Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS
Năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bùng nổ.
Thực dân Pháp ở Đông Dương kết thúc phong trào Mặt trận bình dân ở thuộc địa, bắt
đầu lùng bắt các chiến sĩ cộng sản, nhưng những người cộng sản đã nhanh chân
hơn, họ rút vào hoạt động bí mật.
Tháng 11 năm ấy, tại Bà Điểm, ngoại ô Sài Gòn, Hội nghị
Trung ương lần thứ 6 đã họp ba ngày liền (6, 7, 8) có các đồng chí Võ Văn Tần,
Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu tham dự. Hội nghị đã giải quyết vấn đề chuyển hướng đường
lối và phương pháp cách mạng trong tình hình mới. Phong trào đang lên thì đến
tháng Giêng năm 1940, toàn ban Thường vụ Trung ương sa vào tay mật thám. Tiếp
sau đó là các đồng chí Xứ ủy Nam Kỳ, rồi Thành ủy Sài Gòn cũng bị bắt. Đây là một
tổn thất rất lớn cho Đảng ta, kể từ sau năm 1931. Trong lúc ấy tình hình Đông
Dương đang biến đổi rất mạnh. Ngày 23-9-1940, Pháp bắt buộc phải để cho phát
xít Nhật chiếm Đông Dương, "từ đó nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích
Pháp và Nhật". Giữa năm 1940, các cơ sở Đảng ở Nam Kỳ dần dần phục hồi.
Tháng 7, Xứ ủy Nam Kỳ đã đề ra "Đề cương khởi nghĩa". Đến 27-9, nhân dân
Bắc Sơn đã nổi dậy, chiếm đồn Mỏ Nhài, càng thúc giục quyết tâm khởi nghĩa của
Xứ ủy Nam Kỳ. Cuối cùng, Xứ ủy quyết định ngày 23-11, sẽ tổ chức khởi nghĩa ở Nam
Kỳ. Xứ ủy bấy giờ không nhìn thấy được rằng dù Đức đã thắng Pháp, quân Thái Lan
đã tấn công Pháp ở biên giới Lào-Miên, tuy "tình hình chung thế giới và
Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa
được". Khởi nghĩa Bắc Sơn đã không "châm ngọn lửa cách mạng" ra
các địa phương khác mà từ cuối tháng 9 đã chuyển sang phòng ngự - mà phòng ngự trong
khởi nghĩa chỉ có một con đường duy nhất – con đường chết.
Không có điều kiện liên lạc để rút kinh nghiệm và tiếp
thu những nhận định của Trung ương qua khởi nghĩa Bắc Sơn, nên Xứ ủy Nam Kỳ vẫn
duy trì không khí chuẩn bị khởi nghĩa.
Tháng 11-1940, Hội nghị Trung ương Đảng đã họp tại làng
Đình Bảng (Bắc Ninh) từ ngày 6 đến ngày 9. Đại biểu Bắc Kỳ có các đồng chí Trường
Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Đại biểu Nam Kỳ có Phan
Đăng Lưu... Hội nghị tiên đoán "một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy,
Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo các dân tộc bị áp
bức ở Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập”. Hội nghị đã
nghe đồng chí Phan Đăng Lưu báo cáo về tình hình Đảng bộ Nam Kỳ và vấn đề khởi
nghĩa, Hội nghị đã chỉ thị cho Xứ ủy Nam Kỳ hoãn khởi nghĩa vì chưa có đủ điều
kiện bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi, Hội nghị đã giao nhiệm vụ cho đồng chí
Phan Đăng Lưu về gấp Sài Gòn truyền đạt chủ trương trên cho Xứ ủy.
Sau Hội nghị, đồng chí Phan Đăng Lưu đã khẩn trương về
Sài Gòn. Có thể là do đồng chí còn có công việc ở Huế, có thể là do việc đi lại
không dễ dàng, do địch gây khó khăn, nên ngày 22, nghĩa là 10 ngày sau, đồng
chí Phan Đăng Lưu mới gặp được Xứ ủy và đêm hôm ấy đồng chí đã bị địch bắt. Quyết
định của trung ương đã đến, nhưng lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy đã xuống các địa
phương và chỉ còn hơn hai chục tiếng đồng hồ nữa là khởi nghĩa bùng nổ. Cỗ máy
đã phát động không cách gì hoãn lại được nữa trong hoàn cảnh bấy giờ của Đảng bộ
Nam Kỳ.
Cuộc khởi nghĩa được phát động do thiếu thông tin, chỉ
đạo lại không chặt chẽ, trong điều kiện chủ quan, khách quan chưa chín muồi nên
đã bị thất bại nặng nề. Gần 6000 người đã bị bắt và bị giết. Nhiều thôn xóm bị
thực dân Pháp tàn sát hết sức dã man. Nhiều đồng chí ủy viên trung ương, bí thư
Xứ ủy, bí thư Thành ủy và cán bộ Đảng bị xử bắn. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc bấy giờ
đang hoạt động tại Quế Lâm (Trung Quốc) để tích cực tìm đường về nước, dự đoán
và biết tin về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Người viết ngay một bức điện, nhưng rồi
cũng không có cách nào để chuyển bức điện góp ý ấy về được Đảng bộ Nam Kỳ...
Cuộc khởi nghĩa đã nổ ra rồi - theo ý Nguyễn Ái Quốc, cần
tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào. Tuy thất bại nhưng đã đem lại
nhiều bài học về xây dựng lực lượng khởi nghĩa, về xác định điều kiện, thời cơ
khởi nghĩa cho Đảng ta.
Một trong những nguyên nhân của thất bại này là Đảng ta
bấy giờ và những năm 1939-1940, chưa kịp tổ chức lại giao thông liên lạc vững
chắc, chưa có được những kinh nghiệm giao thông chiến lược.
Nếu có liên lạc chặt chẽ từ Trung ương ra hải ngoại, từ
trung ương đến Xứ ủy, từ Xứ ủy đến các cơ sở, có kinh nghiệm cùng một thời gian
tổ chức giao thông hai chiều, nhiều đường... chỉ thị hoãn khởi nghĩa có thể đến
sớm hơn. Nếu Xứ ủy Nam Kỳ có hệ thống giao thông tốt thì trong khoảng thời gian
hơn 20 tiếng đồng hồ cũng có thể chuyển kịp lệnh hoãn khởi nghĩa đến cơ sở.
Trung ương có thể ủy nhiệm không chỉ một đồng chí Phan
Đăng Lưu truyền đạt lệnh, có thể sử dụng điện báo của Pháp mã hóa tin tức (như
đồng chí Trần Phú đã làm) để báo qua một chặng trung gian lệnh hoãn khởi nghĩa.
Nhưng vì Trung ương mới tổ chức lại không có được nhiều mối giao thông, mới chỉ
có một chiều trên xuống – đơn tuyến, không có chiều dưới lên.
Rõ ràng là "giao thông tốt mọi việc đều tốt, giao
thông bế tắc thì mọi việc đều khó khăn" Bác Hồ đã dạy: "Việc liên lạc
là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng vì chính nó quyết định
sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi".
Ở khởi nghĩa Nam Kỳ không có điều kiện để giao thông
được xem là việc quan trọng hàng đầu, bậc nhất của công việc khởi nghĩa nên đã
không "thống nhất chỉ huy" được, không phân phối lực lượng được nên
không thể "bảo đảm thắng lợi" được.
Do đó, trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945,
tuy có nơi, có lúc còn khó khăn, nhưng nhìn chung mạng giao thông liên lạc chiến
lược (toàn quốc) và giao thông từng địa bàn (tỉnh, huyện) với nhiều lực lượng
khác nhau, nhiều mối, nhiều cách, nhiều biện pháp với kinh nghiệm tích lũy được,
đã hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của mình: chuyển lệnh Tổng khởi nghĩa kịp thời
bảo đảm cho "thống nhất chỉ huy, phân phối lực lượng" góp phần đưa cuộc
Tổng khởi nghĩa đến thành công nhanh chóng, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)
0 comments:
Đăng nhận xét