22.2.25

Thông tin nghi binh vượt sông Hậu an toàn

Lê Hoàng Đức - nguyên Đại đội trưởng thông tin Trung đoàn 1 Quân khu 9

Tháng 9 năm 1974, để chuẩn bị hướng tấn công Vĩnh Trà làm cơ sở cho thời cơ chiến lược, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Phạm Văn Trà (sau này là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) lệnh cho Chủ nhiệm thông tin Trung đoàn 1 Nguyễn Văn Hùng "Anh làm thế nào để Trung đoàn qua Trà Vinh mà địch không biết, nếu biết anh bị kỷ luật".

Quán triệt chỉ thị trên, nhận rõ trách nhiệm nặng nề, đồng chí Hùng suy nghĩ trăn trở tìm mọi biện pháp giữ bí mật và đề xuất nghi binh thông tin, cử người qua Trà Vinh tìm hiểu tình hình thông thoại của địch trên mạng PRC-25 và học hỏi Trung đoàn 3 cách thông thoại trên máy, sau đó thông tin ráo riết chuẩn bị.

Tổ chức mạng vô tuyến điện giả ở lại tại Bà Bái (Cần Thơ) gồm có đồng chí Nguyễn Văn Em phụ trách đài 15W liên lạc về Quân khu và đồng chí Thắng, Minh phụ trách 5 tổ máy PRC-25 đặt trong đội hình tiểu đoàn huấn luyện tân binh liên lạc với nhau giống như đang hoạt động. Chủ nhiệm thông tin còn cử bộ phận đi trước theo tiền phương trung đoàn mang một đài 81 liên lạc về Trung đoàn và đồng chí Nguyễn Tấn Lên, trợ lý vô tuyến điện đi sâu nghiên cứu phương thức làm việc mạng PRC-25 của địch ở vùng này. Đồng thời, cho phân đội bộ đàm học mật ngữ bốn ngày, kết quả rất tốt, rút ngắn phân nửa thời gian sử dụng, quy ước liên lạc cũng thay đổi, trước mỗi ngày đổi một lần, qua Vĩnh Trà mỗi giờ đổi một lần.

Bên cạnh đó đồng chí Hùng và anh em tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ trung đoàn đến đại đội, trung đội mũi nhọn về thủ tục thông thoại mật danh mật ngữ... Để bảo đảm trung đoàn qua sông bí mật an toàn, anh cho đưa một tổ đài trang bị máy PRC-25 do Chu Minh Chiến và Nguyễn Văn Đáu, cán bộ kỹ thuật khá phụ trách phối thuộc với Đại đội 12 công tác dân vận của trung đoàn đi trước hai tháng chốt lại cù lao Tân Quy (Trà Vinh) ngụy trang là dân vận của tỉnh có nhiệm vụ nắm tình hình chuẩn bị qua sông.

Chiều 23 tháng 11 năm 1974, lực lượng thông tin trinh sát, đại đội hỏa lực của trung đoàn kết hợp đường dây Quân khu triển khai chốt chặn hai trạm đầu cầu, các ngả đường qua sông và có nhiều phương án đối phó với địch, bắt liên lạc với nhau bằng thông tin vận động, ám, tín hiệu, cờ đèn, tia lửa hộp quẹt là chủ yếu. Mạng vô tuyến điện không lên tiếng, riêng máy PRC-25 của trung đoàn chốt ở cù lao Tân Quy, hai trạm đầu cầu (bắc nam sông Hậu) tổ chức canh liên tục, gặp bất trắc mới gọi về Trung đoàn và dùng quy ước ngắn gọn.

Đúng 17 giờ liên lạc thông suốt, các đơn vị hành quân thứ tự qua sông bằng xuồng ba lá, đêm đầu trung đoàn bộ và ba tiểu đoàn, sau đó Tiểu đoàn 307 qua tiếp.

Như vậy toàn bộ trung đoàn đã vượt sông Hậu bí mật an toàn. Chỉ huy trung đoàn nhận xét: "Nhờ làm tốt công tác chuẩn bị của trung đoàn nói chung, thông tin nói riêng và được hàng rào bảo vệ của dân". Vừa qua Vĩnh Trà mấy ngày, đêm 3 rạng 4 tháng 12, Quân khu sử dụng Tiểu đoàn 307 diệt đồn Bà Mi, đánh chỉ khu Cầu Kè (Trà Vinh) gây cho địch thiệt hại nặng. Trận này ta tổ chức đánh ban ngày, địch nghi ngờ cho rằng: "thằng này đánh giống ba đầu bảy đuôi hay là ba đầu chín đuôi ở Cần Thơ (Trung đoàn 1), thằng trên (Sở chỉ huy vùng 4) xác định mấy thằng đó còn hoạt động ở đây (Cần Thơ), có lẽ có bộ phận nhỏ qua đó hay tụi dưới này học cách đánh ban ngày".

Kết thúc đợt 1 Xuân 1975, thông tin Trung đoàn 1 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thông tin nghi binh chiến dịch bảo đảm trung đoàn vượt sông bí mật an toàn và những trận đầu đánh thắng, trụ vững chiến trường đồng bằng trọng điểm, góp phần đáng kể tạo cơ sở cho hướng chủ yếu Quân khu, phối hợp chiến trường chung giành thắng lợi Xuân 1975. Trung đoàn 1 được Quân khu biểu dương, thông tin trung đoàn được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

"Gậy ông đập lưng ông"

Đại tá Nguyễn Văn Hùng - nguyên Chủ nhiệm Thông tin Trung đoàn 1 Quân khu 9

Đó là giữa năm 1970, thông tin Quân khu 9 bắt đầu sử dụng máy bộ đàm PRC-25. Lúc này Quân khu 9 chủ trương đánh lớn trên hướng Cần Thơ nhằm phân tán lực lượng địch đang tập trung ở U Minh. Ta sử dụng lực lượng Trung đoàn 1 gồm 2 tiểu đoàn 303, 309, được phối thuộc hai tiểu đoàn 8, 9 của Trung đoàn 2, đánh thiệt hại đồn Thanh Long (Cần Thơ).

Trước đó tháng 1 năm 1970, Tiểu đoàn 309 đánh trận Xèo Sành thu 4 máy PRC-25, là đơn vị đầu tiên trong Quân khu lấy được PRC-25; tiếp đó Tiểu đoàn 303 thu thêm mấy máy nữa. Thời gian này bộ đàm K63 của Quân khu bị hư hỏng hết, nên đồng chí Hai Nhiễm - Chủ nhiệm thông tin phân công tôi là tổ trưởng cơ công, tập trung nghiên cứu sử dụng máy PRC-25.

Qua nghiên cứu kết hợp với các đồng chí mã thám, tôi suy nghĩ "nếu làm thủ tục giống của ta thì địch phát hiện ngay, dễ bị lộ gây nhiễu hoặc theo dõi". Do đó tôi đã biên soạn lại thủ tục quy ước giống như địch để dùng trà trộn, làm cho địch khó phát hiện.

Sau khi báo cáo và được cấp trên đồng ý, tôi tổ chức bồi dưỡng nội bộ và nhân viên thông tin hai tiểu đoàn 8 và 9 của Trung đoàn 2. Đồng thời cử người phối thuộc hai tiểu đoàn đàm thoại trên máy (nói tiếng Nam Bộ).

Trận này ta tổ chức ba phương tiện xuống bốn tiểu đoàn và đại đội trinh sát, thông tin bảo đảm thông suốt được đơn vị tin tưởng, mở đầu phong trào dùng máy PRC-25 trong toàn Quân khu 9.

Sau này Cục Thông tin có uốn nắn dùng thủ tục của ta, nhưng qua thực tế chiến trường, nếu dùng thống nhất ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến bí mật thông tin, do đó ta vẫn dùng thủ tục cũ cho đến ngày toàn thắng Xuân 1975.

Về sửa chữa máy PRC-25, đồng chí Ba Can - xưởng trưởng tranh thủ học tập các đồng chí ở Miền xuống Khu 9 làm việc, nhờ đó kịp phục hồi 5 máy và bồi dưỡng cho cơ công các đơn vị và ở cơ quan Khu ủy.

Tháng 3 năm 1972, để phục vụ chiến dịch Nguyễn Huệ, Ban bổ sung khí tài và cử cán bộ xuống giúp các đơn vị đồng thời triển khai lên các trọng điểm với quy mô lớn nhất tương đương 2 sư đoàn (5 trung đoàn 1, 2, 3, 10, 20, hai tiểu đoàn pháo, đặc công, bốn tiểu đoàn tỉnh và du kích các cơ quan).

Ở Quân khu, vô tuyến điện báo nâng lên 8 mạng, liên lạc 85 đối tượng với 65 máy PRC-25 trang bị đến huyện đội, tiểu đoàn, đại đội, tính sơ bộ 29 đại đội bảo đảm trung đoàn, tỉnh đội liên lạc vượt cấp xuống các đại đội, xã và mũi chủ yếu.

Đặc biệt ngày 28 tháng 1 năm 1973, để phục vụ Trung đoàn trưởng xin ý kiến Tư lệnh những vấn đề tối quan trọng khi có Hiệp định Pa-ri, Thông tin Trung đoàn 1 bố trí cho hai thủ trưởng làm việc trên máy PRC-25 với những tần số hiểm hóc, địch ít chú ý đồng thời luôn thay đổi mỗi ý mỗi sóng. Kết quả được Tư lệnh đồng ý, theo đó Trung đoàn tiến công một loạt cứ điểm Quang Phong, Xẻo Xu, Cái Nai... (Cần Thơ) nhằm mở rộng tuyến huyết mạch, giành thế chủ động chiến trường và giữ thế hợp pháp thi hành Hiệp định Pa-ri.

Tháng 2 năm 1973, tại chi khu Gò Quao (Rạch Giá) địch tập trung rất đông, chúng càn quét lấn chiếm, bắn bừa bãi. Đồng chí Hiền tiểu đoàn trưởng pháo 2315 dùng loa kêu gọi địch ở chi khu Gò Quao phải chấp hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri, nếu không sẽ bị trừng trị. Địch vẫn ngoan cố đánh trả quyết liệt. Sau đó đồng chí Hiền ra lệnh bắn 50 quả pháo vào chi khu làm pháo địch tê liệt. Nhưng tên Thành, đại tá tỉnh trưởng Vĩnh Long vẫn ngoan cố. Đồng chí Ba Trung phải nói qua máy PRC-25: "Tôi là Quang Trung chỉ huy trưởng Vĩnh Long Trà Vinh, ra lệnh cho anh đầu hàng, cách mạng sẽ khoan hồng, tính mạng vợ con anh được an toàn, bằng không tôi cho pháo bắn và tấn công". Đúng 17 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, tên Thành nói qua máy PRC-25 "Thưa ngài, tôi xin đầu hàng".

Trong chiến tranh cách mạng ta đã thành công trong việc lấy vũ khí, khí tài của địch đánh địch, riêng PRC-25 thời kỳ này ta đã khai thác phát huy tác dụng rất tốt, góp phần rất quan trọng nâng cao hiệu suất chiến đấu, bảo đảm sự chỉ huy, chỉ đạo của Quân khu được nhanh nhạy, kịp thời, đúng là "gậy ông đập lưng ông".

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Thông tin pháo binh miền Đông trong những năm đánh Mỹ

Nguyễn Thiện Quân

Chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm, nhưng những hy sinh gian khổ ác liệt trong chiến đấu mà tôi và các chiến sĩ thông tin pháo binh miền Đông Nam Bộ đã trải qua thì tôi không sao quên được. Là một chiến sĩ thông tin báo vụ, tôi xin ghi lại những gì mà ngày ấy thông tin vô tuyến chúng tôi đã làm được trong lực lượng pháo binh.

Pháo binh ở miền Đông Nam Bộ những năm đánh Mỹ từ năm 1971 trở về trước thường được gọi là pháo khiêng vác (vì chưa có pháo do xe kéo) và lính thông tin chúng tôi cũng là lính khiêng vác. Khi hành quân cùng các trung đoàn, tiểu đoàn chiến đấu, tổ đài 15W chỉ có 6 đồng chí, tổ đài 7W chỉ có 3 đồng chí. Chúng tôi phân công nhau, người đeo máy phát, người đeo máy thu, người đeo máy phát điện (ragônô) rồi còn đủ thứ như súng AK, đạn, gạo, nồi nấu ăn, ăngten, cuốc, xẻng, đặc biệt là pin.

Khi pháo binh đã bắn, lúc đầu đều có sự điều chỉnh cho đạn rơi chính xác. Việc này pháo Mỹ có máy bay trinh sát L19 bay trên cao quan sát bên dưới để chỉnh, còn ta thì chỉnh bằng mắt thường. Trinh sát thường dùng ống nhòm 12x xác định điểm đạn rơi. Tôi được điều lên đài quan sát ở ấp Phú Lố (bìa lô cao su) ở phía Tây Bình Long. Trên đường hành quân anh em trinh sát, thông tin có ghé vào nơi đặt 2 khẩu pháo 155 ly mang tên Cửu Long 6 và Cửu Long 7 (đây là chiến lợi phẩm ta lấy được của Mỹ) nghỉ và ăn cơm trưa để chiều hành quân tiếp. Đài quan sát ngày ấy nằm ở bìa lô cao su, chỉ cách thị xã Bình Long chừng 3km, mà mặt đất không còn cây nào cao quá đầu. Vì năm 1972 Mỹ đã cho san ủi cưa chặt hết rồi. Hàng ngày trinh sát leo lên ngọn cây cao su dùng ống nhòm quan sát, chếch về phía bên phải là cua chữ S, chếch về bên trái là sân bay Bình Long. Hướng thẳng chính giữa là thị xã Bình Long. Dưới gốc cây cao su là căn hầm để máy thông tin 7W. Đài quan sát chỉ có 7 đồng chí trinh sát và 3 đồng chí thông tin nên ngày, đêm canh gác rất cẩn mật để sẵn sàng đánh trả, nếu lính ngụy hoặc biệt kích từ trong Bình Long lấn ra. Chúng tôi đã ở Đài quan sát đó nhiều tháng.

Càng vào những năm tháng gian nan, ác liệt thì thông tin càng phải làm việc nhiều hơn. Lính thông tin những năm đánh Mỹ chịu rất nhiều gian khổ, ác liệt, hy sinh. Nhớ lại hồi ấy mỗi khi triển khai ăngten gần nơi có đơn vị đóng quân thì thế nào cũng có người ra xua chúng tôi đi, vì sợ máy bay trinh sát điện tử của Mỹ có gắn hệ thống định vị bay qua xác định ở đó có sóng điện phát lên, thì sẽ bị ném bom hay pháo Mỹ giội vào. Ngày ấy chúng tôi làm việc dưới hầm cũng có thời kỳ phải cho 1 đồng chí ngồi trên nóc hầm canh chừng, nếu có tiếng máy bay thì kịp thời báo cho người dưới hầm ngưng phát sóng. Là lính thông tin có lúc chúng tôi cũng đánh Mỹ như các chiến sĩ bộ binh. Trong trận càn năm 1970 tại Sóc Caraviên, đồng chí Nông Viết Báo người dân tộc Tày ở Lạng Sơn đã dùng súng B41 bắn cháy 1 xe M41. Ngay sau đó bị mấy xe M41 khác lao lên càn qua công sự, đồng chí Báo đã hy sinh. Những loạt pháo 155 ly của Mỹ đã giội vào đơn vị tôi đêm 3 tháng 5 năm 1970 làm cho 2 đồng chí nữ báo vụ mới 18 tuổi hy sinh, cùng nhiều đồng chí nam khác bị thương. Hai ngày sau đó, tại cụm rừng gần Sóc Sala, đồng chí Đáp trên đường cắt rừng từ C19 tìm lên Ban thông tin đã bị lính Mỹ dùng súng đại liên bắn. Khi đồng đội đến chôn cất đồng chí Đáp, ngay tại nơi đồng chí nằm xuống, anh em thấy quanh người đồng chí có một số cát tút đạn CKC của Đáp bắn về phía bọn Mỹ. Khẩu CKC đó đã bị lính Mỹ lấy mất.

Nói đến gian khổ, hy sinh của lính thông tin những năm đánh Mỹ chắc còn nhiều lắm. Đại đội thông tin vô tuyến C19 thời ấy tôi không sao nhớ nổi đã bao nhiêu lần bị đánh bom, bị pháo bắn vào. Chiến sĩ của đại đội đã hy sinh. Gian khổ ác liệt vậy mà chiến sĩ thông tin ngày ấy luôn có ý thức trách nhiệm cao với công việc được giao để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc luôn thông suốt phục vụ lãnh đạo, chỉ huy các trận đánh của pháo binh ta giành thắng lợi.

Chiến tranh đã lùi xa. Gần 20 năm kháng chiến chống Mỹ với bao nhiêu gian khổ, ác liệt hy sinh, cuối cùng dân tộc ta, quân đội ta đã giành được toàn thắng. Để giành được chiến thắng to lớn, vĩ đại đó, chiến sĩ thông tin Pháo binh miền Đông Nam Bộ, thông tin B2 đã góp phần vào chiến công rực rỡ, vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh xương máu để có được một đất nước hòa bình như hôm nay. Vì trình độ có hạn, mấy trang viết ngắn ngủi này chắc là chưa thể nói hết những gì cần nói về những năm tháng hào hùng đã qua của các chiến sĩ thông tin B2. Mong rằng các đồng chí cựu chiến binh Thông tin sẽ hồi tưởng, nhớ lại và viết ra những kỷ niệm sâu sắc mà chúng ta đã từng sống và chiến đấu.

Mùa Xuân 2009

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

21.2.25

Bảo đảm thông tin liên lạc 150 ngày đêm của Sư đoàn bộ binh 7 (trận Tàu Ô - Xóm Ruộng)

Trung tá Bùi Thanh Hiền

Năm 1972 ta mở chiến dịch Nguyễn Huệ ở miền Đông Nam Bộ. Sau khi sư đoàn bộ binh 5 đánh chiếm thị trấn Lộc Ninh, ta dùng Sư đoàn 9 tiến công thị xã An Lộc và Sư đoàn 7 lập chốt chặn ở khu vực Tàu Ô nhằm không cho địch rút chạy về Thủ Dầu Một.

Tiểu đoàn 26 thông tin thuộc Sư đoàn 7 được lệnh triển khai mạng thông tin bảo đảm cho Sư đoàn chỉ huy bằng cả 3 phương tiện đến các đơn vị trong sư đoàn và các đơn vị tăng cường, phối thuộc. Hữu tuyến điện được xác định là phương tiện liên lạc chỉ huy chủ yếu.

Ngay khi vào đến vị trí tập kết, tổ chức mạng thông tin bám theo các đơn vị vào chiếm lĩnh trận địa.

Đường dây từ sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn xuống các đơn vị như sau:

1. Trung đoàn 141 chốt chặn trên đường 13 khu vực Tàu Ô, Xóm Ruộng, trận địa cối 120-ĐKB hỏa lực Sư đoàn - Đài quan sát.

2. Trung đoàn 165 phục kích và chốt chặn khu vực ngã tư Ngọc Lầu - bắc Chơn Thành trên đường 13 phía nam của Trung đoàn 141, trận địa ĐKB-H12 cối 120 và hai đài quan sát phía bắc Chơn Thành và tây Xóm Rớt.

3. Tiểu đoàn 28 đặc công vây đánh chốt Minh Hòa.

4. Trung đoàn 209 phục kích ở ngã ba Đồng Tâm liên lạc bằng vô tuyến điện và vận động.

5. Bảo đảm cho chỉ huy các cơ quan, các đơn vị trực thuộc và sở chỉ huy cơ bản phía sau.

Đến 22 giờ ngày 4 tháng 4 liên lạc giữa các sở chỉ huy Sư đoàn với các sở chỉ huy Trung đoàn 141, 165 và Tiểu đoàn đặc công đã thông suốt.

7 giờ ngày 5 đường dây đi các trận địa pháo, đài quan sát Xóm Ruộng - Ngọc Lầu đã nối thông. Riêng đài quan sát tây Xóm Rớt đến 10 giờ sáng ngày 5 mới nối thông. Từ đó tổ chức củng cố và đặt trạm.

Như vậy toàn bộ mạng hữu tuyến điện bảo đảm cho chỉ huy đánh địch trên đường 13 của Đại đội 1 đến 10 giờ sáng ngày 5 tháng 4 đã thông suốt. Tất cả đã sẵn sàng.

Rạng sáng ngày 13 tháng 4, Sư đoàn 9 nổ súng tiến công thị xã An Lộc, thì sáng ngày 13 địch đổ quân đánh vào sau lưng Sư đoàn 9 để cứu nguy cho thị xã An Lộc.

Sư đoàn 7 điều gấp Trung đoàn 141 (thiếu Tiểu đoàn 3) lên khu Tân Khai - Núi Gió để chặn đánh địch.

Trung đoàn 209 sau khi tiêu diệt chiến đoàn 52 địch ở ngã ba Đồng Tâm được điều về chốt chặn thay cho Trung đoàn 141 (Trung đoàn bộ binh 209 được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 3 của Trung đoàn bộ binh 141). Trung đội 1 được giao kéo tiếp đường dây dài 17km cho Trung đoàn 141 đánh địch ở Tân Khai - Núi Gió. Đồng thời Trung đội 3 cũng được giao nhiệm vụ kéo đường dây sang đông đường 13 chui qua cống Tàu Ô trực tiếp cho Tiểu đoàn bộ binh 7, vì lúc này Trung đoàn 209 có đến 4 tiểu đoàn bộ binh.

Cũng trong ngày 13, một bộ phận địch từ Chơn Thành dò dẫm lên ngã tư Ngọc Lầu bị Tiểu đoàn 5 Trung đoàn bộ binh 165 chặn đánh phải tháo chạy về Chơn Thành. Trận chiến trên đường 13 bắt đầu.

Địch tập trung đến 4 sư đoàn bộ binh: các sư đoàn 5, 18, 21, 25, các lữ đoàn dù, các liên đoàn biệt động quân thay nhau đột kích cả hai hướng nhằm khai thông đường 13 giải nguy cho thị xã An Lộc. Suốt ngày từ mờ sáng đã vang rền tiếng pháo, bom, chúng dùng cả bom phát quang, bom cháy, bom hóa học, cả xe phun lửa, nhằm đánh bật bộ đội ta ra khỏi chốt, ngăn chặn việc tiếp tế của ta từ vòng ngoài. Đường dây đi Tiểu đoàn 7 ở đông đường 13 thường xuyên bị bắn nát, chỉ khôi phục liên lạc được vào chiều tối và ban đêm.

Đường dây đi Trung đoàn bộ binh 141 ở phía bắc ngoài bom pháo đánh đứt, cháy còn bị biệt kích bộ binh địch cắt, phục kích, nhưng hễ dây đứt là chiến sĩ thông tin lao lên đi sửa ngay. Cắt vòng tránh lính địch phục kích, không ngại bom pháo, đồng chí Tiến bị bom đánh hy sinh khi hai tay vẫn còn nắm chặt hai đầu dây để giữ vững liên lạc.

Cuộc chiến ngày càng ác liệt, B-52 đánh trùm lên Sở chỉ huy cả hai Trung đoàn 165 và 209, tổ đồng chí Trung đang trên đường đi sửa dây, B-52 đánh tiếp, cả tổ bị bom đánh đất đá đè lên người; đồng chí Tuệ hy sinh vì sức ép của bom; cả tổ thi nhau đào bới kéo nhau lên đi nối lại đường dây. Ở phía Nam, ta với địch ở thế gần như xen kẽ, đường dây đài quan sát Ngọc Lầu bị địch cắt, phục kích. Đi sửa dây, đồng chí Tình hy sinh. Đài quan sát tây Xóm Ruộng, địch phát hiện, cắt dây, bao vây đài, chiến sĩ thông tin và bốn trinh sát kiên cường đánh trả suốt ngày. Địch ném lựu đạn vào hầm, đồng chí Cao Văn Vạn đã chụp lấy ném trả lại, đến tối cả toán rút ra an toàn. Sau đó đồng chí Vạn được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tại chiến dịch. Đồng chí Nguyễn Văn Tý đi sửa dây bị địch phục kích bắn bị thương và bị bắt sống; đồng chí kiên trì chịu đựng và đấu tranh, đến năm 1973 được trao trả.

Để bảo vệ đường dây, đơn vị tổ chức các tổ đánh nhỏ lẻ như trận ngày 17 tháng 5: Một đại đội biệt động địch từ Chơn Thành men theo Tây đường 13 lên hướng Bắc; nếu địch cứ đi sẽ phát hiện đường dây đài quan sát Ngọc Lầu, ta đã tổ chức 5 chiến sĩ của trung đội 2 và 5 trinh sát chủ động đón đánh từ xa, diệt một số tên, thu 8 súng có 2 M79, buộc địch phải quay về Chơn Thành, đường dây và đài quan sát không bị địch phát hiện.

Giữa tháng 5, Sư đoàn điều Trung đoàn 165 (thiếu Tiểu đoàn 5) lên đánh địch vòng ngoài ở Đức Vinh - Sa Cát, khu vực chốt chặn chỉ còn lại Trung đoàn 209 cùng các trận địa pháo chi viện và các đài quan sát, đường dây của Đại đội B72 (tên lửa mặt đất bắn xe tăng điều khiển bằng dây) và A72 bắn máy bay. Trận địa chốt chặn đường 13 ở Tàu Ô, Xóm Ruộng vẫn chốt cứng, chặn đứng địch là nhờ có một phần công sức của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 thông tin sư đoàn, bảo đảm kịp thời cho liên lạc chỉ huy chiến đấu hiệp đồng giữa các đơn vị.

Giữa tháng 8 Sư đoàn đưa Trung đoàn 141 và 165 xuống cắt đường 13 đoạn Bầu Bàng - Bầu Lồng, buộc địch phải bỏ Tàu Ô - Xóm Ruộng rút quân về cứu nguy cho phía sau của chúng. Mặc dù địch đã huy động tất cả lực lượng thuộc Quân đoàn 3, các lữ đoàn dù, biệt động quân, các loại bom, pháo, xe tăng và được sự chi viện tối đa của máy bay chiến lược B-52; dùng đủ các kiểu đánh lớn, đánh nhỏ lẻ, cắt dây; đồng thời gài mìn định hướng đều không khai thông được đường 13. Ngược lại chúng còn bị tổ đồng chí Nguyễn Duy Chiên gan dạ, mưu trí bò lên nối dây quay 2 quả mìn định hướng về hướng địch, lập tức điểm hỏa sát thương chúng.

Trận chốt chặn Tàu Ô . Xóm Ruộng kéo dài 150 ngày đêm, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 26 thông tin Sư đoàn bộ binh 7 đã kiên cường dũng cảm, bất chấp mưa bom, bão đạn của địch giội xuống, với cách đánh linh hoạt sáng tạo và sự hiệp đồng chặt chẽ của tất cả các đơn vị tham gia, đã đứng vững, kiên cường trụ bám ngày đêm trên đường 13, buộc địch phải kinh sợ. Và cuộc chiến trên đường 13 đã kết thúc thắng lợi.

Ngày 15 tháng 1 năm 1974, Đại đội 1 Tiểu đoàn 26 Sư đoàn bộ binh 7 được Nhà nước tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Ca ba Trường Sơn

Nguyễn Văn Tâm

Khi con tắc kè đếm tuổi dưới gốc lim

Con gà rừng giật mình lên tiếng gáy

Cũng là lúc em vùng chăn dậy

Chải lại đầu em đi ca ba

 

Đường đến tổng đài quanh co không xa

Hai dốc dựng và con suối nhỏ

Vui nhất buổi gặp đàn cua đá

Chạm ánh đèn cua chạy đến hay

 

Đom đóm lập loè đánh thức vùng cây

Dây bỗng đứt, a lô khản cổ

Đèn đỏ, đèn xanh như con mắt mở

Lo tính từng công việc của ngày sau

 

Ca ba này trời sáng rất mau

Nhất là lúc đường dây đều bận

Khi đứng dậy trao ca ngày cho bạn

Một niềm tin trong mắt ánh sang nhau.

Trường Sơn - 1971

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

Đại đội 2 hữu tuyến điện Tiểu đoàn 26 Sư đoàn 5 - một chặng đường vẻ vang

Trung úy Nguyễn Ngọc Anh

Cùng với sự ra đời của Tiểu đoàn 26 thông tin Sư đoàn bộ binh 5 vào tháng 5 năm 1967, Đại đội 2 hữu tuyến điện được chính thức thành lập ngày 25 tháng 7 năm 1967.

Kể từ khi thành lập năm 1967 tính đến năm 1973, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2 hữu tuyến điện đã tham gia phục vụ 13 chiến dịch lớn với 91 trận, với các hình thức tập kích, phục kích, vận động... Đã triển khai 742 đường dây với tổng số 7.141,5km. Khôi phục củng cố 81.374 mối nối, chuyển 57 bức điện, dẫn 34 khách an toàn. Nổi bật một số trận sau đây:

1. Chiến dịch Snun (từ ngày 4-2-1971 đến ngày 6-5-1971) với nhiệm vụ phục vụ Sư đoàn chỉ huy các Trung đoàn hiệp đồng đánh chiến đoàn 8 Shun:

Trong chiến dịch này phương châm tiến công: "vây, lấn, tấn, diệt" với hình thức chiến thuật vận động tiến công đòi hỏi thông tin hữu tuyến điện phải liên tục cơ động theo đội hình chiến đấu.

Khó khăn vất vả nhưng cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị đều quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, phải bảo đảm thông tin thông suốt. Nhận thức rõ nhiệm vụ và ý nghĩa trận đánh cho nên các hướng đều bảo đảm tốt: những đường dây phục vụ Trung đoàn bộ binh 1 vượt cấp xuống các tiểu đoàn đánh máy bay địch, đánh đổ bộ đường không ở Tà Mô (Phum Xăng) do tổ đồng chí Vũ Ngọc Trừ đảm nhiệm, đường dây phục vụ Trung đoàn này địa hình đều không được nghiên cứu trước.

Đường dây phục vụ Trung đoàn bộ binh 1 ở Phum Xăng hoàn thành trước quy định 1 giờ, đường dây Trung đoàn bộ binh 2 vượt trước 5 giờ. Mặc dù liên tục bị máy bay oanh tạc, pháo kích, có lúc trong 1 giờ đứt tới 5 lần, nhưng vẫn khôi phục kịp thời bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt từ đầu đến cuối chiến dịch, phục vụ Sư đoàn chỉ huy liên tục các đơn vị.

Kết thúc chiến dịch thắng lợi được trên đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

2. Chiến dịch Nguyễn Huệ (ngày 4-4-1972 đến 8-4-1972):

Đại đội nhận nhiệm vụ phục vụ mạng dây cho Sư đoàn chỉ huy Trung đoàn bộ binh 1, Trung đoàn bộ binh 2, Trung đoàn bộ binh 3 của Sư đoàn 9, Trung đoàn pháo binh, cụm điện đài và Tiểu đoàn 1 chốt chặn, tiêu diệt chiến đoàn 9 của Lộc Ninh.

Với điều kiện địa hình mới lạ chưa được nghiên cứu kỹ, đặc biệt là đường Trung đoàn bộ binh 3 Sư đoàn 9. Phần lớn các đường hướng, căn cứ các điểm do trên hướng dẫn bằng bản đồ, thời gian gấp và triển khai trong điều kiện đêm tối. Đường dây Trung đoàn bộ binh 1 cách chốt bảo an Lục Bình 100m, đường Trung đoàn bộ binh 3 qua lộ 13, ban ngày trống, ban đêm địch phục kích. Bên cạnh đó phải qua ấp chiến lược nên phải tổ chức bám địch và tổ chức lực lượng đánh địch để mắc dây.

Trong quá trình chiến đấu thông tin liên lạc hữu tuyến điện thông suốt liên tục. Đường dây Trung đoàn bộ binh 3 qua đường 13, địch phát hiện dùng hỏa lực bắn đứt dây và ngăn chặn không cho khôi phục. Lúc này thực hiện quyết tâm của chi bộ, đơn vị đã tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ Trung đội 2 bắn trả. Mặt khác đồng chí La Đình Sửu - Trung đội trưởng tổ chức cắt vòng tránh xa tầm quan sát của địch. Cũng trên trục đường này, đường dây được phát triển thêm tạo thành đường vu hồi phục vụ cho Trung đoàn bộ binh 3 ở đông đường 13. Khi địch tháo chạy qua đường dây đụng trạm đồng chí Nguyễn Bá My. Lúc này tổ của đồng chí My tổ chức chiến đấu, mặt khác báo về đơn vị. Khi được tin báo, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 đã vận động diệt gọn tiểu đoàn 3 của chiến đoàn 9 ngụy. Địch tháo chạy, dùng phi pháo và xe tăng càn lên đường dây nhưng đồng chí Vũ Ngọc Trừ đã ngoan cường chiến đấu và liên tục khôi phục đường dây. Các hướng khác cũng gặp không ít khó khăn, nhưng toàn đơn vị đã kiên quyết bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt từ đầu đến cuối chiến dịch.

Kết thúc trận đánh thắng lợi, đơn vị được cấp trên đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cũng trong trận này, Đại đội vừa phục vụ thông tin liên lạc vừa làm công tác địch vận bắt 17 tù binh (có một đại úy ngụy) thu 14 súng (1 M79, 13 AR-15), 1 bản đồ, 1 địa bàn.

Với những thành tích đạt được trong chiến đấu và phục vụ thông tin liên lạc trong chiến đấu đơn vị đã được cấp trên tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý.

Ngày 24 tháng 12 năm 1973, Đại đội 2 được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

19.2.25

Cánh sóng từ trại Đa-Vít Sài Gòn

Trung tá Phan Lê

Trại Đa-vít nằm trong khu vực sân bay quân sự Tân Sơn Nhất - Sài Gòn - nơi được chọn đặt trụ sở phái đoàn liên lạc của ta làm nhiệm vụ bảo đảm thi hành Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Để phục vụ thông tin liên lạc cho phái đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do Trung tướng Trần Văn Trà làm Trưởng đoàn, theo chỉ thị của Bộ chỉ huy Quân sự Miền, Phòng Thông tin B2 tổ chức lực lượng thông tin cùng trang bị phương tiện khí tài bảo đảm. Thành phần gồm cán bộ, chiến sĩ thông tin hữu tuyến, đài trưởng, báo vụ, kỹ sư có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề, trải qua thử thách trong chiến đấu gian khổ và ác liệt của cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và làm nghĩa vụ quốc tế, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc.

Để kịp bắt liên lạc với toàn mạng, ngay sau khi đến trại Đa-vít, chúng tôi nhanh chóng triển khai liên lạc với các đối tượng chủ yếu như Bộ Tổng Tham mưu ở Hà Nội, Trung ương Cục miền Nam, Bộ chỉ huy quân sự Miền. Sau đó bắt liên lạc với các khu vực liên hiệp đình chiến, các phân khu... Trong khuôn viên của trụ sở Ban liên hiệp với chiều dài khoảng 200m ngang 100m, việc đặt đài và phân bổ sóng phải thật hợp lý, khoa học để không ảnh hưởng đến giờ liên lạc và làm nhiễu sóng giữa các mạng.

Thủ đoạn phá hoại của địch rất xảo quyệt. Chúng dùng sóng rada, tiếng chạy máy nổ và máy phát cực mạnh phủ quét toàn bộ sóng thu của ta từ 2 đến 12MHz (ta chỉ có trang bị loại máy thu 139 của Trung Quốc có dãy tần số từ 2 đến 12MHz) nên gặp rất nhiều khó khăn trong liên lạc. Cường độ làm việc của anh em khá cao. Trung bình mỗi ngày toàn cụm giải quyết trên 200 bức điện cả thu và phát. Mỗi bức thường cấu trúc khoảng 50 đến 80 nhóm 5 chữ số hoặc 5 chữ cái.

Những lúc địch đánh phá anh em thường đề nghị tôi với cương vị là người phụ trách đơn vị trực tiếp vào làm và xử trí tình huống để rút kinh nghiệm. Suốt cả dải tần của máy thu 139 bị địch phá hoàn toàn không có tín hiệu gì ngoài tiếng rồ và tiếng máy nổ. Mà không có tín hiệu thì làm sao liên lạc được. Tôi nghĩ hay mình vẫn cứ lên máy phát sóng gọi bắt liên lạc như bình thường xem sao. Vẫn giả vờ thu phát điện. Cũng xin đi hỏi lại những chỗ sai thiếu... và cuối cùng là báo nhận tốt. Mà thực tế mình không nhận được gì cả. Chờ đến phiên liên lạc sau hoặc gọi ngay đài canh bạn đề nghị phát lại toàn bộ những gì bạn đã phát trước đó.

Mặt khác để chống địch đánh phá có hiệu quả hơn, tôi nghĩ cách tốt nhất là đề nghị thay đổi sóng phát của đài bạn vượt khỏi tần số 12MHz (từ khoảng 12 đến 25MHz) và đề nghị Bộ Tư lệnh Thông tin Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh trang bị khẩn cấp cho chúng tôi loại máy thu 7512 của Trung Quốc có dãy tần số từ 1,5MHz đến 30MHz. Hình như địch cảm nhận phá thông tin ta không hiệu quả nên dần dần chúng có giảm bớt. Chỉ thỉnh thoảng phá đột xuất chứ không phá thường xuyên như những ngày đầu mới triển khai. Ngoài thủ đoạn phá thông tin ta, chúng còn tìm cách gây khó khăn cho sinh hoạt của phái đoàn như cắt điện, cắt nước liên tục, thả chất độc hóa học loại CS từ hướng gió bay qua trụ sở phái đoàn ta. Chúng đặt sẵn máy ghi âm ở nhà ăn, nơi rửa bát... Chúng còn dùng "mỹ nhân kế" để dụ dỗ ta như đưa các cô gái mặc đồ hở hang đến liên hệ hợp đồng mua hàng hóa, thức ăn hằng ngày cho ta, bị ta cương quyết phản đối và dứt khoát không tiếp. Tất cả mọi thủ đoạn nham hiểm của địch vẫn không làm cán bộ, chiến sĩ ta nao núng. Ngược lại càng nung nấu tinh thần dũng cảm đấu tranh quyết liệt với kẻ thù.

Khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, để đề phòng địch ném bom, bắn phá vào trụ sở Ban liên hiệp, theo lệnh trên chúng tôi tổ chức thay nhau ngày đêm bí mật đào hầm địa đạo thông từ nhà này sang nhà bên, suốt dọc chiều dài và chiều ngang trụ sở. Sau thời gian khẩn trương hoàn thành theo kế hoạch, chúng tôi bắt đầu làm việc, ăn ở, sinh hoạt dưới địa đạo cho đến khi quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Chúng tôi vô cùng biết ơn Bộ Tư lệnh Thông tin Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh đã dành cho chúng tôi sự chi viện kịp thời, hiệu quả về phương tiện khí tài, cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật tạo thuận lợi cho thông tin phái đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Từ khi bắt đầu triển khai mạng thông tin vô tuyến điện phục vụ phái đoàn Ban liên hiệp quân sự bốn bên và hai bên, sóng của ta từ trại Đa-vít vẫn hiên ngang tung cánh trên bầu trời Sài Gòn, thông tin liên lạc được giữ vững và thông suốt cho đến giờ phút thắng lợi hoàn toàn kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Hơn 2 năm sống giữa lòng địch, mặt giáp mặt với quân thù, cán bộ, chiến sĩ đơn vị thông tin Ban liên hiệp vẫn đoàn kết một lòng, thương yêu đùm bọc, sống chết có nhau, để lại cho nhau biết bao kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời bộ đội, cùng sẵn sàng chấp nhận hy sinh trong trận chiến cuối cùng, vì sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng: Giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thực hiện trọn vẹn nguyện vọng của Bác Hồ kính yêu trước lúc đi xa và cũng là ước nguyện của toàn thể dân tộc Việt Nam ta từ ngàn đời nay.

Vinh quang thay những cán bộ, chiến sĩ thông tin B2 - những người còn sống và những ai đã vĩnh viễn nằm xuống trên mảnh đất quê hương góp phần làm rạng rỡ Binh chủng Thông tin liên lạc, tô điểm thêm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Hai chiến sĩ thông tin Tiểu đoàn 77 được Bác Hồ thưởng huy hiệu

Thế Hùng

Người thứ nhất: Đó là cô gái báo vụ C5 anh hùng, "Kiện tướng 10 vạn nhóm điện chính xác" Nguyễn Thị Thịnh. Thịnh quê Thái Nguyên, nhập ngũ tháng 6 năm 1966 khi cô vừa chớm tuổi 17. Ở C3 và C5 anh hùng khi đó, quê hương phong trào chống sai sót, nơi đề xuất khẩu hiệu hành động nổi tiếng:

"Trung với Đảng vô hạn

Yêu miền Nam tha thiết

Thuận lợi xin nhường bạn

Khó khăn quyết băng qua!".

Có rất nhiều báo vụ kỳ cựu, báo vụ giỏi, nhiều "Kiện tướng 10 vạn nhóm điện, rồi 12 vạn nhóm điện chính xác". Nhưng Nguyễn Thị Thịnh là báo vụ gái, mới 2 tuổi quân đã đạt kỷ lục cao nhất đầu tiên của đơn vị, cũng là của Bộ Tư lệnh Thông tin: thu 10 vạn nhóm điện không sai sót. 10 vạn nhóm điện bằng nửa triệu chữ, không một chữ sai. Đó là một kỳ tích, một chiến công của sự cố gắng, bền bỉ không ngừng mà người chiến sĩ báo vụ nào cũng ước mơ đạt tới.

Để động viên, khích lệ các chiến sĩ mới, cả C5 và cả tiểu đoàn dấy lên phong trào học tập Nguyễn Thị Thịnh, cô báo vụ trẻ măng, tài giỏi ấy.

Cảm phục trước tấm gương Nguyễn Thị Thịnh, tôi (Thế Hùng) và anh Phạm Đức cùng viết chung một bài báo (khoảng 1.000 từ), đăng kèm tấm ảnh (do nghệ sĩ nhiếp ảnh Lê Hưng, phóng viên báo Quân đội nhân dân chụp). Bài "Kiện tướng thông tin chính xác" được đăng trên báo Phụ nữ Việt Nam giữa năm 1968 (khi đó báo Phụ nữ Việt Nam còn ra khổ tạp chí, bằng nửa khổ báo Phụ nữ Việt Nam bây giờ). Bài báo in ra (kèm theo ảnh) lập tức gây tiếng vang rộng lớn. Báo Nhân dân, báo Quân đội nhân dân cùng lúc in lại bài báo này. Và một vinh dự bất ngờ. Bác Hồ kính yêu đã đọc bài báo đó, tự tay Người ghi bút đỏ: Tặng 1 H.H cạnh đầu đề bài báo. Tôi đã vinh dự được tận mắt xem tờ báo Nhân dân có bút tích khen thưởng của Bác.

Nguyễn Thị Thịnh là chiến sĩ thông tin đầu tiên được Bác Hồ thưởng Huy hiệu của Người.

29 năm sau, ngày 28 tháng 2 năm 1997, họp mặt kỷ niệm lần thứ 39 thành lập Tiểu đoàn 77, tôi gặp lại Thịnh ở hội trường Tiểu đoàn. Cô gái có khuôn mặt bụ bẫm, trẻ măng ngày nào nay gần vào tuổi ngũ tuần. Sau thời gian phục vụ quân đội, cô được tổ chức cử đi học và chuyển ngành về công tác ở Thái Nguyên. "Thịnh đây ư!". Vẫn nụ cười hiền hậu và khuôn mặt bầu bĩnh như xưa. Thời gian trôi đi nhanh quá. Mới ngày nào Thịnh, tôi và Phạm Đức đều là chiến sĩ của tiểu đoàn. Ngày ấy, tôi, Phạm Đức và Phạm Đình Trọng - ba "Nhà báo vườn" của tiểu đoàn. Nay ba chúng tôi tóc đều đã bạc, có người đã lên chức ông. Còn Thịnh, em đã sắp làm "bà" chưa? Dù sao, những kỷ niệm sống động, đẹp đẽ tuổi thanh xuân, những ngày đánh Mỹ ấy không bao giờ phai nhạt trong ký ức. Tôi, Đức, Trọng sau này đều chuyển ngành, theo nghiệp văn, nghiệp báo. Do nghề nghiệp, sau này chúng tôi được đi, được tiếp xúc và được viết về nhiều cuộc đời, nhiều tấm gương cũng rất sinh động và cao đẹp. Nhưng những năm tháng sống, chiến đấu ở Tiểu đoàn vẫn là những năm tháng đẹp nhất trong đời.

Người thứ hai: Đào Ngọc Tấn, quản lý Đại đội 11 những năm đánh Mỹ. Anh Tấn quê Nam Hà. Khi đó (1967-1968), bọn tôi còn rất trẻ, mới 22, 23 tuổi, còn anh Tấn chững chạc hơn, khoảng 29, 30. Anh xuất thân nông dân, bản tính thật thà như đếm. Sau bài viết về Nguyễn Thị Thịnh, tôi viết gửi báo Quân đội nhân dân bài báo nhỏ "Quản lý Tấn, một tấm gương liêm khiết". Báo đăng giữa trang 4 (là trang phông - trang quốc tế và những tin tức quan trọng trong nước). Nội dung bài báo chỉ là một câu chuyện nhỏ về anh Tấn: hàng tháng phát lương, phụ cấp, thanh toán tiền công tác phí, tiền ăn..., có những khoản tiền lẻ một xu, hai xu không ai lĩnh, anh Tấn làm một ống bương, hai đầu kín, một đầu anh xẻ rãnh nhỏ vừa đút lọt đồng xu. Việc làm của anh không ai biết. Ngày ngày, đồng xu nào không có người lĩnh, anh lẳng lặng cho vào ống bương. Đến cuối năm, anh mở ống bương ra, đếm được tất cả: 29,28 đồng (hai mươi chín đồng, hai hào, tám xu), mang báo cáo đơn vị đây là số tiền thừa của anh em trong năm, đề nghị Ban chỉ huy Đại đội 11 gộp vào, cải thiện cho anh em vui tết.

Sự việc chỉ có vậy. Khi viết, tôi không bình luận gì thêm. Nào ngờ Bác Hồ đọc bài báo nhỏ (chỉ khoảng 200 từ) ấy. Người khoanh tròn con số 29,28 đồng bằng mực đỏ và ghi bên: Tặng 1 huy hiệu.

Tháng 2-1998

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

14.2.25

"Quê hương" chống sai sót thông tin vô tuyến điện

Lê Thanh Bình - nguyên chính trị viên Đại đội 13

Tháng 4 năm 1965, khi những chiến công vang dội của quân và dân miền Nam và những trận trừng trị máy bay giặc Mỹ của quân và dân miền Bắc giục giã bước chân những đoàn quân xông ra tiền tuyến với khí thế cách mạng "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" thì cũng là lúc Tiểu đoàn 77 được lệnh rời khỏi tổng trạm thông tin cũ, chuyển toàn bộ cơ sở đến địa điểm mới, xây dựng tổng trạm thông tin dã chiến. Những bàn tay báo vụ vốn quen với chiếc maníp và giấy bút, nay hăng hái cầm cuốc, xẻng, xà beng bổ vào đồi đất đá ong, đào hầm đặt máy, đào hào đặt cáp, đào hào giao thông nối liền các bộ phận trong khu vực tổng trạm. Công việc rất khẩn trương, chỉ trong thời gian ngắn, những bàn tay báo vụ ấy đã đào đắp được 5.730 mét khối đất đá, hàng nghìn mét hào giao thông, làm 2.900 mét vuông nhà ở. Nắng vùng đồi trọc như đổ lửa bỏng rát: về chiều, chỉ một đám mây phớt đen mỏng nhẹ lơ lửng trên đỉnh núi cao... thế là một trận mưa ào ào đổ xuống, với gió xoáy, với sấm chớp chằng chịt dữ dội. Lán mới dựng - sụp đổ; hầm mới đào - ngập bùn nước... Có chiến sĩ đang chăm chú đeo ống nghe nhận điện, sét đánh vào hệ thống ăngten làm tai rỉ máu tươi, ngất đi, nhưng khi tỉnh lại vẫn không chịu rời buồng thu. Mưa bão làm đứt ăngten, thế là mặc cho đêm tối, sấm chớp gào thét, cán bộ, chiến sĩ Trạm phát đã lao ra leo lên đỉnh cột cao căng dây, níu cột giữ cho mạch máu thông tin thông suốt.

Cột ăngten phải dựng có độ cao đúng yêu cầu kỹ thuật, nhưng lại phải xen kẽ tự nhiên trong những vườn cây có sẵn, rồi trồng thêm cây, chăm bón cho dây leo um tùm lên những cột sắt cao vút... Đã thế, những khi đi kiểm tra, thấy vẫn chưa yên tâm, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Đào Phố còn chỉ thị cho các đại đội phải nấu chảy nhựa đường, sơn đen tất cả các sứ quả bàng, sứ tai mèo trên các dây níu, "có như thế mới chọc "mù" được mắt bọn giặc lái Mỹ".

Khi đã làm "mù" được mắt giặc Mỹ thì lại bị giặc lụt gây biết bao khó khăn vất vả. Trận lụt lịch sử 1971, nước tràn về rất nhanh, đe dọa làm ngập tất cả các hầm đặt máy của Đại đội 13. Nước ngập đến đâu, anh em be bờ tát nước đến đó. Sau mỗi phiên việc, rời máy ra, là không ai bảo ai, tự cầm lấy gầu chậu hối hả múc nước cứu hầm, cứu máy. Cả tháng ròng nhiều đêm anh chị em thức trắng làm việc, tát nước, giữ vững trận địa, giữ vững liên lạc cho đến khi giặc lụt phải lui. Cứ như vậy kiên nhẫn, thầm lặng, liên tục làm việc hết ca này tiếp ca khác giữ cho mạch máu đỏ thông tin không lúc nào ngừng. Báo vụ viên Nguyễn Tá Trường cất lên lời ca:

Ta đi thay ca trong đêm,

Trăng đón ta từ cửa sổ.

Khi chân ta bước xuống thềm,

Trăng vẫn nhìn theo chan chứa.

Tịch tà vang lên thiết tha!

Ngày đêm chuyển dòng máu đỏ,

Ngày đêm xuống ca - lên ca!

Đồng chí Nguyễn Tất Thắng là một báo vụ suốt 8 năm lặn lội ở chiến trường miền Nam ác liệt; tháng 10 năm 1966 về làm chính trị viên Đại đội 5, đã kể chuyện chiến đấu cho đơn vị nghe. Rồi từ đó, hình ảnh những đồng chí báo vụ ở chiến trường thiếu ăn, thiếu mặc, bao năm nắng dãi, mưa dầm trong rừng sâu đầy muỗi vắt, chất độc hóa học và bom đạn của địch, lên cơn sốt rét, cánh tay mỏi rã rời vẫn nghiến răng quay máy pháp điện (ragônô) giữ vững liên lạc... đã khắc sâu vào tâm trí cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn.

Rồi có lần, sau khi hoàn thành đợt công tác ở chiến trường miền Nam trở về, đồng chí Trần Đài, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 13 đến thăm đơn vị, kể lại những gương chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn của các báo vụ ở chiến trường. Có tổ đài phần đông là nữ, luôn làm việc dưới làn bom đạn ác liệt của địch. Có đồng chí nữ báo vụ đang mải mê chuyển điện, bị một mảnh bom hớt mất một mảng da đầu mà vẫn không rời phiên việc. Nghe đến đó, cả đại đội lặng đi, nhiều người rơm rớm nước mắt. Ngày hôm sau, ở các tiểu đội xuất hiện khẩu hiệu mới trên báo tường:

"Cảm thông bạn ở chiến trường

Thuận lợi xin nhường, nhận lấy khó khăn".

hoặc:

"Trung với Đảng vô hạn

Yêu miền Nam thiết tha

Thuận lợi xin nhường bạn

Khó khăn quyết băng qua".

Các đợt thi đua tìm hiểu về cách mạng miền Nam, phấn đấu giành các danh hiệu "Dũng sĩ chính xác cao". "Dũng sĩ năng suất cao" vì miền Nam ruột thịt... bừng lên sôi nổi. Anh chị em còn viết thư trao đổi kinh nghiệm gửi tới những người đồng chí thân yêu của mình đang ngày đêm vượt qua biết bao hy sinh, gian khổ giữ vững làn sóng điện từ tiền tuyến về hậu phương.

Lần tiểu đoàn đón các đồng chí dũng sĩ miền Nam về thăm và kể chuyện chiến đấu là một kỷ niệm khó quên. Sau lời giới thiệu vắn tắt của chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Xuân Bá, các anh Trạc, Ngọ bị hỏng cả hai mắt đã kể chuyện với niềm lạc quan vui vẻ. Rồi chị Hồng, mất cả hai tay; chị Khánh Vân hỏng cả hai mắt vẫn say sưa cất cao tiếng hát, lời thơ... thì cả tiểu đoàn không nén nổi niềm xúc động vô hạn. Từ trái tim mỗi người xốn xang một tình cảm đặc biệt, luôn luôn thôi thúc mọi người phải vươn lên, làm một cái gì đây để cùng với đồng bào, đồng chí cả nước nhanh chóng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ở hầm thu, anh em chọn máy thu tốt nhất, nhạy nhất dành cho thu canh, để bất kỳ lúc nào bạn gọi về cũng nghe được. Những giờ cao điểm lại cử thêm người "canh phụ", "canh lót", quyết không để "lọt lưới". Có lúc tập trung hai, ba máy phát tốt trả lời bạn. Khi bạn yêu cầu thay người khác vào làm việc, thế là trong ca ai giỏi, vào thay luôn. Khi bạn yêu cầu được phát điện trước, đồng ý! Xin nhường ngay! Có lần ở chiến trường một số đài mất liên lạc với nhau, báo vụ Tiểu đoàn 77 sẵn sàng nhận nhiều bức điện, rồi tìm mọi cách chuyển đến cho đài cần nhận. Đôi khi gặp bạn làm việc nóng nảy, thiếu bình tĩnh thì báo vụ ở đây lại càng ôn hòa, nhã nhặn, giúp nhau giải quyết công việc nhanh gọn. Mọi người thường kể cho nhau nghe chuyện về những cán bộ, chiến sĩ báo vụ rất "hiền lành", rất khéo "chiều" bạn, chiếm được lòng yêu mến, tin cậy của bạn. Anh chị em vừa có trình độ chuyên môn giỏi, lại có đức tính điềm đạm, lòng nhân ái... nên chỉ cần "dạo" qua vài nhịp maníp, chuyển nhận vài bức điện... thì đài bạn dù có nóng nảy đến đâu cũng phải "gờm" và "kiêng nể", như các đồng chí Nguyễn Ngọc Đát, Nguyễn Thanh Thản, Nguyễn Đình Hậu, Dương Thị Dung, Nguyễn Thị Bào, Ngô Thị Lưu, Nguyễn Thị Thịnh và nhiều anh chị em khác. Những Chiến sĩ quyết thắng, Chiến sĩ thi đua ấy ngày nay đều đã trưởng thành, có đồng chí được đào tạo, bồi dưỡng trở thành cán bộ cao cấp của Đảng và quân đội.

Năm 1968, Đài X20 viết thư gửi về Tiểu đoàn 77: Đài vô tuyến điện của Bộ trách nhiệm cao, thái độ khiêm tốn, có tinh thần nâng đỡ bạn, xứng đáng là mẫu mực cho chúng tôi học tập. Tháng 2, năm 1974, Đài Y01 Quân khu 5 viết thư về: "Thông tin của Bộ canh rất nhậy, gọi lúc nào, được lúc ấy; máy nối các sư đoàn chỉ huy chiến đấu, hiệp đồng tác chiến giúp cho Quân khu 5 hoàn thành tốt nhiệm vụ".

Thế nhưng... không rõ từ đâu, không biết tự bao giờ, trong anh chị em báo vụ truyền miệng nhau câu "Phi sai sót, bất thành báo vụ", thế là tư tưởng tiêu cực có nơi ẩn náu. Hễ có ai chuyển nhận điện sai sót là lại đưa cái "lá chắn" kia ra chống đỡ. Nên tuy công việc vẫn trôi chảy, tiểu đoàn vẫn hoàn thành nhiệm vụ, nhưng nghiêm khắc kiểm điểm sâu sắc về chất lượng vẫn thấy còn có chỗ chưa ổn.

Đành rằng yêu cầu thu phát điện vô tuyến cho chính xác là việc tổng hợp rất nhiều yếu tố chủ quan, khách quan, nhưng tiểu đoàn có thể hạ tỷ lệ sai sót xuống thấp hơn được không? Và tỷ lệ đó là bao nhiêu? Đó là câu hỏi day dứt, trăn trở từ Trung đoàn 205 đến tiểu đoàn và đến từng cán bộ, chiến sĩ. Lúc bấy giờ, tỷ lệ sai sót từ 8 đến 10 phần nghìn; thỉnh thoảng mới có tuần đạt 5 phần nghìn. Nghĩa là cứ nhận 1.000 bức điện thì có 5 phải nhận lại.

Đảng ủy Trung đoàn 205 có Nghị quyết chuyên đề lãnh đạo nâng cao chất lượng thông tin, kiên quyết giảm sai sót thông tin vô tuyến điện xuống 2 phần nghìn. Trung đoàn trưởng Phạm Kim Bạo, Chính ủy trung đoàn Nguyễn Tiến Thủy cùng cán bộ cơ quan không mấy khi vắng mặt ở Tiểu đoàn 77 để chỉ đạo đơn vị tổ chức thực hiện bằng được chỉ tiêu trên.

Tiểu đoàn trưởng 77 lúc ấy là đồng chí Hà Duy Trọng luôn "nắm" chắc các trợ lý tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật; xuống từng đại đội, từng trạm, tổ chức những "tuần cao điểm chống sai sót" đi sâu nghiên cứu tỉ mỉ từng khâu, từng mặt công tác, rút ra những nguyên nhân ưu khuyết điểm, đề xuất biện pháp cụ thể thực hiện nghị quyết chống sai sót.

Từ chi bộ đến các tổ chức quần chúng sôi nổi thảo luận xoay quanh nội dung: Tại sao phải giảm sai sót? Làm thế nào để giảm sai sót xuống 2 phần nghìn? Mọi người đều thấm thía câu nói của một đồng chí cán bộ cấp trên: "Tinh thần cách mạng tấn công của thông tin vô tuyến điện là đảm bảo chính xác 100%, không được phép để 2 phần nghìn sai sót. Nếu như 2 phần nghìn đó lại rơi vào tên người chỉ huy, tên địa điểm, thời gian hiệp đồng tác chiến... thì cơ yếu không dám dịch; phải nhận lại, điện mất thời gian tính. Tuy nhiên để tiến tới đạt chính xác 100% trước mắt giảm sai sót xuống 2 phần nghìn". Nhiều ý kiến liên hệ sâu sắc thành khẩn những sai sót do tác phong chủ quan, thiếu thận trọng của mình gây ra trước đây; rồi mỗi người góp một ý kiến bàn biện pháp thực hiện. Từ việc "lấy cần cù bù thông minh", hai, ba người cùng nhận một bức điện, rồi đối chiếu, kiểm tra lại; rồi tổ chức kèm cặp nhau học tập trong phiên ca, biến mỗi giờ công tác thành một giờ học tập nâng cao thêm trình độ. Tranh thủ học thêm vào giờ nghỉ, ngày nghỉ với phương châm "thu chính xác, phát chân phương". Nghiên cứu sắp xếp lực lượng "chuyên đài", "chuyên mạng", cử người có kinh nghiệm, có trình độ cao làm việc với những đài trọng tâm, nhiều việc, liên lạc khó khăn. Rồi những việc tưởng chừng nhỏ nhặt như không đưa thư cho báo vụ trước khi lên ca làm việc, như việc làm nơi phơi phóng quần áo chu đáo, để khi gặp mưa gió báo vụ vẫn yên tâm dồn hết tâm trí vào chuyển nhận điện chính xác. Thực hiện chế độ "vào kiểm tra, ra nhận xét" giáo dục xây dựng ý thức tự giác chấp hành mọi quy định chế độ kỷ luật đảm bảo thông tin, giữ gìn bí mật trong công tác.

Phong trào thi đua phấn đấu trở thành "chiến sĩ chính xác", "kiện tướng chính xác", vươn lên chiếm lĩnh "đỉnh cao 2 phần nghìn"... từng giờ từng phút diễn ra thầm lặng, kiên nhẫn nhưng rất hào hứng, phấn khởi. Kỷ lục 12 vạn nhóm điện chính xác do kiện tướng Vương Thị Ngọc Phượng vừa đạt được, đã bị các kiện tướng Chuông, Tịnh, Nghiêm, Quang, Hân, Thịnh, Túc... phá vỡ và liên tiếp lập kỷ lục mới.

Đại đội 11 làm nhiệm vụ đảm bảo liên lạc nội bộ bằng các phương tiện điện thoại, điện báo, tiếp sức đã nhạy bén tìm mọi biện pháp phục vụ thông tin thông suốt, chính xác với tinh thần "Đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể". Mạng liên lạc giữa 3 đại đội rộn ràng suốt ngày đêm, khi thì cùng nhau đối chiếu từng nhóm điện, khi thì Đại đội 11 thông báo trước sẽ có điện tối khẩn, thượng khẩn cho những đài nào để Đại đội 5 và Đại đội 13 chủ động gọi đài canh của bạn ngay, đài bạn lên máy sẵn sàng nhận điện. Vì thế mà nhiều bức điện đến trạm, chỉ sau 5 phút đã chuyển chính xác đến đài bạn ở chiến trường xa.

Tỷ lệ sai sót bị đẩy lùi, từ 10 phần nghìn, rút xuống 8 phần nghìn, 5 phần nghìn, rồi 2 phần nghìn! Nhiều tuần chỉ có 0,5 phần nghìn! Trong thời điểm phục vụ thông tin cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào - 1971; chiến dịch 1972 và Đại thắng mùa Xuân 1975 thường xuyên đảm bảo chính xác 100%. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ta thu tài liệu của địch, được biết bọn Mỹ - ngụy hết sức sửng sốt kinh ngạc tự hỏi: "bằng cách bố trí mạng truyền tin như thế nào mà Việt Cộng tấn công đồng loạt khắp miền Nam được như thế?".

Trong 55 ngày đêm phục vụ cuộc Tổng tiến công lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu, với quyết tầm thần tốc, táo bạo, chắc thắng, số đài trong mạng thông tin vô tuyến điện tăng dồn dập, khối lượng công việc tăng gấp hai, ba lần. Từ tiểu đoàn phó Nguyễn Hữu Cừ, các đại đội trưởng Nguyễn Văn Tiếp, Phạm Ngọc Tỉnh... đến các cán bộ ca trưởng, chiến sĩ trong tiểu đoàn liên tục ngày đêm thay nhau bám máy, bám đài làm việc bền bỉ, dẻo dai với niềm phấn khởi vô hạn. Đã chuyển nhận 41.365 bức điện, đạt chính xác cao nhất, giữ vững liên lạc từ Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đến Bộ chỉ huy chiến dịch và đến tất cả các mặt trận toàn miền Nam.

9 giờ 25 phút, ngày 30 tháng 4 năm 1975 tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh xảo quyệt lên đài Sài Gòn yêu cầu ta ngừng bắn. Ngay sau đó, vào hồi 10 giờ 25 phút, Bộ Chính trị có công điện số 925: "Tiếp tục tấn công vào Sài Gòn theo kế hoạch tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân địch, đập tan chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của địch". Bảy phút sau, vào lúc 10 giờ 32 phút trung sĩ báo vụ Hoàng Thị Khanh đã chuyển xong bức điện lịch sử đó đến Bộ chỉ huy chiến dịch. Và đúng 11 giờ 30 phút lá cờ cách mạng đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Đài Sài Gòn truyền đi tiếng "tổng thống" ngụy quyền xin hạ vũ khí đầu hàng vô điều kiện!

Đó là giờ phút thiêng liêng nhất của dân tộc ta! Giờ phút thiêng liêng ấy là sức mạnh diệu kỳ cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 77 anh hùng ngày đêm tận tụy giữ vững làn sóng điện cách mạng tỏa khắp mọi miền của Tổ quốc Việt Nam thống nhất.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Chiến lợi phẩm trận Lộ Thơ

Thiếu tá Trần Việt Hùng

Ở miền Nam, máy vô tuyến điện AN/GRC-9 là loại rất quý hiếm. Suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, ở Khu 8 chỉ có Tiểu đoàn 309 của tỉnh Tân Mỹ Gò (Tân An - Mỹ Tho - Gò Công) đánh đoàn tàu công-voa của Pháp trên kinh Chợ Gạo lấy được 1 máy vô tuyến điện AN/GRC-9 15W và khi tập kết để lại Nam Bộ liên lạc về Trung ương (lúc bấy giờ tôi công tác ở đài vô tuyến điện Tỉnh ủy Tân Mỹ Gò và sử dụng máy này) và năm 1960, Đoàn cán bộ đầu tiên vào Nam, thông tin chỉ mang về một máy vô tuyến điện AN/GRC-9 15W cho Nam Bộ. Nó rất quý và rất hiếm!

Năm 1961 khi Bộ Tư lệnh Miền và Bộ Tư lệnh Quân khu 8 ra đời, thì Ban thông tin Quân khu 8 và Phòng Thông tin Miền thiếu loại máy này để trang bị. Trận Lộ Thơ, Tiểu đoàn 516 lấy được 4 máy AN/GRC-9 15W của Mỹ còn nguyên vẹn. Thu được chiến lợi phẩm này là "tuyệt vời".

Sau chiến thắng Lộ Thơ, Tỉnh ủy chỉ đạo hậu cần tỉnh chuyển ngay 4 máy vô tuyến điện AN/GRC-9 15W về Tiểu ban Thông tin vô tuyến điện Tỉnh ủy. Bấy giờ, tôi công tác ở Tiểu ban Thông tin vô tuyến điện Tỉnh ủy được phân công kiểm tra, bảo trì và cho máy chạy thử. Máy chạy rất tốt. Tất cả 4 máy vô tuyến điện và 4 máy ragônô (máy phát điện quay tay) còn nguyên vẹn, phụ tùng còn đầy đủ, không mất một thứ gì. Hậu cần cũng tuyệt vời! Nếu như hậu cần không cẩn thận để máy móc, phụ tùng bị cấn bể, hư hỏng, sót đâu đó vài món hoặc bị ẩm ướt, vô nước thì cũng không sử dụng được. Được tin, Quân khu 8 cử cán bộ Quân khu xuống kiểm tra và lấy ngay 4 máy vô tuyến điện AN/GRC-9 và 4 máy phát điện quay tay (ragônô) đem về trang bị cho các đơn vị thông tin Quân khu 8.

Bến Tre rất tự hào có Tiểu đoàn 516, đứa con đầu lòng, ra quân lần đầu đã giành chiến thắng tuyệt vời và đặc biệt là thu được trọn vẹn 4 bộ máy vô tuyến điện AN/GRC-9. 4 bộ máy này đã góp phần giúp cho Quân khu 8 bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời thông suốt.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)