17.5.25

Mới đấy đã mười bảy...*

Thiếu tá Phạm Phú Nhân – nguyên Phó Hiệu trưởng về Huấn luyện Trường Văn hóa Binh chủng Thông tin

Sau một tháng huấn luyện “tân binh” chủ yếu là học chính trị, chỉ có hai ngày học Điều lệnh Đội ngũ, chúng tôi được điều về Bộ tư lệnh Thông Tin làm nghề dạy học.

Chúng tôi gồm ba người, ba sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi thì về Trường Văn hoá; cùng lớp Toán Cơ với tôi, Bùi Xuân Hoài về Trường Sĩ quan. Người cùng về Trường Sĩ quan với Bùi Xuân Hoài là Lê Quyết Thắng bên khoa Lý. Hoài và Thắng đi Hà Bắc sớm tinh mơ ngày 10/12/1970. Còn lại mình tôi ở lại Trạm khách, hết đi ra lại đi vào, nâng lên hạ xuống chiếc ba lô lép kẹp...

Mãi đến 9 giờ sáng ngày 12/12/1970, tôi mới được anh Trần Phong Diệu, Trợ lý Văn hoá Bộ tư lệnh đến đón và dẫn ra bến xe Kim Mã. Anh Diệu khi ấy mang “hàm” trung úy; trung úy thời ấy so với bây giờ “giá” hơn nhiều?! Thời ấy, nghe nói, những ai là “giáo viên văn hóa” thường chậm lên quân hàm!? Tôi lên xe theo anh, tay khư khư ôm giúp anh cái bình “a-mô-ni-ắc” mà anh đưa theo lên Trường để giáo viên dạy hoá làm thí nghiệm. Chỉ lo cái bình thủy tinh ấy mà vỡ ra thì cả cái xe có mà khai mù khai mịt! Đến bến Phùng, chúng tôi xuống xe và đi bộ...

Đang mải nghĩ ngợi mường tượng nơi mình sẽ đến ra sao, thì tôi bỗng giật mình bởi những tiếng hò reo chào đón...

Hoá ra mái trường mà tôi đến là thế này đây: Một ngôi nhà ngói cũ kĩ, ba căn nhà lá đơn sơ. Cái ngôi nhà ngói cũ kĩ ấy có tên là quán La Thạch. Bên trong quán có vài bát hương và mấy tượng thờ. Trước đó tôi cứ mường tượng rằng, đã là “trường học” thì phải “nhà tầng, nước máy, điện giăng đàng hoàng”. Hay đâu trường của tôi chỉ là một cái quán chơ vơ bên cánh đồng bát ngát!

Anh Diệu giới thiệu tôi với các đồng nghiệp. Lúc ấy đang nghỉ giải lao giữa hai tiết học nên tôi được gặp tất cả số giáo viên của Trường. Có 10 người: 3 giáo viên cấp II là các anh Nguyễn Văn Trung (toán), Ngô Công Mỹ (lý) và Đồng Văn Nhưng (văn); 2 giáo viên cấp I là chị Trần Thị Dương Liễu và anh Dương Minh Kha; còn lại là các anh: Nguyễn Thành Nguyên, Chu Văn Thanh, Nguyễn Ngọc Hoà, Đỗ Xuân Hy và Nguyễn Phúc Chung, những người đã tốt nghiệp cấp III được điều về từ các đơn vị để làm cái việc “bắt bồ câu đi cày!”

Ngày ấy, ở đây chưa có các chức danh hiệu trưởng, hiệu phó, chưa có “ban bệ” gì! Phụ trách nhà trường là hai viên trung úy, một già hơn anh Diệu là bác Lê Tiến Tịnh phụ trách công tác hậu cần (bác Tịnh đi bộ đội từ năm “bốn sáu”), một nữa trẻ hơn anh Diệu là anh Lê Văn Cận phụ trách công tác chính trị. Phụ trách Tổ Giáo viên là giáo viên văn, Thượng sĩ Đồng Văn Nhưng. Tất cả giáo viên đều là hạ sĩ quan hưởng chế độ “phụ cấp”, trừ chị Liễu hưởng lương “công nhân viên quốc phòng”. Tôi là người thứ hai trong tổ giáo viên này, hưởng chế độ lương. Mức lương ngày ấy là 51 đồng một tháng, góp tiền ăn, còn lại có thể đủ mua hàng trăm bát phở! Mọi người chào đón tôi rất nhiệt tình và chu đáo! Giáo viên Trường đang thiếu, tôi lại là người đầu tiên có trình độ đại học ở Trường Văn hoá này...

Đêm đầu tiên ở đây, nghĩ ngợi, lo lắng vu vơ... Thiếp đi được một chút thì có ai đó lay dậy và thì thầm: “Này, dậy ăn cháo bồ câu!”. Tôi ngạc nhiên vô cùng! Chắc lúc ấy mắt tôi sáng lắm! Lại còn nghe ai đó nói: “Sáng mai ăn phở đấy!”. Sau này tôi mới biết, cái trường này chính là cái sự kéo dài ra của Trại trẻ rồi Trại an dưỡng C53. Thảo nào!

Nhân đây, tôi kể luôn chuyện về cái “con dấu” của Nhà trường, cái con dấu khắc dòng chữ “TRẠI AN DƯỠNG C53”. Khi mà chẳng nơi nào còn dùng con dấu vuông “củ khoai” thì trường chúng tôi vẫn dùng. Nói là “Trường” văn hoá nhưng trong thực tế, mọi người vẫn gọi là “Lớp” văn hoá. Thôi thì, gọi là gì cũng được, miễn là nó vẫn có một cái tên khai sinh, cho dù là một cái tên khai sinh một cách... “bí danh” chăng nữa! Một lần “đi phép”, giở giấy trình người bán vé tàu hoả mong được giảm 50% tiền vé, tôi bị vặn vẹo đủ thứ. Người bán vé tàu nhìn tôi với ánh mắt đầy nghi ngờ, cứ như tôi là gián điệp không bằng! Chung quy cũng chỉ tại cái con dấu vuông “củ khoai” này thôi! Trong khi mọi người “tròn”, ai bảo anh lại cứ “vuông”? Cuối cùng tôi phải nói là đơn vị tôi đóng quân mãi bên nước bạn Cam-pu-chia, người bán vé mới chịu tin đấy!(?)

Trường có 3 lớp: 1 lớp 4, 1 lớp 6 và 1 lớp 7. Học viên chủ yếu là sĩ quan; nếu có chiến sĩ thì đó là các chiến sĩ có thành tích chiến đấu và phục vụ, được lựa chọn từ các đơn vị về. Nhiều người còn mang theo cả bệnh sốt rét từ chiến trường.

Trong tiết học Vật lý, nghe giảng về “trọng tâm” với “trạng thái cân bằng” mà lại có học viên tự dưng giật đùng đùng ngã vật ra thì cũng là cái sự thường! Sốt rét mà!

Không phân biệt giáo viên hay học viên, già hay trẻ, cán bộ hay chiến sĩ; ngoài giờ lên lớp chúng tôi bình đẳng trong mọi công việc, từ việc quay cán mì sợi, gánh nước, nấu ăn đến tăng gia trồng cấy, sơ tán, chạy lụt... Tất cả “Trường” đúng là một “Lớp” thật!

Cái tập thể đầy yêu mến ấy tất có người đáng mê. Tôi đã mê một người ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên. Một năm sau đó, chúng tôi thành vợ thành chồng. Ở Trường Văn hoá này, cho đến nay có tới hàng chục lễ cưới của giáo viên được tổ chức, trong đó có những lễ cưới "giáo viên - học viên” lấy nhau đấy!

Biết bao nhiêu số phận đã gắn bó gần suốt cả cuộc đời với mái trường này. Lấy nhau, sinh con đẻ cái ở “trường văn hóa”; vào Đảng ở “trường văn hoá”; gánh chịu buồn đau riêng của từng cá nhân cũng “trường văn hoá” lo toan trách nhiệm...

Tôi vô cùng biết ơn Trường Văn hoá Binh chủng Thông Tin, chiếc nôi của cuộc đời tôi, ngôi nhà ấm áp của cuộc đời tôi...

Chẳng hiểu vì sao cho đến bây giờ, trường chúng tôi không hề có lấy một cuốn “An-bom”, một sổ “truyền thống”; thậm chí danh sách của hàng trăm giáo viên, hàng ngàn học viên đã qua trường này cũng không còn đầy đủ nữa! Biết đâu đấy, trong số đó sau này, có người trở thành lãnh tụ, vĩ nhân. Khi đó, muốn tìm hiểu bước đường phấn đấu gian truân vất vả của họ, ở ngôi trường này, thì biết tìm đâu ra!

Lỗi này có cả của tôi!

Mười bảy năm gắn bó với Trường, tôi là một trong rất ít người, ở lâu nhất trường này kia mà!

Hãy tha thứ cho tôi, “mười bảy năm” trôi nhanh quá; chúng tôi chưa làm kịp điều này!

Mới đấy đã “mười bảy năm”!

Từ cái quán La Thạch bơ vơ trên cánh đồng xưa, đến bây giờ dập dìu đông vui kề bên Hà Nội.

Từ một tiểu đội “10 giáo viên du kích” đầu tiên, nay đã đội ngũ chính quy điệp trùng.

Từ con dấu vuông “củ khoai”, nay đã con dấu tròn trăng...

Mười bảy năm tồn tại một Nhà trường, trường chúng tôi đang ở cái tuổi “trăng tròn lẻ”...

Chúng tôi nguyện mang theo và giữ gìn vẹn tròn suốt đời cái vầng trăng vành vạnh ấy!

Trường Lâm, ngày 10/11/1987

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Miền ký ức không phai”)

-----------------------------------------

* Hồi ức được viết nhân kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1987) và được đăng trên báo Thông tin số 334 - tháng 11/1987. 

0 comments:

Đăng nhận xét