Phạm Huy Thưởng
Tiếp theo phần 6/8
Chúng tôi giữ chế độ luyện tập đúng như ở Hà Nội. Đội ở
trong một cánh rừng già. Nơi ở của chúng tôi lại kế bên một con suối lớn rất đẹp.
Hàng ngày chúng tôi trở dậy, chạy dài xong về làm vệ sinh cá nhân. Ăn sáng xong
chúng tôi luyện thở sau đó luyện thanh. Sau hai lần tập này, anh em chúng tôi
nói đùa là đã leo qua cái dốc "Ê ẩm cái dốc cao 1001 mét nổi tiếng trên
cung đường Bắc Trường Sơn. Sau phút giải lao ngắn ngủi, chúng tôi tập trung
toàn đội học hát. Tất cả cùng phải học vì các nhạc công của chúng tôi không phải
ai cũng biết ký xướng âm. Cơm trưa xong ai vào việc nấy. Người thì may phông
màn bằng vải dù pháo sáng. Người thì làm thêm, sửa chữa nhạc cụ. Chúng tôi củng
cố nhà hầm, lán trại. Một số đi kiếm rau ăn. Có người đi bắt cá, mò hến, mò
trai... Đúng 2 giờ chúng tôi vào giờ tập buổi chiều. Tốp ca tập riêng với tôi.
Nhóm nhạc công tập với Kha và Khiển. Có hôm chúng tôi dành cả ngày cho anh em tập
hát chèo. Một tháng sau chúng tôi duyệt chương trình trước các đồng chí chỉ huy
và Ban Chính trị. Chúng tôi tới hầm tài vụ nhận mỗi đứa một bộ quân phục mới với
đủ cả phụ tùng là dây lưng, thắt lưng to bản, mũ tai bèo...
Buổi diễn đầu tiên tại một trạm giao liên. Khán giả chính
là anh em trong Trung đoàn, thêm một số bộ đội vãng lai, khách của trạm giao
liên và bà con dân bản. Buổi diễn rất thành công. Anh em mình ở Trung đoàn nói
với tôi:
- Làm sao mà vào trong này các ông cũng có đủ đồ nghề.
Toàn lính văn nghệ mới mà hát không thua khi ở ngoài Bắc. Bà con và lính giải
phóng rất thích chương trình của mình. Mấy cô giao liên ôm nhau cười lăn lóc bên
gốc cây. Đại đội chúng tôi tự hào về các ông đấy.
Anh em trong đội rất mừng vì lời khen của lính mình. Bởi
kinh nghiệm nhiều năm, bụt chùa nhà thường không mấy linh thiêng. Dễ gì ở Hà Nội
mà được các ông ấy khen cho một câu thật lòng như thế. Sau đây tôi xin kể một kỷ
niệm không quên trong những ngày đó.
Đó là những ngày sau Tết Mậu Thân 1968. Đảng ủy miền
Tây Thừa Thiên Huế tổ chức ba cuộc hội nghị tổng kết về quân sự, về công tác
thanh niên và công tác phụ nữ. Ông Ba Hành, Bí thư Đảng ủy Miền cho người mang lá
thư tới gặp Ban chỉ huy Trung đoàn. Ông Ba đề nghị cho đội văn công của Trung
đoàn tới phục vụ ba cuộc hội nghị nói trên. Ông Ba đã xem chúng tôi biểu diễn ở
đâu đó. Ông thấy diễn được nên mời chúng tôi.
Nhận lệnh của thủ trưởng Trung đoàn, tôi cùng nhóm sáng
tác chuẩn bị chu đáo cho chuyến đi diễn có tính ngoại giao này. Mấy đứa tôi đi
trước để thâm nhập sáng tác thêm một số tiết mục mới ở đây. Có thêm tiết mục sáng
tác tại chỗ chương trình biểu diễn sẽ phong phú và hiệu quả cao hơn. Ba đứa
chúng tôi gồm: Thân Trọng Việt, Vũ Trọng Ngà và tôi.
Ba đứa chúng tôi lên đường vào một buổi sớm. Trời trong
vắt điểm mấy đám mây rực rỡ. Nắng lên cả cánh rừng sống động, xôn xao hẳn lên.
Chúng tôi đi qua những bản Pa Kô, Tà Ôi. Đây là những bản mới, vì bà con mới sơ
tán ra ở từ những ngày bom Mỹ đánh mạnh lên tới vùng núi. Mùa xuân cây cối xanh
tươi, sức sống thật kỳ diệu. Bom đạn Mỹ đánh hủy diệt như thế, con người vẫn hoạt
động và mùa xuân đem màu xanh tới lấp kín những hố bom đủ loại, khắp rừng. Chỉ
vài cơn mưa cây rừng lại tươi tốt như thách thức tàn bạo. Những cô gái nhí nhảnh
hơn. Những chàng trai tươi tỉnh hơn và những người đàn ông cũng bớt lầm lỳ. Những
bước leo dốc hình như nhẹ nhàng hơn và người ta xuống dốc thì như bay như lượn.
Gặp bộ đội thì bà con chào hỏi ríu rít.
Chính mùa xuân làm nên không khí đó.
Tới cơ quan Đảng ủy Miền, mấy chị ở Hội phụ nữ ra đón.
Một chị tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi:
- Sao đội mình chỉ có ít người thế này?
Khi biết chúng tôi là những người đi trước để sáng tác
thêm tiết mục cho đêm diễn, các chị hết sức vui mừng. Chúng tôi nghe ông Ba
Hành và các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy Miền giới thiệu về phong trào của quân và
dân miền Tây Thừa Thiên Huế. Chúng tôi nghe rất nhiều chuyện kể về những tấm
gương chiến đấu của quân giải phóng, của thanh niên và phụ nữ. Chúng tôi được
đãi cơm "tiểu táo". Những miếng thịt tuy có mùi ôi ôi mà ngon miệng lạ
thường. Dù sao thì đó cũng không phải là thịt hộp.
Qua hai ngày tôi bắt đầu lo lo. Chủ nhà đón tiếp nồng
hậu như vậy, thủ trưởng Trung đoàn tin tưởng như vậy, đã tới đây trước mà không
ra được tác phẩm nào cũng ê mặt. Ban ngày chúng tôi lân la hỏi chuyện mọi người.
Ban đêm chui xuống nhà hầm, dưới ánh sáng của cây đèn dầu làm bằng vỏ quả bom
bi, chúng tôi hý húi viết lách. Sáng sau tỉnh dậy tôi nhìn Việt như có ý hỏi, Việt
đỏ mặt lắc đầu. Tôi hỏi Ngà, anh chàng cho biết đang viết một tổ khúc chèo và sẽ
cố gắng làm mấy câu vọng cổ nữa. Con người tài hoa này đã nhiều lần góp cho đội
những tác phẩm bất ngờ. Riêng tôi thì không lo lắm vì tôi đã hoàn thành bài hát
"Đường dây về bản mới" và bài "Chiếc mũ nan". Đúng ra, thời
chống Mỹ bộ đội mình có mũ cối, song riêng Trung đoàn 132 thì do hành quân bộ từ
Bắc vào nên được trang bị mũ sắt. Vào trong này đội mũ sắt vừa nặng vừa nóng, lại
thêm nỗi lo không cẩn thận bà con tưởng nhầm mình là lính Mỹ - ngụy, đòm cho một
phát K44 thì tiêu mạng. Tôi cũng đang cố làm thêm một cái tấu hài kể chuyện anh
bộ đội giải phóng miền Tây.
Hơn một năm qua, kể từ ngày thành lập Đội TTVHXK ở
trong này, chúng tôi chỉ được diễn ban ngày. Không có gì ngại và khó cho bằng
diễn văn nghệ ban ngày, mà lại là diễn không có sân khấu. Dưới ánh sáng trời,
khuôn mặt mình có vẻ trơ ra trong lớp hóa trang. Không có sân khấu, người xem
nhìn vào tận cuống họng mình mỗi khi ngửa cổ lên hát. Sau nhiều lần diễn và được
người nghe động viên hết mức chúng tôi mới quen và diễn ban ngày cũng bốc lắm.
Hơn mười ngày ấy ghi đậm dấu ấn trong hoạt động của Đội.
Bây giờ nghĩ lại mới thấy sức làm việc khi đó thật mạnh mẽ. Chỉ có hơn mười
ngày trời, chúng tôi đã có tiết mục mới cho gần một nửa thời lượng chương trình
và hoàn thành xuất sắc ba đêm diễn, mỗi chương trình dài đúng hai tiếng. Cũng
thời gian ấy đã kịp để nảy nở mối tình thơ mộng giữa anh ca sĩ giọng tenor của
đội và cô văn thư của cơ quan Đảng ủy miền Tây Thừa Thiên Huế.
Sau chuyến đi ấy, chúng tôi còn đi diễn ở nhiều nơi khác.
Mấy buổi diễn ở Bệnh viện 68 cũng để lại ấn tượng tốt. Ngoài những buổi diễn tập
trung ở từng khoa, chúng tôi chia thành hai nhóm nhỏ đến các phòng bệnh nặng diễn
những tiết mục lẻ. Anh em chúng tôi hát, diễn tấu, ngâm thơ và làm ảo thuật cho
bệnh binh nặng xem. Ban Giám đốc bệnh viện 68 nhiệt liệt hoan nghênh chương trình
của lính thông tin.
Ở Trường Sơn khi đó có hai đoàn diễn thường xuyên là:
Đội TTVHXK 132 và Đoàn văn công 559. Tại một cơ quan chỉ huy của một đơn vị
giao liên chúng tôi gặp Linh Nhâm và nhóm văn công 559. Một anh bạn người Tà Ôi
cùng xem tiết mục "Niềm vui anh quân bưu" của Linh Nhâm nói với tôi:
- Bộ đội này hát không hay bằng bộ đội đường dây của bạn
tôi. Ý anh ta nói là đội của Trung đoàn 132. Vì tôi với anh ta mới kết bạn với
nhau nên anh nói vậy.
Đúng ra thì Linh Nhâm hát rất hay. Nhưng văn công 559
thiếu một tốp ca nam mạnh. Vì vậy mà anh bạn người dân tộc thiểu số của tôi có
lời nhận xét như vậy. Hơn nữa Linh Nhâm hát hay thật, nhưng đóng vai lính quân
bưu, quậy trên sân khấu thì làm sao chị ấy bằng anh em chúng tôi.
Lại nói về anh bạn người Tà Ôi của tôi. Ngày đó ở Trung
đoàn 132 có lệ là, đóng quân ở đâu là anh em đội mình thường kết nghĩa với dân
bản. Chúng tôi cũng chỉ kết nghĩa với đàn ông con trai thôi. Kết nghĩa nam nữ
thường lắm rắc rối trong mối quan hệ quân dân. Hơn tuổi nhau là anh em trai, bằng
tuổi nhau là bạn trai với nhau. Đã là bạn với nhau thì phải giúp nhau, đến chơi
với nhau, tặng nhau quà. Khi thì bạn đem cho mình mấy cây măng, miếng thịt lợn
rừng vừa bắn được. Mình thì tặng bạn gói magi cô đặc, gói muối hoặc mấy cái
ngòi nổ... hoặc thậm chí điếu thuốc và ca nước đường... Sang hơn nữa thì cái áo
Tô Châu mới. Hình thức là tặng nhau, nhưng bản chất cũng như là một cuộc trao đổi
bên đường rừng hồi đó. Có điều đã là bạn bè thì giá cả trao đổi bao giờ cũng rẻ
hơn giá thị trường.
Cuối năm 1968 chúng tôi hành quân về Bắc.
Trên đường ra đến Quảng Bình Trung đoàn mới nhận được
quà tặng, thuốc, nhu yếu phẩm và các trang bị văn hóa từ Bắc gửi vào. Những cái
radio, những sợi dây đàn và các nhạc cụ nhận được lúc đó tuy hơi chậm một chút nhưng
nó mới quý làm sao.
Chúng tôi về tập kết tại Thanh Hóa mấy ngày thì các đồng
chí ở Bộ tư lệnh và Phòng Chính trị vào thăm. Cùng đi có một anh ở báo Quân đội
nhân dân. Anh Khoan cầm tay tôi nói với anh kia:
- Đây là Huy Thưởng. Lá thư mà tôi chuyển cho anh chính
là của anh bạn này.
Anh phóng viên bắt tay tôi nói:
- Sau khi nhận được lá thư ấy, mình đã viết bài báo "Lá
thư từ chiến trường". Bài đăng trên báo Quân đội nhân dân, Huy Thưởng có đọc
được không. Đọc bài báo đó ai cũng khen các cậu làm văn nghệ ở chiến trường giỏi
lắm.
Tiếp đó là một đoàn văn nghệ do Phạm Khắc Vinh đưa vào
chào mừng Trung đoàn. Buổi diễn ở sân kho sáng hôm đó, lính của toàn Trung đoàn
lần đầu tiên có cuộc họp mặt đông đủ. Xem một chương trình mạnh gồm những tiết
mục chọn lọc nâng cao của các đơn vị mới thấy sức mạnh của cả Binh chủng. Một hợp
ca nam nữ hơn hai chục người, với phần đệm của cả chục cây đàn đã tạo ra một hiệu
quả rất cao. Nghe đoạn cao trào bài "Thông tin lên đường" của chính
mình, tôi tưởng gục xuống sân vì nghẹt thở. Khi đó tôi đang bị sốt rét, lại thêm
hơn một tuần lễ không ăn mất ngủ vì mấy viên sỏi thận hành hạ.
Tôi ngất ngây hạnh phúc khi anh Vinh đưa cho tôi lá thư
của Minh Tâm. Mấy năm trời nhớ nhung để hôm nay đọc dòng chữ: "Bây giờ anh
đã an toàn về đến nhà rồi, cầu mong anh chóng lấy lại sức khỏe và rồi gặp nhau
hai đứa mình sẽ cùng hát bài hát em gửi kèm đây". Đó là bản nhạc
"Trai anh hùng gái đảm đang" của Nguyễn Đức Toàn. Bài hát vốn đã hay,
nàng lại tẩm đẫm nước hoa vào đấy làm cho anh chàng tôi nhiều lần ngạt thở. Tôi
ngạt thở vì cái hạnh phúc dâng ngập con tim và ngạt thở vì hít nhiều nước hoa
quá.
Những khi cơn sốt rét tạm lui, tôi bắt tay ngay vào tập
hợp các tài liệu ở chiến trường và bắt đầu chuẩn bị cho chương trình biểu diễn
mới dành cho lễ mừng công của Trung đoàn. Tôi viết bài "Anh lái xe đường
dây". Một lần anh em đội xe kêu tôi sang đội xe uống trà Thái Nguyên. Đưa
tôi ly trà thơm ngát, Lê Thọ, Đội trưởng đội xe Trung đoàn nói:
- Anh em lái xe ở Trung đoàn mình, lái chiếc xe chở những
cột, xà, sứ... đến công trình. Cả đường xe và đường dây đều tiến ra tiền
phương. Hình ảnh đẹp thế mà ông không viết cho chúng tôi một bài hát thì ông tệ
quá.
Đi xe của anh em mình, uống ly trà ngon anh em mời mà
không viết được bài hát với hình ảnh tuyệt đẹp ấy thì tệ thật. Tôi nghiền ngẫm
hai ngày đêm, đêm thứ ba thức gần trắng thì viết xong bài hát. Hoàng Thanh Phụng
là một lính mới người Hà Nội có giọng tenor rất đẹp đã học bài này chỉ trong 15
phút. Sau đó tôi ôm cây mandolin cùng với Phụng sang đội xe hát tặng. Hơn nửa tiếng
sau cả đội xe hát um lên bài này.
"Trên đường xa, theo nhịp xe, là tôi hát bài vui
ca. Trên đường xa, theo đường dây, đường tiến ra tiền phương đượm hương lúa mới".
Anh em lái xe 132 chấp nhận bài hát này của tôi một cách rất vô tư.
Còn nữa
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Những chặng đường tín hiệu". NXB QĐND 2005)
0 comments:
Đăng nhận xét