Thiếu tá Phạm Phú Nhân – nguyên Phó Hiệu trưởng về Huấn
luyện Trường Văn hóa Binh chủng Thông tin
Sau một tháng huấn luyện “tân binh” chủ yếu là học chính
trị, chỉ có hai ngày học Điều lệnh Đội ngũ, chúng tôi được điều về Bộ tư lệnh
Thông Tin làm nghề dạy học.
Chúng tôi gồm ba người, ba sinh viên vừa tốt nghiệp Đại
học Tổng hợp Hà Nội. Tôi thì về Trường Văn hoá; cùng lớp Toán Cơ với tôi, Bùi
Xuân Hoài về Trường Sĩ quan. Người cùng về Trường Sĩ quan với Bùi Xuân Hoài là
Lê Quyết Thắng bên khoa Lý. Hoài và Thắng đi Hà Bắc sớm tinh mơ ngày
10/12/1970. Còn lại mình tôi ở lại Trạm khách, hết đi ra lại đi vào, nâng lên hạ
xuống chiếc ba lô lép kẹp...
Mãi đến 9 giờ sáng ngày 12/12/1970, tôi mới được anh Trần
Phong Diệu, Trợ lý Văn hoá Bộ tư lệnh đến đón và dẫn ra bến xe Kim Mã. Anh Diệu
khi ấy mang “hàm” trung úy; trung úy thời ấy so với bây giờ “giá” hơn nhiều?!
Thời ấy, nghe nói, những ai là “giáo viên văn hóa” thường chậm lên quân hàm!?
Tôi lên xe theo anh, tay khư khư ôm giúp anh cái bình “a-mô-ni-ắc” mà anh đưa
theo lên Trường để giáo viên dạy hoá làm thí nghiệm. Chỉ lo cái bình thủy tinh ấy
mà vỡ ra thì cả cái xe có mà khai mù khai mịt! Đến bến Phùng, chúng tôi xuống
xe và đi bộ...
Đang mải nghĩ ngợi mường tượng nơi mình sẽ đến ra sao,
thì tôi bỗng giật mình bởi những tiếng hò reo chào đón...
Hoá ra mái trường mà tôi đến là thế này đây: Một ngôi
nhà ngói cũ kĩ, ba căn nhà lá đơn sơ. Cái ngôi nhà ngói cũ kĩ ấy có tên là quán
La Thạch. Bên trong quán có vài bát hương và mấy tượng thờ. Trước đó tôi cứ mường
tượng rằng, đã là “trường học” thì phải “nhà tầng, nước máy, điện giăng đàng
hoàng”. Hay đâu trường của tôi chỉ là một cái quán chơ vơ bên cánh đồng bát
ngát!
Anh Diệu giới thiệu tôi với các đồng nghiệp. Lúc ấy
đang nghỉ giải lao giữa hai tiết học nên tôi được gặp tất cả số giáo viên của
Trường. Có 10 người: 3 giáo viên cấp II là các anh Nguyễn Văn Trung (toán), Ngô
Công Mỹ (lý) và Đồng Văn Nhưng (văn); 2 giáo viên cấp I là chị Trần Thị Dương
Liễu và anh Dương Minh Kha; còn lại là các anh: Nguyễn Thành Nguyên, Chu Văn
Thanh, Nguyễn Ngọc Hoà, Đỗ Xuân Hy và Nguyễn Phúc Chung, những người đã tốt
nghiệp cấp III được điều về từ các đơn vị để làm cái việc “bắt bồ câu đi cày!”
Ngày ấy, ở đây chưa có các chức danh hiệu trưởng, hiệu
phó, chưa có “ban bệ” gì! Phụ trách nhà trường là hai viên trung úy, một già
hơn anh Diệu là bác Lê Tiến Tịnh phụ trách công tác hậu cần (bác Tịnh đi bộ đội
từ năm “bốn sáu”), một nữa trẻ hơn anh Diệu là anh Lê Văn Cận phụ trách công
tác chính trị. Phụ trách Tổ Giáo viên là giáo viên văn, Thượng sĩ Đồng Văn
Nhưng. Tất cả giáo viên đều là hạ sĩ quan hưởng chế độ “phụ cấp”, trừ chị Liễu
hưởng lương “công nhân viên quốc phòng”. Tôi là người thứ hai trong tổ giáo
viên này, hưởng chế độ lương. Mức lương ngày ấy là 51 đồng một tháng, góp tiền
ăn, còn lại có thể đủ mua hàng trăm bát phở! Mọi người chào đón tôi rất nhiệt
tình và chu đáo! Giáo viên Trường đang thiếu, tôi lại là người đầu tiên có
trình độ đại học ở Trường Văn hoá này...
Đêm đầu tiên ở đây, nghĩ ngợi, lo lắng vu vơ... Thiếp
đi được một chút thì có ai đó lay dậy và thì thầm: “Này, dậy ăn cháo bồ câu!”.
Tôi ngạc nhiên vô cùng! Chắc lúc ấy mắt tôi sáng lắm! Lại còn nghe ai đó nói:
“Sáng mai ăn phở đấy!”. Sau này tôi mới biết, cái trường này chính là cái sự
kéo dài ra của Trại trẻ rồi Trại an dưỡng C53. Thảo nào!
Nhân đây, tôi kể luôn chuyện về cái “con dấu” của Nhà trường,
cái con dấu khắc dòng chữ “TRẠI AN DƯỠNG C53”. Khi mà chẳng nơi nào còn dùng
con dấu vuông “củ khoai” thì trường chúng tôi vẫn dùng. Nói là “Trường” văn hoá
nhưng trong thực tế, mọi người vẫn gọi là “Lớp” văn hoá. Thôi thì, gọi là gì
cũng được, miễn là nó vẫn có một cái tên khai sinh, cho dù là một cái tên khai sinh
một cách... “bí danh” chăng nữa! Một lần “đi phép”, giở giấy trình người bán
vé tàu hoả mong được giảm 50% tiền vé, tôi bị vặn vẹo đủ thứ. Người bán vé tàu
nhìn tôi với ánh mắt đầy nghi ngờ, cứ như tôi là gián điệp không bằng! Chung
quy cũng chỉ tại cái con dấu vuông “củ khoai” này thôi! Trong khi mọi người
“tròn”, ai bảo anh lại cứ “vuông”? Cuối cùng tôi phải nói là đơn vị tôi đóng
quân mãi bên nước bạn Cam-pu-chia, người bán vé mới chịu tin đấy!(?)
Trường có 3 lớp: 1 lớp 4, 1 lớp 6 và 1 lớp 7. Học viên
chủ yếu là sĩ quan; nếu có chiến sĩ thì đó là các chiến sĩ có thành tích chiến
đấu và phục vụ, được lựa chọn từ các đơn vị về. Nhiều người còn mang theo cả bệnh
sốt rét từ chiến trường.
Trong tiết học Vật lý, nghe giảng về “trọng tâm” với
“trạng thái cân bằng” mà lại có học viên tự dưng giật đùng đùng ngã vật ra thì
cũng là cái sự thường! Sốt rét mà!
Không phân biệt giáo viên hay học viên, già hay trẻ,
cán bộ hay chiến sĩ; ngoài giờ lên lớp chúng tôi bình đẳng trong mọi công việc,
từ việc quay cán mì sợi, gánh nước, nấu ăn đến tăng gia trồng cấy, sơ tán, chạy
lụt... Tất cả “Trường” đúng là một “Lớp” thật!
Cái tập thể đầy yêu mến ấy tất có người đáng mê. Tôi
đã mê một người ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên. Một năm sau đó, chúng tôi thành vợ
thành chồng. Ở Trường Văn hoá này, cho đến nay có tới hàng chục lễ cưới của
giáo viên được tổ chức, trong đó có những lễ cưới "giáo viên - học viên” lấy
nhau đấy!
Biết bao nhiêu số phận đã gắn bó gần suốt cả cuộc đời
với mái trường này. Lấy nhau, sinh con đẻ cái ở “trường văn hóa”; vào Đảng ở
“trường văn hoá”; gánh chịu buồn đau riêng của từng cá nhân cũng “trường văn
hoá” lo toan trách nhiệm...
Tôi vô cùng biết ơn Trường Văn hoá Binh chủng Thông Tin,
chiếc nôi của cuộc đời tôi, ngôi nhà ấm áp của cuộc đời tôi...
Chẳng hiểu vì sao cho đến bây giờ, trường chúng tôi
không hề có lấy một cuốn “An-bom”, một sổ “truyền thống”; thậm chí danh sách
của hàng trăm giáo viên, hàng ngàn học viên đã qua trường này cũng không còn đầy
đủ nữa! Biết đâu đấy, trong số đó sau này, có người trở thành lãnh tụ, vĩ nhân.
Khi đó, muốn tìm hiểu bước đường phấn đấu gian truân vất vả của họ, ở ngôi trường
này, thì biết tìm đâu ra!
Lỗi này có cả của tôi!
Mười bảy năm gắn bó với Trường, tôi là một trong rất
ít người, ở lâu nhất trường này kia mà!
Hãy tha thứ cho tôi, “mười bảy năm” trôi nhanh quá; chúng
tôi chưa làm kịp điều này!
Mới đấy đã “mười bảy năm”!
Từ cái quán La Thạch bơ vơ trên cánh đồng xưa, đến bây
giờ dập dìu đông vui kề bên Hà Nội.
Từ một tiểu đội “10 giáo viên du kích” đầu tiên, nay
đã đội ngũ chính quy điệp trùng.
Từ con dấu vuông “củ khoai”, nay đã con dấu tròn
trăng...
Mười bảy năm tồn tại một Nhà trường, trường chúng tôi đang
ở cái tuổi “trăng tròn lẻ”...
Chúng tôi nguyện mang theo và giữ gìn vẹn tròn suốt đời
cái vầng trăng vành vạnh ấy!
Trường Lâm, ngày 10/11/1987
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Miền ký ức không phai”)
-----------------------------------------
* Hồi ức được viết nhân kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1987) và được đăng trên báo Thông tin số 334 - tháng 11/1987.
0 comments:
Đăng nhận xét