Đại tá TS. Nguyễn Văn Khoan
Nước ta là một nước nông nghiệp. Mẫu số nhân dân, theo
tài liệu của nhà cầm quyền Pháp, có tới 95 phần trăm là “mù chữ”. Tỉ số là nông
dân chắc cũng 95 phần trăm là thất học.
Năm 1943, ở Bắc Kỳ có phong trào “truyền bá quốc ngữ” do
một nhóm trí thức vận động, dưới sự chỉ đạo của Đảng. Năm 1945, trong phiên họp
đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công
bố 3 thứ giặc trước mắt cũng như dài lâu - của nước ta là: giặc đói, giặc dốt
và giặc ngoại xâm. Chính phủ thành lập Nha Bình dân học vụ, phát động “xóa nạn
mù chữ”. Trong cả nước dấy lên một cuộc vận động chính trị rộng khắp, từ thôn
quê đến thành thị, từ đồng bằng lên miền núi, hải đảo. Đêm đêm, các cụ già chống
gậy, các bà mẹ bế con mang theo giấy, vở, đèn dầu đi học “i tờ”:
- “I tờ” có móc cả hai. I ngắn có dấu, tờ dài có ngang...
- O, ơ hai chữ khác nhau, vì ơ lại có móc câu bên
mình.
Trên nền học vấn thấp như vậy, nên các anh đội viên
vào bộ đội, làm lính Cụ Hồ, có rất nhiều người chưa biết chữ. Ở các đơn vị bộ đội,
bên cạnh việc học quân sự, bắn súng, ném lựu đạn, đâm lê... còn có lớp học
riêng cho một số chiến sỹ học để “thoát nạn mù chữ”, “biết đọc, biết viết”, “đọc
thông, viết thạo”.
Kháng chiến chống Pháp được mấy năm, nhiều bộ đội nông
dân, chân đất đã chiến đấu anh dũng, lập được nhiều thành tích, đã trở thành những
chỉ huy tiểu đội, trung đội, đại đội... Trước yêu cầu xây dựng quân đội chính
quy, hiện đại, kiến thức - ta quen gọi là trình độ văn hóa - của họ bắt đầu
sinh ra mâu thuẫn. Năm 1954, khi tập kết ra Bắc, anh hùng thông tin Đặng Quang
Cầm được gặp Bác Hồ.
Bác hỏi:
- Cháu Cầm học lớp mấy rồi?
- Thưa Bác, cháu học kém lắm, chưa đọc được báo...
- Cháu phải đi học. Có học mới ở bộ đội lâu dài được -
Bác nói.
Ở Liên khu 5, từ những năm 49, 50 đã có một trường
“Văn hóa Kháng chiến”, do Nguyễn Văn Hiến – tú tài thời Pháp – làm hiệu trưởng.
Một học viên của trường này là Võ Chí Công, sau này là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước
Việt Nam. Đặng Quang Cầm có giấy gọi đi học, nhưng không thể đến trường vì nhiệm
vụ ở con đường mòn Hồ Chí Minh bấy giờ không thể thiếu anh...
Đến kháng chiến chống Mỹ, đòi hỏi về xây dựng quân đội
ta càng trở nên cấp bách. Bên cạnh việc chiêu sinh thanh niên đã có trình độ học
vấn khá hơn trước, cấp 3, cấp 2, công tác bồi dưỡng cho cán bộ học vấn thấp ở
đơn vị nào cũng được đặt ra, bổ túc cho ngay cán bộ của đơn vị mình. Năm 1967, Trường
Văn hóa Binh
chủng Thông tin ra đời. Đây là một tất yếu lịch sử...
Trường có nhiệm vụ “bổ túc văn hóa” cho cán bộ sơ cấp thông
tin học vấn còn thấp, cố gắng xong cấp 1, rồi hết cấp 2. Trường trực thuộc
Phòng Chính trị của Cục Thông tin liên lạc (sau đổi là Bộ tư lệnh Thông tin liên
lạc), trong biên chế tổ chức của Ban Tuyên huấn...
Thời gian ấy, tôi là trợ lý tuyên huấn, phụ trách báo
chí, tuyên truyền, huấn luyện, thi đua, văn hóa... của Binh chủng nên vẫn được
thường xuyên làm việc với Ban giám hiệu trường, với các cô, thầy, với các học
viên...
Cô, thầy giáo của Trường có nhiều kinh nghiệm giảng dạy
các cháu thanh, thiếu niên. Nay, học trò là những sỹ quan, đảng viên, có nhiều
người hơn tuổi mình... nên ban đầu cũng gặp chừng nào đó khó khăn. Nhưng rồi với
tình yêu nghề nghiệp, thông cảm sâu sắc với hoàn cảnh từng học viên, các nhà
giáo của trường đã đem hết khả năng để “vũ trang kiến thức” cho họ.
Học viên, có người không thích học, ngại khó. “Về đơn
vị thôi! Học mệt lắm! Học không vào đâu!” Nhưng đa số coi đây là một dịp may, hạnh
phúc, nên họ cần cù, siêng năng, kiên nhẫn vượt lên khó khăn của chính mình để
“theo thầy, theo lớp”. Có nhiều học viên học rất tốt, tiến bộ nhanh. Nhưng cũng
có người “hai năm chưa xong 1 lớp”. Trong một kỳ thi tốt nghiệp cấp I (hồi đó
là lớp BTVH ở trung đoàn), đề làm bài văn với đầu bài là: “Đồng chí nghĩ gì về
lời nói của Bác: Trung với Nước, Hiếu với Dân của Quân đội ta”? Anh hùng thông
tin người dân tộc Mường - Hoàng Văn Cón đã trả bài chỉ với mấy dòng chữ “Hồ Chủ
tịch Muôn Năm”. “Bác Hồ Muôn Năm” trên một nửa trang giấy, dòng chữ cao, thấp...
Anh vẫn phải cố gắng học cho hết “chương trình”. Đấy là cái “thuở ban đầu” về sự
bổ túc văn hóa ở đơn vị. Còn khi đã được đưa về Trường Văn hóa của Binh chủng
thì không còn tình trạng như vậy. Và với nỗ lực của cả giáo viên lẫn học viên, trình
độ văn hóa nói chung của cán bộ chiến sĩ đều đã nâng lên hẳn, đáp ứng yêu cầu của
nhân lực quân đội. Đó là đóng góp rất đáng ghi nhận của Trường Văn hóa Binh chủng
trong một giai đoạn lịch sử của Binh chủng nói riêng, quân đội nói chung.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Miền ký ức không phai”)
0 comments:
Đăng nhận xét