7.1.26

Một kinh nghiệm về giao thông liên lạc của khởi nghĩa Nam Kỳ

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS

Năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bùng nổ. Thực dân Pháp ở Đông Dương kết thúc phong trào Mặt trận bình dân ở thuộc địa, bắt đầu lùng bắt các chiến sĩ cộng sản, nhưng những người cộng sản đã nhanh chân hơn, họ rút vào hoạt động bí mật.

Tháng 11 năm ấy, tại Bà Điểm, ngoại ô Sài Gòn, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 đã họp ba ngày liền (6, 7, 8) có các đồng chí Võ Văn Tần, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu tham dự. Hội nghị đã giải quyết vấn đề chuyển hướng đường lối và phương pháp cách mạng trong tình hình mới. Phong trào đang lên thì đến tháng Giêng năm 1940, toàn ban Thường vụ Trung ương sa vào tay mật thám. Tiếp sau đó là các đồng chí Xứ ủy Nam Kỳ, rồi Thành ủy Sài Gòn cũng bị bắt. Đây là một tổn thất rất lớn cho Đảng ta, kể từ sau năm 1931. Trong lúc ấy tình hình Đông Dương đang biến đổi rất mạnh. Ngày 23-9-1940, Pháp bắt buộc phải để cho phát xít Nhật chiếm Đông Dương, "từ đó nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích Pháp và Nhật". Giữa năm 1940, các cơ sở Đảng ở Nam Kỳ dần dần phục hồi. Tháng 7, Xứ ủy Nam Kỳ đã đề ra "Đề cương khởi nghĩa". Đến 27-9, nhân dân Bắc Sơn đã nổi dậy, chiếm đồn Mỏ Nhài, càng thúc giục quyết tâm khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ. Cuối cùng, Xứ ủy quyết định ngày 23-11, sẽ tổ chức khởi nghĩa ở Nam Kỳ. Xứ ủy bấy giờ không nhìn thấy được rằng dù Đức đã thắng Pháp, quân Thái Lan đã tấn công Pháp ở biên giới Lào-Miên, tuy "tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được". Khởi nghĩa Bắc Sơn đã không "châm ngọn lửa cách mạng" ra các địa phương khác mà từ cuối tháng 9 đã chuyển sang phòng ngự - mà phòng ngự trong khởi nghĩa chỉ có một con đường duy nhất – con đường chết.

Không có điều kiện liên lạc để rút kinh nghiệm và tiếp thu những nhận định của Trung ương qua khởi nghĩa Bắc Sơn, nên Xứ ủy Nam Kỳ vẫn duy trì không khí chuẩn bị khởi nghĩa.

Tháng 11-1940, Hội nghị Trung ương Đảng đã họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh) từ ngày 6 đến ngày 9. Đại biểu Bắc Kỳ có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Đại biểu Nam Kỳ có Phan Đăng Lưu... Hội nghị tiên đoán "một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy, Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập”. Hội nghị đã nghe đồng chí Phan Đăng Lưu báo cáo về tình hình Đảng bộ Nam Kỳ và vấn đề khởi nghĩa, Hội nghị đã chỉ thị cho Xứ ủy Nam Kỳ hoãn khởi nghĩa vì chưa có đủ điều kiện bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi, Hội nghị đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Phan Đăng Lưu về gấp Sài Gòn truyền đạt chủ trương trên cho Xứ ủy.

Sau Hội nghị, đồng chí Phan Đăng Lưu đã khẩn trương về Sài Gòn. Có thể là do đồng chí còn có công việc ở Huế, có thể là do việc đi lại không dễ dàng, do địch gây khó khăn, nên ngày 22, nghĩa là 10 ngày sau, đồng chí Phan Đăng Lưu mới gặp được Xứ ủy và đêm hôm ấy đồng chí đã bị địch bắt. Quyết định của trung ương đã đến, nhưng lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy đã xuống các địa phương và chỉ còn hơn hai chục tiếng đồng hồ nữa là khởi nghĩa bùng nổ. Cỗ máy đã phát động không cách gì hoãn lại được nữa trong hoàn cảnh bấy giờ của Đảng bộ Nam Kỳ.

Cuộc khởi nghĩa được phát động do thiếu thông tin, chỉ đạo lại không chặt chẽ, trong điều kiện chủ quan, khách quan chưa chín muồi nên đã bị thất bại nặng nề. Gần 6000 người đã bị bắt và bị giết. Nhiều thôn xóm bị thực dân Pháp tàn sát hết sức dã man. Nhiều đồng chí ủy viên trung ương, bí thư Xứ ủy, bí thư Thành ủy và cán bộ Đảng bị xử bắn. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc bấy giờ đang hoạt động tại Quế Lâm (Trung Quốc) để tích cực tìm đường về nước, dự đoán và biết tin về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Người viết ngay một bức điện, nhưng rồi cũng không có cách nào để chuyển bức điện góp ý ấy về được Đảng bộ Nam Kỳ...

Cuộc khởi nghĩa đã nổ ra rồi - theo ý Nguyễn Ái Quốc, cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào. Tuy thất bại nhưng đã đem lại nhiều bài học về xây dựng lực lượng khởi nghĩa, về xác định điều kiện, thời cơ khởi nghĩa cho Đảng ta.

Một trong những nguyên nhân của thất bại này là Đảng ta bấy giờ và những năm 1939-1940, chưa kịp tổ chức lại giao thông liên lạc vững chắc, chưa có được những kinh nghiệm giao thông chiến lược.

Nếu có liên lạc chặt chẽ từ Trung ương ra hải ngoại, từ trung ương đến Xứ ủy, từ Xứ ủy đến các cơ sở, có kinh nghiệm cùng một thời gian tổ chức giao thông hai chiều, nhiều đường... chỉ thị hoãn khởi nghĩa có thể đến sớm hơn. Nếu Xứ ủy Nam Kỳ có hệ thống giao thông tốt thì trong khoảng thời gian hơn 20 tiếng đồng hồ cũng có thể chuyển kịp lệnh hoãn khởi nghĩa đến cơ sở.

Trung ương có thể ủy nhiệm không chỉ một đồng chí Phan Đăng Lưu truyền đạt lệnh, có thể sử dụng điện báo của Pháp mã hóa tin tức (như đồng chí Trần Phú đã làm) để báo qua một chặng trung gian lệnh hoãn khởi nghĩa. Nhưng vì Trung ương mới tổ chức lại không có được nhiều mối giao thông, mới chỉ có một chiều trên xuống – đơn tuyến, không có chiều dưới lên.

Rõ ràng là "giao thông tốt mọi việc đều tốt, giao thông bế tắc thì mọi việc đều khó khăn" Bác Hồ đã dạy: "Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi".

Ở khởi nghĩa Nam Kỳ không có điều kiện để giao thông được xem là việc quan trọng hàng đầu, bậc nhất của công việc khởi nghĩa nên đã không "thống nhất chỉ huy" được, không phân phối lực lượng được nên không thể "bảo đảm thắng lợi" được.

Do đó, trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, tuy có nơi, có lúc còn khó khăn, nhưng nhìn chung mạng giao thông liên lạc chiến lược (toàn quốc) và giao thông từng địa bàn (tỉnh, huyện) với nhiều lực lượng khác nhau, nhiều mối, nhiều cách, nhiều biện pháp với kinh nghiệm tích lũy được, đã hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của mình: chuyển lệnh Tổng khởi nghĩa kịp thời bảo đảm cho "thống nhất chỉ huy, phân phối lực lượng" góp phần đưa cuộc Tổng khởi nghĩa đến thành công nhanh chóng, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997) 

0 comments:

Đăng nhận xét