Phạm Duy Tín
Ban Liên lạc đặc biệt (LLĐB) được tổ chức ít ngày trước
ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946). Trong những ngày đầu, tháng đầu của cuộc
kháng chiến, các đường liên lạc chưa kịp tổ chức. Các cơ quan của Chính phủ và
của Bộ Tổng chỉ huy vừa phải chỉ đạo các tỉnh, thành, chỉ đạo các quân khu, các
đơn vị chiến đấu vừa phải tổ chức để di chuyển lên Việt Bắc. Ban LLĐB với các
liên lạc viên "hỏa tốc" dùng xe đạp để cơ động đã là phương tiện đảm
bảo công tác chỉ đạo, chỉ huy và làm các nhiệm vụ "đặc biệt" rất đắc
lực. Tôi là một chiến sĩ thuộc bộ phận "Liên lạc hỏa tốc" ghi lại những
việc đáng nhớ trong những ngày ấy.
Năm 1946 tôi mười sáu tuổi, là chiến sĩ tự vệ của khu phố.
Toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Sau một số ngày chiến đấu ngăn bước tiến của
quân Pháp ở khu phố, tôi được đưa về Ban LLĐB Bộ Tổng chỉ huy, trong đội Liên lạc
hỏa tốc. Phụ trách tôi là anh Trần Văn Mỹ (có biệt danh là Mỹ nheo), một cán bộ
quân sự đã làm việc trong Ban Liên kiểm Việt Pháp trước ngày kháng chiến. Đồng
đội của tôi phần lớn là học sinh, cùng lứa tuổi, một số là đồng hương với tôi.
Chúng tôi sống chan hòa, sôi nổi với lòng hăng hái của tuổi thanh niên đi chiến
đấu giành độc lập cho Tổ quốc.
Chúng tôi được huấn luyện về quân sự. Vốn là chiến sĩ
tự vệ chiến đấu, tôi đã biết một số động tác chiến đấu cá nhân và sử dụng súng
Mút cơ tông, chúng tôi được học thêm khái niệm về một số vũ khí bộ binh, cách phòng
tránh pháo, cối và máy bay. Chúng tôi học sử dụng bản đồ, xác định phương hướng.
Đây là nội dung chúng tôi được học kỹ. Chúng tôi làm quen với bản đồ ở nhiều tỷ
lệ khác nhau, thành thạo các ký hiệu trên bản đồ, ký hiệu dáng đất, tính toán cự
ly. Việc học tập này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong khi làm nhiệm vụ. Khi nhận
nhiệm vụ chúng tôi chỉ được giao tên đơn vị, địa danh nơi đóng quân và thời
gian phải đưa công văn đến nơi. Chúng tôi phải dựa vào bản đồ mà xác định đường
đi, ghi nhớ các địa danh, vật chuẩn cần thiết để khỏi lạc đường và tính toán chặng
đường. Chính do việc thạo dùng bản đồ mà chúng tôi, lúc ấy phần đông ở tuổi học
sinh mới lớn, chưa bao giờ đi xa mới biết đường mà đi đến nơi, về đến chốn.
Chuyến đi xa đầu tiên của tôi và toàn đội mà tôi còn nhớ
là trong những ngày cuối tháng 1 năm 1947. Chúng tôi, khoảng hơn một chục người:
Hiên, Học, Hào, Ứng, Hanh, Huế, Thi, Toại, Hùng..., được giao nhiệm vụ đi đưa
công văn hỏa tốc đến Ủy ban hành chính kháng chiến các tỉnh trung du và đồng bằng
Bắc Bộ. Tôi được đưa công văn đến Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Hưng Yên
và Thái Bình.
Lần đầu tiên đi làm nhiệm vụ, phấn khởi lắm. Xuất phát
từ Mai Lĩnh (Hà Đông), tôi ra đi từ sáng sớm. Mải miết đạp xe theo bờ đê sông
Đáy, rẽ sang chợ Tía, theo quốc lộ 1 đến Đồng Văn thì rẽ sang đường đi bến đò
Yên Lệnh, qua sông Hồng là đến thị xã Hưng Yên. Quốc lộ 1 vắng teo, từng đoạn từng
đoạn được phá hoại để cản xe cơ giới của Pháp. Nền đường ở các dầm cầu đều được
cắt bỏ, mặt đường được đào thành các hố sâu chéo nhau. Tôi phải lái xe đi ngoằn
ngoèo, dích dắc, nhiều lúc phải dắt xe.
Bến đò Yên Lệnh là một bến phà lớn, cửa ngõ vào thị xã
Hưng Yên nổi tiếng với món bún thang, nay vắng ngắt. Dòng sông Hồng nước đỏ phù
sa, rộng vút tầm mắt, mặt nước gợn sóng lăn tăn theo gió bắc lạnh. Rất lo lắng.
Tôi đi tìm trạm gác dân quân xuất trình thẻ hỏa tốc và nói nhiệm vụ của mình. Một
chiếc đò nhỏ đã đưa tôi và chiếc xe đạp qua sông rộng.
Trong chặng đường làm liên lạc hỏa tốc tôi còn nhiều qua
lại dòng sông này. Tôi khâm phục tài năng và sự dũng cảm của các đồng chí dân
quân ở đây. Có lần giữa mưa nước lũ với chiếc đò nhỏ đồng chí dân quân xã Yên Lạc
(Vĩnh Phúc) đã đưa tôi và chiếc xe đạp qua sông trong một buổi sớm mù sương
không nhìn thấy bờ, nước sông đỏ phù sa, chảy cuồn cuộn nhìn chóng mặt.
Tôi nhanh chóng tìm đến Ủy ban hành chính kháng chiến
tỉnh, tiếp nhận giấy giới thiệu, giấy đi đường và công văn, anh cán bộ văn
phòng vừa đọc, vừa liếc nhìn tôi với vẻ xét nét. Đứng trước mặt anh, một thanh
niên ăn mặc dáng dấp học sinh, mặt non choẹt "búng ra sữa" - "Liên
lạc viên hỏa tốc của Bộ Tổng chỉ huy". Nhưng khi nhìn thấy dấu hỏa tốc và
mũi tên đỏ chói trên công văn, động tác anh linh hoạt hẳn lên. Anh bóc công văn
để vào sổ. Tôi liếc nhanh, nhìn phần trích yếu: "Lệnh tiêu thổ kháng chiến".
Ra khỏi Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh tôi mới thấy đói, từ sáng ra đi đến
giờ bụng tôi vẫn rỗng. Ăn xong tôi mải miết đạp xe đi thị xã Thái Bình và quay
về đến thị xã Hưng Yên thì trời đã tối lắm rồi. Thị xã đã bắt đầu thi hành lệnh
tiêu thổ.
Tháng 3 năm 1947 Trung đoàn Thủ đô rút ra khỏi Liên
khu 1. Giặc Pháp đánh lấn ra ngoại vi Hà Nội theo các trục đường lớn. Có hôm
tôi chạy công văn từ Mai Lĩnh lên Chiến khu 2 ở chân núi chùa Thầy huyện Quốc Oai.
Tôi đi xe đạp trên đê sông Đáy, phía bên trái thì xe tăng và cơ giới quân Pháp
hành quân, phía đê bên phải từ trên Phùng xuống. Tôi cắm cúi đạp xe không để ý.
Đến khi thấy nhân dân làm đồng la lên "quân Pháp!" tôi mới giật mình
và vội tụt xuống chân đê quan sát. Đến Chiến khu 2 tôi báo cáo tình hình với cơ
quan tác chiến quân khu. Các đồng chí vẫn bán tin bán nghi. Sáng hôm sau Ban
chúng tôi cùng các cơ quan ở khu vực Mai Lĩnh di chuyển lên Việt Bắc. Di chuyển
theo đường số 6 Mai Lĩnh - Xuân Mai, chúng tôi đi trước thì xe tăng, cơ giới Pháp
theo sau, tiếng súng nổ ran phía sau lưng. Đến Gốt, chúng tôi bỏ đường số 6 rẽ
lên đường đi Bương, Cấn hướng thị xã Sơn Tây. Chiều hôm ấy chúng tôi tập hợp ở đình
làng Bương, Cấn. Phía bắc đường số 6 trên đường Gốt đi Sơn Tây. Tôi được giao
nhiệm vụ đi tìm giao công văn cho đồng chí Hoàng Mười ở xã Vĩnh Lạc, khu vực ngã
ba Thá, nam đường số 6, làm xong nhiệm vụ về bến đò Trung Hà. Ngay trong đêm, bằng
xe đạp tôi trở lại đường số 6 đi về phía thị xã Hà Đông, đến Chúc Sơn thì rẽ về
huyện Chương Mỹ đi ngã ba Thá. Đường số 6 là khu vực địch vừa hành quân qua lúc
ban ngày. Đường sá vắng teo; các nhà, hàng quán ven đường bị đốt phá còn âm ỷ
cháy, tôi vừa đi vừa tìm hiểu tình hình địch qua các trạm gác của dân quân. Trời
tối, đêm lại mưa lâm thâm. Lúc đạp lúc dắt xe, mờ sáng tôi đến xã Vĩnh Lạc. Một
xã giữa cánh đồng nước, một xã có nhà thờ, quanh làng có lũy tre bao bọc, cổng
làng được rào kỹ, có dân quân canh gác. Đồng chí Hoàng Mười đã không còn ở đó.
Trên đường đi tôi gặp nhiều toán người lưng đeo ba lô, cũng có gánh gồng đi lên
phía Bắc. Không biết đồng chí Hoàng Mười có đi trong đó không? Phải quay về Ban
ngay để báo cáo. Tôi nghĩ và làm như vậy mặc dù liên tục cả ngày và đêm qua tôi
luôn hoạt động trên đường.
Về đến Trung Hà, tôi được giao nhiệm vụ đến Ủy ban hành
chính kháng chiến huyện Yên Lập (Phú Thọ) theo đường ngược về sông Đà đến Thanh
Thủy, ngược lên Thanh Sơn, Đền Hùng, Yên Lập xem xét tình hình đường đi và trở
về ngay. Đây là một đường đi trong vùng rừng núi song song với đường Trung Hà,
Cổ Tiết, qua phà sang thị xã Phú Thọ. Từ Đồn Vàng có đường đi Cổ Tiết, từ Yên Lập
có đường đi Cẩm Khê, Phú Thọ. Trên bản đồ là đường rộng có rải đá nay chỉ còn
là đường mòn. Lần đầu tiên tôi tiếp xúc với đường mòn trong rừng, với vắt, với
muỗi vàng. Thanh Sơn, Đồn Vàng, một địa danh nổi tiếng nước độc là một dãy phố
lèo tèo vài nhà dân bằng tre, nứa, mái lá, cây cối xác xơ. Đồng bào người Kinh
gày còm, da xanh tái vì sốt rét. Phong cảnh trông thật tiêu điều trong buổi
hoàng hôn mờ sương và lạnh giá của núi rừng, gây cho tôi một nỗi buồn man mác
mà tôi còn nhớ mãi. Sau tôi được biết việc tôi đi Yên Lập là để xem xét tình
hình an toàn của đường di chuyển lên Việt Bắc của các cơ quan Chính phủ và tìm thêm
đường liên lạc sau này.
Sau chuyến đi Yên Lập về, tôi được giao một nhiệm vụ
khá đặc biệt mà đến nay tôi còn nhớ rõ. Tôi được giao nhiệm vụ tìm đến Khu bộ
Chiến khu 12 ở Bắc Giang. Phải tìm đến Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Bắc Giang
mới biết địa điểm của Chiến khu bộ. Tôi được đồng chí Nguyễn Hải Hạc, trưởng
ban chỉ đường đi bản đồ theo một vòng cung từ Trung Hà đến Phù Ninh (Phú Thọ)
qua sông Lô ở Phan Lương. Từ Phan Lương đi Thiện Kế điểm giáp ranh của bốn tỉnh
Tuyên Quang, Thái Nguyên ở phía Bắc, Phú Thọ và Vĩnh Yên ở phía Nam. Từ Thiện Kế
qua đèo Mon đến huyện Sơn Dương (Tuyên Quang). Từ Sơn Dương qua đèo Khế đến huyện
Đại Từ, thị xã Thái Nguyên, thị xã Bắc Giang. Đoạn đường Phan Lương - Sơn Dương là đường đi từ
vùng trung du lên Phú Thọ qua Vĩnh Yên lên Việt Bắc theo đầu phía tây dãy núi
Tam Đảo. Một đoạn đường dài đi trong rừng sâu, xa làng xóm. Đây là đoạn đường
khó khăn nhất. Trên bản đồ ký hiệu là đường rải đá. Đã có kinh nghiệm đi đường
rừng Thanh Thủy - Yên Lập, thấy giữa bản đồ và thực địa khác xa nhau, tôi chuẩn
bị sơ đồ đường đi kỹ hơn.
Qua đò Phản Lương thì trời đã tối. Tôi tìm đến nhà ông
chủ tịch xã để nghỉ qua đêm và để hỏi thăm đường đi. Ông chủ tịch rất nhiệt
tình cho mời một số người đã đi nhiều, đi săn, hiểu đường sá để giúp tôi. Nhưng
thật gay go vì không ai biết đoạn đường từ Thiện Kế đến Sơn Dương. Đoạn đường
này hầu như không có người qua lại. Ai cũng ái ngại vì tôi đi một mình, không
vũ khí, lại thêm chiếc xe đạp trên con đường rừng nhiều trắc trở. Suy tính mãi
tôi chuyển sang đi theo đường Phù Ninh - Trạm Thản - Tuyên Quang, qua sông Lô ở
bến đò Bình Ca để đến huyện Sơn Dương. Bến Bình Ca là một bến đẹp, bờ bên phía
Tuyên Quang cát vàng trải dài hàng trăm mét, có cắm biển "Playge de Bình
Ca", nước sông trong xanh, lòng sông in bóng rừng núi bờ bên kia. Tôi ngủ
lại ở bến Bình Ca trong một lò ép mía.
Đường từ huyện Sơn Dương qua đèo Khế đến Văn Lãng
(chân đèo Khế phía Thái Nguyên) là một con đường lầy lội rất ít người qua lại.
Tôi dắt xe đạp từ huyện lỵ Sơn Dương qua đèo Khế đến trạm gác của dân quân Văn
Lãng mất gần một ngày đường mà không gặp một ai. Cũng may là đường gần như độc
đạo. Trời mưa rả rích cả ngày. Hai bên đường lau lách sát đến tận mép đường
mòn. Thỉnh thoảng tôi lại giật bắn mình vì trong đám lau lách ven đường vụt bay
ra loại chim bìm bịp lông màu nâu đỏ, đuôi đen. Tôi đi mải miết, đoạn đường nào
đạp được xe thì cố đạp, vừa lo gặp thú rừng, vừa lo lạc đường nên quên cả đói.
Dốc xuống đều và gốc cây khế ở đỉnh đèo báo cho tôi biết đã đi đúng đường.
Tôi không nhớ là đã đi chặng đường Sơn Tây - Bắc Giang
mất mấy ngày, chỉ nhớ rằng ngày nào cũng đi, từ sáng sớm đến tối mịt. Hầu như
ngày nào cũng mưa, trời đầy mây, đường đất lầy lội, xe đạp bê bết bùn đất, vừa
đi vừa rửa xe. Trên người tôi chỉ có một chiếc túi rết đựng chiếc chăn chiên,
cái màn trùm đầu và một bộ quần áo nâu. Chân đi đất còn đôi dép cao su
"con hổ" mắc vào tay lái xe đạp. Đầu đội chiếc nón lá và khoác áo tơi
lá xin được từ bến Phan Lương.
Tôi nhớ lại hình ảnh của mình qua lời văn của đồng chí
Hoàng Đạo Thúy viết ngày 24 tháng 11 năm 1991 nhân kỷ niệm 45 năm ngày truyền
thống Ban Liên lạc đặc biệt.
"Trong quân đội bao la và hùng mạnh, có một anh chiến
sĩ lùi lũi trên đường một mình, một mình mang mệnh lệnh, bảo vệ mệnh lệnh, đưa
đến tận nơi rồi lập tức ra về.
Anh có thể gặp tất cả gian hiểm, như hy sinh cũng không
quý bằng: Lệnh đã đến nơi.
Đó là anh liên lạc. Tôi muốn ca ngợi về anh".
Tôi cảm thấy tự hào là người chiến sĩ liên lạc đầu
tiên đi trên đường đèo này. Tôi chỉ mong trời tạnh mưa, đường dễ đi, để đi được
nhanh hơn vì việc tìm đến Chiến khu 12 còn phải hỏi thăm qua nhiều cơ sở.
Tôi đã tìm được Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Bắc
Giang và biết địa điểm đóng quân của Chiến khu bộ: Xã Cao Thương, huyện Nhã
Nam. Tôi được đưa đến gặp đồng chí Tường, trưởng ban Thông tin liên lạc của Chiến
khu và đồng chí Hải Quân phụ trách bộ phận liên lạc chuyển đạt. Các đồng chí
cho biết Ban Liên lạc đặc biệt Bộ tổng chỉ huy điện: đã cử liên lạc viên hỏa tốc
túc trực tại Chiến khu bộ để chuyển công văn hỏa tốc về Bộ. Tôi hiểu ra nhiệm vụ
của mình và đoạn đường mà tôi vừa đi là phần chuẩn bị cho làm nhiệm vụ. Sau hai
tuần trực tôi được lệnh trở về Ban; địa điểm: Khu Minh Tân, thị xã Tuyên Quang.
Tôi theo đường Nhã Nam đi Đa Phúc (trên quốc lộ 3) Phúc Yên, Vĩnh Yên theo quốc
lộ 2 đi Phú Thọ, Tuyên Quang. Như vậy cộng với đoạn đường đã đi trước, tôi đã
đi một đường tròn khép kín quanh dãy núi Tam Đảo.
Nay ngồi nhớ lại, trong những tháng đầu của cuộc kháng
chiến chống Pháp khoảng hai tháng từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1947 chúng tôi đã
đi nhiều, dọc ngang trên các tuyến đường của các tỉnh vùng thượng du, trung du,
đồng bằng Bắc Bộ làm nhiều việc "đặc biệt" ngoài việc chuyển đạt công
văn.
Liên lạc viên hỏa tốc Nguyễn Đình Thi và Dũng đã đi tìm
đưa công văn của Văn phòng Chủ tịch nước "đến tận tay" ba ông Nguyễn
Khánh Toàn, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Xiển. Tìm từ Hà Nam sang Nam Định lần qua ba,
bốn địa chỉ mới gặp được. Tôi được giao nhiệm vụ, tìm địa chỉ cơ quan chắp nối
liên lạc trong lúc di chuyển, chốt tại sở chỉ huy cấp dưới để đưa công văn hỏa
tốc về Bộ. Tôi đến, mang thư của Hồ Chủ tịch gửi giám mục Lê Hữu Từ (cố vấn của
Chính phủ) ở Phát Diệm. Đã chuyển điện báo và dây cua roa máy phát điện cho một
đài vô tuyến điện (BM5) làm nhiệm vụ đặc biệt ở Chiến khu 2 bị mất liên lạc do
máy phát điện đứt dây cua roa; có lúc lại dùng thuyền cùng anh Hoàng Viết Hiệp
để chở chiếc kính viễn vọng của đài thiên văn Phủ Liễn đóng trong một hòm gỗ
dài 2m theo sông Lô đến chôn tại Bình Ca (Tuyên Quang). Liên lạc đặc biệt chuyển
công văn kèm theo việc đưa người; đặc biệt có lần qua đường số 5 (đường địch kiểm
soát) một hỏa tốc hẹn giờ đến Liên khu 3, đi kèm là một sĩ quan pháo binh người
Nhật theo kháng chiến. (Liên khu 3 đoạt được mấy khẩu pháo loại mới của địch cần
người hướng dẫn sử dụng gấp).
Những ngày ấy, chúng tôi, những thanh niên mới lớn lên
trong cách mạng tháng Tám, ra đi chiến đấu cho nền độc lập của đất nước chỉ với
lòng hăng hái của tuổi thanh niên. Chúng tôi được hòa nhập trong tinh thần yêu
nước, ý chí kháng chiến sôi sục của toàn dân, được nhân dân đùm bọc nuôi dưỡng
trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến. Đây là những bước rèn luyện đầu tiên
nhưng mang những dấu ấn đậm nét trong cuộc đời làm chiến sĩ thông tin liên lạc
của tôi.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu” – NXB QĐND 2005)
0 comments:
Đăng nhận xét