4.12.25

Dấu chân anh

Thanh Nam

Ai có lên rừng xanh

Hỏi rừng bao lá thắm?

Suối dài bao nhiêu dặm?

Núi có bao nhiêu đồi?

Núi rừng đành cũng chịu thôi

Mách rằng muốn biết hỏi người giao liên.

 

Người chiến sĩ giao liên

Đi khắp miền đất nước

Rừng nào anh cũng thuộc

Núi nào anh cũng qua

Cắt rừng mở lối xông pha

Gai tuôn rách thịt xé da chẳng sờn.

 

Chú nai vàng sườn non

Nhìn chân anh bước gấp,

Núi rừng đang nổi nhạc

Tiễn chân anh xuống đồi

 

Mỗi bước anh đi đổ suối mồ hôi

Mỗi chặng đường qua là một dòng máu chảy

Qua núi, qua sông gian nan nào ngại

Miễn làm sao máu được chảy về tim.

Máu lại ra đi phân phối mọi miền

Truyền đi khắp gần xa đủ cả,

Anh theo dấu chân hươu rút lá

Lùng mây vạch một đường rêu

Đắng cay gian khổ đã nhiều

Rừng mai sương gội nắng chiều mưa tuôn.

 

Anh là sông cho biển cả gặp nguồn

Anh là núi cho mây trời nối đất

Anh thắt chặt tình Nam ý Bắc

Anh dựng cầu nối bến quê hương.

1960

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

2.12.25

Thơ nặng thợ

Nguyễn Văn Củng

Đến bên anh thợ máy

Tôi bảo anh làm thơ

Viết về những ước mơ

Đăng báo tường "Ánh thép"

 

Anh bảo: Ồ! Tuyệt đẹp

- Tớ sẽ làm thơ ngay

Anh xoè đôi bàn tay

Ấn vào công tắc máy

 

- Tớ đang làm thơ đấy

Cậu có yêu thơ không?

Thơ là ngọn lửa hồng

Thắp trong lồng ngực thợ

 

Không mơ màng ngọn gió

Không bướm lượn chim ca

Không sắc lá, màu hoa

- Tặng thợ chùm hoa lửa

 

Mùa xuân chờ ngoài cửa

Hẹn hò chi đó em?

Giọt sương tình của đêm

Bỏ quên trên gò má.

 

Những vòng quay hối hả

Như nhịp đời không nguôi

(Ngày sơ tán bom rơi

Thuở núi rừng kháng chiến)

 

Như con tằm nhả kén

Cho em ngồi quay tơ

Đêm ca ba làm thơ

Nên tiếng gà rất ngắn

 

Thơ nặng tình bè bạn

Chiến trường bớt máu rơi

Thơ ca đượm mồ hôi

Thơ nặng tình non nước

 

Thơ phổ trên khuông nhạc

Tiếng máy hay ra đời

Nồng giấc ngủ trong nôi

Nhà thơ nâng tốc độ.

 

Thơ nặng tình với thợ

Nở năm cánh sần chai

Xoè bàn tay anh cười

Nhắc lại vần thơ nặng.

 

Tiếng chim và sắc nắng

Hát trong lều thơ vui

Bài thơ anh cho tôi

Mùa xuân đầy ánh thép.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

1.12.25

Cô gái Trường Sơn

Ngọc Sơn

Ai đi nước Pek, nước Phin

Ai xuống nước Lũ, ai lên nước Chè1

Ai xuôi Giá - vụt về quê

Đừng quên cô gái Hơ-rê dẫn đường.

Tên em là Dy Hơ Thưng

Đang chờ ta đó... núi rừng mênh mông

 

"Đi thôi anh! Nắng ăn rồi cái núi

Cái dốc còn dài, con suối còn quanh"

Em cười đôi mắt long lanh

Ba-lô tôi nặng em giành đeo vai

Đùm cơm sắn, chiếc gậy mây

Đầu trần chân đất, suốt ngày em đi

Khi hố thẳm dầm dề mưa trút

Khi đèo cao nắng bốc lửa thiêu

Lúc thác ghềnh đá nhảy người treo

 

Lúc hút bóng tầng mây chót vót

Mắt Dy Hơ Thưng

Luôn nhìn phía trước.

Bước nhanh nhanh bước

Rút ngắn núi rừng

Đá gai cào nát bàn chân

Vắt sên đeo cắn máu tuôn giọt dài.

Nắng đi lại đổ mưa rồi

Nắng mưa là bạn của người giao liên.

 

Ngước nhìn con chim Clan-pon2

Trên cành nó hót vang vang núi rừng:

"Thương cô tóc cụt! Khó khăn khắc phục!"

Khó khăn khắc phục!... Không hề dừng chân

Chia tay bên suối vắng

Bẻ đôi đùm cơm sắn

Tôi nói với em: "Dy Hơ Thưng ơi!

Con đường thống nhất còn dài, gắng đi!"

Hạ Thưng cười híp đôi mi

Cầm tay lắc lắc: "Anh đi tốt lành!"

Chân tôi theo nước xuôi dòng ani

Mà lòng tôi ngược theo đường Hồ Thưng:

Buổi sáng ra đi, nắng cài hoa trên tóc

Buổi tối về, mưa nhuộm váy chàm xanh

Cheo leo sườn dốc lượn quanh

Đầu nương chim hót, cuối gành thác reo...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000)

-----------------------------------------

1 Đồng bào Tây Nguyên dựng làng bên suối nước nên các làng đều gọi là nước như làng nước Lũ, nước Chè...

2 Chim thường kêu bốn tiếng một, anh em thường nhại: "Khó khăn khắc phục”. 

Mùa xuân ở trạm đường dây

Phạm Đức

Buổi sớm trắng như sữa

Núi giấu mặt trời đi

Cái bông hoa trứng nhỏ

Đã hương lên thầm thì

 

Lối mòn sương giát ngọc

Ánh lên màu cỏ tươi

Đá vòm gieo nước giọt

Suối diện áo da trời.

 

Không ai là người lạ

Chủ khách cũng chúng mình

Áo quần nguyên nếp gấp

Thơm tho mùi vải xanh.

 

Bạn thức đêm giao thừa

Tôi nhận ca mồng một

Bàn giao cả đất trời

Xuân đang về dịu ngọt.

 

Hoa rừng ven lối cỏ

Hoa cải thắp vườn nhà

Hoa tình yêu có nở

Thấp thoáng tâm hồn ta.

 

Một mùa xuân giản dị

Như mắt ai thoáng nhìn

Không chói ngời rực rỡ

Mà có gì thiêng liêng.

 

Mãi hỏi thầm nơi đó mà

Ai vui vầy xuân nay

Những người quen tết cũ

Có nhớ về trạm dây?

Năm 1972

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

28.11.25

Cao Bằng, quê hương của một di sản vô giá về giao thông liên lạc cách mạng Việt Nam

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng KHQS

Anh Nguyễn Tất Thành, từ khi rời Tổ quốc ra đi, đằng đẳng bao năm trời không có được tin tức của những người thân. Tự kiếm sống để học tập, để tìm hiểu, kiếm chọn một con đường cứu nước xác đáng nhất, thực tế khách quan đòi hỏi anh phải tiếp nhận được hai luồng thông tin, một là diễn biến của Tổ quốc và với những người yêu nước, những người cách mạng Việt Nam; luồng thứ hai là với phong trào, với xu thế cách mạng thế giới để liên kết với phong trào của Việt Nam, để kiến tạo nên sức mạnh chung.

Tự bản thân, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc không thể giam mình trong những kiến thức nhỏ, hẹp mà phải tìm cho được những thông tin mới nhất về con người, về chính phủ của đất nước đang đô hộ nước ta, những khuynh hướng cách mạng, tiến bộ, cũ, mới của thế giới, của thời đại.

Tiếp nhận được "Luận cương về dân tộc và thuộc địa” của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đứng trước một nhiệm vụ phải chuyển giao những thông tin ấy mà mình đã thu nhận, sàng lọc được tới đồng bào mình trên đất Pháp, trong các thuộc địa và chính ở đất nước Việt Nam. Yêu cầu khách đó của cách mạng, yêu cầu bức thiết hàng đầu đó để động viên, xây dựng phong trào, yêu cầu quan trọng bậc nhất ấy đã thôi thúc Nguyễn Ái Quốc mở một con đường liên lạc hai chiều với phong trào. Chính nhờ con đường liên lạc ấy mà Nguyễn Ái Quốc đã chuyển báo Le Paria đến các tổ chức người Việt trên các thuộc địa Pháp, về Việt Nam; tiếp sau đó là báo Thanh niên, sách Đường Kách mệnh, Bản án chế độ thực dân Pháp rồi đến việc đưa đón cán bộ đi huấn luyện, đi công tác, dự hội nghị. Không có quốc gia nào như Việt Nam, từ năm 1930 rồi những năm tiếp sau đó, trong các nghị quyết của Đảng, bao giờ cũng có đề cập tới công tác giao thông và dành cho giao thông một sự quan tâm chủ yếu về mặt chỉ đạo bằng những hướng dẫn, chỉ thị cụ thể về tổ chức trạm, chọn người, tìm phương pháp, đề ra chiến lược. Hệ thống giao thông liên lạc cách mạng Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng, thành lập, tổ chức, chỉ đạo đã được Quốc tế Cộng sản đánh giá cao và có thời kỳ Quốc tế Cộng sản đã ủy nhiệm Nguyễn Ái Quốc phụ trách một hướng giao thông liên lạc quan trọng từ Đông - Nam châu Á về Mátxcơva...

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp, tháng 12-1920. Ảnh tư liệu.

Bản thân Nguyễn Ái Quốc cũng không phải bao giờ cũng có được thuận lợi trong việc giữ liên lạc thông suốt với các đối tượng liên lạc của mình. Trên dưới ba năm bị giam tù ở Hồng Kông đã khiến cho Nguyễn Ái Quốc cảm thấy mình đau khổ "cô độc và linh đinh". Rồi những năm 1934-1938 ở Mátxcơva, ít có điều kiện liên lạc với phong trào cách mạng trong nước, tiếp đó là những năm 1938 - 1940, đi lại nhiều lần trên vùng đất Hoa Nam, mấy lần bắt liên lạc với tổ chức Đảng không kết quả chắc hẳn đã gây thêm nhiều nỗi suy tư trong thâm tâm của Người. Sức cảm nhận về tầm vóc quan trọng của giao thông liên lạc như là một yếu tố sống trong con người, trong công việc cách mạng vì dân, vì nước của Bác ngày càng sâu sắc hơn, đan xen cả những thành công lẫn chưa thành đạt, cả vui mừng pha trộn lo lắng trong những bước đường mới.

Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về đến Cao Bằng. Sau 30 năm cách xa Tổ quốc, 30 năm Người duy trì một đường dây liên lạc nay đã đặt chân về đến đầu nguồn, khiến Người rất xúc động. Nhưng Cao Bằng mới chỉ là một đốm lửa. Phải làm sao đưa đốm lửa ấy về các nơi khác để dần dần biến thành một đám cháy, nhiều đám cháy thiêu đốt lũ thực dân, đế quốc, phát xít... Và những kinh nghiệm tuyên truyền, tổ chức, vận động... của mấy chục năm hoạt động cách mạng của Người đã sản sinh ra một câu nói bất hủ tại Cao Bằng về giao thông liên lạc.

Câu nói đó được đồng chí Võ Nguyên Giáp công bố lần đầu tiên trong cuốn sách "Khu giải phóng" do Nhà xuất bản Cứu Quốc in vào năm 1946. Người nói:

"Việc liên lạc, là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mệnh, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi".

Lời dạy ấy, chỉ thị có tính nguyên tắc ấy - như lời đồng chí Võ Nguyên Giáp nhận định là "Không bao giờ được quên nhãng trong quá trình tranh đấu", được ra đời trong căn cứ địa Cao Bằng - chỉ có thể ở Cao Bằng trong điều kiện lịch sử ấy - không thể ở nơi nào khác được. (Thực ra câu nói này còn thiếu hai chữ mà mãi đến năm 1985, trong khi thăm Bảo tàng Thông tin quân đội, đồng chí Võ Nguyên Giáp mới nói thêm, đó là "một việc quan trọng "hàng đầu" (bậc nhất...).

Phong trào cách mạng Cao Bằng ở thời gian đó, tuy đã cao, nhưng phong trào không thể đứng lại ở đấy. Trung ương còn ở xuôi. Căn cứ địa cần phải mở rộng. Vì thế mà Bác đã chỉ thị "phải cấp tốc tổ chức ngay những con đường quần chúng" từ Cao Bằng đến miền xuôi, thì "lúc khủng bố mới có thể giữ vững được mối liên lạc, lúc hoạt động vũ trang các đội du kích mới có thể vận động một cách dễ dàng". Phong trào Nam tiến "chuyên môn hóa đi Nam tiến" đã tập trung hơn 100 cán bộ, phần lớn là con em của Cao Bằng tình nguyện thoát ly gia đình, tổ chức ra 10 ban xung phong phối hợp cùng các địa phương - dùng lối vũ trang tuyên truyền, chia ra mấy đường cùng tiến, cứ lớp trước phát triển, lớp sau củng cố - không chỉ đơn thuần là một con đường giao thông - mà là một con đường truyền bá tư tưởng cách mạng xây dựng tổ chức phong trào, phương pháp tổ chức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh... Sau một năm hoạt động, cuối năm 1943, tại vùng giáp giới Cao Bằng, Bắc Kạn, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Bác, thay mặt Đoàn thể mở hội ăn mừng Nam tiến thành công và trao cờ "Xung phong thắng lợi" cho anh chị em cán bộ. Chính là nhờ sự đóng góp của cán bộ Cao Bằng, xuất phát từ Cao Bằng mà các đường Nam tiến đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi - nếu như không nói là - quyết định cho những hoạt động cách mạng về sau, trong cao trào khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền... Xa hơn nữa, nếu sau này, khi con đường mòn Hồ Chí Minh chạy dọc Trường Sơn mang tư tưởng "Không gì quý hơn độc lập tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào miền Nam, trong chống Pháp, chống Mỹ, chúng ta cũng không thể quên rằng, điểm ra đi đầu tiên của con đường ấy chính là ở Cao Bằng, với câu nói bất hủ, di sản vô giá về giao thông cách mạng Việt Nam mà đồng bào, cán bộ, nhân dân Cao Bằng vinh dự thay mặt cả nước đón nhận trực tiếp từ Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Câu nói ấy, lời dặn ấy đã được nhiều nhà hoạt động chính trị, quân sự, nhất là trong lĩnh vực thông tin liên lạc quốc tế đánh giá rất cao, chấp nhận và coi đó cũng chính là một lời dạy cho chính họ. Người viết bài này đã trực tiếp được nghe một số nhà lãnh đạo Thông tin quân sự của nước Nga, Ba Lan, Đức, Tiệp Khắc, Mông Cổ, Nhật Bản Lào, Cu Ba... phát biểu, rằng "Đây chính là những lời dạy vô cùng quý báu cho ngành thông tin liên lạc, bưu điện, cho Chính phủ của tất cả các nước, các quân đội cách mạng".

Điều đó cũng có thể hiểu được. Tài liệu, sách báo, bài viết của nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng nhất thế giới sưu tầm được, chưa thấy ai nói một câu trọn vẹn, đầy ý nghĩa chiến lược, với tầm quan trọng được đánh giá cao như thế về thông tin liên lạc.

Phải chăng thời thế, hoàn cảnh điều kiện của Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh đã sản sinh ra câu nói đó tại Cao Bằng, cái nôi của cách mạng, ngôi sao của Việt Bắc, của Việt Nam, nơi đã cung cấp cho nhân dân nhiều chiến sĩ giao thông ưu tú nhất và đã đi vào lịch sử.

Ngày nay trong công cuộc đổi mới, Cao Bằng nói riêng và cả nước nói chung có thể từ câu nói đó của Bác tìm ra được một hướng đi mới, một sức mạnh mới để chứng minh thêm sự trường tồn vĩnh cửu về lời dạy ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin – Liên lạc”. NXB Lao Động 1997) 

25.11.25

Chân dung thợ rèn

Nguyễn Văn Củng

1. Chắc nịch, khập khênh

Lò rèn của anh đặt bên hẻm núi

Khu sơ tán tiếng cười rất vội

Núi rừng...

bát úp...

theo nhịp âm thanh

Tiếng búa màu xanh

Như bầy trẻ nhỏ

Tung tăng chạy ngược lên đồi

Gọi đùm đũm chín, gọi chồi sim xanh

Đậu trên búp, nấp trong cành

Va vào vách đá vọng thành lời ru.

 

Thợ rèn trung du

Tiếng búa lún nghiêng nghiêng mái núi

Xô thấp xuống buổi chiều

Đêm bồng bềnh đưa võng nhịp khập khênh.

 

2. Như tiên

Thợ rèn

Áo xanh xanh màu núi

Trái tim anh có bếp hồng lửa rọi

Hai mặt trời soi nhau

 

Thép rắn đầu biết ủ mềm non lại

Em liễu đào anh tôi cứng già lên*

Thợ rèn Thông tin

Bí mật cả cái nhìn

Mặt giáp lửa nên mắt anh giàu lửa

Mọi vui buồn ủ trong giọng búa

Thẳng băng...

ánh chớp của đêm

Anh nhìn khiếp - xém áo em mất rồi

 

3. Búa lắm điều nhưng đời không phụ bạc

Đêm tâm tình đôi lứa

Chỉ chuyện than, củi, lửa

Thuỷ chung trong một chủ đề

Thép hồng ngừng thở, mặt đe phập phồng

Em đừng nói thẳng làm cong

Than càng đen, lửa càng hồng em ơi

 

Đêm thợ rèn

đêm thói quen nghề nghiệp

"Miệng kẻ sang có gang có thép"

Nên lúc thường tâm sự cũng to

Trăng uyên ương, suối róc rách hẹn hò

Đêm giật mình, đổi nhịp cánh vạc bay

 

4. Hoa bàn tay

Có mỗi độ xuân sang

Âm thầm

Nở thêm dày

Như nỗi nhớ

Thêm đầy

Trong xa cách

"Em chẳng chơi với anh đâu

Anh mừng một tí em đau cả ngày”

Sau cái bắt tay

Nơi khóe mắt nổ hoa cà, hoa cải

Dập dìu đàn đom đóm vờn bay

Bao giờ ớt đỏ đừng cay

Thì em quên cái bắt tay thợ rèn

 

5. Vị mặn mồ hôi

Ai dễ quên mà nhớ

Chỉ thương thầm lính thợ

Mà cuộc đời ran ríu quá người ơi

Dầm mình trong nội tốt tươi

Thì tường tận giọt mồ hôi ngắn dài

 

Áo anh khô đằng trước

Áo anh ướt đằng sau

Áo anh bạc đổ màu

Khoác lên người hai nửa

 

Xưởng chật căng tiếng búa

Khô héo cả trưa hè

Vẫn nồng nàn tiếng ve

Cứ tươi hồng bếp lửa

 

Ơi bàn tay nặn thép

Ấp ủ tiếng chim ca

Chỉ một nhịp tích tà

Một nụ cười mãn nguyện

 

6. Gì vui thế sáng xuân nay

Đào khoe sắc lửa bởi tay thợ rèn

Non tơ màu áo làm duyên

Cành xuân làng thơ trên miền trung du

Đằm trong tiếng búa hát ru

Nôn nao thương tiếng chim gù rừng xuân

 

Cung đàn mùa xuân

Bàn chân bắt nhịp đặt lên

Lưng ong cúi xuống, thợ rèn vào ca

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Những chặng đường tín hiệu". NXB QĐND  2005)

------------------------------------

* Thuật ngữ kỹ thuật rèn. 

Trưa nắng trên đường dây (kính tặng Trung đoàn 132 của tôi)

Trường Lưu

Trưa nắng trên đường dây

Bóng chiến sĩ ôm tròn ngọn cột

Bầy ong say nhụy vàng sắc mật

Tiếng ve sầu sôi trong rừng mây.

 

Trưa nắng trên đường dây

Buổi thông tầm hối hả

Kìm siết chặt. Sợi dây vàng lấp lóa

Mồ hôi rơi mặn chát nụ cười.

 

Câu hò như lụa vắt ngang trời

Nắng bỗng chơi vơi tuyến đường căng hãm

Lòng xao xuyến ruổi theo lời bạn

Nghe thời gian trỗi dậy tim mình...

 

Quê hương anh xanh đến là xanh

Dòng sông tựa yếm làng trước gió

Tình quê kiểng thắm làn môi quan họ

Mảnh trăng treo vò võ đợi anh về.

 

Quê hương tôi nung đỏ lời thề

Trống Xô Viết rung trời nổi dậy

Mắt em nhìn tiễn đưa ngày ấy

Thao thức hoài suốt dải miền Trung

 

Xôn xao mùi đất ủ hăng nồng

Seo cầy nghiêng bật mùa gieo vãi

Tháng tám đi qua nắng vàng trái bưởi

(Má hồng em có che khăn?)

 

Mỗi người đi từ nẻo xa xăm

Trăm giọng nói trăm nỗi niềm yêu ghét

Buổi đường dây băng vào chiến dịch

Chuông rền ai cũng thỏa lòng vui.

 

Ôi đường dây nối những phương trời

Đường dây chở niềm vui thế hệ

Đường dây như mối tình chung thủy

Chẳng bao giờ lỗi hẹn ngàn quê.

 

Từ nơi đây năm tháng đi về

Mạch máu chảy đều trong cơ thể

Chiến sĩ nghe dư âm bền bỉ

Tiếng lòng mình vang trong nắng trưa.

Bái Thượng, 8-1970

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

20.11.25

Ghi bên đường dây

Nguyễn Trung Thu

I. Suối La La

Trên nấm mồ người chiến sĩ không tên

Hoa sim nở như niềm tin gửi lại

La la ơi! Hôm nay đã tới

Chọn một ngày vạch tuyến xuyên rừng

Ta ôm suối giữa lòng ta đấy

Đằm giữa tiếng reo, trong veo nước chảy

Trôi vèo gian truân.

 

II. Bay lên

Rừng sâu ập phủ màn đêm

Đạp bom suối gội, sấm rền tầng không

Trĩu đôi vai cuộn dây đồng

Lưng thì rạp xuống mà lòng bay lên.

6-1972

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

Chuyện không có trong thư

Tô Hà

Phút nhẹ nhàng đậu xuống phong thư

Là phút con tem bắt đầu có cánh

 

Có chuyến đi bên này gà gáy rạng

Qua dốc bên kia trời chạng vạng

Mòn gậy trèo lên gối chạm cằm

Ngoảnh nhìn xuống mây giăng khuất bản.

 

Có chuyến đi gặp mùa mưa lũ

Thác lớn khôn qua trú lại rừng

Bóng hổ chờn vờn quanh giấc ngủ

Hơi núi đêm luôn rét thấm lưng.

 

Có chuyến đi bom nổ quanh mình

Đất đá tung vùi chết ngất

Túi thư vẫn còn ôm ghì trước ngực

Ngoi lên rũ áo lại lao nhanh.

 

Cánh tem không dừng lại bao giờ

Cánh tem sẽ đậu vào tay bạn

Và - chuyện này không có trong thư.

Năm 1965

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000)


16.11.25

Hội truyền thống Cơ quan Hậu cần Binh chủng Thông tin liên lạc gặp mặt kỷ niệm 59 năm Ngày thành lập

Sáng 16/11/2025, tại SCH Lữ đoàn 205, Hội truyền thống Cơ quan Hậu cần tổ chức gặp mặt kỷ niệm 59 năm Ngày thành lập Cơ quan Hậu cần Binh chủng Thông tin liên lạc (19/11/1966 – 19/11/2025).

Đồng chí Đại tá Nguyễn Mạnh Tường – Trưởng ban liên lạc chủ trì buổi Gặp mặt.

Tham dự buổi Gặp mặt có đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị - Chính ủy Binh chủng; các đồng chí đại biểu đại diện cho các cơ quan Binh chủng: Đại tá Phạm Mạnh Cường – Cục trưởng Cục Hậu cần – Kỹ thuật; Đại tá Phạm Văn Yên – Bí thư Đảng ủy, Phó Cục trưởng Cục Hậu cần – Kỹ thuật; Đại tá Nguyễn Kim Hùng – Phó Chủ nhiệm Chính trị Binh chủng; Thượng tá Phùng Quang Thanh – Phó Lữ đoàn trưởng Quân sự Lữ đoàn 205; Đại tá Nguyễn Minh Huấn – Trưởng ban liên lạc Hội truyền thống Cục Hậu cần - Kỹ thuật; Đại tá Hồ Thanh Long – Phó Trưởng ban liên lạc Hội truyền thống Lữ đoàn 205; các đồng chí nguyên là chỉ huy, lãnh đạo Cục Hậu cần qua các thời kỳ, các đồng chí trong Ban liên lạc Cơ quan Hậu cần, Ban liên lạc Cục Hậu cần - Kỹ thuật cùng gần 100 hội viên Hội truyền thống Cơ quan Hậu cần Binh chủng cũng về dự gặp mặt đông đủ.

Đồng chí Dương Lâm điều hành buổi Gặp mặt.

Đồng chí Trưởng ban liên lạc đã ôn lại lịch sử truyền thống và những thành tích vẻ vang của Cơ quan Hậu cầu Binh chủng. Theo đó, ngày 19/11/1966 trước sự phát triển của nhiệm vụ chính trị và tổ chức lực lượng thông tin, Cục Thông tin liên lạc (tiền thân của Bộ tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc) đã quyết định thành lập Phòng Hậu cần. Phòng Hậu cần có chức năng tham mưu, chỉ đạo và thực hiện công tác hậu cần của Cục Thông tin liên lạc, đáp ứng yêu cầu đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong điều kiện chiến tranh ngày càng ác liệt. Ngay sau khi thành lập, Phòng Hậu cần (sau này là Cục Hậu cần) đã được kiện toàn tổ chức, biên chế; kịp thời tổ chức khai thác, vận chuyển một khối lượng lớn cơ sở vật chất bảo đảm cho nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng Cục Thông tin liên lạc (sau này là Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc). Trong những năm tháng chiến đấu ác liệt đó, lực lượng hậu cần của Binh chủng Thông tin liên lạc đã dũng cảm, mưu trí, vươn sâu vào các chiến trường, xây dựng hệ thống kho tàng, đặt hàng, vận chuyển hàng vạn tấn vật chất kỹ thuật hậu cần; đưa hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ thông tin từ miền Bắc chi viện cho các chiến trường miền Nam. Đồng thời trực tiếp tham gia xây dựng các tuyến dây trần, các trạm tiếp sức xuyên Trường Sơn, góp phần bảo đảm thông tin liên lạc “kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn”, góp phần vào chiến thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc...

Toàn cảnh buổi Gặp mặt.

Trong quá trình phục vụ, đã có không ít những mất mát, hy sinh, chưa kể các đồng chí thương, bệnh binh, toàn ngành đã có 25 liệt sỹ. Riêng trong thời gian chống Mỹ đã có 24 đồng chí ngã xuống trên khắp các chiến trường, máu xương của các đồng chí ấy đã tô thắm thêm ngọn cờ bách chiến, bách thắng của quân đội ta, tô thắm trang sử hào hùng của dân tộc và trang sử vàng truyền thống của Binh chủng Thông tin Anh hùng. Máu đào của các liệt sỹ là ngọn lửa thiêng soi sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Những năm qua, cán bộ, chiến sĩ đơn vị tiếp tục phát huy truyền thống tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Bước vào giai đoạn đổi mới, xây dựng quân đội chính quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại, các thế hệ cán bộ nhân viên hậu cần tiếp tục giữ vững bản lĩnh chính trị, đoàn kết, trách nhiệm động thời phát huy truyền thống tốt đẹp, “Trung thành - tận tụy - sáng tạo” vượt lên khó khăn, thử thách hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Nhiều nhân tố mới xuất hiện trong phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, nhiều sáng kiến, cải tiến kĩ thuật mang lại hiệu quả thiết thực trên cả ba mặt: bảo đảm, quản lý và xây dựng ngành; có sáng kiến đã được nhân rộng trong toàn quân. Nhiều tập thể cá nhân đã được Đảng, Nhà nước, Quân đội tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý, góp phần quan trọng xây dựng Binh chủng Thông tin liên lạc trưởng thành, vững mạnh, xứng đáng là đơn vị Anh hùng trong chiến tranh giải phóng dân tộc và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Với những thành tích đã đạt được, Cục Hậu cần Binh chủng đã vinh dự được Đảng, Nhà nước, Quân đội tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Cờ thi đua của Chính phủ, Cờ thi đua của Bộ Quốc phòng và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Dù ở bất cứ cương vị nào, khi trở về với đời thường, hầu hết các đồng chí cán bộ, nhân viên Hậu cần vẫn luôn phát huy phẩm chất bộ đội cụ Hồ, sống tình nghĩa, thủy chung, tích cực tham gia các hoạt động xã hội trên địa bàn chung cư, luôn là tấm gương sáng cho con cháu noi theo.

Thay mặt Ban liên lạc Hội truyền thống Cơ quan Hậu cần, đồng chí Trưởng ban bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thế hệ lãnh đạo, chỉ huy Binh chủng, các cơ quan nghiệp vụ cấp trên, các đơn vị trong và ngoài Binh chủng, các địa phương nơi đóng quân, cùng toàn thể cán bộ nhân viên Hậu cần qua các thời kỳ, các hội viên, Hội truyền thống và cựu chiến binh đã luôn luôn quan tâm, gắn bó và đồng hành cùng với Hội truyền thống của cơ quan trong suốt thời gian qua.

Phát biểu với các đại biểu tại buổi Gặp mặt, đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị – Chính ủy Binh chủng bày tỏ sự vui mừng và trân trọng cảm ơn các đại biểu hội viên Cơ quan Hậu cần Binh chủng đã luôn ủng hộ, giúp đỡ và cống hiến xây dựng Binh chủng trong suốt 59 năm qua. Đồng thời, đồng chí  Chỉnh ủy cũng thông tin với các đại biểu về một số hoạt động chính của Binh chủng trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là tổ chức thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ Binh chủng lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2025-2030, các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9, 80 năm Truyền thống Bộ đội TTLL (9/9/1945 – 9/9/2025) cũng như tích cực chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo, kịp thời tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, ban hành “Chiến lược phát triển hệ thống TTLL quân sự giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; quy hoạch, chuyển đổi công nghệ, xây dựng, phát triển hệ thống TTLL quân sự hiện đại, vững chắc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và phục vụ nhiệm vụ phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ điện tử trong Quân đội...

Đ/c Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị - Chính ủy Binh chủng phát biểu. 

Buổi Gặp mặt còn được nghe đồng chí Đại tá Nguyễn Minh Huấn – Trưởng ban liên lạc Hội truyền thống Cục Hậu cần – Kỹ thuật phổ biến những nét chính của Quy chế hoạt động của Hội truyền thống Cục Hậu cần – Kỹ thuật, đặc biệt là các nội dung liên quan đến công tác chính sách, công tác tài chính... trong thời gian tới.

Đ/c Nguyễn Minh Huấn - Trưởng ban liên lạc Hội truyền thống Cục Hậu cần - Kỹ thuật phát biểu.

Xúc động được gặp lại các đồng đội cũ, đồng chí nguyên Cục trưởng Cục Hậu cần Đại tá Nguyễn Hữu Cố đã có bài thơ tặng các hội viên nhân dịp hai hội truyền thống Hậu cần và Kỹ thuật về “chung một nhà”:

Sông biển nào rộng bằng tình đồng chí chúng ta

Núi non cao nào cao bằng tình đồng chí chúng ta

Ca lên bài ca tình đồng chí đẹp hơn núi sông

Tình đồng chí sắt son muôn đời.

Đ/c Nguyễn Hữu Cố - nguyên Cục trưởng Cục Hậu cần phát biểu.

Theo thông lệ, buổi Gặp mặt còn được dự và chứng kiến lễ mừng thọ cho 14 hội viên từ 70 đến 95 tuổi.

Một số hình ảnh buổi gặp mặt:

Đ/c Chính ủy tặng hoa cho Hội truyền thống Cơ quan Hậu cần.

Đ/c Cục trưởng Cục Hậu cần - Kỹ thuật tặng hoa cho Hội truyền thống Cơ quan Hậu cần.

Đ/c Phó Lữ đoàn trưởng QS L205 tặng hoa cho Hội truyền thống Cơ quan Hậu cần.
Mừng thọ cho các hội viên.

Hội truyền thống tri ân các đ/c trong Ban liên lạc rút ra nghỉ công tác Hội.




Một số tiết mục văn nghệ chào mừng buổi Gặp mặt.

Đ/c Trưởng ban liên lạc tặng hoa đội văn nghệ.




Các đại biểu tại buổi Gặp mặt.
Tin, ảnh: Quang Hưng