5.11.25

"Nhạc sĩ" của Trung đoàn (5/8)

Phạm Huy Thưởng

Tiếp theo phần 4/8

Thật là một ngày vất vả cho công tác chuẩn bị. Chúng tôi không được đi theo tuyến của Đoàn 559 nên phải mang vác mọi thứ vũ khí, đồ ăn, lương khô, vật liệu và dụng cụ làm đường dây. Mỗi người phải đem một bọc hoặc là một ký muối rang, hoặc là một ký lạc nhân sống. Mỗi người một ruột tượng 5 ký gạo; mỗi người một khẩu súng và một cơ số đạn theo điều lệnh chiến đấu. Mỗi người giữ trong ba lô 1kg đến 2kg hoặc dây 1,6mm, hoặc thiếc hàn, nhựa thông. Mỗi người đem theo một số dụng cụ như kìm, mỏ lết, mụp, ma soa, mỏ hàn, búa... Tính ra, trong chuyến đi này, ngoài trang bị cá nhân như lính bộ binh mỗi đứa chúng tôi phải mang thêm trên 10 kilôgam đồ ăn dự trữ và vật liệu, dụng cụ đường dây. Chuyến đi này chúng tôi mới thực sự hiểu được câu nói dân gian: "Con ruồi nặng đồng cân". Thậm chí tôi đã bắt tay viết một bài hát vui về ý tưởng đó.

Đúng 5 giờ chiều, toàn đại đội tập hợp lên đường. Từ đây vào Khu Bốn chúng tôi được đi xe ban đêm. Mỗi trung đội đi một xe Zin 3 cầu. Xe không có mui. Anh em ngồi lên ba lô. Trời mưa gió suốt mấy đêm liền. Anh em chúng tôi khoác áo mưa ngồi đó. Mặc cho xe nghiêng ngả, xoay ngang chạy dọc vì hố bom, vì vũng lầy. Ba ngày sau chúng tôi tới địa điểm tập kết, kết thúc phần đường đi bằng xe. Đó là một thôn nhỏ gần bờ sông Lam. Đêm đó chúng tôi ngủ trong nhà dân. Một ngôi nhà nhỏ mái lá vách đất như bao ngôi nhà khác của bà con Khu Bốn. Ngày hôm sau gọi là được nghỉ nhưng chúng tôi lại ra rừng cây bên những đồi cà phê tập mắc võng. Tôi tháo võng ra mắc võng vào bốn năm lượt cho thành thục rồi ghé lên võng nằm ngắm trời đất. Tôi định chợp mắt một chút rồi viết lá thư báo cho mọi người biết về chuyến đi này. Việc bộ đội đi chiến trường vào năm đó không còn phải giữ bí mật như những năm về trước.

Hôm đó trời nắng. Bầu trời trong vắt. Tôi cảm nhận một điều là hình như bầu trời ở Khu Bốn trong hơn, cao hơn bầu trời ở những vùng khác. Đang nằm thiu thiu, tôi chợt giật mình vì có tiếng sột soạt ngay bên cạnh võng. Tôi mở mắt nhìn ra thì bắt gặp ngay một cặp mắt long lanh đang chằm chằm nhìn tôi. Đó là một cô công nhân lâm trường. Cô gái lê dưới từng gốc cây nhặt những hạt cà phê rụng. Những hạt cà phê khô, bong vỏ, bày ra màu hạt trắng no tròn rụng dưới gốc cây. Đó chính là thứ cà phê nhất hạng. Cô gái mặc một bộ đồ bảo hộ lao động bạc phếch nơi lưng và vai, chỉ còn một chút màu đậm mồ hôi dưới hai nách. Bộ đồ bảo hộ lao động rộng thùng thình, che giấu đi tất cả những nét đẹp của người con gái. Cô gái bịt kín mặt bằng một cái khăn đã bạc gần hết màu xanh công nhân, chỉ còn lộ ra đôi mắt to kỳ lạ. Đôi mắt ấy chợt thoáng một nét long lanh trong giây lát nhìn tôi rồi lập tức đượm vẻ ưu phiền. Không hiểu sao tôi cứ cảm thấy đôi mắt ấy đã gửi cho tôi sự trách móc hờn giận. "Chúng mày đã kéo nhau đi hết. Chỉ để lại ở nhà những ông già, bọn nhóc con và một vài kẻ chẳng ra gì". Đôi mắt ấy nói như vậy chăng? Trước khi xa khuất tầm mắt, cô gái còn quay nhìn lại tôi với thoáng một cái lắc đầu. Đôi mắt ấy ám ảnh tôi nhiều năm sau, khi tôi vào hẳn chiến trường.

Tôi ngồi dậy, tranh thủ lấy giấy viết hai lá thư. Tôi làm hai bài thơ. Một đề gửi về Hải Phòng, một gửi tới Văn Điển. Một lá gửi tới cha mẹ tôi và một cho cô bạn gái có giọng hát trong vắt và nụ cười giòn tan.

Hết giờ tập mắc võng, chúng tôi về lại nhà dân chuẩn bị cho đợt hành quân bộ bắt đầu vào lúc trời chạng vạng. Tôi gọi tên cô gái con bà chủ nhà:

- Hồng Liên ơi anh nhờ em chút việc.

Cô gái giật mình kêu lên.

- Làm sao anh biết tên em? - Khuôn mặt trắng trẻo xinh xắn bông lựng lên màu đỏ. Tôi nói vui:

- Trách nhiệm của bọn anh là phải biết tên em khi đã ở nhà em, em không phải hỏi nhiều.

Tôi cười, cô bé cũng cười. Cô bé đâu biết là chính chú nhỏ nhà bên cạnh đã khai báo tất cả với tôi từ đầu tối hôm trước. Tôi đưa hai lá thư và một ít tiền lẻ cho cô ta và nói:

- Em biết là bọn anh đi chiến trường rồi. Anh quá bận nên hôm nay mới viết được thư để gửi về nhà. Anh nhờ Hồng Liên đem ra bưu điện mua tem gửi giùm anh.

Tôi cười nhẹ nói tiếp . Liệu anh có thể tin tưởng là những lá thư này chắc chắn sẽ về đúng địa chỉ không đây?

Cô gái mười bẩy tuổi ấy lại đỏ mặt lên, nói lý nhí:

- Anh cứ yên tâm đi. Anh giữ lại số tiền lẻ này. Anh hành quân bộ như thế này cũng cần tiền lắm đấy. Em có tiền riêng mà. Hai con tem có hai hào bốn xu đáng là bao. Được giúp các anh là em mừng lắm rồi. Em cũng có hai anh trai đi bộ đội, nhiều năm nay rồi mà chẳng có lá thư nào về nhà cả. Em biết gia đình anh cũng mong anh lắm chứ.

Tôi thấy nhói ruột vì câu nói đùa vô tâm của mình.

- Anh xin lỗi em. Anh rất mừng là ở đây lại có một cô em ngoan ngoãn xinh đẹp như thế này. Giúp anh lần này đi. Anh trở ra sẽ về đây tìm em.

- Anh cứ nói vậy. Em sợ rồi anh quên mất đường về đây. Vậy chứ ai là Minh Tâm ở Văn Điển đấy?

- Vậy chứ đứa nào tên là Văn ở xóm ngoài?

Cô hứ một tiếng cười bẽn lẽn rồi bỏ chạy vào buồng. Thì cũng chính chú nhỏ đó cho tôi biết cô này và người ấy đã phải lòng nhau như thế nào? Nói ra sợ cô gái đau lòng, anh chàng của cô cũng đi chiến trường hơn một năm rồi chẳng thư từ gì cả.

Sáu giờ chiều hôm đó chúng tôi bắt đầu chặng đường hành quân bộ.

Khoác lên vai chiếc ba lô cóc tôi lập tức nhận ra ngay rằng, gian nan đã thử sức chúng tôi bắt đầu từ đôi vai. Mới chỉ đeo ba lô đứng nghe mệnh lệnh hành quân tôi đã muốn gục ngay sau câu nói cuối cùng của Đại đội trưởng. Nhưng rồi đôi vai của tôi cứ lỳ đi, hay đúng hơn là con người mình cứ lỳ đi. Chẳng còn cách nào khác, không thể đùn gánh nặng này cho ai. Cũng không thể bỏ đây mà trốn vào đâu được. Và bởi vì tất cả mọi đứa chúng tôi đều như vậy. Thế là chúng tôi cứ thế lặc lè, nhịp nhịp đi tới.

Trong đội hình đại đội, trung đội tôi là đơn vị cuối cùng và tôi là Trung đội phó nên tôi phải đi cuối cùng. Vậy nên tôi là người bị chạy gằn nhiều nhất. Không có gì mệt cho bằng hành quân mà cứ chốc lại phải chạy dăm mười bước để đuổi kịp người đi trước. Có lẽ vì vậy mà tôi nhanh chóng làm quen với cuộc hành quân mang nặng lần đầu tiên trong đời này. Khoảng hơn tiếng đồng hồ sau, chúng tôi được lệnh dừng lại chờ vượt sông Lam.

Tôi ở trong tốp qua sông cuối cùng nên tôi phải chịu một thử thách cũng không kém phần ác liệt. Ngồi chờ thuyền qua sông tôi là người được nghe nhiều nhất tiếng hò của các cô gái sông Lam. Đúng hơn thì phải nói tôi là người phải chịu đựng nhiều nhất những tiếng hò ấy. Không phải vì các cô gái hò dở mà là vì các cô hò quá hay. Ngồi bên dòng sông mênh mang trời nước, trong một đêm sáng trăng như vậy, nghe giọng hò ấy bạn là cứ ríu ríu hai chân lại. Và bạn phải nhanh chân bước đi ngay. Bởi nếu chần chừ chậm lại tôi e bạn không bước đi được. Giọng hò ấy quá nuột nà, quá nặng, trái tim ta chịu không nổi đâu. Ấy vậy mà tôi phải chịu đựng gần một tiếng đồng hồ như vậy để chờ chuyến qua sông cuối cùng. Bước chân từ đò lên bờ đê, lúc đó tôi mới thật sự hiểu rằng thế nào là trái tim rớm máu. Nghĩ lại lần tôi bị bồ đá hồi mới nhập ngũ, tôi cho việc xảy ra khi đó chỉ là trò trẻ con.

Tôi không nhớ là chúng tôi hành quân bao nhiêu ngày thì tới A70. Tôi thấy nhiều ngày lắm. Cứ lầm lũi trong mưa, cả đoàn quân dài dài ấy đi và đi.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)

0 comments:

Đăng nhận xét