11.1.26

Hoa tình

Vũ Long

Mỗi người ở một miền quê

Vì say cánh sóng nên về bên nhau

"Hoa cau nở giữa vườn cau”

Hoa tình nở bởi thương nhau trọn đời

Thương nhau đâu phải nhiều lời

Tim trong tín hiệu giữa trời bao la

Cho dù em ở nơi xa

Cứ lần theo tiếng tích tà anh sang

Gặp nhau ở giữa không gian

Nụ hôn toả ấm mênh mang đất trời

Đó là nhà máy của tôi

Hoa tình nở bởi mọi người yêu nhau.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

9.1.26

Tâm hồn quân bưu

Nguyễn Thụy Kha

Sau trận bom toạ độ

Người chiến sĩ quân bưu không dậy nữa

Anh ngã vào nôi êm rừng xanh

Chiếc ba lô đầy thư và công văn

Nằm yên thềm cỏ vắng

Hồn anh hoá thành cô em áo trắng

Mang chiếc ba lô và tin anh hy sinh

Tới các miền mong ngóng

 

Câu chuyện đọc từ lá thư cháy xém

Truyền tay nhau hơi ấm người không quen

Thì thầm về cô em không tên

Những người quên mình giữ gìn mạch máu

Để các miền xa xôi trong chiến đấu

Vẫn vô hình tay nắm chặt tay nhau

Dẫu gian lao

Tình người không thất lạc

 

Còn bao phong thư đi ra đi vào

Trạm quân bưu không biết

Nằm trong các ba lô kín mít

Nằm trong ca bin lái xe

Nằm ở những nơi sâu nhất

Trên tay người đi, người về

Những người đi ta trao chuyển lá thư

Hay ta nhận lá thư từ bàn tay ấy

Ta rất tin

Có thể là chiến sĩ

Có thể là chính uỷ

Tư lệnh trưởng của ta

Một nhà thơ già

Thoáng đường mòn gặp gỡ

Sự tận tụy vô tư

Làm cho tất cả

Hóa cây cầu nối những trái tim

Hoá đôi cánh phong thư không tem

 

Ở chiến trường anh đừng ngạc nhiên

Khi chợt nhận phong thư qua bàn tay lạ

Điều kỳ diệu chẳng hề bỡ ngỡ

Bởi mọi người ta yêu

Và chính ta trong tuyến lửa

Đều có tâm hồn quân bưu

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

Nấm lau

Nguyễn Thụy Kha

Bãi lau xưa xoá sạch rồi

Loang xanh mấy vạt sắn đồi non tơ

Lạ chưa sau mấy ngày mưa

Quanh doanh trại cứ la đà nấm lên

 

Mấy chàng chiến sĩ thông tin

Rủ nhau đi hái nấm tìm ngược xuôi

Mới hay gốc lau đất vùi

Ngỡ xơ xác chết lại chồi mầm non

Nhấp nhô như mái nhà con

Quây quần như những mái tranh sườn đồi

Nhỏ nhoi cây nấm ngọt bùi

Tự thân gầy guộc một đời cây lau.

 

Bát canh toả khói trao nhau

Cơn mưa hồi ức khi nào tuôn rơi

Người bạn xưa đã khuất rồi

Có gì phảng phất như đời cây lau

Chết thầm lặng góc rừng sâu

Cho đường dây sứ nở thao thức rừng

Chiều nay như trở về cùng

Ăn canh nấm lại cười rung căn nhà...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

8.1.26

Đêm sân bay

Đàm Hậu

Đêm sân bay

Từng đợt gió

gồng lên,

quất ngang mặt.

 

Tháng chạp

Mưa lạnh ngắt

Rét tái tê

không ngăn nổi những bàn tay kéo cáp.

 

Phía sau

tổng đài

réo gọi

Trước anh

Tổ quốc

là mặt trời âm thanh.

 

Đêm sân bay

Anh nhớ về quê Mẹ

Tuổi ấu thơ mắc võng ru con

Dưới chân anh lúa vẫn xanh non,

Trên đỉnh cột anh ngỡ cùng cánh sóng

dây đung đưa theo từng cơn gió thổi

ru đường băng trong tín hiệu bao la

 

Cánh sóng bay xa

cùng dòng quang hối hả

trên tay anh tín hiệu toả trăm miền

 

Đêm sân bay

Anh thức trọn đêm.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

Một thoáng Si Pa Phìn

Lê Nguyên Hưởng

Nhè nhẹ bồng bềnh sương khói trắng

Nhấp nhô trùng điệp núi non xanh

Biên cương một dải muôn trùng thẳm

Xào xạc đôi lều giữa nắng hanh

 

Dấu chân người lính không biết mỏi

Lặn lội suối đèo tới biên cương

Vệ tinh cánh sóng vươn trải tới

Nối niềm giao cảm – Si Pa Phìn.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)

Trạm viba đèo Pha Đin

Đặng Đức Đông

Pha Đin, đỉnh núi xa mờ

Ngước nhìn những tưởng trong mơ dạt dào

Mây đưa từng bước lên cao

Bóng người lính trạm ẩn vào trong mây

Màn sương thấm ướt vai gầy

Nắng qua kẽ lá đan dây tơ hồng

Cột viba giữa thinh không

Dưới chân xanh mướt cánh đồng bậc thang

Khèn ai đang thổi nhịp nhàng

Vẳng xa tiếng suối, rộn ràng tiếng chim

Bản làng thấp thoáng trong đêm

Viba in bóng trên nền trời sao

Mùa khô bỏng rát gió Lào

Mùa đông gió bấc điểm cao mịt mù

Mùa mưa kéo tận sang thu

Thông tin thông suốt mặc dù gian lao

Ba người chung một điểm cao

Khác quê mà có khác nào anh em

Cùng nhau canh trực ngày đêm

Giữ cho quê mẹ bình yên vẹn toàn

Pha Đin nở trắng hoa ban

Một mùa xuân mới bình an lại về.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)

7.1.26

Một kinh nghiệm về giao thông liên lạc của khởi nghĩa Nam Kỳ

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS

Năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bùng nổ. Thực dân Pháp ở Đông Dương kết thúc phong trào Mặt trận bình dân ở thuộc địa, bắt đầu lùng bắt các chiến sĩ cộng sản, nhưng những người cộng sản đã nhanh chân hơn, họ rút vào hoạt động bí mật.

Tháng 11 năm ấy, tại Bà Điểm, ngoại ô Sài Gòn, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 đã họp ba ngày liền (6, 7, 8) có các đồng chí Võ Văn Tần, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu tham dự. Hội nghị đã giải quyết vấn đề chuyển hướng đường lối và phương pháp cách mạng trong tình hình mới. Phong trào đang lên thì đến tháng Giêng năm 1940, toàn ban Thường vụ Trung ương sa vào tay mật thám. Tiếp sau đó là các đồng chí Xứ ủy Nam Kỳ, rồi Thành ủy Sài Gòn cũng bị bắt. Đây là một tổn thất rất lớn cho Đảng ta, kể từ sau năm 1931. Trong lúc ấy tình hình Đông Dương đang biến đổi rất mạnh. Ngày 23-9-1940, Pháp bắt buộc phải để cho phát xít Nhật chiếm Đông Dương, "từ đó nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích Pháp và Nhật". Giữa năm 1940, các cơ sở Đảng ở Nam Kỳ dần dần phục hồi. Tháng 7, Xứ ủy Nam Kỳ đã đề ra "Đề cương khởi nghĩa". Đến 27-9, nhân dân Bắc Sơn đã nổi dậy, chiếm đồn Mỏ Nhài, càng thúc giục quyết tâm khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ. Cuối cùng, Xứ ủy quyết định ngày 23-11, sẽ tổ chức khởi nghĩa ở Nam Kỳ. Xứ ủy bấy giờ không nhìn thấy được rằng dù Đức đã thắng Pháp, quân Thái Lan đã tấn công Pháp ở biên giới Lào-Miên, tuy "tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được". Khởi nghĩa Bắc Sơn đã không "châm ngọn lửa cách mạng" ra các địa phương khác mà từ cuối tháng 9 đã chuyển sang phòng ngự - mà phòng ngự trong khởi nghĩa chỉ có một con đường duy nhất – con đường chết.

Không có điều kiện liên lạc để rút kinh nghiệm và tiếp thu những nhận định của Trung ương qua khởi nghĩa Bắc Sơn, nên Xứ ủy Nam Kỳ vẫn duy trì không khí chuẩn bị khởi nghĩa.

Tháng 11-1940, Hội nghị Trung ương Đảng đã họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh) từ ngày 6 đến ngày 9. Đại biểu Bắc Kỳ có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Đại biểu Nam Kỳ có Phan Đăng Lưu... Hội nghị tiên đoán "một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy, Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập”. Hội nghị đã nghe đồng chí Phan Đăng Lưu báo cáo về tình hình Đảng bộ Nam Kỳ và vấn đề khởi nghĩa, Hội nghị đã chỉ thị cho Xứ ủy Nam Kỳ hoãn khởi nghĩa vì chưa có đủ điều kiện bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi, Hội nghị đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Phan Đăng Lưu về gấp Sài Gòn truyền đạt chủ trương trên cho Xứ ủy.

Sau Hội nghị, đồng chí Phan Đăng Lưu đã khẩn trương về Sài Gòn. Có thể là do đồng chí còn có công việc ở Huế, có thể là do việc đi lại không dễ dàng, do địch gây khó khăn, nên ngày 22, nghĩa là 10 ngày sau, đồng chí Phan Đăng Lưu mới gặp được Xứ ủy và đêm hôm ấy đồng chí đã bị địch bắt. Quyết định của trung ương đã đến, nhưng lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy đã xuống các địa phương và chỉ còn hơn hai chục tiếng đồng hồ nữa là khởi nghĩa bùng nổ. Cỗ máy đã phát động không cách gì hoãn lại được nữa trong hoàn cảnh bấy giờ của Đảng bộ Nam Kỳ.

Cuộc khởi nghĩa được phát động do thiếu thông tin, chỉ đạo lại không chặt chẽ, trong điều kiện chủ quan, khách quan chưa chín muồi nên đã bị thất bại nặng nề. Gần 6000 người đã bị bắt và bị giết. Nhiều thôn xóm bị thực dân Pháp tàn sát hết sức dã man. Nhiều đồng chí ủy viên trung ương, bí thư Xứ ủy, bí thư Thành ủy và cán bộ Đảng bị xử bắn. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc bấy giờ đang hoạt động tại Quế Lâm (Trung Quốc) để tích cực tìm đường về nước, dự đoán và biết tin về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Người viết ngay một bức điện, nhưng rồi cũng không có cách nào để chuyển bức điện góp ý ấy về được Đảng bộ Nam Kỳ...

Cuộc khởi nghĩa đã nổ ra rồi - theo ý Nguyễn Ái Quốc, cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào. Tuy thất bại nhưng đã đem lại nhiều bài học về xây dựng lực lượng khởi nghĩa, về xác định điều kiện, thời cơ khởi nghĩa cho Đảng ta.

Một trong những nguyên nhân của thất bại này là Đảng ta bấy giờ và những năm 1939-1940, chưa kịp tổ chức lại giao thông liên lạc vững chắc, chưa có được những kinh nghiệm giao thông chiến lược.

Nếu có liên lạc chặt chẽ từ Trung ương ra hải ngoại, từ trung ương đến Xứ ủy, từ Xứ ủy đến các cơ sở, có kinh nghiệm cùng một thời gian tổ chức giao thông hai chiều, nhiều đường... chỉ thị hoãn khởi nghĩa có thể đến sớm hơn. Nếu Xứ ủy Nam Kỳ có hệ thống giao thông tốt thì trong khoảng thời gian hơn 20 tiếng đồng hồ cũng có thể chuyển kịp lệnh hoãn khởi nghĩa đến cơ sở.

Trung ương có thể ủy nhiệm không chỉ một đồng chí Phan Đăng Lưu truyền đạt lệnh, có thể sử dụng điện báo của Pháp mã hóa tin tức (như đồng chí Trần Phú đã làm) để báo qua một chặng trung gian lệnh hoãn khởi nghĩa. Nhưng vì Trung ương mới tổ chức lại không có được nhiều mối giao thông, mới chỉ có một chiều trên xuống – đơn tuyến, không có chiều dưới lên.

Rõ ràng là "giao thông tốt mọi việc đều tốt, giao thông bế tắc thì mọi việc đều khó khăn" Bác Hồ đã dạy: "Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi".

Ở khởi nghĩa Nam Kỳ không có điều kiện để giao thông được xem là việc quan trọng hàng đầu, bậc nhất của công việc khởi nghĩa nên đã không "thống nhất chỉ huy" được, không phân phối lực lượng được nên không thể "bảo đảm thắng lợi" được.

Do đó, trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, tuy có nơi, có lúc còn khó khăn, nhưng nhìn chung mạng giao thông liên lạc chiến lược (toàn quốc) và giao thông từng địa bàn (tỉnh, huyện) với nhiều lực lượng khác nhau, nhiều mối, nhiều cách, nhiều biện pháp với kinh nghiệm tích lũy được, đã hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của mình: chuyển lệnh Tổng khởi nghĩa kịp thời bảo đảm cho "thống nhất chỉ huy, phân phối lực lượng" góp phần đưa cuộc Tổng khởi nghĩa đến thành công nhanh chóng, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997) 

5.1.26

Mùa xuân và cô giao liên

Quang Chuyền

Em ơi có chuyện vui gì

Mà hồng đôi má, hay vì nắng hanh?

Em cười đôi mắt long lanh

Khiến trăm cánh võng chòng chành ngả nghiêng

Hoa rừng ai hái tặng em

Để xuân đến sớm làm duyên cho người

"Trạm em nghèo quá đi thôi

Tết xuân chẳng có chi mời các anh..."

Lời em hát với ngàn xanh

Bồn chồn súng đạn cựa mình trên tay

Em đi mở lối rừng dây

Mỗi xuân như thấy tháng ngày trên non

Vô tình nhắc chuyện chồng con

Lắc đầu ngúng nguẩy tay ôm miệng cười

Nhận thư ai đó vừa rồi

Đoán chừng xuân đến chuyện vui có nhiều?

Em đi câu hát đi theo

Bóng in ngọn thác, chân đèo, sườn non...

Cô giao liên của Trường Sơn

Em đem theo cả tâm hồn mùa xuân.

 Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)

Cầu vồng trong đất

Quang Chuyền

Trong đất có mưa không

Mà cầu vồng ẩn hiện?

Cầu vồng từ đâu đến

Lóng lánh vào trong anh?

Màu tím, đỏ, vàng, xanh

Hiện hình lên sắc đất

Em ơi em đã gặp

Cây cầu vồng này chưa?

 

Không đón đợi cơn mưa

Phía mé trời nắng ráo

Không uốn cong cơn bão

Che mái nhà bình yên

Cây cầu vồng hiện lên

Chuyển dập dồn nhịp sóng

Em có nghe tiếng vọng

Nối hai bờ không gian?

 

Nối qua ngày gian nan

Giữa cái còn, cái mất

Qua xói mòn thời gian

Nắng mưa phai màu sắc

Bàn tay người rải cáp

Là bàn tay sần chai

Gửi bao nhiêu câu hát

Thầm thì lòng đất đai

 

Nối hôm nay ngày mai

Cây cầu vồng ẩn hiện

Anh đã đi đã đến

Gặp tận cùng xa sâu

(Những sợi dây nhiều màu

Giấu mình sau vỏ cáp)

Khi đạn cày xới đất

Đất lộ ra sắc màu

 

Trong hố bom bùng nổ

Bỗng hiện ra cây cầu...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

Bài ca người chiến sĩ dây trần

Nguyễn Đức Chi

Bàn chân vượt mấy suối

Từ ấy tới hôm nay

Thuộc thêm bao tên núi

Và đạp mấy đèo mây

Trên Trường Sơn thảm lá đan dày

Vui náo nức những ngày đánh Mỹ.

 

"Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ"

Đẹp biết bao chiến sĩ dây trần

Heo hút rừng sâu vọng tiếng hổ gầm

Vượn hót quanh năm, suối cao tiếng hát

Đây xứ sở của ruồi vàng muỗi vắt

Mây nhởn nhơ lả lướt dưới chân người

 

Văng vẳng gần xa tiếng nói tiếng cười

Cô gái nào yêu đời thế nhỉ

Đêm mênh mông sao em không nghỉ

Và đi đâu như thể lên đèo

 

Có phải em cô gái ban chiều

Thoăn thoắt xới rau, thẳng rìu chặt gỗ

Không được lên ngàn mắt em hoe đỏ

Giận dỗi ai mà bỏ cả bữa cơm

 

Hiểu lắm ngày qua biết mấy khó khăn

Tay trắng dựng lên từng căn nhà ấm

Từng cỗ máy vượt núi cao dốc đứng

Luyện hôm nay chân cứng đá mềm

 

Em lên hang soi sáng ngọn đèn

Bàn tay nhỏ nối liền mạch máu

Đỉnh non cao pháo đài chiến đấu

Trái tim em nung nấu căm thù

 

Rẽ lá rừng xua áng mây mù

Theo hút đường dây từng giờ ra tiền tuyến

Chiến sĩ thông tin xiết bao trìu mến

Xa nhau rồi lưu luyến lắm anh ơi

 

Nhớ buổi cùng nhau lên đèo Anh Trỗi

Mỗi đỉnh cao của tổ 7 tổ 5

Ai xếp đá cho đường dây đi mãi

Ai đuổi voi dưới ánh trăng rằm

 

Ai bảo nơi đây cuộc sống âm thầm

Xa xóm xa thôn muôn phần hưu quạnh

Dù nắng cháy lưng hay đêm đông giá lạnh

Đời vẫn xanh tươi khi mưa tạnh mây tan

 

Tôi về đèo Thế lên Nậm Nang

Sim chín tiễn đưa về thăm eo Lập Cập

Đá cục, đá hòn quây trò cây cột

Đá tạo nên eo mới thật ly kỳ.

 

Nghe quanh năm gió thổi rầm rì

Tiếng sóng biển vỗ về từng đợt

Sông Thanh Lạng nước đỏ ngàu tung bọt

Ai kéo dây ai vượt lũ trào.

 

Ai loang đỏ máu đào

Vẫn lao vào dựng cột

Coi đường dây như ruột

Tim còn đập còn đi.

 

Sóng gió với gian nguy

Ta sợ chi giặc Mỹ

Máy vô vàn yêu quý

Ai lấy thân đậy nắp chiến hào.

 

Thông tin như mạch máu đào

Dây không thông suốt ta nào yên tâm

Quản chi ghềnh thác đạn bom

Còn hơi thở, giữ dây thông chiến trường.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)