14.8.25

Thạch thảo tím

Vương Thị Phương Thảo

Trở về nhà, lòng dâng đầy ấm ức, vừa vứt veo chiếc túi xuống, tôi ngồi phệt xuống ghế. Mẹ từ dưới bếp chạy lên, giọng ôn tồn: "Con gái mà nhăn là khó coi lắm đó. Thế ở trường có chuyện không vui hả con?". Mẹ bao giờ cũng thế, dịu dàng và điềm tĩnh. Tôi thì y chang bố. Phải chi mình được chút ít giống mẹ. Tôi thầm nghĩ.

"Chán lắm mẹ ơi. Con gái của mẹ lại phải đi thực tế quanh quanh Hà Nội. Đã không được đi xa như chúng nó thì thôi lại còn phải tìm hiểu đời sống chi đó ở mấy cái doanh trại bộ đội". Tôi tiếp tục thao thao "Mẹ xem cuộc sống ở đó có gì mà viết. Vừa nhạt nhẽo, vừa vô vị. Bộ đội ư, xưa như trái đất rồi".

Mẹ lắc đầu giảng giải "Nếu như không có bộ đội thì lấy đâu các con có cuộc sống yên bình như ngày nay. Ngày xưa, loạn lạc, đói khát trẻ con có ngày nào được hưởng thụ quan tâm nhiều như bây giờ?"

Dẫu biết thế, nhưng bản chất ương bướng nổi lên, tôi cãi lý với mẹ "Nhưng mà cũng không thể phủ định được bộ đội ngày nay khác nhiều rồi. Và hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ thiêng liêng đã mai một nhiều trong xã hội hiện đại".

Mẹ cười buồn "Mỗi thời một khác nhưng họ vẫn là người lính năm xưa. À, con lúc nào cũng ác cảm với bộ đội, con ghét họ điểm gì".

Tôi chống chế: "Mẹ lúc nào cũng bênh bộ đội. Mẹ trông tụi con thế này mà các thầy quân sự bắt lăn lê bò toài giữa trưa nắng chang chang lại còn bắt bọn con bắn trúng đích với khẩu súng nặng trịch trên tay".

Nói gì thì nói, những lời khuyên chí tình không khỏi cho tôi suy ngẫm. Mẹ con vốn gần gũi. Nhiều khi tôi lấy cớ này cớ nọ chui vào giường bố mẹ. Tôi lờ mờ dò hỏi kỷ niệm thời con gái của mẹ. Các cô bạn học xưa của mẹ thỉnh thoảng qua nhà tôi chơi. Rồi mọi người ôn lại một thời xuân sắc. "Ngày xưa, mẹ cháu lãng mạn lắm, mơ mộng tết hai bím tóc nhỏ".

Mẹ không thật xinh, từ khuôn mặt mẹ ánh lên một nét duyên ngầm. Nụ cười e ấp lúc nào như cũng thường trực trên khóe miệng. Bố đôi lúc thú nhận "mê" mẹ bắt đầu từ nụ cười ấy. Nhìn ảnh mẹ, tôi khúc khích "Nếu là con trai, con cũng yêu mẹ". Mẹ nhẹ nhàng "Con gái mẹ lớn rồi bỏ bớt tính khí kỳ quặc kẻo chẳng có đứa nào rước. Tôi là tôi lo nhất cho cô đó".

Con chẳng bao giờ dịu dàng được như mẹ đâu. Tôi chẩu môi chun mũi "Mà có thế thật thì con phụng dưỡng bố mẹ càng tốt chứ sao". Mẹ gí gí vào má tôi mắng yêu: "Đến lúc lại đòi cuống lên... chẳng chịu sống với ông bà già lẩm cẩm".

"Mẹ ơi, tình yêu của mẹ chắc đẹp lắm nhỉ. Mẹ đẹp thế, khối anh chàng trồng cây si trước nhà ta phải không mẹ?". Như động vào dây thần kinh cảm ứng, tôi liến thoắng "Bố tài thật đấy! Không biết thi bao chặng để hiện được vào mắt xanh của mẹ.

Đang vui, mắt mẹ chợt u buồn mênh mông nhìn xa xôi. Tôi im bặt. Có lẽ tôi đã động vào niềm cảm xúc yêu thương đầu đời mà nhiều năm qua với tư cách người vợ, người mẹ, mẹ đã chôn giấu ký ức nơi thẳm sâu tâm hồn. Qua những lần "nghe lỏm" cuộc nói chuyện của mẹ với các bạn học cũ, và cả những tâm sự giữa mẹ với con gái, tôi hiểu mẹ có một tình yêu đẹp.

Ngày ấy, một nhóm sinh viên sư phạm đi thực tập ở một vùng quê yên ả. Cả đám con gái tha thẩn dắt tay nhau đi dạo ngoài cánh đồng cỏ nắng nhạt. Những bông cỏ lau phất phơ cao quá đầu người. Chú chuồn chuồn thắm đỏ đẫy giấc trên cành găng khẳng khiu. Vài con bướm trắng nhởn nhơ chơi trò trốn tìm quanh khóm hoa đồng nội. Rồi một sự tình cờ đã đưa đẩy anh sĩ quan trẻ tuổi một đơn vị gần đó gặp cô thực tập viên sư phạm mộng mơ. Người ta gặp nhau trên đời ấy là sự tình cờ. Và cũng là hữu duyên hai người xích lại gần nhau hơn giữa đại ngàn gió núi. Dường như giáo viên và bộ đội luôn có sự cộng cảm tâm hồn. Hàng ngày cô phải vượt vài kilômét đường đất mới đến được trường học cuối bản dạy các em cái chữ. Có khi phải đi từ mờ sương. Sương giăng đầy. Những giọt sương sớm e lệ đọng trên lộc non lấp lánh dưới ánh sáng chớm nhô ra nơi đầu núi. Gió sớm thổi nhè nhẹ táp những hạt sương mỏng mảnh lên mái tóc, bờ vai thanh tú của cô gái. Bước chân những người yêu nhau nhẩn nha lên những vạt cỏ thẫm sương đêm. Đưa đôi tay bối rối ngắt chùm hoa dại nhỏ ly ti, cô ngước lên nhìn sâu vào mắt anh.

"Hoa thạch thảo đẹp anh nhỉ". Cô gái hồn nhiên "Loài hoa ấy cũng mỏng manh, đơn sơ như chùm hoa dại này".

Hoa thạch thảo.

Anh gật đầu rồi với tay tặng cô một bó hoa đồng nội. Bước chân anh chậm rãi như níu giữ khoảnh khắc, như sợ tuột mất giây phút hiếm hoi bên nhau. Quyến luyến mãi rồi thì cô chào anh vào trường. Anh nhìn mãi đến lúc bóng cô tan dần hòa nhập giữa lớp học nhỏ.

Ngày chia tay anh lên đường đi B cô tặng anh một chùm thạch thảo bé bỏng. Không ai lên tiếng. Nhưng chỉ cần nhìn vào mắt nhau họ thầm hiểu, cả hai đủ niềm tin và lòng chung thủy để đợi nhau đến ngày độc lập. Trong lòng cô những ca từ "đợi anh về" vang lên da diết lạ thường.

Cô trở về Hà Nội. Trái tim khép kín mặc cho bao chàng trai Hà thành vây quanh. Tin tức thưa dần. Khoảng hai năm trước ngày giải phóng, cô bặt tin về anh. Cô thường tự an ủi: nơi tuyến lửa ác liệt, thư từ bị gián đoạn thất lạc là chuyện thường. Ngày chiến thắng anh bộ đội ấy vẫn chưa về. Ba mẹ cô sốt ruột. Năm năm mỏi mắt trông chờ mà con gái có thì. Ba mẹ thương cô "Loạn lạc, đạn bom... nhỡ nó có mệnh hệ gì? Hòa bình rồi biết nó có trở về không hay đã vùi mình nơi nội cỏ". Mắt đỏ hoe. Cô khóc thật nhiều cho mối tình đầu của mình, cô khóc cho ba mẹ ngày một héo hon tàn tạ lo cho cô con gái duy nhất có nơi có chỗ rồi mới yên lòng nhắm mắt xuôi tay.

Rồi bố xuất hiện. Một tấm lòng bao dung, rắn rỏi đã dang tay che chở những lúc tưởng cô đã khuỵu ngã. Bố yêu mẹ chân thành, tình yêu lớn đã xoa dịu những vết thương lòng vẫn thỉnh thoảng làm mẹ tê nhức. Trong ngõ ngách sâu kín của tâm hồn, mẹ luôn trân trọng những hoài niệm mối tình đầu.

Ồ Thạch Thảo, một loài hoa, một kỷ niệm thân thương. Không ngờ được tên tôi - Thạch Thảo - lại chính là hoài ức thiêng liêng đầu đời của mẹ, trở thành miền ký ức bất khả xâm phạm. Nhiều khi bất chợt mẹ ngồi trầm tư một mình. Tôi thì không dám chạm vào thế giới riêng tư ấy, một thế giới mà một mình mẹ đơn lẻ, cô liêu cùng sương khói lãng đãng.

Có một lần đánh bạo tôi lo lắng hỏi "Mẹ còn yêu người ấy...?". Mẹ gượng cười khe khẽ "Không con ạ. Bây giờ mẹ chỉ còn có bố và con thôi. Còn đối với người kia... mẹ day dứt, mẹ như mắc nợ với người ta. Ước chi dù chỉ một lần - mẹ biết được tin tức về người ta, có lẽ mẹ sẽ thanh thản hơn nhiều. Và quá khứ sẽ không còn dằn vặt mẹ nữa".

Tôi chưa hiểu gì về tình yêu. Trực quan mách bảo, tôi cảm giác tình yêu xưa và nay khác nhau nhiều. Đôi bạn ngày nay nói tiếng yêu dễ dàng, họ vị kỷ trong tình yêu. Còn ngày xưa ư, tình yêu đôi lứa bị chia cắt bởi sự ác liệt của mưa bom bão đạn nhưng tình yêu riêng tư như được tiếp sức trong tình yêu dân tộc, đồng loại to lớn.

Mấy hôm sau, nhóm thực tế chúng tôi được thầy giáo tận tình dắt đến một trung đoàn thông tin. Tiếp chúng tôi là một chú bộ đội với khuôn mặt ấm áp, hiền hậu. Chú có vẻ dễ gần "Trung đoàn chú rất hân hạnh được đón các cháu sinh viên về đây thực tế. Lớp trẻ ngày nay năng động, xông xáo. Chú nghĩ các cháu sẽ nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống nơi đây. Bộ đội nhiều nét tương đồng cùng sinh viên. Nhưng chú sẽ cố gắng để các cháu tiếp cận với đời sống bộ đội ở nhiều góc độ. Các cháu ở đây một vài ngày thì sẽ thấy nhiều điều thú vị: vui có, buồn có, sôi động có, trầm lắng có... Chú giới thiệu qua qua còn thì tự tìm hiểu mới rút ra nhiều bổ ích".

Chú đứng lên, lấy chè pha nước. Sức công phá của thời gian chưa xóa mờ nổi vẻ phong trần, đường bệ, nghiêm nghị. Chú có tật ở chân, dáng đi khá vất vả. Mãi về sau tôi mới phát hiện ra ấy là vết tích đau thương hằn in nơi chiến trường. Và chú là người may mắn sống sót duy nhất của tiểu đoàn năm ấy bị giặc phục kích bất ngờ.

Biết chúng tôi quen sống tự do, chú không hề gò ép vào khuôn phép mười chế độ như bộ đội. Buổi tối, chú hào hứng mở màn cuộc sinh hoạt giao lưu văn nghệ, giao lưu nói chuyện với các đại đội huấn luyện. Không ngờ chỉ một thời gian ngắn làm quen người lính mang đến cho bọn tôi nhiều tiếng cười đến vậy. Chú sống giản dị và đạm bạc. Phía ngoài là phòng tiếp khách, cách chiếc tủ đứng là thế giới riêng của chú. Chú thường ngồi uống nước chè đặc và xem ti vi lúc rảnh. Còn ăn ngày ba bữa đã có nhà bếp lo. Nhìn chú, tôi muốn ứa nước mắt. Người đàn ông không có bàn tay phụ nữ chăm sóc trông tồi tội. Lụi cụi. Những lúc trái gió trở trời, vết thương đầu gối tái phát chú chỉ có một thân một mình. Người đàn ông mạnh mẽ bề ngoài. Còn họ cất giấu nước mắt thấu lạnh tâm can.

Chúng tôi sợ chú buồn. Lúc nói chuyện cố lảng tránh đề tài gia đình người thân. Chúng tôi sợ tổn thương nỗi đau trong tim người cựu chiến binh năm xưa. Nhìn bóng cao gầy chú đổ dài lúc tối, tôi không khỏi chạnh buồn. Chú ít khi bộc bạch về bản thân. Có lẽ tôi may mắn được nghe kể chuyện tình cảm động của chú. Giọng chú trầm buồn, ánh mắt sôi nổi tìm về nhiệt huyết thời trai trẻ.

Thuở dại khờ chú đã yêu, mối tình đầu và cũng là mối tình duy nhất. Cô ấy cũng trạc tuổi cháu bây giờ. Chú thở dài "Các cháu bây giờ hạnh phúc, hạnh phúc hơn xưa nhiều nhiều lắm. Ngày ra đi, mắt cô ấy thâm quầng vì mất ngủ. Ngày ấy thanh niên yêu nhau cũng không dễ nói ra như bây giờ". Mắt chú rực sáng "Chú biết, cô ấy sẽ chờ chú, đợi chú. Đôi mắt can đảm quyết đoán nơi cô mách bảo trái tim chú. Rồi chiến trường ác liệt, những bức thư thưa dần càng làm bùng cháy khát khao yêu thương".

Giọng chú tắc nghẹn "Mỗi mùa đông tái tê đi qua lại một mùa xuân mới trở về. Cô vẫn đợi. Sau thì các cháu biết đấy. Chú không muốn vì chú mà cô khổ suốt một đời. Ngày chia tay, chú toàn diện trong mắt cô ấy. Còn giờ đây thì sao... Cháu không biết chứ khó khăn lắm chú mới quyết định chia xa cô mãi mãi. Chú chỉ là... thằng đàn ông thiếu dũng khí. Chỉ cần đứng đằng xa ngắm cô ấy, dõi theo cô ấy. Đối với chú, thế là đủ".

Tôi nghẹn lòng. Tình yêu mà chú dành cho cô ấy quả là cao thượng. Yêu nhau là hy sinh vì nhau, tình yêu thiêng liêng là làm cho người mình yêu được hạnh phúc. Tôi không dám lấy cái suy xét của lớp thanh niên hiện đại để phán xét hành động của chú đúng hay sai. Nếu như tình yêu là tranh đoạt thì chú đã để vuột hạnh phúc ra khỏi tầm với của chính mình. Để giờ đây tất cả chỉ còn là hoài niệm. Chú yêu người ta hơn cả bản thân mình. Biết đâu người con gái ấy mãi mang trong tim hình bóng chú, người ta yêu là yêu tất cả những gì thuộc về con người chú chứ đâu chỉ hình hài bề ngoài đơn thuần.

Tôi không dám nói. Hai chú cháu lặng lẽ theo đuổi những ý nghĩ riêng tư. Có lẽ lâu lắm rồi chú mới thành thật trải lòng mình như đêm nay. Chú tâm sự: "Chẳng có mấy thời gian để buồn, ban ngày bận công tác, tối lại họp hành. Nói rồi chú lục ngăn tủ lấy ra tập ảnh đã ố vàng qua năm tháng. Chú cẩn thận lật giở từng trang ảnh và chỉ rõ xuất xứ từng tấm hình một. Chú hồi trẻ đây sao. Tôi ngờ ngợ. Trông ảnh chú quen lắm dường như tôi đã bắt gặp chú ở đâu rồi thì phải.

Chú cười: ảnh đen trắng bộ đội ai mà không như nhau. Băn khoăn mãi. Lục tìm trong trí nhớ. Rồi chực khóc, tôi vội quay mặt đi để chú khỏi trông thấy những giọt nước mắt mặn mòi lăn dài trên má. Chẳng phải chú chỉ huy nơi tôi đến thực tế là người mà mẹ day dứt suốt đời người sao? Trái tim chưa từng trải trong tôi thổn thức. Hai con người mắc nợ tình cảm với nhau cần tìm nhau để giãi bày nỗi niềm ngày xưa. Chi bằng vậy, có lẽ miền nhung nhớ sẽ thanh thản dễ yên ngủ.

Thạch thảo vẫn thắm tím một màu thủy chung. Cánh hoa bé xíu đậu nở trên tấm thân mỡ màng khỏe khoắn trong nắng gió cuộc đời. Ở gần đâu đây thôi, có những mối tình bình dị mà vẫn thủy chung, vững bền lạ kỳ qua năm tháng thời gian.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu” – NXB QĐND 2005) 

13.8.25

Lượm

Tố Hữu

Ngày Huế đổ máu

Chú Hà Nội về

Tình cờ chú cháu

Gặp nhau Hàng Bè.

 

Cháu bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh

Cái chân thoăn thoắt

Cái đầu nghênh nghênh

 

Ca-lô đội lệch

Mồm huýt sáo vang

Như con chim chích

Nhảy trên đường vàng

 

- Cháu đi liên lạc

Vui lắm chú à

Ở đồn Mang Cá

Thích hơn ở nhà!

 

Cháu cười híp mí,

Má đỏ bồ quân

- Thôi, chào đồng chí!

Cháu đi xa dần...

 

Cháu đi đường cháu

Chú lên đường ra

Đến nay tháng sáu

Chợt nghe tin nhà.

 

Ra thế

Lượm ơi!

 

Một hôm nào đó

Như bao hôm nào

Chú đồng chí nhỏ

Bỏ thư vào bao

 

Vụt qua mặt trận

Đạn bay vèo vèo,

Thư đề "Thượng khẩn"

Sợ chi hiểm nghèo?

 

Đường quê vắng vẻ

Lúa trỗ đòng đòng

Ca-lô chú bé

Nhấp nhô trên đồng...

 

Bỗng lòe chớp đỏ

Thôi rồi, Lượm ơi!

Chú đồng chí nhỏ

Một dòng máu tươi!

 

Cháu nằm trên lúa

Tay nắm chặt bông

Lúa thơm mùi sữa

Hồn bay giữa đồng...

 

Lượm ơi, còn không?

 

Chú bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh

Cái chân thoăn thoắt

Cái đầu nghênh nghênh

 

Ca-lô đội lệch

Mồm huýt sáo vang

Như con chim chích

Nhảy trên đường vàng...

1949

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh” – NXB QĐND 2000) 

Những ngày đầu làm chiến sĩ liên lạc

Phạm Duy Tín

Ban Liên lạc đặc biệt (LLĐB) được tổ chức ít ngày trước ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946). Trong những ngày đầu, tháng đầu của cuộc kháng chiến, các đường liên lạc chưa kịp tổ chức. Các cơ quan của Chính phủ và của Bộ Tổng chỉ huy vừa phải chỉ đạo các tỉnh, thành, chỉ đạo các quân khu, các đơn vị chiến đấu vừa phải tổ chức để di chuyển lên Việt Bắc. Ban LLĐB với các liên lạc viên "hỏa tốc" dùng xe đạp để cơ động đã là phương tiện đảm bảo công tác chỉ đạo, chỉ huy và làm các nhiệm vụ "đặc biệt" rất đắc lực. Tôi là một chiến sĩ thuộc bộ phận "Liên lạc hỏa tốc" ghi lại những việc đáng nhớ trong những ngày ấy.

Năm 1946 tôi mười sáu tuổi, là chiến sĩ tự vệ của khu phố. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Sau một số ngày chiến đấu ngăn bước tiến của quân Pháp ở khu phố, tôi được đưa về Ban LLĐB Bộ Tổng chỉ huy, trong đội Liên lạc hỏa tốc. Phụ trách tôi là anh Trần Văn Mỹ (có biệt danh là Mỹ nheo), một cán bộ quân sự đã làm việc trong Ban Liên kiểm Việt Pháp trước ngày kháng chiến. Đồng đội của tôi phần lớn là học sinh, cùng lứa tuổi, một số là đồng hương với tôi. Chúng tôi sống chan hòa, sôi nổi với lòng hăng hái của tuổi thanh niên đi chiến đấu giành độc lập cho Tổ quốc.

Chúng tôi được huấn luyện về quân sự. Vốn là chiến sĩ tự vệ chiến đấu, tôi đã biết một số động tác chiến đấu cá nhân và sử dụng súng Mút cơ tông, chúng tôi được học thêm khái niệm về một số vũ khí bộ binh, cách phòng tránh pháo, cối và máy bay. Chúng tôi học sử dụng bản đồ, xác định phương hướng. Đây là nội dung chúng tôi được học kỹ. Chúng tôi làm quen với bản đồ ở nhiều tỷ lệ khác nhau, thành thạo các ký hiệu trên bản đồ, ký hiệu dáng đất, tính toán cự ly. Việc học tập này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong khi làm nhiệm vụ. Khi nhận nhiệm vụ chúng tôi chỉ được giao tên đơn vị, địa danh nơi đóng quân và thời gian phải đưa công văn đến nơi. Chúng tôi phải dựa vào bản đồ mà xác định đường đi, ghi nhớ các địa danh, vật chuẩn cần thiết để khỏi lạc đường và tính toán chặng đường. Chính do việc thạo dùng bản đồ mà chúng tôi, lúc ấy phần đông ở tuổi học sinh mới lớn, chưa bao giờ đi xa mới biết đường mà đi đến nơi, về đến chốn.

Chuyến đi xa đầu tiên của tôi và toàn đội mà tôi còn nhớ là trong những ngày cuối tháng 1 năm 1947. Chúng tôi, khoảng hơn một chục người: Hiên, Học, Hào, Ứng, Hanh, Huế, Thi, Toại, Hùng..., được giao nhiệm vụ đi đưa công văn hỏa tốc đến Ủy ban hành chính kháng chiến các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Tôi được đưa công văn đến Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Hưng Yên và Thái Bình.

Lần đầu tiên đi làm nhiệm vụ, phấn khởi lắm. Xuất phát từ Mai Lĩnh (Hà Đông), tôi ra đi từ sáng sớm. Mải miết đạp xe theo bờ đê sông Đáy, rẽ sang chợ Tía, theo quốc lộ 1 đến Đồng Văn thì rẽ sang đường đi bến đò Yên Lệnh, qua sông Hồng là đến thị xã Hưng Yên. Quốc lộ 1 vắng teo, từng đoạn từng đoạn được phá hoại để cản xe cơ giới của Pháp. Nền đường ở các dầm cầu đều được cắt bỏ, mặt đường được đào thành các hố sâu chéo nhau. Tôi phải lái xe đi ngoằn ngoèo, dích dắc, nhiều lúc phải dắt xe.

Bến đò Yên Lệnh là một bến phà lớn, cửa ngõ vào thị xã Hưng Yên nổi tiếng với món bún thang, nay vắng ngắt. Dòng sông Hồng nước đỏ phù sa, rộng vút tầm mắt, mặt nước gợn sóng lăn tăn theo gió bắc lạnh. Rất lo lắng. Tôi đi tìm trạm gác dân quân xuất trình thẻ hỏa tốc và nói nhiệm vụ của mình. Một chiếc đò nhỏ đã đưa tôi và chiếc xe đạp qua sông rộng.

Trong chặng đường làm liên lạc hỏa tốc tôi còn nhiều qua lại dòng sông này. Tôi khâm phục tài năng và sự dũng cảm của các đồng chí dân quân ở đây. Có lần giữa mưa nước lũ với chiếc đò nhỏ đồng chí dân quân xã Yên Lạc (Vĩnh Phúc) đã đưa tôi và chiếc xe đạp qua sông trong một buổi sớm mù sương không nhìn thấy bờ, nước sông đỏ phù sa, chảy cuồn cuộn nhìn chóng mặt.

Tôi nhanh chóng tìm đến Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh, tiếp nhận giấy giới thiệu, giấy đi đường và công văn, anh cán bộ văn phòng vừa đọc, vừa liếc nhìn tôi với vẻ xét nét. Đứng trước mặt anh, một thanh niên ăn mặc dáng dấp học sinh, mặt non choẹt "búng ra sữa" - "Liên lạc viên hỏa tốc của Bộ Tổng chỉ huy". Nhưng khi nhìn thấy dấu hỏa tốc và mũi tên đỏ chói trên công văn, động tác anh linh hoạt hẳn lên. Anh bóc công văn để vào sổ. Tôi liếc nhanh, nhìn phần trích yếu: "Lệnh tiêu thổ kháng chiến". Ra khỏi Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh tôi mới thấy đói, từ sáng ra đi đến giờ bụng tôi vẫn rỗng. Ăn xong tôi mải miết đạp xe đi thị xã Thái Bình và quay về đến thị xã Hưng Yên thì trời đã tối lắm rồi. Thị xã đã bắt đầu thi hành lệnh tiêu thổ.

Tháng 3 năm 1947 Trung đoàn Thủ đô rút ra khỏi Liên khu 1. Giặc Pháp đánh lấn ra ngoại vi Hà Nội theo các trục đường lớn. Có hôm tôi chạy công văn từ Mai Lĩnh lên Chiến khu 2 ở chân núi chùa Thầy huyện Quốc Oai. Tôi đi xe đạp trên đê sông Đáy, phía bên trái thì xe tăng và cơ giới quân Pháp hành quân, phía đê bên phải từ trên Phùng xuống. Tôi cắm cúi đạp xe không để ý. Đến khi thấy nhân dân làm đồng la lên "quân Pháp!" tôi mới giật mình và vội tụt xuống chân đê quan sát. Đến Chiến khu 2 tôi báo cáo tình hình với cơ quan tác chiến quân khu. Các đồng chí vẫn bán tin bán nghi. Sáng hôm sau Ban chúng tôi cùng các cơ quan ở khu vực Mai Lĩnh di chuyển lên Việt Bắc. Di chuyển theo đường số 6 Mai Lĩnh - Xuân Mai, chúng tôi đi trước thì xe tăng, cơ giới Pháp theo sau, tiếng súng nổ ran phía sau lưng. Đến Gốt, chúng tôi bỏ đường số 6 rẽ lên đường đi Bương, Cấn hướng thị xã Sơn Tây. Chiều hôm ấy chúng tôi tập hợp ở đình làng Bương, Cấn. Phía bắc đường số 6 trên đường Gốt đi Sơn Tây. Tôi được giao nhiệm vụ đi tìm giao công văn cho đồng chí Hoàng Mười ở xã Vĩnh Lạc, khu vực ngã ba Thá, nam đường số 6, làm xong nhiệm vụ về bến đò Trung Hà. Ngay trong đêm, bằng xe đạp tôi trở lại đường số 6 đi về phía thị xã Hà Đông, đến Chúc Sơn thì rẽ về huyện Chương Mỹ đi ngã ba Thá. Đường số 6 là khu vực địch vừa hành quân qua lúc ban ngày. Đường sá vắng teo; các nhà, hàng quán ven đường bị đốt phá còn âm ỷ cháy, tôi vừa đi vừa tìm hiểu tình hình địch qua các trạm gác của dân quân. Trời tối, đêm lại mưa lâm thâm. Lúc đạp lúc dắt xe, mờ sáng tôi đến xã Vĩnh Lạc. Một xã giữa cánh đồng nước, một xã có nhà thờ, quanh làng có lũy tre bao bọc, cổng làng được rào kỹ, có dân quân canh gác. Đồng chí Hoàng Mười đã không còn ở đó. Trên đường đi tôi gặp nhiều toán người lưng đeo ba lô, cũng có gánh gồng đi lên phía Bắc. Không biết đồng chí Hoàng Mười có đi trong đó không? Phải quay về Ban ngay để báo cáo. Tôi nghĩ và làm như vậy mặc dù liên tục cả ngày và đêm qua tôi luôn hoạt động trên đường.

Về đến Trung Hà, tôi được giao nhiệm vụ đến Ủy ban hành chính kháng chiến huyện Yên Lập (Phú Thọ) theo đường ngược về sông Đà đến Thanh Thủy, ngược lên Thanh Sơn, Đền Hùng, Yên Lập xem xét tình hình đường đi và trở về ngay. Đây là một đường đi trong vùng rừng núi song song với đường Trung Hà, Cổ Tiết, qua phà sang thị xã Phú Thọ. Từ Đồn Vàng có đường đi Cổ Tiết, từ Yên Lập có đường đi Cẩm Khê, Phú Thọ. Trên bản đồ là đường rộng có rải đá nay chỉ còn là đường mòn. Lần đầu tiên tôi tiếp xúc với đường mòn trong rừng, với vắt, với muỗi vàng. Thanh Sơn, Đồn Vàng, một địa danh nổi tiếng nước độc là một dãy phố lèo tèo vài nhà dân bằng tre, nứa, mái lá, cây cối xác xơ. Đồng bào người Kinh gày còm, da xanh tái vì sốt rét. Phong cảnh trông thật tiêu điều trong buổi hoàng hôn mờ sương và lạnh giá của núi rừng, gây cho tôi một nỗi buồn man mác mà tôi còn nhớ mãi. Sau tôi được biết việc tôi đi Yên Lập là để xem xét tình hình an toàn của đường di chuyển lên Việt Bắc của các cơ quan Chính phủ và tìm thêm đường liên lạc sau này.

Sau chuyến đi Yên Lập về, tôi được giao một nhiệm vụ khá đặc biệt mà đến nay tôi còn nhớ rõ. Tôi được giao nhiệm vụ tìm đến Khu bộ Chiến khu 12 ở Bắc Giang. Phải tìm đến Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Bắc Giang mới biết địa điểm của Chiến khu bộ. Tôi được đồng chí Nguyễn Hải Hạc, trưởng ban chỉ đường đi bản đồ theo một vòng cung từ Trung Hà đến Phù Ninh (Phú Thọ) qua sông Lô ở Phan Lương. Từ Phan Lương đi Thiện Kế điểm giáp ranh của bốn tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên ở phía Bắc, Phú Thọ và Vĩnh Yên ở phía Nam. Từ Thiện Kế qua đèo Mon đến huyện Sơn Dương (Tuyên Quang). Từ Sơn Dương qua đèo Khế đến huyện Đại Từ, thị xã Thái Nguyên, thị xã Bắc Giang. Đoạn  đường Phan Lương - Sơn Dương là đường đi từ vùng trung du lên Phú Thọ qua Vĩnh Yên lên Việt Bắc theo đầu phía tây dãy núi Tam Đảo. Một đoạn đường dài đi trong rừng sâu, xa làng xóm. Đây là đoạn đường khó khăn nhất. Trên bản đồ ký hiệu là đường rải đá. Đã có kinh nghiệm đi đường rừng Thanh Thủy - Yên Lập, thấy giữa bản đồ và thực địa khác xa nhau, tôi chuẩn bị sơ đồ đường đi kỹ hơn.

Qua đò Phản Lương thì trời đã tối. Tôi tìm đến nhà ông chủ tịch xã để nghỉ qua đêm và để hỏi thăm đường đi. Ông chủ tịch rất nhiệt tình cho mời một số người đã đi nhiều, đi săn, hiểu đường sá để giúp tôi. Nhưng thật gay go vì không ai biết đoạn đường từ Thiện Kế đến Sơn Dương. Đoạn đường này hầu như không có người qua lại. Ai cũng ái ngại vì tôi đi một mình, không vũ khí, lại thêm chiếc xe đạp trên con đường rừng nhiều trắc trở. Suy tính mãi tôi chuyển sang đi theo đường Phù Ninh - Trạm Thản - Tuyên Quang, qua sông Lô ở bến đò Bình Ca để đến huyện Sơn Dương. Bến Bình Ca là một bến đẹp, bờ bên phía Tuyên Quang cát vàng trải dài hàng trăm mét, có cắm biển "Playge de Bình Ca", nước sông trong xanh, lòng sông in bóng rừng núi bờ bên kia. Tôi ngủ lại ở bến Bình Ca trong một lò ép mía.

Đường từ huyện Sơn Dương qua đèo Khế đến Văn Lãng (chân đèo Khế phía Thái Nguyên) là một con đường lầy lội rất ít người qua lại. Tôi dắt xe đạp từ huyện lỵ Sơn Dương qua đèo Khế đến trạm gác của dân quân Văn Lãng mất gần một ngày đường mà không gặp một ai. Cũng may là đường gần như độc đạo. Trời mưa rả rích cả ngày. Hai bên đường lau lách sát đến tận mép đường mòn. Thỉnh thoảng tôi lại giật bắn mình vì trong đám lau lách ven đường vụt bay ra loại chim bìm bịp lông màu nâu đỏ, đuôi đen. Tôi đi mải miết, đoạn đường nào đạp được xe thì cố đạp, vừa lo gặp thú rừng, vừa lo lạc đường nên quên cả đói. Dốc xuống đều và gốc cây khế ở đỉnh đèo báo cho tôi biết đã đi đúng đường.

Tôi không nhớ là đã đi chặng đường Sơn Tây - Bắc Giang mất mấy ngày, chỉ nhớ rằng ngày nào cũng đi, từ sáng sớm đến tối mịt. Hầu như ngày nào cũng mưa, trời đầy mây, đường đất lầy lội, xe đạp bê bết bùn đất, vừa đi vừa rửa xe. Trên người tôi chỉ có một chiếc túi rết đựng chiếc chăn chiên, cái màn trùm đầu và một bộ quần áo nâu. Chân đi đất còn đôi dép cao su "con hổ" mắc vào tay lái xe đạp. Đầu đội chiếc nón lá và khoác áo tơi lá xin được từ bến Phan Lương.

Tôi nhớ lại hình ảnh của mình qua lời văn của đồng chí Hoàng Đạo Thúy viết ngày 24 tháng 11 năm 1991 nhân kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống Ban Liên lạc đặc biệt.

"Trong quân đội bao la và hùng mạnh, có một anh chiến sĩ lùi lũi trên đường một mình, một mình mang mệnh lệnh, bảo vệ mệnh lệnh, đưa đến tận nơi rồi lập tức ra về.

Anh có thể gặp tất cả gian hiểm, như hy sinh cũng không quý bằng: Lệnh đã đến nơi.

Đó là anh liên lạc. Tôi muốn ca ngợi về anh".

Tôi cảm thấy tự hào là người chiến sĩ liên lạc đầu tiên đi trên đường đèo này. Tôi chỉ mong trời tạnh mưa, đường dễ đi, để đi được nhanh hơn vì việc tìm đến Chiến khu 12 còn phải hỏi thăm qua nhiều cơ sở.

Tôi đã tìm được Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Bắc Giang và biết địa điểm đóng quân của Chiến khu bộ: Xã Cao Thương, huyện Nhã Nam. Tôi được đưa đến gặp đồng chí Tường, trưởng ban Thông tin liên lạc của Chiến khu và đồng chí Hải Quân phụ trách bộ phận liên lạc chuyển đạt. Các đồng chí cho biết Ban Liên lạc đặc biệt Bộ tổng chỉ huy điện: đã cử liên lạc viên hỏa tốc túc trực tại Chiến khu bộ để chuyển công văn hỏa tốc về Bộ. Tôi hiểu ra nhiệm vụ của mình và đoạn đường mà tôi vừa đi là phần chuẩn bị cho làm nhiệm vụ. Sau hai tuần trực tôi được lệnh trở về Ban; địa điểm: Khu Minh Tân, thị xã Tuyên Quang. Tôi theo đường Nhã Nam đi Đa Phúc (trên quốc lộ 3) Phúc Yên, Vĩnh Yên theo quốc lộ 2 đi Phú Thọ, Tuyên Quang. Như vậy cộng với đoạn đường đã đi trước, tôi đã đi một đường tròn khép kín quanh dãy núi Tam Đảo.

Nay ngồi nhớ lại, trong những tháng đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp khoảng hai tháng từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1947 chúng tôi đã đi nhiều, dọc ngang trên các tuyến đường của các tỉnh vùng thượng du, trung du, đồng bằng Bắc Bộ làm nhiều việc "đặc biệt" ngoài việc chuyển đạt công văn.

Liên lạc viên hỏa tốc Nguyễn Đình Thi và Dũng đã đi tìm đưa công văn của Văn phòng Chủ tịch nước "đến tận tay" ba ông Nguyễn Khánh Toàn, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Xiển. Tìm từ Hà Nam sang Nam Định lần qua ba, bốn địa chỉ mới gặp được. Tôi được giao nhiệm vụ, tìm địa chỉ cơ quan chắp nối liên lạc trong lúc di chuyển, chốt tại sở chỉ huy cấp dưới để đưa công văn hỏa tốc về Bộ. Tôi đến, mang thư của Hồ Chủ tịch gửi giám mục Lê Hữu Từ (cố vấn của Chính phủ) ở Phát Diệm. Đã chuyển điện báo và dây cua roa máy phát điện cho một đài vô tuyến điện (BM5) làm nhiệm vụ đặc biệt ở Chiến khu 2 bị mất liên lạc do máy phát điện đứt dây cua roa; có lúc lại dùng thuyền cùng anh Hoàng Viết Hiệp để chở chiếc kính viễn vọng của đài thiên văn Phủ Liễn đóng trong một hòm gỗ dài 2m theo sông Lô đến chôn tại Bình Ca (Tuyên Quang). Liên lạc đặc biệt chuyển công văn kèm theo việc đưa người; đặc biệt có lần qua đường số 5 (đường địch kiểm soát) một hỏa tốc hẹn giờ đến Liên khu 3, đi kèm là một sĩ quan pháo binh người Nhật theo kháng chiến. (Liên khu 3 đoạt được mấy khẩu pháo loại mới của địch cần người hướng dẫn sử dụng gấp).

Những ngày ấy, chúng tôi, những thanh niên mới lớn lên trong cách mạng tháng Tám, ra đi chiến đấu cho nền độc lập của đất nước chỉ với lòng hăng hái của tuổi thanh niên. Chúng tôi được hòa nhập trong tinh thần yêu nước, ý chí kháng chiến sôi sục của toàn dân, được nhân dân đùm bọc nuôi dưỡng trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến. Đây là những bước rèn luyện đầu tiên nhưng mang những dấu ấn đậm nét trong cuộc đời làm chiến sĩ thông tin liên lạc của tôi.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu” – NXB QĐND 2005) 

10.8.25

Hội Truyền thống Trung đoàn 130 họp mặt kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Thông tin Quân bưu

Ngày 10/8/2025, tại SCH Lữ đoàn 205, Hội Truyền thống Trung đoàn 130 đã tổ chức họp mặt kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Thông tin quân bưu (13/8/1945 - 13/8/2025).

Đồng chí Đại tá Cao Văn Bừng – Trưởng ban liên lạc chủ trì buổi họp mặt.

Tham dự buổi gặp mặt có đồng chí Đại tá Trần Đức Thọ - Phó Tư lệnh Binh chủng Thông tin; các đồng chí đại biểu đại diện cho các cơ quan Cục Chính trị, Bộ Tham mưu, Cục Hậu cần-Kỹ thuật và Phòng Tài chính Binh chủng; các đồng chí thủ tưởng các đơn vị Lữ đoàn 205, Trung tâm Kỹ thuật thông tin công nghệ cao và Tiểu đoàn 78 quân bưu; đồng chí Thiếu tướng Vũ Dương Nghi - nguyên Chính ủy Binh chủng, Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội, đồng chí Thiếu tướng Trần Minh Tâm – nguyên Chính ủy Binh chủng, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 130, Phó Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội cùng các đồng chí trong Thường trực Ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội; các đồng chí đã từng công tác tại Trung đoàn 130 nay đã chuyển công tác khác và hiện là nhà tài trợ chính cho Hội Truyền thống Trung đoàn 130 gồm: ông Bùi Đức Ngoãn và phu nhân – Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) - Tổng Giám đốc (TGĐ) Công ty Cổ phần Hợp Nhất Việt Nam (HNC); ông Nguyễn Chí Trung – Chủ tịch HĐQT, TGĐ Tập đoàn Gia Định; các đồng chí nguyên là lãnh đạo, chỉ huy Trung đoàn qua các thời kỳ cùng gần 400 hội viên của Hội Truyền thống Trung đoàn 130 từ mọi miền Tổ quốc như các tỉnh phía Bắc, Vũng Tàu, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh... cũng về dự họp mặt đông đủ.

Đồng chí Thiếu tướng Tư lệnh Binh chủng Vũ Viết Hoàng gửi lẵng hoa và quà chúc mừng.

Đồng chí Thượng tá Phạm Đức Hạnh – Phó ban liên lạc thực hiện công tác tổ chức.

Toàn cảnh buổi họp mặt.

Đây là dịp để toàn thể hội viên cùng nhau ôn lại truyền thống hào hùng của ngành thông tin Quân bưu anh hùng, tri ân các thế hệ đi trước, đồng thời biểu dương, tôn vinh những tập thể, cá nhân tiêu biểu đã có nhiều hoạt động tình nghĩa, thăm viếng, giúp đỡ đồng chí, đồng đội khó khăn. Từ đó, tiếp thêm động lực, khơi dậy truyền thống tương thân, tương ái của Bộ đội Thông tin liên lạc, góp phần xây dựng Binh chủng và Quân đội phát triển vững mạnh trong kỷ nguyên mới.

Ngược dòng lịch sử, giữa những ngày sục sôi khí thế của Cách mạng Tháng Tám, đêm 13/8/1945, những chiến sĩ liên lạc đầu tiên đã vận chuyển Quân lệnh số 1 của Ủy ban Kháng chiến toàn quốc đến các đơn vị, địa phương, góp phần làm nên Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đây là sự kiện lịch sử quan trọng, là mốc son khởi nguồn cho sự ra đời của ngành thông tin Quân bưu, và ngày 13/8/1945 chính thức trở thành Ngày truyền thống của ngành.

80 năm qua, ngành thông tin Quân bưu nói chung và Trung đoàn 130 nói riêng luôn khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác bảo đảm thông tin liên lạc của Quân đội ta, đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trung đoàn đã có 2 tập thể và 1 cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang (LLVT): Đại đội 10 được phong tặng Anh hùng LLVT trong kháng chiến chống Mỹ, Đại đội 1 được phong tặng Anh hùng LLVT khi làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia (1979); đồng chí Phạm Hữu Thoan được phong tặng Anh hùng LLVT (1967).

Hiện nay, số hội viên thường xuyên tham gia sinh hoạt Hội Truyền thống là 687 đồng chí, trải rộng trên khắp 3 miền đất nước. 100% hội viên đều phát huy tốt phẩm chất anh bộ đội Cụ Hồ, chấp hành nghiêm mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như quy định của địa phương nơi cư trú. Trong năm qua đã tổ chức thăm hỏi 58 đồng chí ốm đau nằm tại các bệnh viện, tổ chức phúng viếng và chia buồn 5 hội viên từ trần, phúng viếng và chia buồn 40 thân nhân là bố mẹ, vợ chồng hội viên từ trần. Tổ chức mừng thọ cho 49 đồng chí từ 70 đến 90 tuổi.

Phát biểu tại buổi họp mặt, đồng chí Phó tư lệnh Trần Đức Thọ thông tin với các hội viên về tình hình Binh chủng, nhất là các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Bộ đội TTLL. Đặc biệt ngày 19/5/2025 Chủ tịch nước đã ký tặng Huân chương Hồ Chí Minh (lần 2) cho Binh chủng (như vậy, trong 80 năm qua Binh chủng đã 02 lần được tặng danh hiện Anh hùng LLVT nhân dân, được tặng thưởng Huân chương Sao vàng, 02 lần Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Huân chương Quân công các hạng, Huân chương Chiến công các hạng; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc và nhiều phần thưởng cao quý khác).

Đồng chí Đại tá Phó tư lệnh phát biểu.

Đồng chí cho biết sự phát triển, trưởng thành của Binh chủng có được như ngày hôm nay là do công lao đóng góp, sự hy sinh cống hiến của lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ TTLL qua các thời kỳ. Trong đó có công lao đóng góp, sự hy sinh của các bác, các chú, các anh, chị cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong toàn Binh chủng cũng như của Trung đoàn Thông tin 130. Thay mặt Thủ trưởng Binh chủng và thế hệ cán bộ, chiến sĩ Thông tin hôm nay, đồng chí bày tỏ sự trân trọng, lòng biết ơn sâu sắc đối với sự hy sinh, cống hiến của các thế hệ đi trước. Đồng chí kính mong các bác, các cô, các chú, các anh các chị tiếp tục giành tình cảm, sự quan tâm, cổ vũ, động viên, tham gia đóng góp nhiều ý kiến xây dựng vì sự ổn định và phát triển của Binh chủng TTLL.

Cũng tại buổi họp mặt, Đại tá Nguyễn Quý Pha – nguyên Trung đoàn trưởng chia sẻ niềm vinh dự, tự hào khi những cựu chiến binh năm xưa được chứng kiến sự đổi thay, phát triển của Binh chủng, đặc biệt trong kỷ nguyên số hiện đại ngày nay, thông tin Quân bưu vẫn được xác định là phương tiện thông tin quan trọng trong hệ thống thông tin quân sự; bày tỏ sẽ tiếp tục phát huy tốt bản chất, truyền thống của người chiến sĩ cách mạng, giữ vững phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện tốt đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; gương mẫu trong lối sống, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực sự là tấm gương mẫu mực cho thế hệ trẻ học tập noi theo...

Đồng chí Nguyễn Quý Pha phát biểu.

Buổi họp mặt còn được nghe các ông Bùi Đức Ngoãn và Nguyễn Chí Trung với tư cách là các nhà tài trợ phát biểu về những tình cảm đối với Trung đoàn năm xưa và hứa sẽ tiếp tục đồng hành cùng Hội Truyền thống để góp phần phát huy những phẩm chất tốt đẹp của người chiến sĩ quân bưu.

Họp mặt Hội Truyền thống được chứng kiến Thủ trưởng BTL tặng kỷ niệm chương cho 5 đồng chí và và chúc thọ cho 50 đồng chí các tuổi từ 70 đến 85.

Một số hình ảnh buổi họp mặt:

Đồng chí Đại tá Trần Đức Thọ tặng hoa và quà cho Hội Truyền thống Trung đoàn 130.

Đồng chí Thiếu tướng Vũ Dương Nghi – Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội tặng hoa và quà cho Hội Truyền thống Trung đoàn 130.

Đồng chí Thượng tá Trần Trung Dũng – Phó Chính ủy Lữ đoàn 205 tặng hoa và quà cho Hội Truyền thống Trung đoàn 130.

Đồng chí Đại tá Bùi Văn Thắng – Giám đốc Trung tâm KTTT công nghệ cao tặng hoa và quà cho Hội Truyền thống Trung đoàn 130.

Đồng chí Trung tá Nguyễn Hồng Khoa – Tiểu đoàn trưởng d78/L205 tặng hoa và quà cho Hội Truyền thống Trung đoàn 130.

Ông Nguyễn Chí Trung – Chủ tịch HĐQT, TGĐ Tập đoàn Gia Định tặng hoa và quà cho Hội Truyền thống Trung đoàn 130.

Đồng chí Nguyễn Thị Luyễn – Phó ban liên lạc báo cáo tình hình tài chính Hội.

Ông Bùi Đức Ngoãn phát biểu.

Ông Nguyễn Chí Trung phát biểu.

Đồng chí Đại tá Phó tư lệnh tặng kỷ niệm chương cho các hội viên.

Đồng chí Thiếu tướng Vũ Dương Nghi trao bằng chúc thọ cho các hội viên.

Đồng chí Thiếu tướng Trần Minh Tâm trao bằng chúc thọ cho các hội viên.


Đồng chí Đại tá Cao Văn Bừng trao bằng chúc thọ cho các hội viên.




Một số tiết mục văn nghệ chào mừng buổi họp mặt.

Một số hội viên chụp ảnh lưu niệm.

Quang cảnh ngoài hội trường.

Tin, ảnh: Quang Hưng 

Chi hội Truyền thống Thông tin Thanh Trì gặp mặt kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc anh hùng

Trong không khí tưng bừng, phấn khởi, chào đón Quốc khánh lần thứ 80 nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025) và kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc (09/9/1945 - 09/9/2025), ngày 09/8/2025 Chi hội Truyền thống Thông tin Thanh Trì tổ chức gặp mặt toàn thể hội viên.

Về dự có trên 40 hội viên. Đồng chí Trưởng ban liên lạc Nguyễn Đăng Đằng chủ trì buổi gặp mặt. Tại buổi gặp mặt, đồng chí Trưởng ban đã báo cáo kết quả hoạt động năm 2024 và phương hướng nhiệm vụ năm 2025 của Hội Truyền thống Binh chủng Thông tin liên lạc khu vực Hà Nội cũng như thông báo của Thường trực Ban liên lạc Hội ngày 13/04/2025.

Đồng chí Trưởng ban liên lạc Chi hội Nguyễn Đăng Đằng trình bày báo cáo trung tâm.

Theo đó, kết quả hoạt động của Chi hội Thanh trì năm 2024 trên một số mặt như sau: hội viên của Chi hội hiện tại là 53 đồng chí (kết nạp thêm 1 hội viên); phúng viếng hội viên qua đời 2 lần và thân nhân hội viên 2 lần; thăm hội viên ốm 2 lần; tặng quà tết hội viên trên 90 tuổi 1 lần. Đề nghị Thường trực Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội và Bộ tư lệnh mừng thọ cho 6 hội viên và tặng quà Tết Bính Ngọ 2026 cho 1 hội viên trên 90 tuổi.

Chi hội Thanh Trì liên hoan chào mừng Ngày truyền thống Bộ đội TTLL anh hùng.

Toàn thể hội viên nhất trí cao đồng thời vui mừng chờ đón đến ngày 17/8/2025 gặp mặt toàn thể hội viên của Hội, kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống của Binh chủng Thông tin liên lạc anh hùng.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm.

Tin, ảnh: Nguyễn Đăng Đằng

Đăng bởi Quang Hưng

9.8.25

Yêu

Hoàng Lan - nguyên học viên Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Yêu là hết thảy cuộc đời

Yêu là ánh sáng tuyệt vời trong tôi

Yêu là vị ngọt trong môi

Yêu là ôm siết không rời bên nhau

Yêu là tim nhịp ban đầu

Yêu là thương nhớ dài lâu ngập tràn

Yêu là không đếm tính toan

Yêu là tình cảm ngút ngàn niềm vui

Yêu là cảm xúc bùi ngùi

Yêu là bốc lửa ngập tràn tuổi xuân

Yêu nhau cho đến ngũ tuần

Thương cho đến tuổi bát tuần của nhau

Yêu rồi nhớ lại buổi đầu

Mỗi người một vẻ muôn màu khác nhau

Cuộc đời có lúc đớn đau

Chua cay mặn nhạt biết đâu thường tình

Tình yêu phụ thuộc chính mình

Rộng lòng tha thứ biết mình biết ta

Tình yêu sẽ đến mọi nhà

Ngoài êm trong ấm chan hòa niềm vui.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” – NXB Hội Nhà văn 2016) 

Chuyện ngày 8/3

Nguyễn Thị Hải Hồ - nguyên Chiến sỹ Hậu cần Hiệu bộ Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Hôm nay ngày tám tháng ba

Mà sao anh chẳng có quà tặng em?

Nhớ hồi mình mới thân quen

Cứ “nhầm” ngày 7 đã mang đến nhà

Nhân ngày lễ có món quà

Mồng 8 lại tặng bó hoa thắm hồng.

 

Từ khi thành vợ thành chồng

Đến ngày mồng 8... anh không nói gì?

Có nhắc thì anh cười khì

Tiền của nhà đấy, mua gì thì mua!

Tiền nhà - quà tặng tự mua

Chắc chỉ có một tự xưa đến giờ!

 

Sao không tặng mấy vần thơ

Đọc xong còn thấy bến bờ thiết tha

(Nói thầm)... mồng tám tháng ba

Hàng năm nhớ chuyện tặng quà, nghe anh!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” – NXB Hội Nhà văn 2016)