12.6.25

Về thăm Ba Vì (cao điểm X72)

Hoàng Đình Văn - Đại đội 15 Tiểu đoàn 4 Tiếp sức

Đồng đội về thăm lại điểm cao

Vui sao nước mắt lại dâng trào

Năm mươi năm rồi! Sao nhanh quá

Cùng nhau ôn lại những năm nào...

Ba Vì dốc đứng rừng rậm rạp

Thú, sét, vắt nhiều dạ chẳng nao

Tay dìu đồng đội, vai gùi máy

Dắt díu cùng nhau lên điểm cao

Bát nước chia đều cùng rửa mặt

Cùng nhau hút chung điếu thuốc lào

Đời lính tiếp sức gian nan thế

Nhiệm vụ hoàn thành chất lượng cao.

Tháng 6-2007

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Một nhà giáo ưu tú

Lê Văn Chung

Sáu mươi tuổi đời, 42 tuổi quân, hơn ba mươi năm gắn bó với các nhà trường quân đội, Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ (PGS, TS) Nguyễn Chính Trung, Chủ nhiệm Khoa Thông tin - Điện tử (nay là Khoa Binh chủng), Học viện Quân sự Cấp cao đã nêu một tấm gương sáng về lòng kiên trì say mê trong học tập và giảng dạy.

Với trình độ văn hóa lớp 7 trước khi xa quê hương Trường Yên, Chương Mỹ, Hà Tây, bằng sự phấn đấu học tập không mệt mỏi, đến nay anh đã có học vị Tiến sĩ và là Phó Giáo sư.

Năm 1950 anh nhập ngũ, sau thời gian huấn luyện chiến sĩ, anh được đi học Trường Sĩ quan Lục quân, chuyên ngành Thông tin.

Tốt nghiệp Lục quân, anh về tham gia Chiến dịch Thượng Lào, rồi đánh đồn Him Lam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sau hòa bình, anh Trung về làm giáo viên Thông tin tại Trường Sĩ quan Lục quân. Với lòng ham học cầu tiến bộ, sau mỗi ngày lên lớp căng thẳng anh "đánh trận với những bài toán, bài văn, bài vật lý - không bao lâu, anh đã thi tốt nghiệp chương trình văn hóa cấp 3. Đồng chí Chính ủy Nhà trường lúc đó phát hiện được sự ham học của anh đã gửi anh đi học Khoa Vô tuyến, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội vào loại giỏi, Nhà trường có ý định giữ anh lại làm cán bộ giảng dạy, nhưng anh vẫn tiếp tục trở về công tác trong quân đội. Anh làm giáo viên rồi Trưởng bộ môn Vô tuyến điện Trường Sĩ quan Thông tin, sau đó "đi B". Ở hoàn cảnh môi trường sống chết chỉ trong khoảnh khắc nhưng anh vẫn tranh thủ lúc rảnh rỗi giữa hai mùa chiến dịch, hai mùa mưa nắng để học tập, tự đặt chương trình nghiên cứu. Quá trình tham gia Chiến dịch Tây Nguyên - Chiến dịch Hồ Chí Minh cũng như sau này tham gia chiến đấu ở Mặt trận Vị Xuyên với tư cách là Phó Chủ nhiệm Thông tin Quân khu, anh đã tích cực vận dụng những kiến thức lý thuyết vào trong thực tế chiến đấu. Đồng thời cũng từ thực tế rút ra những vấn đề cần đi sâu nghiên cứu, hoàn thiện. Anh tâm sự: "Học trong sách vở, học ở nhà trường và học ở chiến trường là sợi chỉ đỏ xuyên suốt phương châm học tập của tôi".

Trở về làm giáo viên ở Học viện Quân sự Cấp cao, anh bắt tay vào nghiên cứu đề tài: "Tính toán chiến dịch của Bộ đội Thông tin". Và một thời cơ đã đến với anh, anh được trên gửi đi thực tập sinh tại Viện Tự động hóa chỉ huy (IMAT) của một nước bạn.

Tại đây anh cùng các chuyên gia của bạn đi sâu vào nghiên cứu đề tài: "Tính toán phân bổ tần số tối ưu cho hệ thống vô tuyến toàn quân". Viện IMAT đã đánh giá công trình đạt mức xuất sắc. Về nước anh theo học bổ túc tại Học viện Quân sự Cấp cao và đã hoàn thành khóa học vào loại xuất sắc.

Tháng 9 năm 1987 Học viện tạo điều kiện để anh tập trung hoàn thiện các đề tài và bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ trong nước. Lúc này anh có 3 đề tài cùng có thể bảo vệ học vị Phó Tiến sĩ, nhưng vốn là người say mê với nghề dạy học, anh đã chọn đề tài thứ 3 mặc dù đề tài này anh mới bắt tay vào nghiên cứu, còn 2 đề tài trên cơ bản đã hoàn thành.

Tháng 3 năm 1988 anh bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ "Dùng phương pháp sơ đồ hóa (grap) lập trình tối ưu và dạy học môn thông tin chiến dịch" và công trình được chọn báo cáo tại Hội nghị khoa học giáo dục toàn quốc.

Trong học tập, nghiên cứu anh say mê bao nhiêu thì với cương vị là một nhà giáo anh cũng say mê nhiệt tình bấy nhiêu. Hơn 30 năm đứng trên bục giảng, dù là giáo viên ở các trường sĩ quan hay cán bộ giảng dạy ở Học viện Quân sự Cấp cao, anh luôn luôn suy nghĩ, trăn trở, nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy sao cho học viên chóng hiểu, dễ nhớ, truyền cho họ niềm say mê trong học tập và nghiên cứu.

Anh đã có đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo, xây dựng hệ thống tài liệu giảng dạy về kỹ thuật, chiến thuật thông tin điện tử, để huấn luyện cho cán bộ chỉ huy binh chủng hợp thành ở Học viện Quân sự Cấp cao và cho cán bộ Binh chủng Thông tin trong toàn quân.

Anh luôn quan tâm bồi dưỡng đồng nghiệp về nội dung phương pháp dạy học và phương pháp nghiên cứu khoa học. Với cương vị là Phó rồi Chủ nhiệm Khoa Thông tin Điện tử, với đức tính khiêm tốn, giản dị, đoàn kết gắn bó với đồng nghiệp anh đã góp phần xây dựng Khoa 6 năm liền là đơn vị quyết thắng; bản thân anh nhiều năm được bầu là Chiến sĩ quyết thắng, Chiến sĩ thi đua.

Hiện nay cùng với các đồng chí cán bộ, giáo viên chủ chốt của Học viện, anh tham gia giảng dạy cho lớp đào tạo cao hơn và hướng dẫn trực tiếp ba nghiên cứu sinh làm luận án Phó Tiến sĩ.

Nếu như trong lĩnh vực học tập anh luôn đạt kết quả xuất sắc thì trong lĩnh vực dạy học anh cũng luôn được công nhận là giáo viên dạy giỏi. Chỉ riêng thời gian ở Học viện Quân sự Cấp cao anh đã bốn lần được công nhận là giáo viên dạy giỏi.

Ghi nhận phẩm chất, tài năng, công lao học tập, rèn luyện và đóng góp của anh trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, anh đã được Nhà nước phong hàm Phó Giáo sư và danh hiệu Nhà giáo ưu tú.

Đại tá Nguyễn Chính Trung đã nêu một tấm gương sáng về một nhà giáo quân đội.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

11.6.25

Một thoáng Trường K

Trần Ngọc Duyện

Nhớ về một thoáng Trường K

Một thời gắn bó đã xa lâu rồi

Biết bao kỷ niệm buồn, vui

Gặp nhau gợi lại, rộn lời hân hoan

Sa La Vị Thi Dụ Tec Tôông1

Công trình hữu nghị vang danh một thời2

Giúp bạn, ấy việc mình thôi

Nghĩa tình quốc tế vẳng lời "O-rơ-cun”3

Kỷ niệm họp mặt bạn chiến đấu Trường K

Ngày 30-4-2011

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

------------------------------------

1 Tiếng Campuchia: Trường Thông tin.

2 Khối học viên Trường K tham gia duyệt binh kỷ niệm 1 năm ngày chiến thắng (07/01/1979 – 07/01/1980) được xếp là 1 trong 2 khối đẹp nhất của quân đội Hoàng gia Campuchia. Trong hội nghị công tác giúp bạn vào cuối năm 1980 do Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, Trường K được tới dự và báo cáo điển hình.

3 Tiếng Campuchia: Cảm ơn. 

Trường Thông tin K

Đại tá Trần Ngọc Duyện - nguyên Hiệu trưởng kiêm Chính ủy Trường Thông tin K

Giữa năm 1979, tôi và một số đồng chí nhận được lệnh sang Campuchia giúp bạn thành lập trường thông tin với chức năng đào tạo báo vụ và nhân viên kỹ thuật sơ cấp vô tuyến điện, hữu tuyến điện, nguồn điện... cho quân đội bạn.

Thời kỳ này cách mạng Campuchia vừa mới thành công, chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xa-ri vừa bị lật đổ, đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn, tình hình trật tự và an ninh xã hội rất phức tạp.

Danh nghĩa là sang giúp bạn, nhưng vì bạn còn thiếu cán bộ nên ban đầu chúng tôi phải đảm đương mọi việc từ A đến Z. Bắt đầu từ khâu chọn lựa địa điểm để đặt trường, lo chuẩn bị trang thiết bị dạy và học, tuyển sinh, lãnh đạo quản lý học viên cho đến việc chăm lo đời sống tinh thần, vật chất cho học viên. Nói chung là tất tần tật chúng tôi đều phải lo.

Về phía bạn, các đồng chí lãnh đạo Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu, Cục Thông tin rất quan tâm đến công tác xây dựng và đào tạo; thường xuyên đến thăm trường. Nhưng về việc lãnh đạo, chỉ đạo công việc đối với Nhà trường, chúng tôi vẫn phải trực tiếp quan hệ với Tiền phương Bộ tư lệnh Thông tin và Đoàn Chuyên gia 478 của Bộ Quốc phòng Việt Nam1.

Trong thực tế, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ rất vất vả, khác hẳn với ở trong nước. Nhưng nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát và chặt chẽ của cấp trên, sự cộng tác tin cậy, chân thành của bạn, sự đoàn kết phấn đấu hết mình của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, học viên Nhà trường nên chỉ sau 3 tháng chuẩn bị, vào đầu tháng 10 năm 1979, Nhà trường đã tổ chức được lễ khánh thành và khai giảng khoá học đầu tiên một cách trọng thể2 trong niềm hân hoan chung của cả ta và bạn. Khóa học này có 5 lớp: 2 lớp báo vụ, 3 lớp sơ cấp vô tuyến điện, hữu tuyến điện và nguồn điện. Việc dạy và học đều phải qua phiên dịch. Trình độ học vấn của học viên phần lớn đều là cấp I. Do vậy, công tác huấn luyện vừa làm vừa phải rút kinh nghiệm; vướng đâu, gỡ đấy. Do có sự cố gắng và quyết tâm chung của cả thầy lẫn trò, lý thuyết kết hợp chặt chẽ với thực hành mà đặc biệt là thực hành, nên cuối cùng khoá học được kết thúc đúng thời gian quy định, đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra. 100% học viên tốt nghiệp, một số đạt loại giỏi được giữ lại đưa vào biên chế khung của Nhà trường để làm trợ giáo cho các khoá tiếp theo. Số còn lại được phân phối ngay về các đơn vị. Số đông học viên sau khi tốt nghiệp được phân công về Tiểu đoàn 2 Thông tin Tổng trạm Bộ Quốc phòng bạn. Sau khoá học đó, tôi được điều về Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc nhận nhiệm vụ mới vào cuối năm 1980.

Sau khi Liên Xô tan rã, vào đầu những năm 90, lưu học sinh của ta lần lượt trở về nước, trong đó có đồng chí Vũ Anh Văn (nay là Tư lệnh Binh chủng). Qua đồng chí Văn, tôi nhận được phong thư tay và một gói quà nhỏ, nói là của Nghét Tha Va Ry gửi. Nghét Tha Va Ry là một sĩ quan quân đội Campuchia, cũng là lưu học sinh tại Nga về nước và trước đây là học viên khoá I của Trường K, tốt nghiệp loại xuất sắc có đạo đức tốt đã được chọn giữ lại khung Nhà trường. Mừng quá, tôi mở thư ra xem. Đây là một lá thư viết bằng tiếng Việt rất cẩn thận. Nghét Tha Va Ry gửi lời chào và hỏi thăm sức khoẻ của tôi cùng một số anh chị em cán bộ, chiến sĩ Việt Nam Trường K trước đây nay đã về nước công tác. Nghét Tha Va Ry nhắc lại nhiều kỷ niệm cũ và thông báo cho tôi biết sự trưởng thành tiến bộ của bản thân cũng như một so bạn bè nguyên là học viên khoá I mà khi đó tôi là Chính ủy kiêm Hiệu trưởng Nhà trường. Cuối cùng là những lời cảm ơn thắm thiết về sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Campuchia và bản thân Nghét Tha Va Ry. Vào giữa năm 2011, nhân buổi gặp mặt truyền thống của một số anh em cựu chiến binh thông tin đã có thời gian công tác tại Trường Thông tin K trước đây, tôi có thông báo cho anh em biết về lá thư trên. Mọi người vỗ tay nhiệt liệt. Nhiều người nói, bức thư thể hiện đúng bản chất của người viết vì Nghét Tha Va Ry là một người sống rất tình cảm, rất gắn bó với cán bộ và chiến sĩ Việt Nam. Anh em còn cho biết: học viên của Trường K sau đào tạo đều tiến bộ, trưởng thành rất nhanh, nhiều người hiện đã là cán bộ trung, cao cấp trong quân đội Hoàng gia Campuchia. Sau khi quân đội Việt Nam rút về nước, Nhà trường đã bàn giao cho bạn quản lý và nay vẫn đang là cơ sở đào tạo cán bộ và nhân viên kỹ thuật thông tin cho quân đội bạn.

Mối quan hệ đoàn kết chiến đấu để giành độc lập, tự do, chống kẻ thù chung giữa các nước anh em Việt Nam - Lào - Campuchia là mối quan hệ hiếm có, đôi khi nó còn vượt ra khỏi các khuôn khổ, thông lệ thông thường. Việc xây dựng, điều hành Trường K một thời là một trong những dẫn chứng cụ thể nói lên tính chất đặc biệt ấy.

Nội dung bài viết này bắt nguồn từ ký ức của bản thân tôi cùng một số anh chị em, kể cả Việt Nam và Campuchia có thời gian đã cùng sống và làm việc tại Trường K góp nhặt lại.

Đây là một ký ức đối với một sự việc đặc biệt, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong quan hệ quốc tế giữa bộ đội thông tin ta, quân đội ta và bộ đội thông tin, quân đội Campuchia anh em. Một sự việc đã được lịch sử ghi nhận.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

--------------------------------------

1 Phía Việt Nam có trao đổi với bạn: "Làm như thế này sợ có sai với mối quan hệ hai bên không?". Bạn nói: "Không sao, chúng tôi hoàn toàn tin tưởng các đồng chí và nhờ các đồng chí làm giúp kia mà! Có gì, sau này chúng tôi trưởng thành lên hãy hay!".

2 Buổi lễ do đồng chí Men Som On, Chánh Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu Campuchia (nay là Phó Thủ tướng thường trực thứ nhất của Chính phủ Hoàng gia Campuchia làm Trưởng ban tổ chức. Tới dự có đồng chí Sai Bu Thoong - Ủy viên Bộ Chính trị, đồng chí Bu Thoong - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, các đồng chí thủ trưởng các tổng cục của Bộ Quốc phòng Campuchia, đồng chí Đỗ Trọng Hợp cùng các đồng chí đại diện cho các cơ quan Đoàn Chuyên gia 478, đại diện các nhà trường quân sự của bạn, đại diện của Chỉ huy Tiền phương Bộ tư lệnh Thông tin... tới dự. 

10.6.25

Trường ta

Nguyễn Trọng Khoát

Tháng ba sáu bảy lập trường ta

Hà Bắc nhờ dân ấm mái nhà

Thầy giảng mê say giờ chẳng nghỉ

Trò ngoan mải miết buổi thêm ca

Học viên - phục vụ tình san sẻ

Cán bộ - anh em nghĩa vị tha

Tung cánh ra trường đi mọi nẻo

Xa rồi nhớ mãi chẳng hề xa.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

Chuyện đầu ra của Trường Kỹ thuật

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát

Đầu ra với bất kỳ một trường học, mỗi trung tâm đào tạo nào cũng là vấn đề then chốt, rất quan trọng, vì nó quyết định phương hướng, nội dung, thời gian, phương pháp đào tạo.

Đầu ra của Trường Trung cấp Thông tin do Đảng ủy và Thủ trưởng Bộ tư lệnh quyết định. Nhà trường tổ chức triển khai thực hiện.

Tôi là cán bộ phục vụ Binh chủng 40 năm, trong đó 22 năm là cán bộ trường, từ Trưởng bộ môn tới Hiệu trưởng nên nhiều lần tham gia bàn về đầu ra.

1. Đầu ra của Trường được Binh chủng xác định có điểm là cán bộ trung cấp kỹ thuật thông tin phục vụ lâu dài trong quân đội. Như vậy về mặt chiến lược, Binh chủng đã xác định vị trí người cán bộ trung cấp kỹ thuật trong lực lượng vũ trang ta. Dù chiến tranh hiện đại như thế nào (kể cả chiến tranh nguyên tử hay bấm nút)  cũng cần có cán bộ kỹ thuật tay nghề tốt. Trong kháng chiến vừa qua, do phải sẵn sàng chiến đấu, phải tích luỹ kinh nghiệm nên cán bộ kỹ thuật phải phục vụ lâu dài. Từ đó trong nội dung, phương pháp huấn luyện của Trường phải bồi dưỡng cho học viên yên tâm, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ lâu dài trong quân đội. Tất nhiên "phục vụ lâu dài trong quân đội" cũng có khái niệm thời gian của nó như hiện nay Bộ Quốc phòng đã xác định thời gian phục vụ cho quân nhân chuyên nghiệp.

Một hôm đồng chí cố vấn của Binh chủng xuống làm việc với Trường, sau khi Ban giám hiệu báo cáo, đồng chí đó hỏi:

- Học viên ra trường có giấy chứng nhận tốt nghiệp không?

Tôi đưa tấm bằng của Nhà trường để đồng chí đó xem. Đồng chí đó cầm tấm bằng nhìn hồi lâu hỏi:

- Các đồng chí có liên hệ gì với Bộ Giáo dục không?

- Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin là một trong 4 trường trung cấp mà Bộ Quốc phòng quản lý được Bộ Giáo dục công nhận là trường trung cấp chuyên nghiệp cấp Nhà nước.

- Nếu vậy nên đề nghị Binh chủng liên hệ nhận lấy bằng Trung cấp của Bộ Giáo dục cấp cho anh em, sẽ tốt hơn.

Tôi thấy ý kiến đó rất hay. Sau này được Binh chủng cho phép bằng tốt nghiệp của Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin đều do Bộ Giáo dục cấp. Học viên ra trường phấn khởi, liên hệ công tác thuận tiện hơn.

Cũng từ đó mặc dù đã xác định là phục vụ lâu dài trong quân đội nhưng Nhà trường đã đưa dần những kiến thức về quản lý kinh tế để học viên ra trường phục vụ sát thực tế đất nước.

2. Ra trường công tác được ngay. Các ngành kỹ thuật bắt buộc học viên sau khi ra trường phải có thời gian thực tập, mục đích để quen với thực tế. Những năm kháng chiến yêu cầu chiến trường khẩn trương nên tổ chức cho học viên đi thực tập là điều rất khó khăn. Để học viên ra trường công tác được ngay, Nhà trường phải cân đối giữa lý thuyết và thực hành, coi trọng lý thuyết lấy thực hành làm chính nhưng vẫn phải đảm bảo về tính cơ bản trong kiến thức của học viên. Vì vậy các môn kỹ thuật cố gắng 40% lý thuyết, 60% thực hành. Trong thực hành bảo đảm từ cơ sở đến thực hành sửa chữa máy để tay nghề của học viên từng bước được nâng lên.

Trong sửa chữa máy, lý thuyết chỉ đạo thực hành tức là từ phân tích trên lý thuyết mới bắt tay vào đo thử, tháo lắp, hàn nối mạch. Sau này khái niệm sửa chữa theo "Ăng-gô-rít", sửa theo các bước định sẵn, được đưa vào. Lúc đầu có người cho đó là sửa chữa của thợ sơ cấp, không có lý thuyết. Nhưng khi tiếp xúc với các máy sản xuất hiện nay thì thấy sửa chữa theo "Ăng-gô-rít" được nhanh, chính xác hơn. Tất nhiên có được giáo án sửa theo "Ăng-gô-rít" thì chuẩn bị của giáo viên phải mất nhiều thời gian suy nghĩ và chuẩn bị hơn.

Tôi xa trường, xa đơn vị 20 năm nay, tuổi cao, trí nhớ kém, những điều viết ra trên chỉ là chuyện cũ nhắc lại. Thực tế ngày nay khác rất xa.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Hà Bắc tôi yêu

Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Kỹ thuật Thông tin

Nơi sinh Hà Bắc huyện Hiệp Hòa

Danh thắng là tên xã, chẳng xa

Ngõ nhỏ nhà tranh tâm rộng mở

Chở che êm ấm mái trường ta.

 

Tay em cay đóng đã phồng da

Vai vác tre xanh dựng nếp nhà

Sông Cầu lơ đãng đôi bờ chảy

Mùa lụt, hộ đê có chúng ta.

 

Lớp học đầu tiên chẳng có bàn

Mỏ hàn lấy củi đốt thay than

Lèm nhèm con mắt khi dò mạch

Vẫn gắng tìm ra hết mọi "pan".

 

Ba lô cay đất tập hành quân

Chặng cuối Lục Nam chẳng phải gần

Tiền tuyến khi cần luôn có mặt

Tay nghề đã chắc quyết vì dân.

 

Đã tiễn bao em tới chiến trường

Vượt qua gian khổ với buồn thương

Mái trường xưa đã không còn nữa

Hà Bắc, hồn tôi mãi vấn vương.

24-3-2003

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

9.6.25

Kỷ niệm về Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Đại tá Nguyễn Tất Thắng

Ai đã là quân nhân đều lấy đơn vị là nhà, coi đồng đội là anh em ruột thịt.

Gặp khi máu lửa, gian nan, sẵn sàng xả thân chia sẻ. Lập được chiến công cùng hân hoan đón nhận. Vui có nhau, buồn cũng không thể thiếu nhau. Do vậy, sống bên nhau càng lâu, kỷ niệm về nhau càng đầy ắp.

Trong cuộc đời một quân nhân, thường đi qua nhiều đơn vị. Đơn vị nào cũng quý, cũng yêu, cũng nhớ. Nhưng có lẽ đơn vị cuối cùng trước khi rời quân ngũ là đơn vị lại nhiều nhớ nhung, nhiều ấn tượng nhất trong lòng mỗi người.

Đơn vị cũ lớn mạnh, trường tồn cùng sự nghiệp giữ nước, lòng người cựu chiến binh tự hào lắm, phấn khởi lắm.

Gặp khi đơn vị cũ không còn tên trên bản đồ Quốc phòng nữa, thì nỗi buồn của họ không tả được.

Rồi nữa! Khi đơn vị cũ không còn tên ấy, lại được tái thành lập, thì niềm vui của những người cựu chiến binh ở đơn vị ấy, càng khó có thể tả được bằng lời.

Bốn mươi năm tuổi quân của tôi, Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin là đơn vị cuối cùng. Nhiều đồng chí cũng có chung đặc điểm ấy.

Hôm nay, Trường chúng ta được tái lập sau 10 năm sáp nhập! Nguyên là cán bộ, giáo viên, học viên, công nhân viên, chiến sĩ của trường, người có mặt, người vắng mặt được tin này, chúng tôi đều sung sướng, chúc mừng nhau, chúc mừng Trường, tay bắt mặt mừng, chạm cốc cười vang như pháo nổ.

Chúng ta đều nhớ rất kỹ Quyết định thành lập Trường Kỹ thuật Thông tin ngày ấy: ngày 24 tháng 3 năm 1967 là do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương - Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký, mang số Quyết định 020/QĐQP lịch sử!

Tự hào thay bề dày truyền thống vẻ vang của Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin chúng ta!

Chúc nhà trường lớn mạnh không ngừng! Trường là niềm tự hào của mỗi cán bộ, giáo viên, học viên, công nhân viên chúng tôi, một thời đã từng sống, cống hiến và trưởng thành dưới mái trường thân yêu ấy.

Do vậy, chúng tôi không bao giờ quên Nhà trường, và chắc chắn Nhà trường - Hội truyền thống của Trường cũng luôn nhớ đến chúng tôi!

Sơn Tây, 16-6-2009

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Quy tập hài cốt liệt sĩ

Đại tá Đỗ Minh Đính

Sau ngày giải phóng miền Nam, cùng với nhiệm vụ tiếp quản, quản lý, khai thác Hệ thống viễn thông liên kết của Mỹ - ngụy để lại, Đảng ủy - Thủ trưởng Trung đoàn 596 quyết định tổ chức một bộ phận do đồng chí Nguyễn Duy Tân - Chính trị viên Tiểu đoàn 36 chỉ huy cùng đồng chí Ly và 12 chiến sĩ đi quy tập số liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trên tuyến đường Trường Sơn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Đây là nhiệm vụ đặc biệt có ý nghĩa rất quan trọng và kịp thời thể hiện sự tri ân của những người còn sống với đồng chí, đồng đội đã ngã xuống vì Tổ quốc, nếu không làm ngay để lâu thì sự thay đổi về nhân sự cán bộ và những biến đổi địa hình, địa vật thì việc quy tập hài cốt sẽ vô cùng khó khăn.

Bộ phận này được trang bị 2 xe đại xa 3 cầu, có thể vượt qua những đoạn đường lầy lội, núi rừng hiểm trở, mỗi xe có 2 tay lái vững vàng, mang theo cơ số xăng dầu trên 3.000km, đầy đủ lương thực, thực phẩm nhất là đồ hộp và lương khô, dụng cụ đào bới, cồn 90 độ và bản đồ mộ chí, danh sách liệt sĩ trích ngang.

Toàn đội xuất phát từ chỉ huy sở ở Phú Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17 tháng 3 năm 1976. Về thuận lợi, trước tiên phải nói đồng chí Nguyễn Duy Tân là một cán bộ đã từng chiến đấu, công tác và nhiều lần đã tiễn đưa các liệt sĩ đến an nghỉ nên rất am hiểu và thông thạo các địa danh. Nhưng khó khăn là sau chiến tranh bom mìn còn vương vãi khắp nơi, do thời tiết khắc nghiệt và bom đạn cày xới nhiều lần làm cho cảnh vật biến dạng, không còn nguyên như cũ. Với những chiến sĩ hy sinh đã lâu, các nấm mồ bị mưa gió bào mòn, việc tìm kiếm không phải dễ. Do đó anh em vừa đi, vừa phải dò mìn, đối chiếu bản đồ với thực địa và hỏi thăm đồng bào địa phương, cuối cùng cũng đã đến được những nơi cần đến.

- Ở Mường Noòng, trên đất Lào tìm được 2 hài cốt liệt sĩ.

- Ở Xê Băng Hiêng (Lào) tìm được 5 hài cốt liệt sĩ.

- Trạm B16 tìm được 19 hài cốt liệt sĩ.

- Bản Mèo tìm được 1 hài cốt liệt sĩ.

- Ở Bản Thắm (Hướng Hóa, Quảng Trị) tìm được 20 hài cốt liệt sĩ.

Trong quá trình đào bới để tìm kiếm phần lớn hài cốt của liệt sĩ hầu như nguyên vẹn do lúc chôn cất được bọc túi nilon rất kỹ. Anh em phải rạch mở ra và dùng cồn 90 độ rửa sạch sẽ, lau chùi cẩn thận mới đưa vào túi nilon. Làm việc này đòi hỏi phải có lòng yêu thương vô bờ bến, tính can đảm và tinh thần trách nhiệm cao. Về sinh hoạt vô cùng khó khăn, hơn một tháng toàn ở rừng, khi ngủ phải treo tất cả các bọc hài cốt ở trên cây cao, để ở dưới sợ thú rừng đánh hơi đến tha đi, có nơi gần nhà dân nhưng không dám nhờ vì đồng bào dân tộc họ kiêng kỵ. Ăn uống thì phần nhiều sử dụng đồ hộp và lương khô mang đi, thỉnh thoảng mới đi xa mua được một ít thực phẩm tươi sống và rau xanh thì bữa đó coi như bồi dưỡng để lấy lại sức.

Kết thúc đợt công tác đặc biệt, đơn vị tổ chức buổi lễ truy điệu và bàn giao cho Ban quản lý nghĩa trang Trường Sơn để được thường xuyên chăm sóc và tạo điều kiện cho gia đình người thân, bạn bè, đồng chí, đồng bào đến thăm viếng, để các liệt sĩ được an nghỉ trong lòng đất mẹ, mảnh đất thiêng của Tổ quốc, để được hội tụ trong đoàn quân chiến thắng. Xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh các liệt sĩ, mong các anh, các chị an nghỉ ngàn thu, máu các đồng chí đổ xuống cho nước nhà độc lập thống nhất, đồng bào Nam - Bắc sum họp một nhà và tô thắm lá cờ của Bộ đội Thông tin anh hùng.

Xin biết ơn các ông bố, bà mẹ sinh ra những người con anh dũng kiên cường, đã hiến dâng cuộc đời thanh xuân cho Tổ quốc và ngã xuống một cách vinh quang.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

5.6.25

Dự kiến danh sách mừng thọ hội viên các chi hội năm 2025

Trên cơ sở đề nghị hội viên mừng thọ năm 2025 của các chi hội, trong thời gian qua Thường trực Ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội đã phối hợp với các chi hội rà soát các đ/c đến tuổi mừng thọ năm 2025 (70, 75, 80, 85, 90, 95 và 100 tuổi). Qua rà soát của Thường trực Ban liên lạc, năm 2025 dự kiến Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội sẽ có 322 đồng chí được mừng thọ (tính đến hết tháng 6/2025), gồm:

- Tuổi 100: 01 đ/c

- Tuổi 95: 06 đ/c

- Tuổi 90: 08 đ/c

- Tuổi 85: 38 đ/c

- Tuổi 80: 55 đ/c

- Tuổi 75: 116 đ/c

- Tuổi 70: 98 đ/c

Thường trực Ban liên lạc Hội đề nghị các đ/c chi hội trưởng tiếp tục kiểm tra danh sách các đ/c được mừng thọ (tên, năm sinh...) của chi hội mình. Nếu có nội dung cần điều chỉnh, bổ sung, đề nghị các đ/c làm việc với Thường trực Ban liên lạc thông qua đồng chí Thân Ngọc Thúy theo số điện thoại 0987568753, 0963688253 hoặc trên nhóm Zalo “Các Chi hội TT BCTT”.

Dự kiến danh sách hội viên được mừng thọ năm 2025 theo các chi hội như sau:

TT Họ và tên Năm sinh Tuổi Đơn vị
1 Nguyễn Văn Liêm 1930 95 Đội 101 & C5
2 Phạm Văn Chí 1950 75 Đội 101 & C5
3 Đinh Trọng Chính 1950 75 Đội 101 & C5
4 Khương Song Hào 1955 70 Đội 101 & C5
5 Nguyễn Xuân Hạ 1955 70 Đội 101 & C5
6 Lê Đức Lưu 1930 95 D303
7 Phạm Duy Tín 1930 95 Lục quân khóa 7
8 Trịnh Trọng Hùng 1930 95 Lục quân khóa 7
9 Phạm Văn Bách 1940 85 Lục quân khóa 7
10 Hồ Thanh Can 1930 95 VTĐ 204
11 Nguyễn Văn Hợi 1935 90 VTĐ 204
12 Lê Thanh 1935 90 Phòng Quân lực
13 Nguyễn Tất Vọng 1945 80 Phòng Quân lực
14 Nguyễn Văn Thướng 1945 80 Phòng Quân lực
15 Nguyễn Văn Việt 1950 75 Phòng Quân lực
16 Lê Ngọc Thiệm 1955 70 Phòng Quân lực
17 Chu Dụng 1940 85 Phòng Công trình
18 Nguyễn Trọng Khê 1945 80 Phòng Công trình
19 Nguyễn Hữu Đức 1945 80 Phòng Công trình
20 Đặng Đức Bắc 1950 75 Phòng Công trình
21 Nguyễn Ngọc Dung 1950 75 Phòng Công trình
22 Dương Văn Đắc 1950 75 Phòng Công trình
23 Nguyễn Văn Hiền 1950 75 Phòng Công trình
24 Dương Thành Khẩn 1950 75 Phòng Công trình
25 Lê Văn Quán 1950 75 Phòng Công trình
26 Vũ Xuân Vui 1950 75 Phòng Công trình
27 Bùi Xuân Vượng 1955 70 Phòng Công trình
28 Dương Thị Tố Hảo 1950 75 Trường SQTT
29 Hồ Công Việt 1950 75 Trường SQTT
30 Đoàn Long 1950 75 Trường SQTT
31 Nguyễn Thị Chiến 1950 75 Trường SQTT
32 Tô Thế Truyền 1950 75 Trường SQTT
33 Nguyễn Ngọc Quỳnh 1950 75 Trường SQTT
34 Hoàng Thị Tuấn 1950 75 Trường SQTT
35 Lưu Đức Thắng 1950 75 Trường SQTT
36 Trần Văn Long 1950 75 Trường SQTT
37 Nguyễn Hữu Lộc 1950 75 Trường SQTT
38 Vương Thị Thục 1950 75 Trường SQTT
39 Nguyễn Văn Phớt 1950 75 Trường SQTT
40 Hoàng Văn Thuận 1950 75 Trường SQTT
41 Phạm Quang Ngọc 1955 70 Trường SQTT
42 Lê Đức Hạnh 1955 70 Trường SQTT
43 Phó Đức Hùng 1955 70 Trường SQTT
44 Trần Đình Việt 1955 70 Trường SQTT
45 Khổng Văn Thuật 1955 70 Trường SQTT
46 Trần Thị Bình 1955 70 Trường SQTT
47 Phạm Đình Đồng 1945 80 Trường Thông tin K
48 Nguyễn Văn Việt 1950 75 Trường Thông tin K
49 Nguyễn Xuân Hùng 1955 70 Trường Thông tin K
50 Lương Xuân Thuyết 1955 70 Trường Thông tin K
51 Nguyễn Ngọc Châm 1955 70 Trường Thông tin K
52 Nguyễn Phúc Ương 1945 80 Lữ đoàn 132
53 Nguyễn Danh Chiến 1950 75 Lữ đoàn 132
54 Nguyễn Văn Canh 1950 75 Lữ đoàn 132
55 Nguyễn Văn Hựu 1940 85 A69
56 Nguyễn Quốc Túy 1945 80 A69
57 Hoàng Văn Bút 1950 75 A69
58 Hoàng Xuân Tư 1950 75 A69
59 Bùi Khắc Chấn 1951 75 A69
60 Phạm Thị Vang 1955 70 A69
61 Phan Thế Hiên 1955 70 A69
62 Khổng Văn Thuật 1955 70 A69
63 Lê Trung Hưng 1935 90 M1
64 Đặng Thị Nga 1940 85 M1
65 Phạm Thị Thìn 1940 85 M1
66 Nguyễn Thị Lương 1940 85 M1
67 Cao Xuân Trúc 1940 85 M1
68 Ngô Doãn Hùng 1940 85 M1
69 Phạm Hoài Thanh 1950 75 M1
70 Vũ Thị Ruộm 1950 75 M1
71 Nguyễn Xuân Thái 1955 70 M1
72 Hà Thị Liễu 1955 70 M1
73 Hoàng Văn Nhuần 1955 70 M1
74 Hoàng Quý Huân 1955 70 M1
75 Nguyễn Thị Minh 1955 70 M1
76 Nguyễn Trọng Nghĩa 1955 70 M1
77 Nguyễn Đình Quang 1945 80 M3
78 Phạm Thị Biện 1945 80 M3
79 Vũ Ngọc Anh 1945 80 M3
80 Hoàng Thị Lan 1945 80 M3
81 Phạm Thanh Cảnh 1945 80 M3
82 Lê Công Cẩn 1955 70 M3
83 Vũ Xuân Phụng 1955 70 M3
84 Nguyễn Khánh Ngọc 1950 75 M3
85 Nguyễn Thị Vuốt 1950 75 M3
86 Lê Thị Lộc 1950 75 M3
87 Cao Ngọc Ân 1950 75 M3
88 Lương Tuyết Minh 1950 75 M3
89 Nghiêm Cường 1950 75 M3
90 Nguyễn Văn Đản 1950 75 M3
91 Đỗ Thị Bền 1955 70 M3
92 Đoàn Thị Thảo 1955 70 M3
93 Đào Hồng Niên 1955 70 M3
94 Phạm Thị Bằng 1955 70 M3
95 Bùi Xuân Hòa 1955 70 M3
96 Nguyễn Văn Lực 1955 70 M3
97 Nguyễn Quang Tuấn 1955 70 M3
98 Nguyễn Thị Hạnh Phúc 1955 70 M3
99 Đặng Trung Thành 1955 70 M3
100 Hoàng Chiến Bình 1955 70 M3
101 Lê Khắc Hưng 1955 70 M3
102 Nguyễn Văn Hiển 1955 70 M3
103 Vũ Kiên Dũng 1955 70 M3
104 Nguyễn Hữu Nghị 1955 70 M3
105 Trần Thị Quý 1955 70 M3
106 Nguyễn Đình Thành 1955 70 M3
107 Lê Thị Thành 1955 70 M3
108 Đỗ Văn Chiến 1955 70 M3
109 Trần Vinh Quang 1955 70 M3
110 Lưu Kim Tiến 1955 70 M3
111 Dương Bảo Hòa 1955 70 M3
112 Đặng Mạnh Hùng 1955 70 M3
113 Cung Văn Bính 1945 80 D2 Thanh Trì
114 Trần Văn Chuyên 1950 75 D2 Thanh Trì
115 Nguyễn Văn Dưỡng 1950 75 D2 Thanh Trì
116 Chử Văn Hợp 1950 75 D2 Thanh Trì
117 Nguyễn Hữu Đẹp 1950 75 D2 Thanh Trì
118 Nguyễn Văn Tạo 1950 75 D2 Thanh Trì
119 Hoàng Tuấn Ngọc 1950 75 D2 Thanh Trì
120 Vũ Văn Luyện 1950 75 D2 Thanh Trì
121 Nguyễn Văn Hồng 1950 75 D2 Thanh Trì
122 Lê Ngọc Ấn 1950 75 D2 Thanh Trì
123 Nguyễn Trần Phong 1950 75 D2 Thanh Trì
124 Ngô Đình Dư 1950 75 D2 Thanh Trì
125 Hoàng Đình Lập 1950 75 D2 Thanh Trì
126 Vũ Anh Đối 1950 75 D2 Thanh Trì
127 Ngô Văn Thi 1950 75 D2 Thanh Trì
128 Nguyễn Ngọc Tự 1950 75 D2 Thanh Trì
129 Nguyễn Văn Mỹ 1950 75 D2 Thanh Trì
130 Hoàng Tiến Dũng 1950 75 D2 Thanh Trì
131 Nguyễn Duy Nén 1950 75 D2 Thanh Trì
132 Nguyễn Văn Tân 1950 75 D2 Thanh Trì
133 Nguyễn Mạnh Hùng 1950 75 D2 Thanh Trì
134 Vũ Viết Cương 1950 75 D2 Thanh Trì
135 Nguyễn Ngọc Ngọc 1950 75 D2 Thanh Trì
136 Trần Đình Lập 1950 75 D2 Thanh Trì
137 Lê Văn Thử 1935 90 D4 Tiếp sức
138 Nguyễn Bá Khải 1940 85 D4 Tiếp sức
139 Đinh Ngọc Sử 1940 85 D4 Tiếp sức
140 Nguyễn Năng Mật 1940 85 D4 Tiếp sức
141 Nguyễn Đình Núi 1940 85 D4 Tiếp sức
142 Nguyễn Đức Mai 1945 80 D4 Tiếp sức
143 Nguyễn Đình Mịch 1945 80 D4 Tiếp sức
144 Đinh Trọng Tài 1945 80 D4 Tiếp sức
145 Đoàn Xuân Tảo 1945 80 D4 Tiếp sức
146 Nguyễn Thếch 1950 75 D4 Tiếp sức
147 Đào Đức Thanh 1955 70 D4 Tiếp sức
148 Bùi Văn Lực 1955 70 D4 Tiếp sức
149 Hoàng Ngọc Thắng 1955 70 D4 Tiếp sức
150 Thái Văn Đồng 1935 90 Đoàn 559
151 Cao Như Đắc 1945 80 Đoàn 559
152 Hoàng Văn Quảng 1945 80 Đoàn 559
153 Nguyễn Đức Lạc 1950 85 Đoàn 559
154 Nguyễn Đình Hội 1950 85 Đoàn 559
155 Nguyễn Văn Đa 1950 85 Đoàn 559
156 Lê Mai Đông 1950 85 Đoàn 559
157 Nguyễn Đức Thắng 1950 85 Đoàn 559
158 Hoàng Hồng Tư 1950 85 Đoàn 559
159 Nguyễn Thị Thu Yến 1955 70 Đoàn 559
160 Nguyễn Thị Nga 1955 70 Đoàn 559
161 Phùng Anh Dũng 1945 80 Đoàn 239
162 Lê Văn Lộc 1945 80 Đoàn 239
163 Hoàng Ân Môn 1945 80 Đoàn 239
164 Đặng Xuân Thu 1945 80 Đoàn 239
165 Trần Thanh Tân 1945 80 Đoàn 239
166 Ngô Đức Phận 1945 80 Đoàn 239
167 Đào Quang Đắc 1945 80 Đoàn 239
168 Phạm Ngọc Nhuần 1950 75 Đoàn 239
169 Vũ Hoàng Lộc 1950 75 Đoàn 239
170 Phạm Văn Nha 1950 75 Đoàn 239
171 Lê Xuân Đạt 1955 70 Đoàn 239
172 Tạ Thú 1935 90 QĐ1
173 Nguyễn Hải Chiều 1940 85 QĐ1
174 Phạm Đình Thái 1955 70 QĐ1
175 Đỗ Kiều Tuân 1955 70 QĐ1
176 Khương Minh Cương 1955 70 QĐ1
177 Phan Thanh Bằng 1940 85 Pháo binh
178 Phạm Đức Cường 1945 80 Pháo binh
179 Trương Công Chí 1945 80 Pháo binh
180 Hà Ngọc Minh 1945 80 Pháo binh
181 Nguyễn Văn Ngọc 1945 80 Pháo binh
182 Đào Văn Mận 1945 80 Pháo binh
183 Lê Thị Hiền 1950 75 Pháo binh
184 Nguyễn Hồng Hạnh 1950 75 Pháo binh
185 Dương Thị Thanh 1950 75 Pháo binh
186 Trần Thị Nhạn 1955 70 Pháo binh
187 Nguyễn Thị Hòa 1955 70 Pháo binh
188 Nguyễn Mạnh Hoàng 1955 70 Pháo binh
189 Mai Đình Hy 1940 85 P.không - K.quân
190 Nguyễn Ngọc Uân 1940 85 P.không - K.quân
191 Đinh Công Cành 1940 85 P.không - K.quân
192 Lưu Xuân Dung 1940 85 P.không - K.quân
193 Nguyễn Thế Hùng 1945 80 P.không - K.quân
194 Vũ Xuân Thiệm 1945 80 P.không - K.quân
195 Nguyễn Đức Truật 1950 75 P.không - K.quân
196 Nguyễn Văn Quang 1950 75 P.không - K.quân
197 Vũ Văn Quý 1950 75 P.không - K.quân
198 Đinh Viết Dần 1950 75 P.không - K.quân
199 Đoàn Long 1950 75 P.không - K.quân
200 Nguyễn Huy Hoàng 1955 70 P.không - K.quân
201 Lê Mạnh Hùng 1955 70 P.không - K.quân
202 Đồng Văn Dương 1955 70 P.không - K.quân
203 Trần Quang Khánh 1955 70 P.không - K.quân
204 Hà Đức Thuần 1955 70 P.không - K.quân
205 Khương Minh Cương 1955 70 P.không - K.quân
206 Nguyễn Xuân Hòa 1950 75 D813 Trị Thiên
207 Nguyễn Văn Vẽ 1950 75 D813 Trị Thiên
208 Nguyễn Văn Vịnh 1950 75 D813 Trị Thiên
209 Triệu Khúc Sơn 1950 75 D813 Trị Thiên
210 Đỗ Văn Thoa 1950 75 D813 Trị Thiên
211 Cao Văn Chỉ 1950 75 D813 Trị Thiên
212 Đặng Đình Đệ 1950 75 D813 Trị Thiên
213 Nguyễn Mậu Dịch 1950 75 D813 Trị Thiên
214 Nguyễn Kim Lồng 1950 75 D813 Trị Thiên
215 Nguyễn Văn Thành 1950 75 D813 Trị Thiên
216 Vũ Duy Cao 1950 75 D813 Trị Thiên
217 Lương Văn Toán 1940 85 Hào Nam T5C
218 Vũ Tiến Cường 1940 85 Hào Nam T5C
219 Nguyễn Văn Thành 1950 75 Hào Nam T5C
220 Lê Thị Thái 1950 75 Hào Nam T5C
221 Phạm Trường Thành 1950 75 Hào Nam T5C
222 Đinh Công Thành 1955 70 Hào Nam T5C
223 Nguyễn Quốc Việt 1955 70 Hào Nam T5C
224 Nguyễn Thị Hồng Liễu 1955 70 Hào Nam T5C
225 Nguyễn Văn Nhuận 1945 80 Hào Nam T579
226 Nguyễn Mạnh Tiến 1950 75 Hào Nam T579
227 Quản Đình Sơn 1950 75 Hào Nam T579
228 Nguyễn Đình Tùy 1955 70 Hào Nam T579
229 Đoàn Bình 1955 70 Hào Nam T579
230 Nguyễn Bá Bằng 1935 90 Long Biên - Gia Lâm
231 Trần Xuân Tất 1935 90 Long Biên - Gia Lâm
232 Hoàng Thị Bình 1940 85 Long Biên - Gia Lâm
233 Đỗ Ngọc Soan 1940 85 Long Biên - Gia Lâm
234 Dương Đức Thuận 1940 85 Long Biên - Gia Lâm
235 Trịnh Thị Hải Lý 1945 80 Long Biên - Gia Lâm
236 Lưu Văn Đức 1945 80 Long Biên - Gia Lâm
237 Nguyễn Minh Sơn 1950 75 Long Biên - Gia Lâm
238 Lê Thị Thành 1955 70 Long Biên - Gia Lâm
239 Văn Xuân Tiếp 1930 95 Tây Hồ 1
240 Ngô Quang Thân 1950 75 Tây Hồ 1
241 Vũ Văn Huỳnh 1945 80 Tây Hồ 2
242 Hoa Ngọc Trụ 1945 80 Tây Hồ 2
243 Cao Văn Chỉnh 1945 80 Tây Hồ 2
244 Bùi Ngọc Lâm 1950 75 Tây Hồ 2
245 Phạm Duy Hà 1945 80 Thông tin TCHC
246 Nguyễn Văn Sân 1945 80 Thông tin TCHC
247 Nguyễn Thu Hà 1950 75 Thông tin TCHC
248 Đinh Trọng Tụ 1950 75 Thông tin TCHC
249 Nguyễn Văn Đô 1945 80 Trung Hòa
250 Lê Xuân Ý 1950 75 Trung Hòa
251 Trần Ninh 1955 70 Trung Hòa
252 Lê Thái Hòa 1955 70 Trung Hòa
253 Vũ Thị Tùng 1955 70 Trung Hòa
254 Đặng Đức Thụy 1940 85 Thanh Trì
255 Ninh Văn Nhuận 1945 80 Thanh Trì
256 Trần Đăng Lại 1955 70 Thanh Trì
257 Mai Đức Thịnh 1955 70 Thanh Trì
258 Nguyễn Thị Lan 1955 70 Thanh Trì
259 Nguyễn Văn Đức 1955 70 Thanh Trì
260 Trần Thiếc 1945 80 Nhân Chính
261 Vũ Thị Dùng 1950 75 Nhân Chính
262 Nguyễn Thị Hiên 1950 75 Nhân Chính
263 Nguyễn Thị Loan 1950 75 Nhân Chính
264 Đỗ Thị Vinh 1950 75 Nhân Chính
265 Dương Thị Vuốt 1950 75 Nhân Chính
266 Nguyễn Quang Toán 1950 75 Nhân Chính
267 Trần Huy Anh 1955 70 Nhân Chính
268 Cao Văn Bừng 1955 70 Nhân Chính
269 Nguyễn Văn Đức 1955 70 Nhân Chính
270 Vũ Đắc Lưỡng 1955 70 Nhân Chính
271 Lê Minh Trí 1955 70 Nhân Chính
272 Đỗ Khắc Quảng 1925 100 Láng Thượng
273 Đỗ Văn Mạo 1940 85 Láng Thượng
274 Trần Sĩ Hắp 1945 80 Láng Thượng
275 Phạm Văn Quế 1945 80 Láng Thượng
276 Nguyễn Duy He 1945 80 Láng Thượng
277 Nguyễn Thị Lân 1950 75 Láng Thượng
278 Nguyễn Văn Việt 1950 75 Láng Thượng
279 Nguyễn Trọng Mừng 1950 75 Láng Thượng
280 Nguyễn Xuân Mùi 1955 70 Láng Thượng
281 Nguyễn Kim Khanh 1955 70 Láng Thượng
282 Phạm Thị Hồng 1955 70 Láng Thượng
283 Bùi Công Tuyến 1955 70 Láng Thượng
284 Nguyễn Thị Ngọ 1955 70 Láng Thượng
285 Lê Thanh Vân 1940 85 Ngọc Khánh
286 Nguyễn Văn Độ 1945 80 Ngọc Khánh
287 Nguyễn Văn Doanh 1945 80 Ngọc Khánh
288 Nguyễn Thị Thụy 1950 75 Ngọc Khánh
289 Phạm Đức Ngà 1950 75 Ngọc Khánh
290 Nguyễn Hoàng Ân 1950 75 Ngọc Khánh
291 Phan Hoài Bích 1940 85 Cổ Nhuế
292 Hoàng Văn Lộc 1940 85 Cổ Nhuế
293 Phạm Văn Phong 1950 75 Cổ Nhuế
294 Nguyễn Đình Khải 1950 75 Cổ Nhuế
295 Trần Đình Tấn 1955 70 Cổ Nhuế
296 Lương Thanh Dương 1955 70 Cổ Nhuế
297 Vũ Văn Quí 1950 75 Bạch Mai
298 Trịnh Văn Lễ 1950 75 Bạch Mai
299 Vũ Mạnh Tấn 1955 70 Bạch Mai
300 Vũ Quang Hàm 1940 85 Ba Đình
301 Nguyễn Văn Minh 1940 85 Ba Đình
302 Nguyễn Văn Phố 1940 85 Ba Đình
303 Phạm Nhật Sáng 1945 80 Ba Đình
304 Nguyễn Văn Lâm 1950 75 Ba Đình
305 Hoàng Thị Nga 1950 75 Ba Đình
306 Cung Thị Thanh Hiền 1945 80 Phòng KHQS
307 Đoàn Thị Thanh Trà 1945 80 Phòng KHQS
308 Nguyễn Thị Thuận 1945 80 Phòng KHQS
309 Nguyễn Thanh Mai 1950 75 Phòng KHQS
310 Nguyễn Thanh Hải 1950 75 Phòng KHQS
311 Ngô Lê Thiệp 1945 80 D2 MT Tây Nguyên
312 Nguyễn Văn Dưỡng 1950 75 D2 MT Tây Nguyên
313 Lê Anh Kính 1955 70 Trường Văn hóa
314 Nguyễn Thị Trâm 1955 70 Trường Văn hóa
315 Tạ Văn Cửa 1940 85 Lữ đoàn 132B
316 Phạm Nhật Sáng 1945 80 Lữ đoàn 132B
317 Phan Ngọc Bảo 1955 70 Lữ đoàn 132B
318 Nguyễn Thanh Hải 1955 70 Lữ đoàn 132B
319 Đại Công Sáng 1955 70 Lữ đoàn 132B
320 Nguyễn Quang Sáng 1955 70 Lữ đoàn 132B
321 Trần Thị Tho 1955 70 Lữ đoàn 132B
322 Nguyễn Hồng Khải 1955 70 Lữ đoàn 132B
Tin: Thân Ngọc Thúy
Đăng bởi Quang Hưng