18.5.25

Sắc trắng ngời ngời

Phạm Phú Nhân

Nhớ một thời Trường Văn hóa Binh chủng Thông tin

Một viên phấn trắng cầm tay,

Lời anh không hát mà hay vạn lời

Bởi trong sắc trắng ngời ngời,

Đến gian truân cũng tuyệt vời gian truân

 

Đến trăng sao cũng rất gần,

Không gian "hình học" mà rằm lung linh;

Ai từng chia lửa bình minh

Để qua lăng kính nắng sinh cầu vồng...

 

Bao điều thần thoại mênh mông,

Một viên phấn với sắc hồng bàn tay;

Hạt trội hạt lắng sông đầy,

Cho bồi bên lở cho xây bên bồi!

 

Ơi viên phấn trắng ngời ngời,

Trải bao nhào nặn nên đời thản nhiên

Tạc mình vào sắc bảng đen,

Thân mòn vẹt vẫn lành nguyên sắc màu!

 

Chợt nghe gió thoảng qua đầu,

“Không vôi sao thể đỏ trầu ngàn năm”;

Phấn mang sắc trắng vôi đằm,

Bẻ đôi ra vẫn chữ Văn chữ Lòng...

 

Tình yêu đồng đội mênh mông,

Một viên phấn với sắc hồng bàn tay;

Anh chia cho khắp bạn bầy,

Tình thương và những cánh bay rộng dài...

 

Giản đơn một sắc trắng ngời

Mà giàu có nhất đấy,

Người yêu ơi!

Trường Lâm, ngày 18/11/1976

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Miền ký ức không phai”) 

17.5.25

Mới đấy đã mười bảy...*

Thiếu tá Phạm Phú Nhân – nguyên Phó Hiệu trưởng về Huấn luyện Trường Văn hóa Binh chủng Thông tin

Sau một tháng huấn luyện “tân binh” chủ yếu là học chính trị, chỉ có hai ngày học Điều lệnh Đội ngũ, chúng tôi được điều về Bộ tư lệnh Thông Tin làm nghề dạy học.

Chúng tôi gồm ba người, ba sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi thì về Trường Văn hoá; cùng lớp Toán Cơ với tôi, Bùi Xuân Hoài về Trường Sĩ quan. Người cùng về Trường Sĩ quan với Bùi Xuân Hoài là Lê Quyết Thắng bên khoa Lý. Hoài và Thắng đi Hà Bắc sớm tinh mơ ngày 10/12/1970. Còn lại mình tôi ở lại Trạm khách, hết đi ra lại đi vào, nâng lên hạ xuống chiếc ba lô lép kẹp...

Mãi đến 9 giờ sáng ngày 12/12/1970, tôi mới được anh Trần Phong Diệu, Trợ lý Văn hoá Bộ tư lệnh đến đón và dẫn ra bến xe Kim Mã. Anh Diệu khi ấy mang “hàm” trung úy; trung úy thời ấy so với bây giờ “giá” hơn nhiều?! Thời ấy, nghe nói, những ai là “giáo viên văn hóa” thường chậm lên quân hàm!? Tôi lên xe theo anh, tay khư khư ôm giúp anh cái bình “a-mô-ni-ắc” mà anh đưa theo lên Trường để giáo viên dạy hoá làm thí nghiệm. Chỉ lo cái bình thủy tinh ấy mà vỡ ra thì cả cái xe có mà khai mù khai mịt! Đến bến Phùng, chúng tôi xuống xe và đi bộ...

Đang mải nghĩ ngợi mường tượng nơi mình sẽ đến ra sao, thì tôi bỗng giật mình bởi những tiếng hò reo chào đón...

Hoá ra mái trường mà tôi đến là thế này đây: Một ngôi nhà ngói cũ kĩ, ba căn nhà lá đơn sơ. Cái ngôi nhà ngói cũ kĩ ấy có tên là quán La Thạch. Bên trong quán có vài bát hương và mấy tượng thờ. Trước đó tôi cứ mường tượng rằng, đã là “trường học” thì phải “nhà tầng, nước máy, điện giăng đàng hoàng”. Hay đâu trường của tôi chỉ là một cái quán chơ vơ bên cánh đồng bát ngát!

Anh Diệu giới thiệu tôi với các đồng nghiệp. Lúc ấy đang nghỉ giải lao giữa hai tiết học nên tôi được gặp tất cả số giáo viên của Trường. Có 10 người: 3 giáo viên cấp II là các anh Nguyễn Văn Trung (toán), Ngô Công Mỹ (lý) và Đồng Văn Nhưng (văn); 2 giáo viên cấp I là chị Trần Thị Dương Liễu và anh Dương Minh Kha; còn lại là các anh: Nguyễn Thành Nguyên, Chu Văn Thanh, Nguyễn Ngọc Hoà, Đỗ Xuân Hy và Nguyễn Phúc Chung, những người đã tốt nghiệp cấp III được điều về từ các đơn vị để làm cái việc “bắt bồ câu đi cày!”

Ngày ấy, ở đây chưa có các chức danh hiệu trưởng, hiệu phó, chưa có “ban bệ” gì! Phụ trách nhà trường là hai viên trung úy, một già hơn anh Diệu là bác Lê Tiến Tịnh phụ trách công tác hậu cần (bác Tịnh đi bộ đội từ năm “bốn sáu”), một nữa trẻ hơn anh Diệu là anh Lê Văn Cận phụ trách công tác chính trị. Phụ trách Tổ Giáo viên là giáo viên văn, Thượng sĩ Đồng Văn Nhưng. Tất cả giáo viên đều là hạ sĩ quan hưởng chế độ “phụ cấp”, trừ chị Liễu hưởng lương “công nhân viên quốc phòng”. Tôi là người thứ hai trong tổ giáo viên này, hưởng chế độ lương. Mức lương ngày ấy là 51 đồng một tháng, góp tiền ăn, còn lại có thể đủ mua hàng trăm bát phở! Mọi người chào đón tôi rất nhiệt tình và chu đáo! Giáo viên Trường đang thiếu, tôi lại là người đầu tiên có trình độ đại học ở Trường Văn hoá này...

Đêm đầu tiên ở đây, nghĩ ngợi, lo lắng vu vơ... Thiếp đi được một chút thì có ai đó lay dậy và thì thầm: “Này, dậy ăn cháo bồ câu!”. Tôi ngạc nhiên vô cùng! Chắc lúc ấy mắt tôi sáng lắm! Lại còn nghe ai đó nói: “Sáng mai ăn phở đấy!”. Sau này tôi mới biết, cái trường này chính là cái sự kéo dài ra của Trại trẻ rồi Trại an dưỡng C53. Thảo nào!

Nhân đây, tôi kể luôn chuyện về cái “con dấu” của Nhà trường, cái con dấu khắc dòng chữ “TRẠI AN DƯỠNG C53”. Khi mà chẳng nơi nào còn dùng con dấu vuông “củ khoai” thì trường chúng tôi vẫn dùng. Nói là “Trường” văn hoá nhưng trong thực tế, mọi người vẫn gọi là “Lớp” văn hoá. Thôi thì, gọi là gì cũng được, miễn là nó vẫn có một cái tên khai sinh, cho dù là một cái tên khai sinh một cách... “bí danh” chăng nữa! Một lần “đi phép”, giở giấy trình người bán vé tàu hoả mong được giảm 50% tiền vé, tôi bị vặn vẹo đủ thứ. Người bán vé tàu nhìn tôi với ánh mắt đầy nghi ngờ, cứ như tôi là gián điệp không bằng! Chung quy cũng chỉ tại cái con dấu vuông “củ khoai” này thôi! Trong khi mọi người “tròn”, ai bảo anh lại cứ “vuông”? Cuối cùng tôi phải nói là đơn vị tôi đóng quân mãi bên nước bạn Cam-pu-chia, người bán vé mới chịu tin đấy!(?)

Trường có 3 lớp: 1 lớp 4, 1 lớp 6 và 1 lớp 7. Học viên chủ yếu là sĩ quan; nếu có chiến sĩ thì đó là các chiến sĩ có thành tích chiến đấu và phục vụ, được lựa chọn từ các đơn vị về. Nhiều người còn mang theo cả bệnh sốt rét từ chiến trường.

Trong tiết học Vật lý, nghe giảng về “trọng tâm” với “trạng thái cân bằng” mà lại có học viên tự dưng giật đùng đùng ngã vật ra thì cũng là cái sự thường! Sốt rét mà!

Không phân biệt giáo viên hay học viên, già hay trẻ, cán bộ hay chiến sĩ; ngoài giờ lên lớp chúng tôi bình đẳng trong mọi công việc, từ việc quay cán mì sợi, gánh nước, nấu ăn đến tăng gia trồng cấy, sơ tán, chạy lụt... Tất cả “Trường” đúng là một “Lớp” thật!

Cái tập thể đầy yêu mến ấy tất có người đáng mê. Tôi đã mê một người ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên. Một năm sau đó, chúng tôi thành vợ thành chồng. Ở Trường Văn hoá này, cho đến nay có tới hàng chục lễ cưới của giáo viên được tổ chức, trong đó có những lễ cưới "giáo viên - học viên” lấy nhau đấy!

Biết bao nhiêu số phận đã gắn bó gần suốt cả cuộc đời với mái trường này. Lấy nhau, sinh con đẻ cái ở “trường văn hóa”; vào Đảng ở “trường văn hoá”; gánh chịu buồn đau riêng của từng cá nhân cũng “trường văn hoá” lo toan trách nhiệm...

Tôi vô cùng biết ơn Trường Văn hoá Binh chủng Thông Tin, chiếc nôi của cuộc đời tôi, ngôi nhà ấm áp của cuộc đời tôi...

Chẳng hiểu vì sao cho đến bây giờ, trường chúng tôi không hề có lấy một cuốn “An-bom”, một sổ “truyền thống”; thậm chí danh sách của hàng trăm giáo viên, hàng ngàn học viên đã qua trường này cũng không còn đầy đủ nữa! Biết đâu đấy, trong số đó sau này, có người trở thành lãnh tụ, vĩ nhân. Khi đó, muốn tìm hiểu bước đường phấn đấu gian truân vất vả của họ, ở ngôi trường này, thì biết tìm đâu ra!

Lỗi này có cả của tôi!

Mười bảy năm gắn bó với Trường, tôi là một trong rất ít người, ở lâu nhất trường này kia mà!

Hãy tha thứ cho tôi, “mười bảy năm” trôi nhanh quá; chúng tôi chưa làm kịp điều này!

Mới đấy đã “mười bảy năm”!

Từ cái quán La Thạch bơ vơ trên cánh đồng xưa, đến bây giờ dập dìu đông vui kề bên Hà Nội.

Từ một tiểu đội “10 giáo viên du kích” đầu tiên, nay đã đội ngũ chính quy điệp trùng.

Từ con dấu vuông “củ khoai”, nay đã con dấu tròn trăng...

Mười bảy năm tồn tại một Nhà trường, trường chúng tôi đang ở cái tuổi “trăng tròn lẻ”...

Chúng tôi nguyện mang theo và giữ gìn vẹn tròn suốt đời cái vầng trăng vành vạnh ấy!

Trường Lâm, ngày 10/11/1987

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Miền ký ức không phai”)

-----------------------------------------

* Hồi ức được viết nhân kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1987) và được đăng trên báo Thông tin số 334 - tháng 11/1987. 

Ngôi trường ấy...

Đại tá TS. Nguyễn Văn Khoan

Nước ta là một nước nông nghiệp. Mẫu số nhân dân, theo tài liệu của nhà cầm quyền Pháp, có tới 95 phần trăm là “mù chữ”. Tỉ số là nông dân chắc cũng 95 phần trăm là thất học.

Năm 1943, ở Bắc Kỳ có phong trào “truyền bá quốc ngữ” do một nhóm trí thức vận động, dưới sự chỉ đạo của Đảng. Năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố 3 thứ giặc trước mắt cũng như dài lâu - của nước ta là: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Chính phủ thành lập Nha Bình dân học vụ, phát động “xóa nạn mù chữ”. Trong cả nước dấy lên một cuộc vận động chính trị rộng khắp, từ thôn quê đến thành thị, từ đồng bằng lên miền núi, hải đảo. Đêm đêm, các cụ già chống gậy, các bà mẹ bế con mang theo giấy, vở, đèn dầu đi học “i tờ”:

- “I tờ” có móc cả hai. I ngắn có dấu, tờ dài có ngang...

- O, ơ hai chữ khác nhau, vì ơ lại có móc câu bên mình.

Trên nền học vấn thấp như vậy, nên các anh đội viên vào bộ đội, làm lính Cụ Hồ, có rất nhiều người chưa biết chữ. Ở các đơn vị bộ đội, bên cạnh việc học quân sự, bắn súng, ném lựu đạn, đâm lê... còn có lớp học riêng cho một số chiến sỹ học để “thoát nạn mù chữ”, “biết đọc, biết viết”, “đọc thông, viết thạo”.

Kháng chiến chống Pháp được mấy năm, nhiều bộ đội nông dân, chân đất đã chiến đấu anh dũng, lập được nhiều thành tích, đã trở thành những chỉ huy tiểu đội, trung đội, đại đội... Trước yêu cầu xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, kiến thức - ta quen gọi là trình độ văn hóa - của họ bắt đầu sinh ra mâu thuẫn. Năm 1954, khi tập kết ra Bắc, anh hùng thông tin Đặng Quang Cầm được gặp Bác Hồ.

Bác hỏi:

- Cháu Cầm học lớp mấy rồi?

- Thưa Bác, cháu học kém lắm, chưa đọc được báo...

- Cháu phải đi học. Có học mới ở bộ đội lâu dài được - Bác nói.

Ở Liên khu 5, từ những năm 49, 50 đã có một trường “Văn hóa Kháng chiến”, do Nguyễn Văn Hiến – tú tài thời Pháp – làm hiệu trưởng. Một học viên của trường này là Võ Chí Công, sau này là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam. Đặng Quang Cầm có giấy gọi đi học, nhưng không thể đến trường vì nhiệm vụ ở con đường mòn Hồ Chí Minh bấy giờ không thể thiếu anh...

Đến kháng chiến chống Mỹ, đòi hỏi về xây dựng quân đội ta càng trở nên cấp bách. Bên cạnh việc chiêu sinh thanh niên đã có trình độ học vấn khá hơn trước, cấp 3, cấp 2, công tác bồi dưỡng cho cán bộ học vấn thấp ở đơn vị nào cũng được đặt ra, bổ túc cho ngay cán bộ của đơn vị mình. Năm 1967, Trường Văn hóa Binh

chủng Thông tin ra đời. Đây là một tất yếu lịch sử...

Trường có nhiệm vụ “bổ túc văn hóa” cho cán bộ sơ cấp thông tin học vấn còn thấp, cố gắng xong cấp 1, rồi hết cấp 2. Trường trực thuộc Phòng Chính trị của Cục Thông tin liên lạc (sau đổi là Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc), trong biên chế tổ chức của Ban Tuyên huấn...

Thời gian ấy, tôi là trợ lý tuyên huấn, phụ trách báo chí, tuyên truyền, huấn luyện, thi đua, văn hóa... của Binh chủng nên vẫn được thường xuyên làm việc với Ban giám hiệu trường, với các cô, thầy, với các học viên...

Cô, thầy giáo của Trường có nhiều kinh nghiệm giảng dạy các cháu thanh, thiếu niên. Nay, học trò là những sỹ quan, đảng viên, có nhiều người hơn tuổi mình... nên ban đầu cũng gặp chừng nào đó khó khăn. Nhưng rồi với tình yêu nghề nghiệp, thông cảm sâu sắc với hoàn cảnh từng học viên, các nhà giáo của trường đã đem hết khả năng để “vũ trang kiến thức” cho họ.

Học viên, có người không thích học, ngại khó. “Về đơn vị thôi! Học mệt lắm! Học không vào đâu!” Nhưng đa số coi đây là một dịp may, hạnh phúc, nên họ cần cù, siêng năng, kiên nhẫn vượt lên khó khăn của chính mình để “theo thầy, theo lớp”. Có nhiều học viên học rất tốt, tiến bộ nhanh. Nhưng cũng có người “hai năm chưa xong 1 lớp”. Trong một kỳ thi tốt nghiệp cấp I (hồi đó là lớp BTVH ở trung đoàn), đề làm bài văn với đầu bài là: “Đồng chí nghĩ gì về lời nói của Bác: Trung với Nước, Hiếu với Dân của Quân đội ta”? Anh hùng thông tin người dân tộc Mường - Hoàng Văn Cón đã trả bài chỉ với mấy dòng chữ “Hồ Chủ tịch Muôn Năm”. “Bác Hồ Muôn Năm” trên một nửa trang giấy, dòng chữ cao, thấp... Anh vẫn phải cố gắng học cho hết “chương trình”. Đấy là cái “thuở ban đầu” về sự bổ túc văn hóa ở đơn vị. Còn khi đã được đưa về Trường Văn hóa của Binh chủng thì không còn tình trạng như vậy. Và với nỗ lực của cả giáo viên lẫn học viên, trình độ văn hóa nói chung của cán bộ chiến sĩ đều đã nâng lên hẳn, đáp ứng yêu cầu của nhân lực quân đội. Đó là đóng góp rất đáng ghi nhận của Trường Văn hóa Binh chủng trong một giai đoạn lịch sử của Binh chủng nói riêng, quân đội nói chung.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Miền ký ức không phai”) 

16.5.25

Tình lính thông tin

Xuân Hạnh

"Lấy chồng Bộ đội Thông tin

Có dây phơi áo, có pin nghe đài ...”

Xa rồi thời đó hỡi ai

Thời nay rất dễ sắm đài, mua pin

Anh làm công tác thông tin

Cô người yêu bảo: "linh tinh nhất đời!"

Nào dây, nào máy rối bời

Ăngten chằng chịt trên trời chán ghê!

Có khi còn nói như mê

"An Châu, Bắc Cạn ...", chẳng hề hiểu chi

Lại thêm cái tính hay đi

Công văn, tài liệu chẳng khi nào ngừng

Nhiều lúc em cũng không ưng

Vì trong ngày nghỉ mà "cưng" vẫn làm

Em cũng không phải tham lam

Mà em chỉ muốn anh làm ít thôi.

Để rồi có chút thảnh thơi

Ta cùng tâm sự cho rồi chuyện riêng

Chứ anh mà cứ chung chiêng

Thì em có lẽ ra Giêng... cưới chồng!

 

Chồng em là tấm chăn bông

Để đêm về đắp mà lòng lạnh thêm

Em ơi! Em chớ phân bì

Anh đang làm việc cũng vì chúng ta

Công việc đặc thù phiên ca

Đó là quy định, cũng là việc chung

Người yêu ơi! Anh rất mừng

Yêu em, công tác xem chừng... tốt hơn!

Em cứ chuẩn bị hồi môn

Ra Giêng anh cưới sau cơn mưa nồng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Nhớ mãi một người thầy

Thượng tá Lã Công Trận - Chính trị viên Tiểu đoàn 18 Trường Sĩ quan Thông tin

Tháng 8 năm 1981, tôi về học tại Trường Sĩ quan Chỉ huy-Kỹ thuật Thông tin. Với 117 học viên vào nhập học, chúng tôi được biên chế vào Đại đội 1 Tiểu đoàn 20; sau này tách ra thành Tiểu đoàn 34 - tiểu đoàn đào tạo sĩ quan chính trị cấp phân đội của nhà trường. Trong quá trình học tập tại trường khóa học 1981-1984, có rất nhiều thầy giáo đã để lại trong chúng tôi những tình cảm sâu nặng; người thầy mà tôi không bao giờ quên đó là thầy Biện Hữu Lý, đại tá, Chủ nhiệm Khoa Khoa học xã hội.

Dù 30 năm đã trôi qua, trong tôi vẫn nhớ như in nội dung buổi nói chuyện và từng cử chỉ, giọng nói của thầy. Đó là một buổi chiều mùa thu, thầy bước vào hội trường của tiểu đoàn trong bộ quân phục đã bạc màu, mái tóc pha sương; ông nhanh nhẹn bước lên bục, giơ tay ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống. Ông mỉm cười khen chúng tôi đã tích cực phấn đấu, tu dưỡng, được đơn vị tuyển chọn đi đào tạo cán bộ; về trường tiếp tục được Nhà trường chọn vào học khóa 1 đào tạo sĩ quan chính trị, khi ra trường sẽ về công tác ở các đơn vị Thông tin trong toàn quân. Ông gọi đại đội chúng tôi là "Đại đội đỏ", bởi đại đội đã có hơn 90% học viên đã là đảng viên khi vào học. Ông thông báo khái quát về tình hình thế giới, tình hình trong nước. Ông nói về Đảng, Nhà nước, nhân dân, về Bác Hồ, về quân đội ta. Chúng tôi ngồi chăm chú nghe. Mỗi lời nói của ông thấm sâu vào tâm trí của chúng tôi. Nhất là khi ông nói về thực tiễn quân đội, đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ hiện nay rất khó khăn, gian khổ. Ông nhắc lại câu nói của một đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng khi đến kiểm tra thực tế bữa ăn của bộ đội "nước mắm đại dương, bát canh toàn quốc". Ông nói về những thiệt thòi, hy sinh của người lính không chăm sóc được cha mẹ già, luôn xa nhà, xa vợ, không có điều kiện gần gũi, nuôi dưỡng dạy bảo con.

Ông khái quát cho chúng tôi hiểu công tác chính trị là mọi hoạt động tinh thần nhằm giáo dục, tuyên truyền, tổ chức quần chúng, hướng dẫn quần chúng hoạt động đúng hướng. Làm công tác chính trị là tiếp cận, cảm hóa con người, hướng họ hoạt động có mục đích rõ ràng. Ông phân tích lời dạy của Bác đối với người chính trị viên: "Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công minh như một người anh". Chữ thân thiết chính là cái tâm, công minh chính là cái đức, như vậy người cán bộ chính trị trong quân đội phải đem cái tâm, cái đức để hòa hợp với mọi người, cảm hóa con người. Ống hướng dẫn chúng tôi cách học tập các môn học của Khoa Khoa học xã hội nói chung và môn công tác đảng, công tác chính trị nói riêng. Ông căn dặn mỗi học viên phải xác định rõ nhiệm vụ, có động cơ học tập đúng đắn, rèn luyện ngay từ đầu. Ở ông, luôn toát ra cốt cách dung dị, rất đời thường mà hóm hỉnh lãng mạn, tinh anh cuốn hút kỳ lạ.

Trong suốt 3 năm học tập ở trường, chúng tôi còn được tiếp xúc, nghe ông giảng, trò chuyện nhiều lần. Tôi nhớ nhất một lần ông xuống đơn vị xem tôi thực hành đóng vai bí thư chi bộ tổ chức lễ kết nạp đảng viên. Đến bước bí thư giao nhiệm vụ cho đảng viên mới, ông đã sửa cho tôi từng từ, từng động tác. Câu nói đầu tiên khi giao nhiệm vụ cho đảng viên mới, ông làm mẫu cho tôi là: "Kể từ giờ phút này đồng chí... đã là đảng viên của Đảng; vì vậy mọi lời nói và việc làm phải tuân theo nghị quyết, chỉ thị của Đảng". Sau khi tốt nghiệp ra trường, trên cương vị là cán bộ ở Ban Tổ chức Phòng Chính trị hay là giảng viên bộ môn Công tác đảng, công tác chính trị, tôi đều cố gắng truyền đạt tốt nhất những kiến thức đã học được ở trường, học được ở ông cho cấp dưới và học viên.

Nhân dịp ngày Nhà giáo Việt Nam (20-11), ngày truyền thống của Trường (11-11), xin thay mặt những học viên Đại đội 1 Tiểu đoàn 34 khóa 1981-1984 (hay nói theo tên gọi của ông "Đại đội đỏ") được gửi những tình cảm thành kính và sâu nặng nhất tới ông - một người thầy hết lòng vì sự nghiệp "trồng người" trong quân đội - người đã dạy chúng tôi "học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" ngay từ thập niên 80 của thế kỷ XX và dạy chúng tôi "đạo làm người" một cách nhân văn, sâu sắc, trọn vẹn nhất.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Đôi điều suy nghĩ về lớp cán bộ đầu tiên của Trường Sĩ quan Thông tin

PGS, TS, Đại tá Nguyễn Chính Trung - nguyên cán bộ Trường Sĩ quan Thông tin

Trải qua nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành, ngày nay Trường Sĩ quan Thông tin đã trở thành một trong các trường đại học quân sự trong hệ thống giáo dục đại học quốc gia. Trường đã có những đóng góp to lớn vào nhiệm vụ đào tạo cán bộ chỉ huy, nhân viên chuyên môn kỹ thuật của Binh chủng và quân đội ta. Tôi suy nghĩ, có được bước trưởng thành như ngày hôm nay là do công lao đóng góp của nhiều thế hệ cán bộ, giáo viên - nhất là lớp cán bộ đầu tiên - những người đặt nền móng cho việc xây dựng và phát triển của Nhà trường. Hiện nay có nhiều đồng chí đã khuất bóng, nhưng công lao, hình ảnh của các đồng chí đó mãi mãi được ghi lại. Ở đây tôi chỉ xin nói vài nét về một cán bộ trong lớp người đầu tiên đó, đó là đồng chí Hoàng Tài Long - nguyên Hiệu phó, sau đó là Hiệu trưởng Nhà trường (1965-1981).

Thiếu tướng Hoàng Tài Long (1928-1990) với 45 năm công tác trong quân đội đã có trên 30 năm, gián tiếp hoặc trực tiếp, gắn bó với sự nghiệp giáo dục - đào tạo của Nhà trường. Trong suốt chặng đường tham gia hoạt động giáo dục của mình, với niềm say mê tâm huyết, sự nỗ lực không mệt mỏi, Thiếu tướng Hoàng Tài Long đã góp phần không nhỏ vào việc đào tạo cán bộ cho Binh chủng, cho quân đội; có nhiều đóng góp lớn vào việc xây dựng hệ thống tài liệu huấn luyện cho Nhà trường, cho Binh chủng Thông tin liên lạc. Sự nghiệp của ông có những thời điểm đáng ghi nhớ:

- Năm 1945: Ông tham gia quân đội rồi trở thành một cán bộ thuộc lớp người đầu tiên của Binh chủng Thông tin liên lạc, một đảng viên cộng sản.

- Năm 1954: Ông chuyển sang làm Trưởng phòng Huấn luyện của Cục Thông tin liên lạc, phấn đấu trở thành một nhà sư phạm tài năng. Trong thời gian này ông đã có nhiều đóng góp có hiệu quả trong chỉ đạo huấn luyện tại các đơn vị thông tin toàn quân cũng như ở Trường Thông tin (Đa Phúc), Khoa giáo viên Thông tin của Trường Sĩ quan Lục quân - các đơn vị tiền thân của Trường Sĩ quan Thông tin sau này.

- Năm 1965: Để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, Bộ Quốc phòng ra Quyết định thành lập Trường Sĩ quan Thông tin thuộc Cục Thông tin liên lạc (21-5-1965). Ông trở thành Hiệu phó, sau đó làm Hiệu trưởng (đến năm 1982).

- Từ năm 1982-1990, ông là giảng viên, sau đó là Trưởng khoa Thông tin Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).

Sự nghiệp của ông phát triển theo từng giai đoạn, song có lẽ thăng hoa nhất phải kể đến thời kỳ ông công tác và giảng dạy tại Trường Sĩ quan Thông tin - vừa là nhà quản lý giáo dục, một nhà sư phạm đầy tâm huyết. Ông đã có nhiều đóng góp lớn lao trong chỉ đạo xây dựng Nhà trường: từ việc chỉ đạo xây dựng chương trình, xác định mô hình đào tạo từng loại cán bộ; đổi mới nội dung dạy học, bám sát sự phát triển của chiến trường theo hướng: "dạy những cái đơn vị, chiến trường cần, chứ không chỉ dạy cái Nhà trường có..."; tổ chức xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý các cấp; chỉ đạo đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, đặc biệt coi trọng rèn luyện năng lực thực hành trong luyện tập, diễn tập... Để đáp ứng yêu cầu trên, ở cương vị người quản lý, ông còn luôn chăm lo đến việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, bảo đảm cho công tác huấn luyện của Nhà trường. Đây cũng là thời kỳ ông có nhiều đóng góp có giá trị trong xây dựng hệ thống tài liệu lý luận về "Tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc trong chiến đấu chiến dịch", đưa ông trở thành một trong những cán bộ khoa học đầu ngành của Binh chủng Thông tin liên lạc. Những nghiên cứu của ông trên cả hai lĩnh vực (quản lý giáo dục - đào tạo và lý luận về tổ chức thông tin liên lạc) rất đáng được trân trọng, đang được các thế hệ đi sau tiếp tục nghiên cứu và phát triển.

Nhân ngày thành lập Nhà trường, nghĩ về lớp người đi trước, tôi xin viết đôi điều suy nghĩ về ông; một mặt biểu lộ sự thành kính tưởng nhớ tới ông; một mặt biểu lộ lòng biết ơn của nhiều thế hệ đồng chí, đồng sự, học trò của ông mà hôm nay đang nối tiếp sự nghiệp của ông, nỗ lực đóng góp vào quá trình đổi mới công tác giáo dục - đào tạo của Trường Sĩ quan Chỉ huy-Kỹ thuật Thông tin nói riêng, sự nghiệp giáo dục - đào tạo nói chung của quân đội ta.

Bài viết nhỏ này mong được là nén hương tưởng nhớ đến ông và những đồng chí đã khuất đã có nhiều công lao đóng góp trong sự nghiệp trưởng thành và phát triển của Nhà trường!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

15.5.25

Nhớ lại một thời hào hùng

Nguyễn Viết Quyền 

Năm 1965, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam đang mở rộng. Mỹ ném bom, gây chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Vâng theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước sục sôi khí thế đánh Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngày 21 tháng 5 năm 1965, tách hệ đào tạo sĩ quan Thông tin thuộc Trường Sĩ quan Lục quân và Khoa Thông tin Sĩ quan Kỹ thuật về tiếp tục xây dựng Trường Sĩ quan Thông tin trực thuộc Cục Thông tin liên lạc. Từ đây, Nhà trường chính thức mang tên Trường Sĩ quan Thông tin.

Sau một thời gian ngắn tạm dừng để hoàn thành những khóa học dang dở, toàn trường hành quân đến đóng quân tại một số xã của Hiệp Hòa, Hà Bắc cách Hà Nội hơn 50km, tiếp tục công tác huấn luyện trong hoàn cảnh sơ tán ở nhà dân. Bao nhiêu công việc bộn bề: ổn định nơi ăn chốn ở, không phải của một đơn vị mà của một nhà trường quân sự huấn luyện kỹ thuật nghiệp vụ thông tin; ổn định tổ chức biên chế cơ quan, đơn vị, hậu cần, kỹ thuật đã khó khăn, công tác chuẩn bị huấn luyện, bổ sung đội ngũ giáo viên; chuẩn bị cơ sở vật chất phương tiện khí tài giảng đường, bãi tập lại càng phức tạp... Những con người mới được tập hợp về, tuy người này người kia còn có băn khoăn vương vấn nhưng tất cả đều dồn sức cho một yêu cầu: "huấn luyện theo yêu cầu của thực tế chiến trường". Thời gian huấn luyện đã rút ngắn chỉ còn một năm, 6 tháng, thậm chí 3 tháng. Đầu ra không những trung đội trưởng thông tin, mà còn trung đội trưởng chuyên ngành hữu tuyến, vô tuyến, không chỉ đào tạo mà còn bổ túc; không chỉ sơ cấp mà còn trung cấp, không chỉ quân sự chuyên môn mà còn chính trị, không chỉ có học viên nam mà còn lớp học viên nữ, không chỉ trong nước mà còn học viên bạn Lào và Cam-pu-chia... Mỗi đối tượng đào tạo là một chương trình toàn khóa. Phương tiện khí tài vẫn là những máy, những dây được trang bị trong toàn quân nhưng chương trình môn học phải rút gọn. Chọn nội dung, chọn phương pháp sao cho thích hợp với thời gian và phù hợp với từng đối tượng đào tạo là trí tuệ, là công sức của tập thể giáo viên, cán bộ dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu Nhà trường. Mọi cấp, mọi ngành, mọi người đều tập trung vào mục tiêu: "huấn luyện theo yêu cầu chiến tranh, huấn luyện bám sát thực tế chiến trường".

Cán bộ, giáo viên Nhà trường được tập huấn dài ngày về nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo tác chiến, các nội dung chiến dịch chiến thuật binh chủng hợp thành đang được huấn luyện ở các học viện quân sự trung cao cấp. Những báo cáo chiến lệ của thực tế chiến trường là những dẫn chứng hấp dẫn. Những cán bộ, giáo viên đi thực tế chiến trường về, những học viên vốn là cán bộ thông tin từ mặt trận phía Nam và phía Bắc về trường, đã báo cáo trung thực những kinh nghiệm tổ chức và giữ vững thông tin liên lạc của họ cho toàn trường. Gương chiến đấu anh dũng của chiến sĩ thông tin và các anh hùng thông tin là những ví dụ có sức thuyết phục trong các bài giảng của giáo viên. Trên cơ sở vốn hiểu biết về tư tưởng chiến thuật và tác chiến hiệp đồng binh chủng đã được bồi dưỡng, cộng với kiến thức về kỹ thuật nghiệp vụ chuyên môn, các khoa giáo viên đã tập trung trí tuệ để biên soạn hàng chục tài liệu, bài giảng có chất lượng về tổ chức thông tin trong các hình thức chiến thuật cũng như các động tác kỹ thuật nghiệp vụ của chiến sĩ và phân đội nhỏ thông tin trong chiến đấu. Bao nhiêu đoàn cán bộ, giáo viên chiến thuật và nghiệp vụ len lỏi bước chân trên vùng rừng núi Hòa Bình và khắp miền trung du Hà Bắc để tìm kiếm thao trường, xác định tưởng định trên thực tế địa hình. Các phương án tổ chức thông tin được soạn thảo trên bản đồ, thảo luận và thông qua tập thể trên sa bàn, ngoài thực địa. Các đợt diễn tập tổng hợp dài ngày trên các loại địa hình dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban giám hiệu, của các khoa, đã rèn luyện bản lĩnh chiến đấu cho các lớp học viên và nâng cao chất lượng nhiều bài giảng. Qua thực tế diễn tập tổng hợp, các giáo viên kỹ thuật nghiệp vụ vô tuyến, hữu tuyến cũng tập trung nghiên cứu biên soạn những tài liệu ứng dụng thích hợp cho chiến sĩ thông tin, tiểu đội điện đài, tiểu đội dây bọc... trong tập kích, phục kích, vây lấn hoặc đánh địch trong công sự vững chắc... Đã có thời kỳ, giáo viên nghiệp vụ đi học tập động tác của những đơn vị đặc công để nghiên cứu vận dụng vào động tác của chiến sĩ thông tin. Tất cả các hệ thống tài liệu phục vụ đối tượng chiến sĩ và cấp phân đội nay đã được cơ quan huấn luyện của Binh chủng Thông tin biên tập, in ấn và phổ biến trong toàn quân.

Chiến tranh phát triển, quy mô tác chiến mở rộng. Việc tổ chức chỉ huy tác chiến hiệp đồng quân binh chủng trên chiến trường đặt ra cho Binh chủng và Nhà trường việc huấn luyện triển khai những hệ thống thông tin trên phạm vi rộng, không những vô tuyến, hữu tuyến mà còn vô tuyến tiếp sức. Tổng trạm thông tin triển khai các xe máy, đài trạm và dây cáp trên địa hình rừng núi phức tạp, dưới hỏa lực địch phong tỏa. Nội dung huấn luyện tăng thêm nhiều khí tài hiện đại hơn: máy điện báo, máy tải ba một kênh, nhiều kênh, máy tải báo ghép kênh, các xe máy lớn về vô tuyến, vô tuyến tiếp sức... Việc huấn luyện tiếp hợp các phương tiện thông tin, khai thác kết hợp các kênh thông tin không chỉ ở giảng đường chuyên dùng mà còn ở các tổng trạm thông tin triển khai trên thực địa. Toàn trường đã tập trung cho một đợt diễn tập triển khai, di chuyển và thu hồi tổng trạm thông tin của sư đoàn bộ binh trong chiến đấu tiến công trong hai ngày đêm trên địa hình trung du Hiệp Hòa. Bao nhiêu khó khăn phức tạp của mang vác vận chuyển, triển khai trong ban đêm dưới công sự, chống ẩm, chống nhiễu, bảo đảm nguồn điện, kỹ thuật tiếp hợp được khắc phục để có được mạng thông tin thông suốt, có chất lượng. Những kinh nghiệm này đã được vận dụng trong những lần triển khai tổng trạm thông tin dã chiến của Bộ Tư lệnh Thông tin để giới thiệu trong tập huấn thông tin toàn quân...

Biết bao khóa huấn luyện, bao nhiêu học viên ra trường về đơn vị, ra chiến trường, cán bộ giáo viên chúng tôi không còn nhớ hết! Năm năm sau, tháng 5 năm 1970 Nhà trường được thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất. Tám năm sau, năm 1973, Nhà trường vinh dự được đón nhận Lẵng hoa và Cờ thưởng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Đây là những phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước dành cho những cố gắng vượt bậc của cán bộ giáo viên, học viên, công nhân viên, chiến sĩ toàn trường thời kỳ đó.

Tháng 10-2000

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

Trường Thông tin

 Nguyễn Viết Quyền – nguyên Trưởng khoa Hữu tuyến điện Trường Sĩ quan Thông tin.

Xuất phát Trường mình ở Bộc Nhiêu

Thông tin thuở ấy đã cần nhiều

Mở trường cán bộ chuyên ngành giỏi

Tác chiến, chỉ huy dạy đủ điều...

 

Trường về Đa Phúc đã hòa bình

Các lớp, các ngành mới tuyển sinh

Lý thuyết, thực hành theo giáo án

Sông Công còn giữ dáng Trường mình.

 

Năm tám, một ngành ở Lục quân,

Chính quy huấn luyện đúng tinh thần

Chỉ huy tiểu đội lên trung đội

Rèn dũa sao cho giỏi cá nhân.

 

Sáu lăm, thành lập lại Trường ta,

Sơ tán đứng chân huyện Hiệp Hòa.

Huấn luyện yêu cầu theo chiến cuộc

Hòa bình thống nhất lại đi xa..

 

Bảy chín hành quân vào Khánh Hòa,

Một trang sử mới được mở ra

Giáo viên, cán bộ nâng trình độ...

Đại học - Anh hùng đáng ngợi ca.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

60 năm xây dựng và phát triển của Trường Sĩ quan Thông tin1

Thiếu tướng Nguyễn Diệp - nguyên Hiệu phó Trường Sĩ quan Thông tin

Sau Cách mạng Tháng Tám, trước nhu cầu phát triển của hệ thống thông tin trong lực lượng vũ trang, Phòng Thông tin Bộ Tổng Tham mưu và Ban Thông tin các liên khu, các khu đều tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn nhân viên kỹ thuật và cán bộ thông tin2.

Đến cuối năm 1951, trước yêu cầu bảo đảm thông tin cho các đại đoàn, trung đoàn bộ đội chủ lực tác chiến hiệp đồng binh chủng trong các chiến dịch quy mô lớn, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 132/QĐ-BQP (ngày 11-11-1951) thành lập Trường Thông tin trực thuộc Cục Thông tin trên cơ sở sáp nhập các lớp đào tạo cán bộ tham mưu và cán bộ, nhân viên kỹ thuật của Cục Thông tin với Trường Thông tin của Liên khu 3.

Đây là tiền thân của Trường Sĩ quan Thông tin đảm nhiệm việc đào tạo, bổ túc cán bộ tham mưu thông tin và cán bộ, nhân viên kỹ thuật cho toàn quân.

Trong kháng chiến chống Pháp, nhà trường đã khắc phục nhiều khó khăn, di chuyển địa điểm nhiều lần ở An toàn khu Định Hoá - Thái Nguyên, đã đào tạo được 2.300 cán bộ và nhân viên kỹ thuật cung cấp cho chiến trường, góp phần quan trọng vào công tác bảo đảm thông tin liên lạc cho Bộ và toàn quân; đặc biệt đã bảo đảm cung cấp nhiều cán bộ và nhân viên kỹ thuật trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, nhất là ở Mặt trận Điện Biên Phủ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) Trường Thông tin chuyển từ xã Bộc Nhiêu ở An toàn khu về huyện Đa Phúc cách Hà Nội 40km. Trong điều kiện hoà bình, nhà trường đã được củng cố về tổ chức, đã biên soạn hoàn chỉnh hệ thống tài liệu bảo đảm huấn luyện các lớp đào tạo, bổ túc cán bộ chỉ huy thông tin và nhân viên kỹ thuật vô tuyến điện, hữu tuyến điện, chất lượng đào tạo được nâng lên rõ rệt so với thời kỳ kháng chiến.

Đến tháng 6 năm 1958, trước yêu cầu xây dựng quân đội chính quy, Bộ quyết định tách các lớp đào tạo, bổ túc cán bộ chỉ huy và tham mưu chuyển về thành lập Khoa Thông tin tại Trường Sĩ quan Lục quân, Cục Thông tin chỉ đào tạo nhân viên kỹ thuật (báo vụ, cơ công sơ cấp).

Đến năm 1965, trước yêu cầu chi viện miền Nam và sẵn sàng chiến đấu ở miền Bắc đòi hỏi phải đào tạo lượng lớn cán bộ các quân binh chủng nên ngày 21 tháng 5 năm 1965 Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 69/QĐ-QP tách Khoa Thông tin và Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 5 thuộc Trường Sĩ quan Lục quân và Khoa Thông tin cùng Tiểu đoàn 3 thuộc Trường Sĩ quan Kỹ thuật để tổ chức Trường Sĩ quan Thông tin trực thuộc Cục Thông tin.

Sau khi được thành lập và chuyển về địa điểm sơ tán ở Hiệp Hoà - Hà Bắc, nhà trường đã nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất - hậu cần và ổn định tổ chức. Trong thời gian này nhà trường nghiên cứu các bản tổng kết của Bộ và Ban Khoa học quân sự của Binh chủng về công tác bảo đảm thông tin trong các trận đánh, các chiến dịch ở miền Nam và Lào để biên soạn tài liệu, giáo án sát với thực tiễn chiến đấu, tăng cường huấn luyện, luyện tập tại thực địa và diễn tập cuối khoá để nâng cao chất lượng đào tạo.

Ngoài việc đào tạo nhân viên kỹ thuật sơ cấp, trung cấp ngắn hạn để chi viện cho chiến trường, nhà trường còn đào tạo cán bộ cho quân đội cách mạng Lào, Campuchia và quân đội In-đô-nê-xi-a. Bên cạnh việc đào tạo cán bộ chỉ huy, trường còn đào tạo cán bộ chính trị thông tin.

Trong 2 năm 1968-1969 trường cử một số cán bộ, giáo viên đi thực tế tại các đại đoàn chủ lực, tham gia chiến dịch Khe Sanh để thu thập kinh nghiệm biên soạn tài liệu và huấn luyện sát thực tế chiến đấu. Đến tháng 11 năm 1970 trường bắt đầu đào tạo lớp sĩ quan chỉ huy sơ cấp dài hạn 3 năm. Sau 5 năm xây dựng, tháng 12 năm 1970 nhà trường đã vinh dự được thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất.

Trước yêu cầu của chiến trường, tháng 9 năm 1972 nhà trường đã tổ chức khung cơ quan và đơn vị thông tin cho một sư đoàn chiến đấu ở Quảng Trị gồm 16 cán bộ, nhân viên kỹ thuật và 194 học viên.

Đến cuối năm 1974, nhờ sự giúp đỡ của quân đội Hung-ga-ri, nhà trường đã xây dựng 4 giảng đường chuyên dụng để nâng cao chất lượng huấn luyện lý thuyết và thực hành.

Sau ngày đất nước thống nhất, ngoài việc đào tạo các lớp cán bộ trung đội 3 năm, từ năm 1978-1979 trường bắt đầu đào tạo lớp Cao đẳng chỉ huy và lớp kỹ sư khai thác 4 năm, đồng thời đa dạng hoá các loại hình đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển của quân đội, của Binh chủng. Từ tháng 9 năm 1982, trường được giao nhiệm vụ đào tạo sĩ quan chính trị thông tin dài hạn 3 năm.

Ngoài nhiệm vụ đào tạo cán bộ, trong 2 năm 1978 - 1979 nhà trường cử 2 đoàn cán bộ, giáo viên trực tiếp tham gia chiến đấu tại Mặt trận Tây Nam và Đại úy Vũ Anh Khoan - cán bộ phòng huấn luyện đã hy sinh vì nghĩa vụ quốc tế.

Tháng 9 năm 1979 Bộ quyết định chuyển trường từ Hiệp Hoà - Bắc Giang vào phường Vĩnh Hoà, thành phố Nha Trang3. Tháng 12 năm 1981 Bộ ra Quyết định số 414/QĐ-QP đổi tên Trường Sĩ quan Thông tin thành Trường Sĩ quan chỉ huy kỹ thuật Thông tin vì đảm nhiệm đào tạo cán bộ chỉ huy (lớp 4 năm) có trình độ cao đẳng về kỹ thuật và lớp kỹ sư khai thác có trình độ Đại học kỹ thuật theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục đào tạo.

Ngày 21 tháng 5 năm 1985, nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Trường Sĩ quan Thông tin, nhà trường đón nhận nhiều phần thưởng cao quý do có nhiều thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong chiến tranh bảo vệ biên giới và thành tích xây dựng nhà trường trưởng thành về nhiều mặt4.

Từ năm 1986 đến năm 2001, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và sự chỉ đạo của Đảng ủy Binh chủng, của Cục Nhà trường, của cơ quan Bộ Tư lệnh Binh chủng, Nhà trường có bước chuyển biến mạnh mẽ về nhiều mặt: bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có trình độ đại học và trên đại học; xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm huấn luyện; tổ chức liên kết đào tạo với nhiều trường trong quân đội và ngoài Nhà nước...

Đánh dấu bước tiến bộ và thành tích xuất sắc trong công tác giáo dục, đào tạo, công tác dân vận tham gia xây dựng địa phương, ngày 2 tháng 11 năm 2001 Chủ tịch nước đã ký Quyết định số 843/2001/QĐ/CTN phong tặng Nhà trường danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ đổi mới. Đây cũng là phần thưởng xứng đáng cho Nhà trường sau 50 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành (1951-2001).

Từ năm 2001 đến 2011, Đảng ủy - Ban giám hiệu tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc các quan điểm đổi mới giáo dục, đào tạo của Đảng, nắm bắt kịp thời xu thế phát triển của khoa học kỹ thuật và yêu cầu xây dựng Binh chủng Thông tin hiện đại. Nhà trường tập trung vào nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ giảng viên, đổi mới phương pháp, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học. Từ năm 2008 Nhà trường đã liên kết với Học viện Công nghệ Bưu chính-Viễn thông mở lớp liên thông đào tạo các chuyên ngành Tin học, Điện tử, Viễn thông hệ dân sự. Ngoài ra còn liên kết với Trung tâm Anh ngữ Việt - Mỹ, Trung tâm ngoại ngữ Đại học Nha Trang và các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội để đào tạo trình độ sau đại học, nâng cao trình độ tiếng Anh. Trường đã cử hơn 40 cán bộ, giảng viên đi bồi dưỡng, học tập ở nước ngoài và tham gia các lớp huấn luyện do cấp trên tổ chức.

Đến nay 57% cán bộ, giảng viên đã có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ; 100% giảng viên đã ứng dụng công nghệ thông tin vào soạn giáo án điện tử và sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại. Có 10 giảng viên giảng một số nội dung chuyên ngành bằng tiếng Anh để nâng cao trình độ ngoại ngữ cho học viên.

Hai mươi năm qua (từ 1990-2011) đã có 1 cán bộ được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, 10 cán bộ được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú. Điều đó nói lên sự trưởng thành và công lao đóng góp của đội ngũ cán bộ, giáo viên trong công tác giáo dục, đào tạo cán bộ, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng và chiến đấu của Binh chủng Thông tin.

Ngày 29 tháng 4 năm 2011 Nhà trường lại vinh dự được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh trong dịp kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống (11.11.1951 - 11.11.2011). Ngày 27 tháng 10 năm 2011 Bộ Quốc phòng đã quyết định đổi tên Trường Sĩ quan Chỉ huy-Kỹ thuật Thông tin thành Trường Sĩ quan Thông tin cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ đào tạo của Nhà trường trong tình hình mới.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

-----------------------------------------------

1. Biên soạn theo tư liệu của Ban biên tập cuốn "60 năm - chặng đường vẻ vang" và bài viết của Thiếu tướng Lê Đình Hùng Hiệu trưởng nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống của Nhà trường (11.11.1951 - 11.11.2011).

2. Tháng 12-1945, Phòng Thông tin Bộ Tổng Tham mưu đã mở lớp đào tạo báo vụ đầu tiên tại Trường Hàm Long.

3. Trước là địa điểm trường đào tạo Hạ sĩ quan quân đội ngụy Sài Gòn.

4. Ghi nhận công lao và thành tích của Nhà trường, Đảng và Nhà nước ta đã tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Quân công hạng Nhất cho Nhà trường; Huân chương Chiến công hạng Nhì cho Tiểu đoàn 28 và Khoa khoa học xã hội; Huân chương Chiến công hạng Ba cho Khoa tổ chức thông tin và Tiểu đoàn 30. 

10.5.25

Hội Truyền thống Lữ đoàn 132 gặp mặt kỷ niệm 72 năm Ngày Truyền thống

Trong không khí vui tươi, phấn khởi của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vừa được sống trong không khí Chiến thắng, kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025), sáng 10 tháng 5 năm 2025 tại Hà Nội, Hội Truyền thống Lữ đoàn 132 đã tổ chức gặp mặt ôn lại truyền thống 72 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Lữ đoàn Thông tin 132 (01/5/1953-01/5/2025) và chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống của Bộ đội Thông tin liên lạc anh hùng (09/9/1945-09/9/2025).

Đến dự buổi gặp mặt có các đồng chí: Đại tá Vũ Ngọc Khương – Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Binh chủng; Thiếu tướng Trần Minh Tâm, nguyên Chính ủy Binh chủng – Phó Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội; Thượng tá Lê Sĩ Tưởng – Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Lữ đoàn 132; Thượng tá Trần Thành Nam – Phó Chính ủy Lữ đoàn 132; Thượng tá Trần Trung Dũng - Phó Chính ủy Lữ đoàn 205; Trung tá Nguyễn Công - Trợ lý Chính sách/Cục Chính trị Binh chủng; đại diện các cơ quan Cục Chính trị Binh chủng, Lữ đoàn 205, Thường trực Ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội cùng gần 200 hội viên của Hội Truyền thống Lữ đoàn 132 từ nhiều tỉnh, thành phía Bắc đã về dự.

Các đại biểu đã được xem video tài liệu khái quát những kết quả nổi bật của của Lữ đoàn 132 trong những năm vừa qua.

Đồng chí Đại tá Bùi Công Trực - Phó Trưởng ban liên lạc chủ trì buổi Gặp mặt.

Sau phần ổn định tổ chức, tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu của đồng chí Đại tá Nguyễn Mạnh Sùng, các đại biểu đã giành một phút mặc niệm để bày tỏ lòng thành kính và mãi mãi khắc sâu, biết ơn tưởng nhớ tới 107 liệt sĩ của Lữ đoàn đã hy sinh anh dũng để nối thông liên lạc phục vụ cho lãnh đạo, chỉ huy trong trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước và bảo vệ biên cương Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đồng chí Đại tá Nguyễn Mạnh Sùng - Trưởng ban tổ chức tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu đến dự buổi Gặp mặt.

Ôn lại truyền thống 72 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Lữ đoàn 132, đồng chí Bùi Công Trực – Phó ban liên lạc Chi hội nêu rõ: Ngày 01/5/1953 trước yêu cầu bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đại đội 105 (thông tin dây trần) thuộc Tiểu đoàn Thông tin 303 tiền thân của Lữ đoàn 132 ngày nay được thành lập tại làng Đầm, xã Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với sự phát triển của Quân đội, ngày 15/7/1965 Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Trung đoàn 132. Trước yêu cầu xây dựng Quân đội và Binh chủng Thông tin liên lạc, ngày 31/3/2008 Bộ Quốc phòng quyết định nâng cấp Trung đoàn 132 thành Lữ đoàn 132 và trở thành một đơn vị thông tin hỗn hợp.

Các đại biểu dự Gặp mặt trong hội trường.

Điểm lại hoạt động của Hội từ tháng 5/2023 đến 5/2025, đồng chí Phó trưởng ban nhấn mạnh:

- Hoạt động chủ yếu của Hội là các hoạt động tự nguyện, tình nghĩa tình cảm giữa các anh em đồng đội đã trải qua những tháng năm chiến đấu công tác gian khổ, ác liệt trong kháng chiến, động viên, chia xẻ giữa các đồng đội trong cuộc sống hàng ngày. Hiện nay, các đ/c sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng Lữ 132 đã nghỉ công tác tại Hà Nội chưa tham gia sinh hoạt ở chi hội nào đã tập trung vào một đầu mối là Chi hội Truyền thống Thông tin Lữ 132B thuộc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội.

- Hằng năm các chi hội đều tổ chức gặp mặt ôn lại những kỉ niệm thời quân ngũ, duy trì tình cảm đồng chí, đồng đội trong cuộc sống đời thường (Chi hội C8, Chi hội 2/68 Hà Nội, Chi hội 8/4/1965 Mỹ Hào Hưng Yên, Chi hội 4/1964 Yên Mỹ Hưng Yên, Chi hội 2/1977 Nam Định, Chi hội Nam Trực Nam Định, Chi hội 8/73 Hải Phòng, Chi hội Lào Cai Yên Bái lấy ngày nhập ngũ vào e132 làm ngày kỉ niệm sinh hoạt toàn thể hàng năm, Chi hội d6/Bắc Ninh, Chi hội C1/D86, C5/D86, Chi hội Cao Bằng sinh hoạt theo các ngày kỉ niệm 09/9 của Binh chủng hoặc 22/12 của Quân đội...).

- Một số chi hội tổ chức đi thăm chiến trường xưa, thăm các chiến tích lịch sử trong hai cuộc kháng chiến mà Lữ đoàn đã góp phần cho chiến thắng (Chi hội 6/74 Lạng Sơn đi Tây Nguyên, Gia Lai, Chi hội C5/d6 đi Điện Biên, C1/D86 thăm thủ đô kháng chiến chống Pháp).

- Chi hội C12, Chi hội Cao Bằng đã vận động anh em đóng góp, tham gia cùng Lữ đoàn 132 và Cục Chính trị Binh chủng giúp đỡ đồng đội hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Cụ thể Chi hội C12 đã giúp đỡ đ/c Long và gia đình là hội viên có hoàn cảnh rất khó khăn (ở Trùng Khánh, Cao Bằng) bị phơi nhiễm chất độc da cam.

- Các chi hội đã làm tốt việc hiếu với tứ thân phụ mẫu của hội viên cũng như việc nghĩa với hội viên qua đời theo quy chế.

Về phương hướng hoạt động năm 2025-2027:

- Do đặc thù hội viên ngày càng lớn tuổi nên hoạt động chủ yếu ở các chi hội là duy trì các hoạt động tự nguyện, tình nghĩa, tình cảm giữa các anh em đồng đội. Các hoạt động thăm hỏi,việc hiếu vẫn thực hiện theo quy chế. Đồng thời tiếp tục vận động, mời các đ/c các thế hệ kế tiếp từ Lữ 132 rời quân ngũ tham gia Hội để tiếp thêm nguồn sinh lực cho Hội.

- Giữ gìn mối liên hệ chặt chẽ với các cơ quan Binh chủng, Lữ đoàn 132 và Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội.

- Dự kiến Ban liên lạc mỗi năm họp một lần, gặp mặt toàn thể hội viên lần tới dự kiến tổ chức vào cuối tháng 4 năm 2027.

Đồng chí Phó trưởng ban liên lạc cũng bày tỏ lòng biết ơn tới sự quan tâm giúp đỡ của Thủ trưởng BTL Thông tin, của lãnh đạo chỉ huy Lữ đoàn 132 đến anh em hội viên và niềm phấn khởi tự hào về sự lớn mạnh vượt bậc đối với các thành tựu của Lữ đoàn 132 cũng như của Binh chủng Thông tin. Thay mặt toàn thể hội viên, đồng chí hứa Hội Truyền thống Lữ 132 sẽ giữ gìn và phát huy truyền thống của người chiến sĩ thông tin của đơn vị anh hùng.

Phát biểu với các đại biểu tại buổi Gặp mặt, đồng chí Đại tá Vũ Ngọc Khương – Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Binh chủng bày tỏ sự vui mừng và trân trọng cảm ơn các đại biểu thay mặt cho các thế hệ Lữ đoàn 132 đã luôn ủng hộ, giúp đỡ và cống hiến xây dựng Binh chủng trong suốt 72 năm qua. Đồng thời, đồng chí  Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng cũng thông tin với các đại biểu về một số hoạt động chính của Binh chủng trong năm 2025. Ngoài ra, đồng chí cũng thông báo với các đại biểu về một số thay đổi trong công tác cán bộ theo quy hoạch, kế hoạch ở một số vị trí lãnh đạo, chỉ huy Binh chủng.

Đại tá Vũ Ngọc Khương – Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng phát biểu.

Buổi Gặp mặt còn được nghe phát biểu của các đ/c Thiếu tướng Trần Minh Tâm - Phó Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội về một số hoạt động của Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội; phát biểu của đ/c Thượng tá Lê Sĩ Tưởng – Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Lữ đoàn 132 về các nhiệm vụ hiện nay của Lữ đoàn 132 và phát biểu của đ/c Lê Ngọc Vân (Chi hội trưởng Cựu chiến binh Lữ 132 Cao Bằng) về tình hình thực hiện công tác chính sách của Chi hội Cao Bằng, đồng thời kiến nghị một số vấn đề về công tác chính sách đối với Hội và Binh chủng.

Thiếu tướng Trần Minh Tâm - Phó Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội phát biểu.

Thượng tá Lê Sĩ Tưởng – Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Lữ đoàn 132 phát biểu.

Đ/c Lê Ngọc Vân - Chi hội trưởng Cựu chiến binh Lữ 132 Cao Bằng phát biểu.

Buổi Gặp mặt kỷ niệm 72 năm Ngày truyền thống của Lữ đoàn 132 được tổ chức trang trọng, ấm áp tình đồng đội thực sự đã động viên được các hội viên thi đua rèn luyện, sống vui - khỏe - có ích; đoàn kết và cổ vũ các thế hệ nỗ lực cống hiến trí tuệ, kinh nghiệm, sức lực và tài năng, vì Binh chủng ngày càng phát triển.

Một số hình ảnh trong buổi Gặp mặt:

Đ/c Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng tặng hoa và quà của Đảng ủy, Thủ trưởng BTL cho Hội Truyền thống.

Đ/c Phó Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội tặng quà cho Hội Truyền thống.

Đ/c Chính ủy Lữ 132 tặng hoa và quà của Đảng ủy, Thủ trưởng Lữ 132 cho Hội Truyền thống.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm.


Một số hoạt động của hội viên ngoài hội trường.

Tin, ảnh: Quang Hưng