Phạm Huy Thưởng
Tiếp theo phần 7/8 và hết
Tiếp đó về lại Văn Điển tôi viết bài "Chịu lính
đường dây". Lời bài hát này là một bài ca dao đăng trên báo tường của Đại
đội 6 anh hùng. Bài báo tường như sau:
Cưỡi mây lên gõ cổng trời
Ngọc hoàng sửng sốt, nhưng "Thôi, mời vào"
Hỏi: "Sao lên tận thiên tào?"
Thưa: "Đi dựng cột tiện vào nghỉ ngơi"
Ngọc Hoàng nghe nói cả cười:
"Lên tận cổng trời. Chịu lính đường dây!"
Khi đó tôi đang được nghe nói chuyện và xem một số chương
trình tuồng cổ. Bài ca dao này chính là cái tôi đang tìm. Hơn tuần sau tôi viết
xong bài hát. Từ đó bài hát lan truyền khắp đơn vị. Bài hát "Chịu lính đường
dây" đã được rất nhiều giải thưởng. Tại hội diễn toàn quân năm 1974, bài
hát được tặng Huy chương vàng.
Tôi còn nhớ có lần Quang Chuyền hỏi tôi: "Tại sao
tác phẩm nào của anh cũng đều là thông tin với đường dây cả. Anh không viết cái
gì cho riêng anh?". Phạm Vinh có lần nói với tôi: "Cậu viết cho thiếu
nhi đi. Chất của cậu viết nhạc thiếu nhi được đấy". Tôi chẳng biết trả lời
ra sao. Bởi cứ một tứ nhạc nào đó xuất hiện là tôi lại nghĩ ngay đến một đề tài
đường dây. Thật ra tôi có viết một số bài hát dành cho các em, những bài hát mà
tụi tôi thường gọi là bài tán gái. Bài "Tháng ba ơi biển hát", dành
cho sinh nhật cô bạn học sinh cấp ba ở Văn Điển. Bài "Bầu trời sao"
là kỷ niệm cuộc gặp gỡ người bạn cũ của Quang Chuyền. Và một vài bài khác tôi
không nhớ được hết. Những bài này không hẳn là dở nhưng với tôi đó là những cái
phụ, hát cho vui vẻ, không có những dấu ấn lớn lắm. Bởi vì tôi chỉ ghi nhớ một
điều tôi là "Nhạc sĩ của Trung đoàn".
Năm 1969 để lại cho lính văn nghệ ấn tượng cực kỳ sâu
sắc.
Giữa tháng 8 chúng tôi tập trung về Phòng Chính trị Chúng
tôi được tập huấn rất nhiều vấn đề. Chúng tôi luyện tập thêm để nâng cao các tiết
mục. Phòng Chính trị có ý đồ làm một lễ kỷ niệm Ngày thành lập Binh chủng thật
lớn. Hội diễn nghệ thuật quần chúng chính là dịp biểu dương lực lượng văn nghệ
hùng hậu của Binh chủng. Những tiết mục của 132 đã gây tiếng vang ngay từ những
ngày chuẩn bị. Tất cả chúng tôi đều náo nức chờ đợi.
Thế rồi sáng ngày 30 tháng 8 chúng tôi được lệnh giải
tán về đơn vị. Anh Nguyễn Văn Khoan dặn dò thêm "Các cậu về chú ý theo dõi
tin tức trên Đài Tiếng nói Việt Nam". Tôi nhận thấy có cái gì đó rất lạ
trên khuôn mặt anh lúc đó. Một nét mặt băn khoăn, lo âu, buồn phiền.
Không một đứa nào trong chúng tôi cảm nhận được cái điều
sẽ làm cho cả dân tộc này đau đớn. Đó là tin Bác Hồ bệnh nặng và tin Bác mất.
Tang tóc đã trùm lên cả đất nước từ buổi sáng ngày 3 tháng 9. Sáng hôm đó tôi
lên Ban Phát thanh Quân đội nhân dân vì có hẹn thu chương trình ở đó. Anh Văn
An nói với tôi:
- Tình hình đã như thế này thì tất cả phải gác lại thôi.
Chúng ta sẽ thu chương trình của 132 vào dịp khác Huy Thưởng ạ.
Tôi cũng đã biết là việc thu thanh phải gác lại. Nhưng
vì có hẹn trước nên cứ phải tới Đài. Rời phòng Phát thanh Quân đội nhân dân,
tôi chui vào phòng thu lớn của Đài Tiếng nói Việt Nam. Trong đó đang thu lại mấy
y bản nhạc nghi lễ cho lễ tang. Tôi ngồi co ro trong một góc phòng. Mặc cho nước
mắt giàn giụa xuống ướt cả cổ áo quân phục, tôi nghe dàn nhạc của đài thu mấy bản
"Ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh", "Quốc tế ca" và "Quốc
ca". Tôi hòa tan nỗi đau của tôi vào những dòng hòa âm đó. Mãi đến lúc có
người nói bên tai:
- Về thôi Huy Thưởng ơi.
Trong phòng thu không còn ai. Chỉ còn anh công nhân phòng
thu là người quen biết đã gọi tôi bừng tỉnh. Tôi lẳng lặng ra về. Trong lòng
tôi trộn lẫn những cảm xúc về những hòa âm cao thượng, đẹp tuyệt trần kia và cảm
giác đau đớn đang hiện hình không một giây nào nguôi.
Những ngày lễ tang Bác, tôi được gọi về Phòng Chính trị
Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc. Tôi cùng một số anh em khác tập đàn cho chuẩn,
cho nhuyễn ba bài nhạc quy định trong lễ tang Bác. Tại buổi lễ viếng Bác của Bộ
tư lệnh, chúng tôi ngồi sau sân khấu, tay ôm đàn, ngón tay dò theo từng nốt nhạc
của mỗi bản nhạc. Lễ viếng tuy đã sử dụng âm thanh từ máy ghi âm, nhưng chúng
tôi phải sẵn sàng tiếp ứng ngay phòng khi máy ghi âm có gì trục trặc mất âm
thanh. Lần đầu tiên chúng tôi được thấy cỗ máy ghi âm chạy băng cối. Cỗ máy ghi
âm Hung-ga-ri lúc đó phải to bằng gần nửa cái bàn. Lần đầu tiên sử dụng một cỗ
máy như vậy, nào ai dám chắc máy móc sẽ hoạt động trôi chảy hay không.
Tiếp đó nhóm nhạc của chúng tôi đi phục vụ mấy cuộc lễ
viếng Bác ở mấy trung đoàn khác. Tuy là nhạc không có phối âm, nhưng dàn nhạc
này đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Sau lễ tang Bác Hồ cả nhóm chúng tôi chia tay
nhau về đơn vị.
Thật ra, trước lúc đó tôi đã tan nát cõi lòng còn vì một
chuyện tình tan vỡ. Vì tang Bác Hồ là nỗi đau quá lớn, bao trùm lên hết thảy
nên tôi tạm quên cái đau riêng trong mấy tháng. Và rồi cũng đến lúc phải tìm
cách để khuây khỏa đi. Tôi vào Khu Bốn cùng với Phó Chính ủy Nguyễn Mạo.
Ở Đại đội 4, nơi có những chiến sĩ cũ của tôi từ trước
ngày tôi đi làm văn nghệ. Nỗi vui mừng quấn quýt gặp lại nhau làm tôi khuây khỏa.
Một buổi tối tôi kể cho anh em nghe về những gì tôi được chứng kiến hai lần tại
nơi đặt linh cữu Hồ Chủ tịch. Chúng tôi cùng khóc Bác cả tiếng đồng hồ. Bà con
trong xóm cả trăm người cũng khóc lớn tiếng như chúng tôi. Đêm đó một lễ tang
Bác Hồ đã diễn ra ở nơi xóm nhỏ phía nam tỉnh Quảng Bình. Tình cờ biết tôi nói
chuyện với bộ đội mà bà con trong xóm kéo nhau tới nghe.
Đêm hôm đó trăng sáng lắm. Tôi không ngủ được nên ra
sân ngồi. Trong ngực tôi thỉnh thoảng vẫn còn những cú nấc nghẹn. Tôi đã nhận
thấy là mình phải viết cái gì đó. Bác Hồ không còn, nhưng sự nghiệp cách mạng
còn đó, di chúc của Bác để lại cho cả dân tộc còn đó... Tôi nghĩ đến anh em
tôi, những chiến sĩ đường dây, quần áo dính đầy hắc ín làm đường dây qua sông,
qua núi. Tôi nghĩ đến những người chiến sĩ đo đạc trên Trường Sơn, ban đêm phải
dò theo ánh sao để định hướng, dùng tiếng hú để tìm nhau trong rừng già. Những
đêm dựng cột dã chiến. Những đêm vượt sông Lam nghe hò... điệu hò kéo dây trầm
hùng bỗng hiện lên.
Đường càng dài (Dô ồ ta) Càng nuôi chí lớn (Dô ồ ta) Đường
càng xa (Dô ồ ta) Là sức thêm bền (Dô hò ta ới dô ồ ta). Dô hò dô ới dô hò dô.
Dô hò ta ới dô hò ới...). Và đó là đoạn
mở đầu của bài hát mới của tôi. Bài hát "Theo ngôi sao sáng" đã ra đời
như vậy.
Nhận thấy lúc đó Trung đoàn 132 đã có khá nhiều bài,
tôi đề nghị in một tập bài hát. Tuy chỉ là in bằng ronéo nhưng tập nhạc đã tập
hợp gần bốn mươi bài hát của nhiều nhạc sĩ có tên tuổi và của anh em trong Trung
đoàn.
Nhiều nhạc sĩ chuyên nghiệp trong và ngoài quân đội đã
sáng tác cho Trung đoàn 132 như: Nguyễn Văn Tý bài "Hành khúc dây trần",
Nguyễn Đức Toàn với "Bài ca trên đường dây", Nguyễn Thị Nhung bài
"Hoa sứ trắng", phổ thơ ông Xuân Miễn, Văn An góp bài "Đường dây
ai rải", tiếp đó Trung đoàn có thêm bài "Tiếng hát trên đường
dây" của Huy Du, "Yêu những đường dây" của Trọng Loan, "Chuyện
cây cột tre" của Đôn Truyền, "Hát cùng đường dây" của Cát Vận...
Tôi phải đặt dấu ba chấm ở đây vì thật tình còn một số bài các nhạc sĩ chuyên
nghiệp yêu 132, mến cuộc đời sôi nổi lãng du của lính 132 mà viết tặng. Song do
khả năng không thể biểu diễn được, lại do chiến tranh kéo dài, đơn vị cơ động
liên tục nên bị thất lạc không tìm được bản gốc, tôi không kể được hết.
Đó là các vở chèo của Vũ Trọng Ngà: "Đường dây trong
bão lửa", "Đường dây qua A Sầu A Lưới"... Đó là những bài hát
"Hoan hô anh nuôi", "Tôi là chiến sĩ đường dây" của Phạm Khắc
Vinh; "Chuyện cái Sứ", "Theo ngôi sao sáng", "Đường
dây về bản Lào", "Chiếc mũ nan", "Vinh quang thay Đại đội 6
anh hùng" và "Chịu lính đường dây" của Phạm Huy Thưởng... Tiếp
đó, vào những năm 70 ở Trung đoàn 132 còn nổi lên một nhân vật tài hoa là Nguyễn
Thụy Kha. Kha viết khá nhiều bài hát và thơ về chiến sĩ đường dây. Đặng Trường Lưu,
Phạm Ngọc Liệu hiện là những họa sĩ khá nổi, và hai người này từng là chiến sĩ
văn nghệ 132. Trường Lưu còn viết một tập thơ trong đó nặng dấu ấn về chiến sĩ
đường dây. Quang Chuyền cũng là một người làm thơ có tiếng từ hồi còn ở Trung
đoàn 132. Rất nhiều bài thơ trong bốn tập thơ đã xuất bản của Quang Chuyền là
tâm tư dây trần và lính thông tin.
Những sáng tác khác của văn nghệ sĩ chuyên nghiệp dành
cho 132 còn nhiều trên đủ các lĩnh vực thơ, văn, hội họa, điện ảnh... Những ưu
ái của các nhà sáng tác chuyên nghiệp càng động viên bộ đội và thôi thúc chúng tôi
có nhiều sáng tác hơn cho xứng với tấm lòng mong mỏi của cán bộ và chiến sĩ Trung
đoàn. Hình tượng người chiến sĩ đường dây được khắc họa đậm nét trên sách báo
và trên sân khấu.
Hội diễn nghệ thuật quần chúng Binh chủng Thông tin
năm 1970 khá là bề thế. Hội diễn lần này không phải đan xen tiết mục của các
đơn vị mà mỗi đơn vị làm riêng một chương trình. Bài hát “Chịu lính đường
dây" và bài “Theo ngôi sao sáng" của tôi bắt đầu nổi lên từ hội diễn này.
Chương trình biểu diễn của Trung đoàn 134 cũng là một chương trình nổi bật.
Chương trình này không mạnh về ca kịch nhưng rất mạnh về chèo. Lính thông tin
Phòng không - Không quân và thông tin Tổng cục Hậu cần cũng đóng góp nhiều tiết
mục đặc biệt, với trình độ rất cao.
Thời gian này Phòng Chính trị Bộ tư lệnh quyết định
thành lập Đội TTVHXK của Binh chủng. Để chuẩn bị cho chương trình này Phạm Khắc
Vinh bàn với tôi về sáng tác và dàn dựng.
- Cậu có biết sợ không? - Vinh hỏi tôi.
- Sợ cái gì? - Tôi hỏi lại.
- Sợ dàn dựng những tác phẩm nhạc to đùng, như tổ khúc
nhiều chương chẳng hạn?
- Truyền thống của lính thông tin là không hề biết sợ nhé.
Dễ ăn thì mình nuốt chửng. Khó ăn mình nhai kỹ, nuốt dần, càng bổ.
Vinh cười ha hả đầy hứng thú. Quả nhiên là ít lâu sau
anh chàng đã làm đúng lời hứa. Tổ khúc bốn chương "Khi Bác Hồ ra lệnh"
là cái mà anh ta đã dọa tôi trước đó.
Sau hội diễn, Bộ tư lệnh có quyết định điều động các hạt
nhân văn nghệ từ các trung đoàn về Hà Nội. Tôi và cả tốp ca nam 132 có tên
trong danh sách đó.
Tuy nhiên, giữa lúc tôi chuẩn bị đi nhận nhiệm mới ở Bộ
tư lệnh thì có một sự thay đổi đột ngột. Ông Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn viết
thư nói tôi hãy chậm về Phòng Chính trị vài ngày. Nhân có xe con ở Nghệ An, tôi
nên vào trong đó họp chi bộ để làm thủ tục chuyển đảng viên chính thức rồi hãy
ra Hà Nội cũng kịp. Tôi vào Nghệ An và bị giữ luôn trong đó không ra được nữa.
Những ngày buồn này tôi viết được bài "Buổi chiều
trên đỉnh Trường Sơn", phổ thơ của Nguyễn Trọng Oánh. Do mặc cảm, bài này
tôi cất kỹ không đưa cho ai hát. Bài hát này dài tới hơn 200 nhịp. Phần đầu nhịp
3/4. Phần này mô tả những lớp trẻ vào chiến trường như đi trẩy hội. Phần hai nhịp
đi, gợi tưởng về động cơ chiến đấu của những người chiến sĩ đi giải phóng. Phần
này tôi chuyển vào nguyên câu hát "Vùng lên nhân dân miền Nam anh
hùng" của bài "Giải phóng miền Nam". Tiếp đó bài hát chuyển điệu
vào đoạn cuối. Đoạn này nhịp 2/4 chậm, tính chất ngợi ca, trong sáng. Chính vì viết
được bài này mà tâm trạng tôi trở lại ổn định sau cú sốc vào Khu Bốn. Tiếp đó
tôi nhận được quyết định của Trung đoàn cho đi học khóa quản lý xí nghiệp bên Tổng
cục Hậu cần. Học để rồi chuyển ngành.
* * *
Tôi cứ nghĩ thế này: Tôi trở thành nhạc sĩ cũng như cả chục anh em trong Binh chủng đã trở thành họa sĩ, nhà báo, nhà văn là bởi vì chúng ta đã từng là lính Thông tin. Chính những kỳ tích của Binh chủng, của Trung đoàn, chính những chiến sĩ và lãnh đạo các cấp trong Binh chủng truyền cho chúng tôi nhịp sống sáng tạo. Do đó tôi đã thành người. Tôi đã là nhạc sĩ chính thức từ ngày gia nhập Hội Nhạc sĩ Việt Nam, song vẫn như những năm trước xin các đồng đội cho tôi được xem mình là Nhạc sĩ của Trung đoàn.
Hết
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)
0 comments:
Đăng nhận xét