nam. Nếu phải
thuê dung lượng là 2 luồng 155Mb/s để đáp ứng một phần nhu cầu thì chi phí ước
tính là 300 tỷ đồng trong 1 năm (bằng tổng vốn đầu tư toàn bộ dự án đường trục
thông tin quân sự). Tuy nhiên, tài chính mới chỉ là một vấn đề, vấn đề quan trọng
hơn là để đảm bảo các yếu tố về an ninh - quốc phòng, đòi hỏi chúng ta cần phải
sở hữu và quản lý toàn bộ mạng truyền dẫn đường trục.
Để xây dựng được một tuyến trục truyền dẫn Bắc - Nam,
phải đầu tư hàng ngàn tỷ đồng, với thời gian triển khai nhiều năm, trong khi điều
kiện ngân sách quốc phòng hạn chế. Đảng ủy và Thủ trưởng Bộ tư lệnh Thông tin
đã đề xuất với Bộ Quốc phòng trình Thủ tướng Chính phủ và Bộ Chính trị phê duyệt
cho sử dụng 2 sợi quang của các ngành Bưu điện và Điện lực. Chúng ta xin được 2
sợi quang là một thuận lợi để mở rộng lượng thông tin trên đường trục quân sự Bắc
- Nam.
Nhưng sau khi đã có 2 sợi quang trong tay, chúng ta đứng
trước một loạt thách thức: cáp quang đi dọc đường Trường Sơn, toàn vùng rừng
núi, địa hình hiểm trở, nhà trạm lại chưa có gì; đội ngũ kỹ thuật lại hoàn chưa
có kinh nghiệm về thiết kế, lắp đặt hệ thống thông tin quang; chỉ với 2 sợi
quang thì khó có thể xây dựng một đường trục có cấu hình 1+1, mà như chúng ta
đã biết, đã là đường trục thì độ tin cậy phải rất cao, phải có dự phòng nóng;
theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng, việc thiết kế, khảo sát và lắp đặt nhất thiết
do người Việt Nam tự thực hiện, không được phép sử dụng chuyên gia nước ngoài.
Đây là một trong những thách thức lớn đối với đội ngũ kỹ thuật Binh chủng. Theo
dự kiến ban đầu, thời gian lắp đặt là 3 tháng, nhưng sau đó, thời gian lắp đặt chỉ
còn 1 tháng. Đối với một dự án tương tự, Bưu điện phải mất tới 6 tháng. Còn đối
tác bán thiết bị thì cũng khẳng định rằng, nếu Binh chủng Thông tin tự làm thì mất
ít nhất 6 tháng. Một thách thức nữa đối với đội ngũ kỹ thuật được tham gia dự
án là phải lắp đặt thiết bị truyền dẫn quang có công nghệ đồng bộ (SDH) là công
nghệ hiện đại nhất hiện nay; đặc biệt là công nghệ ghép bước sóng, thu phát
trên cùng một sợi dây quang được sử dụng tại Việt Nam lần đầu tiên.
Điều kiện lắp đặt rất khó khăn, đa số các trạm nằm ở khu
vực rừng núi, đi lại vận chuyển khó khăn. Có những trạm phải vận chuyển hàng chục
tấn hàng bằng xe bò, xe trâu qua 3km đường núi, với hàng chục chiếc xe trâu
thuê của dân, mỗi xe chở 2 bình ắcquy, mỗi bình 68kg chứa đầy dung dịch axít,
mà số lượng bình ắcquy cho một trạm là 48 bình. Còn đối với trạm nằm sâu trong
rừng Trường Sơn, anh em kỹ thuật phải đi hàng trăm kilômét với tốc độ xe nhiều
đoạn chỉ đạt khoảng 5-10km/giờ, cứ có mưa là đường bị đất, đá từ sườn núi đổ xuống
làm tắc, có khi còn nguy hiểm đến tính mạng. Trong thời gian lắp đặt, nhiều cơn
bão lớn và mưa lũ xảy ra, gây rất nhiều khó khăn cho việc vận chuyển thiết bị tới
chân công trình.
Mặc dù khó khăn và nhiều thách thức, nhưng những cán bộ
và nhân viên kỹ thuật của Công ty Điện tử - Viễn thông quân đội vẫn triển khai
công trình thành công đúng thời hạn. Ngày 6 tháng 1 năm 1999, đường trục thông
tin quân sự Bắc - Nam đã thông từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Các cuộc
đàm thoại đường dài thực hiện trên tuyến cáp quang quân sự đạt chất lượng cao.
Tiếp đó, Bộ tư lệnh Thông tin đã triển khai cáp quang đến Sở chỉ huy Bộ Quốc
phòng, để ngày 16 tháng 1 năm 1999 thực hiện báo cáo thông tuyến kỹ thuật bằng
cầu truyền hình giữa Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh với các thủ trưởng Bộ. Qua
cầu truyền hình trực tiếp, Tư lệnh Binh chủng Thông tin đã báo cáo với lãnh đạo,
chỉ huy Bộ về quá trình xây dựng lắp đặt tuyến đường trục cáp quang quân sự Bắc
- Nam và buổi truyền hình trực tiếp đã diễn ra thông suốt. Ngày 16 tháng 1
năm 1999 đã đi vào lịch sử Bộ đội Thông tin liên lạc trong thời kỳ từng bước hiện
đại hoá ngành Thông tin Quân sự như một mốc son.
Tính đến tháng 10 năm 2000, Công ty Điện tử - Viễn thông
quân đội đã lắp xong các trạm cáp quang, hệ thống đã đi vào hoạt động ổn định.
Việc lựa chọn công nghệ và giải pháp ghép bước sóng thu phát trên một sợi quang
để có cấu hình dự phòng 1+1 cả về sợi quang và thiết bị là hoàn toàn đúng đắn.
Gần 2 năm khai thác và sử dụng, đường trục luôn luôn đảm bảo thông tin liên lạc
thông suốt. Theo đánh giá của các chuyên gia thì chất lượng đường truyền và mọi
chỉ tiêu kỹ thuật của tuyến đều đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Về giá trị kinh tế của đường trục là rất lớn. Nếu như trước
đây, Binh chủng chỉ có đủ kinh phí để thuê 50 kênh với chi phí khoảng 500 triệu
đồng/tháng, thì nay Binh chủng đã cắt hết các đường thuê của Bưu điện và đã cấp
gần 900 kênh trên đường trục. Nếu thuê 900 kênh này của Bưu điện thì chúng ta sẽ
phải trả khoảng 9 tỷ đồng/tháng, tức là trên 100 tỷ đồng/năm. Nhưng điều quan
trọng hơn là từ nay, dựa trên đường trục Binh chủng Thông tin liên lạc có thể
tiếp tục mở rộng mạng tổng đài, xây dựng mạng truyền số liệu và các mạng khác
chủ động bảo đảm kỹ thuật và bảo mật. Đường trục là cơ sở hạ tầng để thực hiện truyền
hình, truyền ảnh đáp ứng yêu cầu tự động hoá chỉ huy, quản lý, điều hành của Bộ
Quốc phòng đến các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng và các đơn vị vùng trọng
điểm.
Đường trục thông tin quân sự đã trở thành một bộ phận
quan trọng của hệ thống đường trục Quốc gia. Đường trục quân sự đã tham gia bổ
sung, vu hồi và làm tăng độ tin cậy các hệ thống thông tin của các bộ, ngành
khác như Công an, Hàng hải, Đường sắt và Bưu điện. Ngoài sự trưởng thành về mạng
lưới, chúng ta có được thành công lớn nhất là sự trưởng thành về con người, về
đội ngũ kỹ thuật thông tin quân đội.
Kinh nghiệm rất sâu sắc mà thạc sĩ Nguyễn Mạnh Hùng
rút ra sau khi hoàn thành Dự án là: càng khó khăn thì càng có nhiều sáng tạo.
Khó khăn là chất kích thích tốt nhất cho tư duy sáng tạo. Và bất kỳ khó khăn
nào cũng có lối thoát của nó. Vấn đề là chúng ta phải kiên trì tư duy, mạnh dạn,
dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Khi được giao nhiệm vụ thực hiện dự
án có kèm theo một yêu cầu là người nước ngoài không được tham gia vào thiết kế
mạng, lắp đặt thiết bị. Thực ra, đây là một yêu cầu quá sức nhưng là yêu cầu bắt
buộc nên đội ngũ cán bộ kỹ thuật do anh Hùng dẫn dắt không có lý do nào khác là
phải quyết tâm làm; phải tự học, tự tìm tài liệu để nghiên cứu và thông qua các
hồ sơ dự thầu để có thông tin. Chính vì yêu cầu khắt khe đó của Bộ Quốc phòng
mà đến nay Binh chủng đã có được một đội ngũ kỹ thuật có thể đạt mức chuyên
gia.
Anh Hùng tâm sự: "Đội ngũ kỹ thuật của chúng
ta rất có năng lực. Nhưng do điều kiện tiếp cận thông tin chưa nhiều, do vấn đề
đào tạo và tự đào tạo chưa tốt nên chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhưng nếu có công
việc cụ thể, nếu được tin tưởng giao việc, có điều kiện tiếp xúc thông tin, được
tạo điều kiện học tập và có ý thức giúp đỡ lẫn nhau, người biết hướng dẫn người
chưa biết, người đi trước chỉ dẫn người đi sau thì các cán bộ kỹ thuật sẽ trưởng
thành nhanh chóng. Dự án cáp quang là một thí dụ: khi mới tập trung về Trung
tâm Kỹ thuật Cáp quang có đến 80% các đồng chí chưa có kiến thức gì về truyền dẫn
quang; nhiều năm chưa được tiếp xúc, cập nhật thông tin mới. Nhưng khi về Trung
tâm, công việc nhiều, được tổ chức tin cẩn, có sự hướng dẫn của các đồng chí đi
trước, được mạnh dạn giao việc, đa số các đồng chí đó đã trưởng thành và hiện nay
đang là các cán bộ chủ chốt của hệ thống truyền dẫn quang và đủ năng lực sẵn
sàng tham gia các dự án khác. Đến nay, đội ngũ cán bộ kỹ thuật đã làm chủ được
kỹ thuật truyền dẫn quang, khai thác và xử lý sự cố bảo đảm đường trục thông suốt".
Sau khi thực hiện Dự án, vị thế của thông tin quân sự đã
được cải thiện đáng kể trong sự trưởng thành chung của mạng lưới thông tin quốc
gia, nhất là trong xu thế hội nhập của các ngành viễn thông, tin học và phát
thanh truyền hình, nhằm tiến tới một xã hội thông tin trong thiên niên kỷ mới.
Và chúng ta cũng hoàn toàn tin tưởng vào tài năng của đội ngũ cán bộ kỹ thuật của
Binh chủng trong đó có thạc sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, người đã đạt danh hiệu Chiến
sĩ thi đua toàn quân năm 2000. Hiện nay Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng đang là Phó Tổng
Giám đốc Tập đoàn Viễn thông quân đội - Viettel.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)
0 comments:
Đăng nhận xét