30.11.24

Nhớ mãi về những năm tháng ấy

Đại tá Huỳnh Xuân Mai - nguyên Phó giám đốc TTTT KHKTQS Bộ Tổng tham mưu

Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, tháng 7 năm 1954, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc, đất nước Việt Nam tạm chia thành hai miền Bắc - Nam, lấy vĩ tuyến 17 là ranh giới tạm thời. Sau hai năm sẽ hiệp thương, tuyển cử thống nhất đất nước...

Nhưng ngay từ ngày đầu, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ bán nước đã ra sức phá hoại hiệp định, nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân kiểu mới.

Từ cuộc đấu tranh cách mạng, Đảng ta, Bác Hồ, hiểu rất rõ âm mưu thâm độc, xảo quyệt của kẻ thù, nên đã sớm xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam sau năm 1954, là xây dựng miền Bắc vững mạnh toàn diện - hậu phương lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, miền Nam tiền tuyến lớn của cả nước.

Để chuẩn bị lực lượng, thực hiện hai nhiệm vụ trên, Bác Hồ và Đảng ta đã chỉ đạo, chọn đưa lực lượng bộ đội, một số cán bộ, con em các gia đình có công với cách mạng tập kết ra Bắc để công tác, nuôi dưỡng, học tập, đào tạo... coi đây là hạt giống đỏ, nguồn vốn quý vô giá của cách mạng, có khả năng phục vụ lâu dài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Theo tôi, nhận thức sâu sắc rằng việc thành lập các trường học sinh miền Nam với mục đích đã nêu trên và trường văn hóa quân đội ta, nhằm nâng cao trình độ văn hóa, kiến thức khoa học kỹ thuật quân sự cho cán bộ chỉ huy, lãnh đạo quân đội trong giai đoạn cách mạng mới là một chủ trương chiến lược của Bác Hồ.

Người có tầm nhìn xa, trông rộng, hiểu rõ các bước phát triển sắp đến, dự đoán những khó khăn phức tạp của mạng Việt Nam sau này.

Sau khi tập kết ra Bắc, tôi và một số cán bộ, bộ đội miền Nam được tuyển chọn, chuyển từ Thanh Hóa ra Hà Nội rồi đến học tập bổ túc văn hóa tại Trường văn hóa quân đội Kiến An - Hải Phòng. Đầu tháng 8 năm 1956, đoàn học viên quân đội gồm 80 cán bộ, được Bộ Quốc phòng cử sang Liên Xô học tập tại nhiều học viện quân sự khác nhau, do đồng chí Đàm Quang Trung làm trưởng đoàn, đồng chí Lê Tự đồng làm phó đoàn, phụ trách chính trị. Đến Mạc Tư Khoa, đoàn tách ra nhiều đoàn nhỏ mang tính chuyên ngành, phải di chuyển về nơi mình sẽ học tập.

Riêng đoàn cán bộ thông tin, 11 người có các anh: Phạm Niên, Phan Hoan, Đào Phố, Kiều Kim Sơn, Nguyễn Chỉnh, Phạm Hiệu, Hoàng Phụng Ngọc, Huỳnh Xuân Mai, Lê Trung Kiên và Đinh Văn Định do anh Hoàng Niệm làm trưởng đoàn, đáp chuyến tàu lửa cao tốc về học viện Hàn Lâm Thông tin liên lạc ở thành phố Lê-nin-grát.

Tại đây, chúng tôi được đón tiếp rất chân tình, niềm nở như người nhà và được bố trí tại một ký túc xá rộng lớn, sẽ học tập cùng với nhiều đoàn sĩ quan các nước bạn như: An-ba-ni, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bun-ga-ri, Hung-ga-ri, Ru-ma-ni, Trung Quốc, Mông Cổ, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên...

Vào những ngày tháng năm đầu, chúng tôi học tập rất vất vả, nhất là phải nghe, nói, viết, đọc hoàn toàn bằng tiếng Nga, không có phiên dịch và từ điển tra cứu. Nhưng nhờ phương pháp giảng dạy đặc biệt với kinh nghiệm tích lũy nhiều năm của các thầy cô giáo Nga, cho đến hết năm dự bị đại học, chúng tôi mới có thể tiếp thu tương đối hoàn chỉnh.

Đây là những công lao đầu tiên của thầy cô giáo Nga, vì không có các thầy cô truyền thụ cho chúng tôi môn ngoại ngữ - Nga văn là những kiến thức văn hóa cơ bản ban đầu thì làm sao chúng tôi có thể học lên cao được.

Chúng tôi vô cùng mang ơn các thầy cô về công lao đầy tình nghĩa ấy, đặc biệt là thầy đại tá Mar-cốp, có khuôn mặt hiền từ, đôi mắt to và sáng, phụ trách hướng dẫn chúng tôi học tập điều lệnh, lên kế hoạch cho chúng tôi đi tham quan những danh lam thắng cảnh như bảo tàng, cung điện mùa đông, mùa hè, xem ca nhạc tại các nhà hát lón, v.v...

Ở đây chúng tôi tận mắt thấy được những công trình kiến trúc, điêu khắc nghệ thuật tuyệt vời vô giá của nhân loại... Không sao quên được công ơn của cô giáo Nga Va-lư-scô-ca, Trút-xa-nô-va và nhất là bà mẹ Va-xi-lev-ka-ia, chuyên dạy môn hóa - Bà lên lớp không dùng giáo án, bài giảng ngắn gọn, dễ hiểu, kết quả học tập cao. Bà phúc hậu nhân từ, chồng hy sinh trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại.

Chúng tôi đến thăm căn phòng của bà, tưởng một biệt thự to lớn, nhưng không, nó đơn sơ, giản dị như phong cách của bà. Chúng tôi gọi bà là Mẹ, vì bà hết lòng chăm lo học hành, sức khỏe không những đối với học sinh quân sự chúng tôi mà cho cả các em sinh viên học tập ở các trường đại học trong thành phố. Ai ốm đau, có khó khăn là bà đến thăm, mang quà tặng, động viên để bệnh tình chóng hồi phục.

 Chúng tôi thật sự bị choáng ngợp, xúc động, bởi hàng trăm sản phẩm thắng cảnh Việt Nam treo quanh tường nhà bà như Hồ Tây, Hồ Gươm, chùa Một Cột, các bức tranh sơn mài khắc họa những nét tinh tuý nhất của tâm hồn Việt Nam.

Đã gần hai năm xa Tổ quốc, nhớ quê hương da diết, thì chúng tôi nhận được thông báo sẽ có đoàn cán bộ cấp cao Chính phủ ta đến thăm các trường quân sự, không chỉ riêng lưu học sinh chúng tôi náo nức vui mừng mà các bạn sĩ quan Liên Xô cũng vậy, rạo rực chờ đợi. Chúng tôi cứ đoán già đoán non đoàn đại biểu do ai dẫn đầu? Phần đông phỏng đoán chắc đoàn của Bộ Ngoại giao hay Bộ Quốc phòng đến thăm.

Một buổi sáng hôm ấy đúng vào ngày 16 tháng 8 năm

1957, chúng tôi tập trung tại bán đảo Pê-trô-pap-lov-ka-ia xinh đẹp đầy thơ mộng, hồi hộp chờ đợi. Bỗng thấy một đoàn xe từ từ tiến vào cổng, chiếc xe đi đầu dừng lại, thật bất ngờ thấy Bác Hồ tự mở cửa xe bước xuống và nhanh chân, tươi cười đến chỗ chúng tôi.

Có ai đó nhận ra, kêu to: Bác Hồ! Bác Hồ! Tiếng vỗ tay vang lên nhiều lần, theo sau Bác là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - Bộ trưởng Bộ Y tế.

Chúng tôi reo lên và đến vây lấy Bác. Bác ra hiệu cho chúng tôi trật tự và đưa mắt trìu mến nhìn chúng tôi thật xúc động! Lúc này các cô giáo Nga cũng đã đến. Mọi người tặng hoa, chúc sức khoẻ Bác, Bác tươi cười cảm ơn bằng tiếng Nga.

Bác hỏi bà Ta-ma-ra-phê-đô-rov-na dạy Nga văn về việc học tập tiếng Nga của chúng tôi và cảm ơn các thầy cô đã dạy dỗ học sinh Việt Nam. Chúng tôi vô cùng xúc động và có cảm tưởng như Bác là người cha đến thăm con cháu ở nơi xa! Bác bận trăm công, ngàn việc, Bác vẫn quan tâm đến việc học hành của chúng tôi, Bác quay lại nói chuyện với chúng tôi.

Thật bất ngờ Bác hỏi cháu nào là người miền Nam ở đây? Tất cả lặng đi vì xúc động. Ở cách xa Tổ quốc hàng vạn dặm, vậy mà Bác vẫn nhớ đến miền Nam! Người luôn luôn dành cho miền Nam tình cảm đặc biệt. Mấy anh bạn giục tôi thưa với Bác đi, thân hình tôi quá thấp, ít tuổi nhất, lại đứng sau cùng, chỉ thấy được tay Bác giơ lên vẫy gọi. Tôi lách người theo anh bảo vệ mở lối chạy lên:

- Thưa Bác, cháu là người miền Nam ạ!

- Cháu lên đây với Bác.

Tôi ngập ngừng, Bác nói:

- Cháu lên đây ngồi gần vào Bác nào?

Tôi đến bên Bác, Bác choàng tay, ôm lấy tôi, xoa đầu tôi, nhìn tôi mỉm cười, tôi ngồi bên cạnh Bác, cảm thấy sướng vui không sao kể xiết. Tất cả im lặng, chờ đợi. Bác hỏi các cháu khỏe không? Có chịu đựng được cái rét dưới âm độ không? Công tác, học tập có tốt không? Mọi người không ai bảo ai, đồng loạt trả lời, thưa Bác có ạ!

Riêng tôi, Bác dặn:

- Là người miền Nam, cháu phải học thật giỏi để xứng đáng với quê hương ruột thịt.

Tôi xúc động, không nói nên lời!

Bác nói chuyện với tất cả học viên:

Nhân dịp Bác và chú Phạm Ngọc Thạch sang thăm Liên Xô, Bác ghé thăm các cháu, biết các cháu học tập tốt, Bác rất mừng. Bằng giọng ấm áp trìu mến, Bác nói ngắn gọn về tình hình trong nước, về công cuộc xây dựng miền Bắc và giọng Bác nghẹn ngào, khi nói đến miền Nam, về sự tàn bạo của Mỹ - Diệm. Chúng khủng bố, đàn áp, bắn giết, bỏ tù những người kháng chiến cũ, những người đấu tranh anh dũng, đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi hiệp thương...

Bác dặn: Các cháu phải biết nén đau thương, biến nó thành sức mạnh, hãy cố gắng công tác, học tập thật giỏi, chấp hành tốt các quy định, nội quy của Nhà nước và luật pháp của nước bạn. Sau này học xong, các cháu trở về nước góp phần xây dựng tiềm lực kinh tế, quốc phòng ở miền Bắc và vào miền Nam chiến đấu giải phóng quê hương - đồng bào miền Nam ruột thịt. Chúng tôi lắng nghe như nuốt từng lời Bác dạy. Khi Bác ra về, chúng tôi vẫn đứng lặng tại chỗ như vừa trải qua một giấc mơ tuyệt vời, hạnh phúc, vinh dự biết bao.

Bà giáo Nga văn nói với chúng tôi:

- Trong đời tôi, hôm nay là ngày đẹp nhất, vinh dự nhất, Bác Hồ vĩ đại mà sao giản dị đến thế!

Sau ngày Bác đến thăm, toàn học viện dấy lên một tinh thần học tập sôi nổi, nhiều người đạt loại giỏi.

Tốt nghiệp, chúng tôi về Tổ quốc và lần lượt vào Nam chiến đấu đến trận đánh cuối cùng, mang tên chiến dịch Buôn Ma Thuột và chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Tây Nguyên, giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đây là niềm vinh dự, tự hào, vì chúng tôi đã thực hiện đúng lời Bác Hồ dặn.

Đã gần 50 năm rồi, nhưng lần được gặp Bác mãi mãi ghi nhớ trong trái tim tôi.

Nhìn lại những năm chiến đấu chống Pháp rồi chống Mỹ, cứu nước ở chiến trường miền Nam giải phóng quê hương thống nhất Tổ quốc, đến ngày nghỉ hưu, tham gia công tác xã hội, xây dựng địa phương, trên cương vị nào, bất cứ ở đâu, thì kỷ niệm sâu sắc lần gặp Bác mùa thu năm ấy, luôn là động lực thúc đẩy tôi hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao để xứng đáng hơn nữa là con cháu Bác Hồ muốn vàn kính yêu nói chung và người lính thông tin nói riêng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”)

Nữ chiến sĩ thông tin

Võ Tấn Đường

Tôi muốn kể lại vài mẩu chuyện nhỏ về tinh thần trách nhiệm với đồng đội, tinh thần dũng cảm và sự hy sinh của nữ chiến sĩ thông tin trên tuyến đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ.

Chuyện các nữ chiến sĩ thông tin đi sửa dây và ngủ qua đêm ở giữa rừng, nơi nhiều bom đạn, thú và biệt kích...

Một đêm tháng 12 năm 1971 đầu mùa khô năm 1972, mùa vận chuyển của Bộ tư lệnh Trường Sơn. Hôm đó địch đánh phá ác liệt. Các đường dây thông tin bị hỏng nặng. Tất cả anh em phải đi khôi phục dây trên đường. Lúc 18 giờ, một đường dây quan trọng để chỉ huy các đoàn xe vượt ngầm và chỉ huy các lực lượng cao xạ đánh địch bị đứt, tình huống quá khẩn trương, nhưng các chiến sĩ nam đã đi vắng cả, cán bộ đang phân vân, thì có hai nữ chiến sĩ cơ vụ tình nguyện xin đi, tinh thần quyết tâm cao nên cán bộ chấp nhận (đó là nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Thái quê Vân Đình, Hà Đông và Vũ Thị Mạo quê Ba Vì, Sơn Tây). Ở nhà ngóng chờ đến 21 giờ đường dây thông liên lạc, mọi người thở phào... Sau đó hai cô gọi về nói trời tối quá, xin ngủ ở rừng sáng mai về sớm. Hai cô sinh năm 1953, nghĩa là mới rời ghế nhà trường thì vào chiến trường, song tinh thần có thua kém gì nam giới (ai bảo nữ nhi chân yếu tay mềm). Hai cô bây giờ chắc chắn đã làm chức mẹ, chức bà và chắc đang công tác ở một cơ quan hay xí nghiệp nào đó của Hà Tây hay Hà Nội... Qua đây tôi xin có lời chúc sức khỏe cả gia đình và mong hai cô nhớ lại cái đêm ấy ở chiến trường năm xưa kể cho con cháu nó nghe tinh thần dũng cảm của mẹ nó, bà nó nhé.

Hành động thể hiện tinh thần đồng đội lúc gay go quyết liệt

Hôm ấy ngày 26 tháng 3 năm 1969, địch đánh B52 vào chỉ huy sở Tiểu đoàn 36 và hai đại đội (2 và 5) thông tin. Lúc ấy khoảng 4 giờ 30 phút bộ đội đang ngủ, loạt đầu năm chiếc đánh vào đơn vị bạn cách đó 400 mét, tiếng bom nổ rung đất, cả đơn vị tỉnh dậy chạy xuống hầm. Loạt bom đầu chấm dứt, kinh nghiệm chiến trường biết địch sẽ đánh tiếp, cố ngăn không cho anh em rời hầm. Nhưng một số đồng chí quá lo lắng cho đơn vị bạn, muốn đi cấp cứu và khôi phục đường dây... trong số đó có hai đồng chí nữ y tá đeo túi thuốc chạy ra khỏi hầm, ngăn chặn không kịp nên đã hy sinh... đó là cô Lừng (không nhớ họ) quê Kim Sơn, Ninh Bình y tá Đại đội 2 và cô Kiều Thị Thanh quê Hưng Yên y tá tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 36. Các cô vừa ra khỏi hầm thì tốp B52 thứ hai cùng 5 chiếc rải thảm vào chỉ huy sở Tiểu đoàn 36 và Đại đội 2, Đại đội 5 làm hy sinh 7 đồng chí và 1 bị thương. Trong 7 đồng chí hy sinh, thương tâm nhất là 2 nữ y tá. Cô Lừng thi thể chỉ gom được vài đoạn, cô Thanh thì bom ném đi xa 50 m thân thể còn nhưng mềm nhũn như người không có xương: sự hy sinh của 2 cô y tá xuất phát từ tinh thần đồng đội rất đáng khâm phục.

(Địa điểm xảy ra gần Bản Na-po, huyện Ché-po-ne tỉnh Xa-va-na-khét (Hạ Lào)... Các đồng chí thương vong gồm:

1. Đồng chí Tương thiếu úy (quê ở Hà Đông).

2. Đồng chí Hiến, thượng sĩ (quê Diễn Châu, Nghệ An).

3. Nữ đồng chí Tứ (quê Thạch Hà, Hà Tĩnh).

4. Nữ đồng chí Lừng y tá (quê Kim Sơn, Ninh Bình).

5. Nữ đồng chí Kiều Thị Thanh y tá (quê Hưng Yên).

6. Hai đồng chí nam không nhớ tên.

Nữ đồng chí Chỉ, bị thương quê Ninh Bình

Qua trang giấy này chúng ta dâng một nén hương tượng trưng để tưởng nhớ linh hồn các đồng chí.

Lời nhắn cuối cùng

Một trường hợp hy sinh để lại lời nhắn nhủ ghi đậm trong tôi. Hôm nay xin nói lại để chúng ta cùng nghe, may ra có ai đó là người nhà thân quen càng tốt, chuyển lời nhắn cuối cùng cho gia đình. Khoảng tháng 4 năm 1969, địch đánh bom tọa độ vào chỉ huy sở Binh trạm 33/BTL 559 tại cao điểm 520 gần Bản Khốc, huyện Mường Phìn, tỉnh Xa-va-na-khét Hạ Lào (đơn vị hy sinh 6 đồng chí trong đó có 2 đồng chí nữ thông tin đang trực tổng đài (Nguyễn Thị Áng quê thị xã Ninh Bình, đồng chí Nhượng quê Hưng Yên). Cả hai đều nhập ngũ năm 1965. Cô Áng người to khỏe lại hát hay. Lúc tôi làm chủ nhiệm thông tin BT33, vào các mùa khô, tuyên huấn thường trưng dụng Áng đi hát dọc đường để động viên lái xe. Thời gian đó có một đại đội trưởng lái xe rất yêu cô. Áng cũng ngầm yêu đồng chí ấy. Kết thúc mùa khô 1967-1968, vì thiếu gạo, cấp trên cho một bộ phận ra Quảng Bình. Thấy cô Áng công tác tích cực, là tiểu đội trưởng tổng đài và cũng biết đồng chí lái xe yêu cô nên tôi có nhã ý cho cô ra Quảng Bình, tạo điều kiện cho cô xây dựng gia đình. Nhưng cô Áng nhất nhất không chịu đi. Cô tình nguyện ở lại. Cô nói: "Em nhường cho chị em khác. Mình còn sức phục vụ được nhiều càng tốt chứ sao, còn việc chồng con đợi hòa bình sẽ hay!...".

Đầu tháng 4 năm 1969, một đêm đang trực, cô biết tôi cũng đang trực trên đoàn nên cô gọi điện và nói với tôi rằng: "Tổng đài có nuôi được mấy con gà, mời thủ trưởng kết thúc mùa khô xuống chơi liên hoan. Nhân đó, nhờ thủ trưởng một việc nhỏ". Tôi hỏi "Việc gì mà quan trọng vậy?". Cô nói "Không giấu gì thủ trưởng, mấy năm vào Trường Sơn, em có dành dụm được 8, 9 trăm đồng tiền Trường Sơn. Em có đứa em gái tên là Sơn, ở nhà em thương nó lắm, gửi thủ trưởng nếu sắp tới có ra đổi hộ tiền Bắc và đưa hộ cho nó...". Lúc ấy tôi ở cách BT33 sáu giờ đi đường nên đâu có xuống được nên không dám hứa... Không ngờ, chưa kết thúc mùa khô cô Áng đã hy sinh... Chẳng rõ sau khi hy sinh, các vật kỷ niệm của cô có đến được gia đình như ước nguyện?...

Năm tháng cứ trôi đi, dĩ vãng cũng ngày càng xa tắp. Nhớ về những năm tháng ở Trường Sơn, tôi thầm mong điều ước muốn của Áng đã đạt được...

Cô gái Thái Bình (Chuyện về ba cô gái Thái Bình đã hy sinh ở chiến trường)

Khoảng tháng 8 năm 1974, tại khu vực ngầm Sé-la-mâng thuộc huyện Mường Noòng, tỉnh Xa-va-na-khét (Hạ Lào). Hôm ấy, đơn vị cho anh em sửa chữa lán trại. Ba cô gái chiến sĩ thông tin làm nhiệm vụ sửa chữa hầm cơ vụ. Đang đào, chẳng may trúng bom, bom nổ, cả ba cô đã hy sinh. Ba cô gái đó là: Cô Thắng, cô Thắm và cô Thí. Ba cô cùng quê Đông Hưng, Thái Bình. Cô Thắm và cô Thí do vết thương trúng chỗ hiểm, các cô khát nước quá xin uống. Anh em biết hai cô đã bị chảy máu trong, bác sĩ bảo không được uống nước để còn cấp cứu, nhưng chỉ một lát sau, vì máu ra nhiều quá nên hai cô lịm dần. Riêng cô Nguyễn Thị Thắng người to lớn rất khỏe, chị em đỡ ngồi dậy, cô rất tỉnh táo và thanh thản nói "Thủ trưởng và các chị ơi, chắc em chết mất. Em chết cũng chẳng ân hận gì, chỉ thương cha mẹ và gia đình em chắc buồn lắm. Các chị và thủ trưởng nhớ động viên gia đình hộ em. Em hy sinh vì sự nghiệp độc lập và thống nhất Tổ quốc...". Tôi động viên cô yên tâm, sẽ có xe đưa cô vào bệnh xá, các bác sĩ sẽ cứu chữa cho Thắng... Nói vậy, chứ tôi biết cô khó qua khỏi vì vết thương quá nặng, suốt hai bắp chân, hai đầu gối, hai bắp đùi và ở bụng có đến mấy chục viên bị găm sâu vào cơ thể. Cô tỉnh vì sức cô rất khỏe và các vết thương chưa phát tán. Quả thật vậy, khi đưa vào bệnh xá, các bác sĩ phẫu thuật suốt một buổi chiều và cả đêm hôm đó mà vẫn chưa gắp hết bi ra. Ngày hôm sau lại tiếp tục cấp cứu nhưng đến chiều thì Thắng qua đời. Các bác sĩ vô cùng khâm  phục tinh thần, nghị lực chịu đựng của cô. Các bác sĩ nói, chưa có một thương binh nào bị thương nặng như thế mà không hề kêu la, chỉ thỉnh thoảng rên nhẹ thôi.

Phần mộ ba cô đã được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn (huyện Do Linh, tỉnh Quảng Trị). 30 năm đã trôi qua, song hình ảnh, tấm gương sáng của các cô còn đọng mãi trong tôi và đồng đội của các cô ngày ấy. Tôi muốn dâng nén hương tưởng nhớ linh hồn các cô nơi chín suối.

Lúc ba cô gái đó hy sinh tôi đang là Chủ nhiệm thông tin Sư đoàn 472 thuộc Bộ tư lệnh 559...

Muốn làm chiến sĩ thông tin

Chuyện về nữ chiến sĩ có nguyện vọng tha thiết muốn làm chiến sĩ thông tin nhưng rồi vĩnh viễn không đạt được nguyện vọng. Cô tên Phạm Thị Huệ, quê xã Yên Mạc, huyện Yên Mỗ, tỉnh Ninh Bình. Huệ đã tốt nghiệp phổ thông trung học tình nguyện vào chiến trường năm 1966, hy sinh dũng cảm năm 1968, khi ước nguyện làm một chiến sĩ thông tin của cô chưa thành hiện thực. Tôi nhớ ngày ấy, với nguyện vọng của mình, Huệ đã nhiều lần nhờ tôi can thiệp, tôi coi cô như lính thông tin và xin kể lại vài mẩu chuyện nhỏ về cô để tưởng nhớ lòng mến mộ của cô đối với Binh chủng Thông tin.

Năm 1966, nữ quân nhân được điều động vào Trường Sơn rất đông, chủ yếu là trên tuyến đường 559. Riêng tháng 11 năm 1966, quân lực Binh trạm 33 đã tiếp nhận một đại đội nữ, bổ sung cho thông tin 8 cô. Cô Huệ có nguyện vọng xin vào thông tin ngay từ đầu, song quân lực lại phân công cô Huệ và cô Nhẫn về tài vụ. Cơ quan ở gần thông tin nên các cô thường xuyên liên lạc và thăm viếng nhau, rồi lại thông qua các cô thông tin nhờ can thiệp để được về bộ phận thông tin. Cô Huệ thường nhờ tôi nói giúp. Tôi nói, thông tin rất cần cô, song tài vụ cũng rất cần cô nên tôi không thể can thiệp được. Tôi còn đùa: Làm tài vụ sướng hơn thông tin đấy!... Cô Huệ nói: "Đâu có phải chuyện sướng hay khổ mà là nguyện vọng..". Kết thúc mùa khô năm 1967, biết tin tôi ra Quảng Bình họp, cô qua thăm tôi và gửi một gói quà về nhà gồm hai bộ quần áo quân phục mới, một đôi giầy vải, vài thứ lặt vặt... Cô nói: "Thủ trưởng giúp em một lần, em sẽ nhớ ơn mãi". Tôi hơi ngạc nhiên hỏi: "Các thứ này sao không để lại dùng?". Huệ cười nói: "Không dùng nữa...". Tôi nói vì đi ra gấp và không biết nhà cô. Cô nói em có người anh trai làm việc ở ban kế hoạch tỉnh Ninh Bình. Sơ tán ở huyện Gia Khánh gần thị xã đó thôi. Sau khi ra Quảng Bình, tôi tìm mãi anh cô nhưng không ai biết và cũng không ai chỉ cho tôi có lẽ vì phòng gian bảo mật. Tôi đành đem gửi bưu điện Gia Khánh, chẳng biết sau đó có đến nơi không?

Trở vào chiến trường, cơ quan chuyển đi xa nên tôi không gặp Huệ. Sau đó, qua những người lính thông tin tôi biết Huệ có gửi lời thăm tôi và còn nói có lẽ vĩnh viễn không được làm lính thông tin nữa. Vì Huệ được trên quyết định về làm văn công Đoàn 559. Huệ đã từ chối nhưng không được vì là lệnh của thủ trưởng Vũ Xuân Chiêm, nên cô phải chấp hành...

Bất ngờ không lâu sau đó, tôi lại nghe tin Huệ đã hy sinh khi đang phục vụ bộ đội... Cái tin đó làm tôi ngỡ ngàng và mến tiếc...

Trên nghĩa trang Trường Sơn, có trên một vạn ngôi mộ trải rộng trên ngọn đồi. Trong đó có rất nhiều ngôi mộ của anh chị em lính thông tin Đoàn 559/BTL Trường Sơn...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

26.11.24

Kịp thời

Võ Tấn Đường

Trước hết, tôi xin nói qua vài đặc điểm tuyến đường của Bộ tư lệnh Trường Sơn (559). Nói là đường mòn Hồ Chí Minh nhưng thực tế nó bao gồm các trục đường xuyên suốt dãy Trường Sơn như trục đường 128, 129, 24, 24B, v.v... và các trục đường nhánh, đường ngang rẽ vào các chiến trường B1, B2, B3, B4, B5 và mặt trận C, K, v.v... Do đó, trục đường thông tin cũng phải dựa vào các trục ô tô để xây dựng và bảo đảm liên lạc cho chỉ huy các cấp, vì thế đã là trọng điểm của công binh, lái xe, cao xạ thì cũng là trọng điểm của thông tin không thể nào khác.

Trên tuyến đường Trường Sơn dọc, ngang 16.000 km đường xe ô tô và đi qua hàng trăm trọng điểm với thời gian dài 16 năm (1959-1975), không ai có thể kể hết sự hy sinh gian khổ, cái đói rét ác liệt của bộ đội Trường Sơn, trong đó có cán bộ và chiến sĩ thông tin chúng ta.

 Đây là câu chuyện nhỏ về lòng dũng cảm, óc sáng tạo trong những tình huống cấp bách của anh em lính thông tin. Chuyện xảy ra ở hai trạm canh đường dây tải ba số 64, 65 tại khu trọng điểm "cua ngã ba La Hạp ngầm Sé-la-mâng" (huyện Mường Noòng - tỉnh Sa-va-na-khét Hạ Lào) vào mùa khô 1968-1969. Khu trọng điểm này vừa cua, vừa ngã ba, vừa dốc kết liền với ngầm Sé-la-mâng và là ngã ba nối đường trục 128 với đường ngang rẽ vào mặt trận B4 nên địch rất chú ý. Ban ngày thì máy bay trinh sát gần như thay phiên nhau canh giữ, ban đêm thì pháo sáng trực canh, đánh bom tọa độ, B52 rải dọc trọng điểm dài hàng kilômét do hai trạm 64 và 65 của Đại đội 5 thuộc Tiểu đoàn 36 bám trụ để giữ đường dây vượt trọng điểm và vượt đường ô tô.

Tôi còn nhớ mùa khô 1968 - 1969, hai trạm này đã hy sinh 4 đồng chí và bị thương 3 đồng chí. Biên chế mỗi trạm thường xuyên 4 đồng chí nhưng có đêm không có người trực tại trạm vì liên tục đi nối dây (tiếc thay lâu quá tôi không còn nhớ các tên đồng chí đó). Lúc đó, tôi là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 36, chỉ huy sở cách xa hai trạm đó 80 km, nên ít được tiếp xúc. Và chính đoạn đường nối hai trạm 64 và 65 này mà câu chuyện anh lính thông tin dùng cơ thể mình để nối thông dòng điện bảo đảm liên lạc cho chỉ huy đàm thoại trong giây phút khẩn cấp lúc bấy giờ.

Câu chuyện đó vẫn còn dư âm đến ngày hôm nay mà đồng chí Trịnh Đình Chung lữ trưởng, Lữ đoàn 596 có nhắc lại nhân cuộc họp mặt kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Lữ đoàn 596 tháng 1 năm 2003. Diễn biến câu chuyện như sau:

Hôm đó vào khoảng 24 giờ 30 phút một đêm tháng 1 năm 1969, tôi đang trực ở chỉ huy sở, tiểu đoàn có điện thoại của đồng chí Doãn, chính trị viên Đại đội 5 gọi đến báo đoạn dây 64, 65 bị B52 vừa đánh đứt, hư hỏng nặng, mất liên lạc toàn đường trục, hiện anh em đang khôi phục. Tôi dặn đồng chí Doãn bảo anh em chú ý cảnh giác và ẩn nấp kịp thời vì B52 thường cách nhau 15 phút, coi chừng hy sinh hết thì gay go lắm. Tôi vừa đặt máy thì điện thoại trực ban Cục Tác chiến Đoàn 559 lại gọi đến thông báo có việc gấp cần liên lạc với Binh trạm 35, bằng mọi giá phải khôi phục đường dây. Tôi bí quá liền bảo cơ vụ nối máy liên lạc cho tôi gặp đồng chí trực dây ở trạm 64 hoặc anh em đang khôi phục dây trên đoạn đường 64, 65. May quá, tôi gặp được cả hai đồng chí đó. Tôi nói ở Cục Tác chiến có tin hỏa tốc cần liên lạc với Binh trạm 35 tìm cách khôi phục gấp. Hai đồng chí thông tin nói dây hư hỏng nhiều quá, dây mang theo không đủ, hiện còn cách một mét, anh em đang đi tháo các điểm dự phòng để nối. Tôi nói các anh ở trên giục lắm, các cậu cố gắng càng nhanh càng tốt. Một đồng chí ở đầu dây nói: Thủ trưởng yên tâm, tôi sẽ khắc phục ngay tức khắc. Một đồng chí đưa hai tay nắm hai đầu dây nối liền dòng điện để liên lạc. Sau khi cấp trên đàm thoại xong tôi hỏi đồng chí Doãn sao khôi phục nhanh vậy? Đồng chí Doãn mới nói lại câu chuyện xử lý của anh em. Tôi vô cùng xúc động. Tinh thần sáng tạo, dũng cảm của hai đồng chí thông tin hôm đó đã được tôi báo cáo ngay lên trên để kịp thời khen thưởng.

Hôm nay nhớ lại bao hy sinh của các thế hệ đi trước lòng tôi cảm thấy bùi ngùi và thương nhớ. Có dịp chúng ta đi thăm nghĩa trang Điện Biên Phủ, nghĩa trang Đường 9, nghĩa trang Trường Sơn,... chúng ta mới thật sự thấm thía sự hy sinh của cả dân tộc để đổi lấy cuộc sống bình yên hôm nay.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”)

Thông tin Chiến dịch Bắc Tây Nguyên (tháng 1 năm 1954)

Võ Tấn Đường

Cuộc chiến tranh chống Pháp vào giai đoạn 1953-1954, giai đoạn tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Đế quốc Mỹ viện trợ tối đa cho quân Pháp và còn cử đại tướng Na-va sang làm tổng chỉ huy ở chiến trường Đông Dương, với quyết tâm trong vòng mười tám tháng sẽ giải quyết xong mục đích cuộc chiến tranh.

Ở miền Bắc nước ta, quân Pháp đổ bộ xuống Điện Biên Phủ. Còn ở miền Nam thì chúng mở rộng phạm vi đồn bốt chiếm đóng. Tại Liên khu 5, Na-va tập trung gần bốn mươi tiểu đoàn để mở chiến dịch Át-lăng nhằm thôn tính bốn tỉnh vùng tự do Liên khu 5 (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) của ta.

Đầu tháng 1 năm 1954, địch cho hai mươi tiểu đoàn đánh chiếm tỉnh Phú Yên và đổ bộ lên thành phố Quy Nhơn (Bình Định).

Lúc này, Bộ tư lệnh Liên khu 5 âm thầm tập trung lực lượng. Hai trung đoàn chủ lực, sau đó phát triển thành ba trung đoàn kết hợp với các trung đoàn địa phương các tỉnh Tây Nguyên mở chiến dịch bắc Tây Nguyên xa hậu phương. Ở các tỉnh đồng bằng thì tập trung các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân du kích từng bước ngăn chặn quân địch...

Sau nhiều ngày đêm hành quân, đêm 26 tháng 1 năm 1954, ta bất ngờ đồng loạt tiến đánh bốn căn cứ địch (Măng Đen, Măng Bút, Đắk Tô, Kam Rẫy) giành toàn thắng. Đặc biệt căn cứ Măng Đen là căn cứ cấp tiểu đoàn, địch bố phòng vô cùng kiên cố. Chúng huênh hoang tuyên bố "bao giờ rừng Tây Nguyên hết lá, nước chảy ngược thì đồn Măng Đen mới thất thủ"...

Các trận đánh của ta vào tháng 1 năm 1954, đã giải phóng gần hết các tỉnh Kon Tum và tiếp tục phát triển đánh các cứ điểm thuộc tỉnh Gia Lai.

Đồn Đắk Đoa (huyện Đắk Đoa, Gia Lai) do một đại đội Âu Phi (thuộc binh đoàn 100) mới điều động từ Triều Tiên về chốt giữ. Trước đó, chúng ta đã tiến đánh hai lần vào đồn này nhưng đều thất bại.

 Lực lượng đánh đồn do Trung đoàn 803 đảm nhiệm. Đồng chí Thái làm chính ủy, đồng chí Phan Hàm làm trung đoàn trưởng. Đồng chí Hà Vi Tùng trung đoàn phó (có nhiệm vụ tiêu diệt trận địa pháo của địch để yểm trợ lực lượng tấn công đồn). Trận đánh bắt đầu khoảng 20 giờ 30, bộ đôi bí mật triển khai đội hình phá hàng rào thép gai vòng ngoài nhưng bị lộ bí mật nên phải tiến đánh bằng cường kích. Với sự kháng cự rất mãnh liệt của địch, sự chi viện tập trung bằng pháo binh tầm xa xung quanh đồn, gây thương vong cho ta rất nặng nề, chỉ huy sở trung đoàn cũng bị đạn pháo. Mạng thông tin đi các tiểu đoàn hư hỏng nặng, chiến sĩ thông tin bị thương khá nhiều... Trước tình hình ấy, đồng chí Thái chính ủy có ý định cho lực lượng rút lui, song qua điện thoại đồng chí Nguyễn Chánh chính ủy liên khu kiên quyết ra lệnh cho đồng chí Phan Hàm trung đoàn trưởng phải nhanh chóng củng cố và tổ chức lại lực lượng, khôi phục chỉ huy và quyết tâm đánh cho bằng được... (sở dĩ bộ đội thương vong nhiều vì trước khi đánh đồn cán bộ yêu cầu làm công sự chủ yếu chống đạn bắn thẳng trong đồn ra còn pháo binh đã có lực lượng đi đánh trận địa pháo của địch)... (Nhưng đơn vị đồng chí Hà Vi Tùng đi lạc đường không đến được trận địa pháo của địch). Rất may đồn Đắk Đoa nằm trong đồn điền chè và cà phê nên đất xung quanh đồn rất xốp anh em nhanh chóng dùng xẻng, cuốc, tay chân củng cố nhanh công sự nên hạn chế thương vong đáng kể...

Chấp hành mệnh lệnh quân khu, 3 giờ sáng bộ đội tiền nhập vào đồn, bắt toàn bộ tù binh, thu vũ khí. Lúc này, địch gọi phi cơ đến thả pháo sáng và bắn trọng liên xung quanh đồn. Trên lệnh cho bộ đội nhanh chóng thu gom liệt sĩ và thương binh rút ra ngoài, ngày hôm sau sẽ thu dọn sẽ chiến trường... Lực lượng thông tin tham gia trận đánh cấp trung đoàn một đại đội, cấp chiến dịch một trung đội tăng cường hai tiểu đội dân công phụ giúp. Kết quả trận đánh tuy anh em thông tin thương vong nhiều nhưng đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt... Kết thúc trận đánh nhiều cán bộ, chiến sĩ thông tin đã được cấp trên khen thưởng.

Tháng 4-2004

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Thác Đá Nhảy

Trung tá Võ Tấn Đường - nguyên Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 596

Nhân Ngày truyền thống Binh chủng Thông tin, tôi lại nhớ về những chuyện gian khổ, thiếu thốn, ác liệt và sự hy sinh của bộ đội ta. Đặc biệt tôi nhớ tới sự hy sinh của một chiến sĩ thông tin trong thời thời kỳ đầu ta kháng chiến chống Pháp (năm 1947).

Sơ lược nói qua lịch sử đơn vị tôi thời ấy: Năm 1946, 1947 địch phản bội các hiệp định mở rộng chiến tranh ở các chiến trường. Liên khu 5 cũng nằm trong bối cảnh ấy... Trung đoàn tôi phiên hiệu Trung đoàn 68 đổi là 78 rồi 108 rồi 803 vào năm 1950. Tháng 7 năm 1947, trung đoàn được điều động từ Quảng Ngãi ra thay thế Trung đoàn 96 ở mặt trận Đà Nẵng vì Trung đoàn 96 mất sức chiến đấu do thương vong, do sốt rét rừng và bệnh ghẻ lở...

Trung đoàn tôi hồi đó do đồng chí Nguyễn Đôn làm Chính trị viên (đồng chí Nguyễn Đôn sau này là Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Đồng chí Nguyễn Thuận làm Trung đoàn trưởng.

Ở mặt trận đèo Hải Vân - bắc Quảng Nam lúc ấy, trung đoàn có ba tiểu đoàn đóng giữ ở ba mặt trận. Tiểu đoàn 17 biệt hiệu là Tiểu đoàn Cảm tử, giữ mặt trận Ba Khe, phía tây huyện Đại Lộc. Tiểu đoàn 18, biệt hiệu Tiểu đoàn Xung phong) giữ mặt trận Tuý Loan (Hòa Vang). Tiểu đoàn 19, biệt hiệu Tiểu đoàn Xung kích, giữ mặt trận Khe Sơn, Nam Yên, đèo Hải Vân. Trung đoàn bộ đóng ở chiến khu Nguyễn Huệ (huyện Hòa Vang). Khoảng cách từ Trung đoàn bộ đến Tiểu đoàn 17 độ 12 giờ đường rừng; đến Tiểu đoàn 18 độ 7 giờ đường rừng; đến Tiểu đoàn 19 độ 14 giờ đường rừng. Các đường đi vượt nhiều ghềnh thác, nhất là mùa mưa lũ anh em quân bưu, hữu tuyến vô cùng vất vả nhiều lần phải ngủ đêm giữa rừng.

Biên chế thông tin của trung đoàn có một đại đội gọi là đại đội giao thông, thông tin liên lạc, có máy vô tuyến 15W, hữu tuyến, quân bưu. Cuộc sống bộ đội lúc ấy vô cùng khó khăn gian khổ, cơm ăn chỉ gạo hẩm, bữa đói, bữa no, có tuần chỉ ăn toàn măng rừng, rau tàu bay. Bộ đội không có chăn, màn, mỗi người một tấm bao lác hay chiếc bao tải gạo làm chăn chiếu khi nghỉ. Ba lô, nón bằng tre đan, chân đi bằng dép cao su mà bộ đội đa phần đi bộ là phổ biến...

Do quá thiếu dinh dưỡng và chăn, màn nên đa số anh em bị sốt rét, ghẻ lở đầy người không giặt được quần áo. Tuy vậy, mọi công tác sẵn sàng chiến đấu luôn phải cảnh giác. Nhất là bộ đội thông tin có công việc phải quay ragono. Quân bưu phải chạy công văn, dây đứt phải đi nối bất cứ ngày đêm. Những công việc bình thường hàng ngày đó, nhưng có lúc cũng gian khổ ác liệt. Ngoài sự chết chóc do địch gây ra, cái chết của sốt rét rừng, của tai nạn cũng luôn xảy ra. Gian khổ ác liệt như vậy, nhưng tinh thần của người lính vẫn tươi vui, coi nhau như anh em một nhà, sẵn sàng chia nhau vài hơi thuốc, đĩa rau rừng, đêm rét quá ôm nhau cho ấm để ngủ...

Nhớ lại những tháng ấy, tôi không thể quên được anh Nguyễn Thông đã hy sinh, đến bây giờ nghĩ tới tôi vẫn thiết tha nhớ thương vô tận anh ấy. Lúc đầu, chúng tôi cùng một đơn vị và làm quản lý đại đội. Cả hai chúng tôi đều có trình độ tiểu học, nên sau đó cả hai được điều động về làm lính thông tin. Khoảng tháng 11 năm 1947, đường dây đi Tiểu đoàn 17, mặt trận Ba Khe bị đứt, một tổ 3 người gồm có tôi, anh Nguyễn Thông và anh Vũ Tạ quê tỉnh Cao Bằng, được cử đi khôi phục đường dây thông tin.

Chúng tôi đi suốt 5 giờ để tới địa phận chiến khu Nguyễn Nhạc. Lúc vượt thác "Đá nhảy", vì nước quá to nên chúng tôi phải vượt thác bằng cách nhảy từ mỏm đá này qua mỏm đá khác. Chẳng may, anh Nguyễn Thông trượt chân rơi xuống thác và bị nước cuốn mất xác tức thời. Tôi và anh Vũ Tạ không có cách gì cứu kịp vì đoạn thác dài hàng kilômét, toàn đá to như cây rơm, nước chảy sôi sục, cuồn cuộn luồn lách dưới các khối đá...

Anh Nguyễn Thông năm đó mới tròn 18 tuổi. Quê anh ở làng Xuân Hòa, xã Tịnh Hiệp, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

Đến nay, đã 57 năm trôi qua, cuộc sống biết bao thăng trầm, biến đổi, chiến tranh liên miên, rồi chia cắt, rồi hòa bình cả nước thống nhất, nhưng mọi người đều phải lao vào cuộc sống mới, xây dựng đất nước... Tôi chưa có điều kiện ghé thăm quê anh, song mỗi lần nghĩ tới, tôi luôn day dứt, thương tiếc anh, người lính thông tin đã hy sinh vì Tổ quốc mà không có nấm mồ như bao liệt sĩ khác... Và chẳng rõ thân nhân anh có ai còn sống? Gia đình đã được công nhận liệt sĩ chưa? Vì thời ấy công tác thương binh liệt sĩ còn gặp nhiều khó khăn chứ chưa được tổ chức chặt chẽ như bây giờ.

Nhân kỷ niệm Ngày truyền thống 60 năm của Binh chủng Thông tin. Tôi lại kính cẩn dâng nén nhang tưởng niệm linh hồn anh nơi chín suối... và tôi viết kỷ niệm của chúng tôi, với mong muốn, biết đâu đó có người thân của anh đọc được và sẽ biết chi tiết về năm tháng và nơi anh Nguyễn Thông đã hy sinh...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Ký ức tháng tư

Nguyễn Diệp

Tháng 9 năm 1974, chuẩn bị chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, Bộ Quốc phòng cử một số cán bộ các quân, binh chủng sang Liên Xô dự khóa ngắn hạn trong 10 tháng để bổ sung vào đội ngũ cán bộ thực hiện kế hoạch năm thứ hai, dự kiến sẽ diễn ra các trận đánh hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn hơn năm thứ nhất.

Binh chủng Thông tin được cử một đoàn sang học tại Học viện Thông tin Cờ Đỏ tại Lê-nin-grát (nay là Xanh Pê-téc-bua).

Đoàn gồm sáu cán bộ và hai phiên dịch do đồng chí Đào Phố làm trưởng đoàn, đồng chí Nguyễn Diệp làm bí thư chi bộ.

Tuy chưa phổ biến kế hoạch chiến lược hai năm, nhưng anh em đều nhận thức được ý nghĩa quan trọng của khóa học và xác định quyết tâm khắc phục khó khăn vì phải học qua phiên dịch, phấn đấu đạt được kết quả cao để góp phần xây dựng Binh chủng ngày càng hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ chính trị "đánh cho ngụy nhào", giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc...

Những ngày mới đến học viện, chúng tôi rất phấn khởi vì cán bộ, giáo viên và học viên các nước xã hội chủ nghĩa trong khoa ngoại quốc đều chúc mừng và tỏ lòng khâm phục nhân dân Việt Nam đã giành nhiều thắng lợi, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri tháng 1 năm 1973 và rút quân về nước.

Có một chuyện hết sức cảm động làm tôi nhớ mãi: Một buổi sáng trên đường từ ký túc xá đến học viện, chúng tôi gặp một bà trạc 50 tuổi hỏi bằng tiếng Nga "Các anh là sĩ quan nước nào?". Khi biết chúng tôi là cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam. Bà mừng rỡ nắm chặt tay chúng tôi và nói: "Tốt lắm, các anh giỏi lắm, giỏi lắm, đã chiến thắng đế quốc Mỹ...".

Phấn khởi, tự hào trước tình cảm bạn bè và nhân dân Liên Xô đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, chúng tôi càng tích cực học tập, ngoài thời gian học ở lớp, chúng tôi còn tự học thêm để nắm chắc nội dung đã học...

Chúng tôi duy trì được tinh thần tập trung học tập như trên từ tháng 9 năm 1974 đến giữa tháng 3 năm 1975, còn từ sau chiến thắng Buôn Ma Thuột và tiếp sau là các chiến dịch giải phóng Huế, giải phóng Đà Nẵng chỉ duy trì được các tiết học ở lớp, còn buổi tối thì phân công nghe các đài của Liên Xô, của phương Tây và Đài tiếng nói Việt Nam để sớm biết tin tức về diễn biến chiến sự. Riêng Đài tiếng nói Việt Nam vì công suất phát không lớn, lại ở xa nên chỉ nghe được từ sau 22 giờ.

Đầu tháng tư, tôi đã dành tiền mua được một máy thu cấp I, có thiết bị thu âm nên chất lượng thu có khá hơn nhưng khi thời tiết xấu nghe cũng rất nhỏ, phải nín thở, dán tai vào loa, vừa nghe, vừa đoán...

Tâm trạng chúng tôi trong thời kỳ đó vừa phấn khởi, vừa tiếc là không được trực tiếp tham dự vào chiến cuộc, nhất là sau khi Đà Nẵng được giải phóng, chúng tôi đều dự đoán là quân ta sẽ giành toàn thắng trong năm 1975, chúng tôi không hy vọng được trực tiếp góp phần vào chiến thắng! Cán bộ, giáo viên, học viên khoa ngoại quốc đều rất quan tâm đến diễn biến chiến sự ở Việt Nam, thường xuyên hỏi tình hình và chúc mừng chúng tôi khi giảng bài. Đặc biệt sau chiến dịch giải phóng Đà Nẵng đồng chí Thiếu tướng - trưởng khoa ngoại quốc yêu cầu chúng tôi chuẩn bị giới thiệu tóm tắt cuộc tiến công chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam trong buổi họp toàn khoa vào đầu tháng tư, kỷ niệm ngày truyền thống của Quân đội Hung-ga-ri. Chúng tôi vẽ một bản đồ Đông Dương thể hiện diễn biến chiến sự từ trận Buôn Ma Thuột đến chiến dịch Đà Nẵng.

Đến ngày kỷ niệm, sau phần nghi lễ ngắn gọn chúc mừng quân đội Hung-ga-ri, Thiếu tướng - trưởng khoa giới thiệu đồng chí Đào Phố - trưởng đoàn học viên Việt Nam trình bày diễn biến chiến sự ở Việt Nam trong tháng 3 năm 1975. Đồng chí Phố thuyết minh trực tiếp bằng tiếng Nga, kết hợp chỉ trên bản đồ được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt và buổi kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Hung-ga-ri trở thành ngày mừng chiến thắng của nhân dân Việt Nam và mọi người đều chúc nhân dân Việt Nam sớm giành được thắng lợi cuối cùng...

Chỉ sau gần một tháng, lời chúc bạn bè đã trở thành hiện thực. Trong buổi học sáng ngày 30 tháng 4, chúng tôi được giáo viên báo tin "Sài Gòn đã được giải phóng" (vì lúc này ở Việt Nam đã là buổi chiều), nên chiều hôm đó chúng tôi bỏ cả giờ ăn tập thể để để theo dõi tin tức qua đài phát thanh các nước. Tối mùng 1 tháng 5, tôi đã ghi âm được toàn văn bản thông báo tin "Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng - Sài Gòn đã được giải phóng".

Trong buổi học sáng ngày 2 tháng 5 năm 1975, Thiếu tướng - trưởng khoa ngoại quốc đích thân đến lớp chúng tôi chúc mừng thắng lợi của nhân dân Việt Nam (vì ngày 1 tháng 5 là ngày quốc tế lao động).

Trong tháng năm, tuy rất nóng lòng về nước tham gia công tác, nhưng chúng tôi đều xác định phải tập trung giúp đỡ nhau ôn tập để đạt kết quả cao trong kỳ thi tốt nghiệp. Nhờ áp dụng phương pháp ôn tập tập thể, kết hợp với sự nỗ lực của từng người nên trong kỳ thi tốt nghiệp hai phần ba đạt loại giỏi, một phần ba đạt loại khá. Sau kỳ thi, lớp Việt Nam được biểu dương là lớp đạt kết quả cao nhất, lớp đầu tiên 100% học viên đạt khá giỏi, không có người đạt điểm trung bình.

Sau khi về nước, chúng tôi được tham gia tiếp quản hệ thống viễn thông liên kết ICS do Mỹ xây dựng và bàn giao cho quân ngụy. Nhờ những kiến thức về thông tin nhiều kênh, thông tin đối lưu được học ở Liên Xô nên chúng tôi không bỡ ngỡ, nhanh chóng nắm được việc quản lý và điều hành hệ thống thông tin ICS ở miền Nam, lúc đó được đánh giá là hiện đại nhất ở Đông Nam Á. Tôi và đồng chí Lương Sĩ Pháp được bổ nhiệm làm Giám đốc và Phó Giám đốc trung tâm điều hành hệ thống thông tin mới tiếp quản, tận dụng các thiết bị AN-TRC24 để tổ chức đường trục Bắc Nam, bảo đảm cho Bộ lãnh đạo, chỉ đạo các quân khu, các tỉnh và đơn vị ở miền Nam sớm ổn định tình hình trật tự, an ninh và xây dựng chính quyển ở vùng mới giải phóng.

Đến nay, sau 30 năm, nhớ lại những kỷ niệm cũ, tuy vẫn có phần tiếc nuối là không được trực tiếp tham gia chiến cuộc xuân 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử như đã vinh dự được là chiến sĩ Điện Biên trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng tôi càng nhận rõ chủ trương của Bộ cử cán bộ đi học thời kỳ đó là rất sáng suốt để sẵn sàng đáp ứng yêu cầu tác chiến trong tình huống phải kéo dài chiến tranh, đồng thời cũng rất cần thiết để cán bộ các quân, binh chủng đủ năng lực tham gia việc tiếp quản, việc sử dụng các trang thiết bị hiện đại thu được của địch trong tình huống chiến tranh kết thúc sớm như thực tế đã diễn ra.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Một đêm hành quân khó quên

Hoàng Niệm

Hành quân qua đất Quảng Bình, dải đất vùng cán xoong của Tổ quốc, đã có biết bao huyền thoại anh hùng như: Mẹ Suốt, ông lão dân quân phá bom nổ chậm cứu đường dây thông tin, các cô gái pháo binh, thanh niên xung phong với những câu chuyện đã thành huyền thoại trong bộ đội hành quân qua đây.

Tổng đài A72 phụ trách tuyến thông tin hữu tuyến điện đường dài cửa ngõ ra vào miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Nhiều chiến sĩ gái, tuổi mới đôi mươi, từ những vùng quê miền Bắc vào đã kiên cường bám trụ bảo đảm thông tin liên lạc. Địch đã dùng các loại bom đặc biệt đánh phá các đoạn đường giao thông huyết mạch, các hang hầm trong núi đá, nhiều nữ thông tin đã hy sinh ở đây.

Chúng tôi hành quân suốt tuyến đường này để đến cửa rừng gần Tổng đài A72. Dừng lại để kiểm tra chuẩn bị xe máy và tắm rửa, vì đã đi liền ba ngày nên ai cũng muốn nghỉ lấy sức để đêm nay còn vượt cửa ải, đoạn đường này là trọng điểm địch phá chặn tuyến chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam.

Ngoài việc đánh phá của địch, con đường quân sự làm gấp nên rất xấu, địa hình thì suối sâu, núi cao, dốc đứng. Đêm nay chúng tôi hành quân vượt qua đây là vào gặp đường 9 qua Khe Sanh sang Lào, đó là con đường nhựa bị đánh phá hư hỏng nhiều chỗ.

Cung đoạn xe qua này gần 30 km. Mặc dù địch thả pháo sáng suốt đêm, lúc nào trên đường cũng sáng hơn ban ngày, trên đầu không ngớt tiếng máy bay gầm rú, đặc biệt nhất mà cũng đáng sợ nhất là tụi máy bay trinh sát chỉ điểm OV10 bay chậm, thấp và chuyên thả pháo sáng để quan sát thấy mục tiêu. Phát hiện xe chạy trên đường là chúng gọi F105, F104... đến đánh bom ngay, cả một vùng trời bom đạn ầm ầm, pháo sáng của địch và pháo cao xạ, tên lửa của ta bắn trả làm cho đường sá bị cày xới lên một lớp bột dày 30, 40 phân, mù mịt. Mỗi khi xe chạy qua, lớp bụi đỏ cuộn lên chạy dài theo sau xe như một dòng sông nâu...

Lợi dụng lúc pháo cao xạ của ta đánh trả lại máy bay địch, xe chúng tôi cứ thế chạy nhanh, thật nhanh. Lúc bấy giờ chẳng ai nghĩ gì khác là phải chạy thật nhanh qua cung đường ác liệt. Xe phải vượt qua hai trọng điểm: Một là ngầm ngã ba Lùm Bùm, là đầu nguồn của con sông chảy ra thành sông Hiền Lương nước không sâu, chỉ độ rộng khoảng 50 m, bộ đội công binh đã dùng đá kè lên thành đường ngầm để xe vượt qua mà không cần phải làm cầu. Đầu ngầm có bố trí các đại đội công binh, thanh niên xung phong, xe tắc tơ chuyên để kéo những chiếc xe nào bị chết máy giữa ngầm để tránh cản trở giao thông. Hai bên đường trước ngầm đã làm nhiều công sự, hầm cá nhân, hầm ếch để tránh bom. Nghệ thuật qua ngầm của cánh lái xe là khi xếp hàng chuẩn bị lệnh qua ngầm phải chuẩn bị xuất phát thật chu đáo, như kiểu vận động viên chạy 100 m, xe được cài cầu trước, cài cầu sau, đặt vào vị trí số 2 là trạng thái xe chạy xuất phát tốt nhất. Khi có tiếng còi xuất phát thì chú lái xe nhả chân côn nhấn hết ga mà chạy.

Xe qua ngầm, vượt lên dốc chạy được khoảng 200 m thì dừng lại cho người lên rồi tiếp tục đi. Cái khó ở đây là địch thường đánh phá theo kiểu cầm canh, tọa độ chúng bất cần có ta hay không, thấy mục tiêu hay không, máy bay cứ tốp một bay qua là có bom nổ, lượng xe cộ nhiều, chen lấn tới chỗ đậu cũng là khó, nhất là những xe đi đơn lẻ không có đoàn. Khi cách ngầm 1 km là mọi xe đều phải tắt đèn gầm chạy mò theo các lộ tiêu bằng cờ trắng thật là khó khăn, nguy hiểm, nếu chệch tay lái là xe lao xuống vực, thường phải dùng biện pháp người cầm vật sáng chạy trước đầu xe, lúc đi thì chẳng biết gì là nguy hiểm, chạy được qua ngầm là thắng lợi rồi.

 Xe tải qua đây tuy khó khăn nhưng còn nhiều thuận lợi vì xe tôi là xe ưu tiên đi vào chiến trường Khe Sanh, được thu xếp dẹp đường đi ngay không phải chờ xếp hàng. Theo thứ tự thế mà cũng xảy ra một sự cố nho nhỏ, chuyện là khi chờ làm thủ tục, vì qua đây coi như qua cửa tử mọi xe phải đăng ký danh sách để theo dõi, nhỡ có chuyện gì để biết chỗ dễ nhận, lúc đó thì số anh em đi cùng phải tạm thời chui vào hầm tránh bom. Khi mọi người chạy vượt ngầm sang bên kia kiểm tra quân số thấy thiếu một người, đó là đồng chí Thà cán bộ phụ trách thông tin vận động, thật gay quá! Một vì bom đạn lung tung nhỡ vướng phải thì sao, hay lạc đường, hay gì nữa trong đêm tối giữa rừng mà xe cộ anh em dừng lại nơi trọng điểm này là rất nguy hiểm. Tôi bèn ra lệnh cho mấy anh chạy lùi lại và gọi to. Rồi cuối cùng cũng tìm được anh đang ở trong hầm, lúc bấy giờ tôi rất giận nhưng cũng để mọi người lên xe tiếp tục đi.

Chuẩn bị để xe qua khu vực dốc Sady (Trung Lào), quãng này có mấy dốc và nhiều đồi do địch đánh phá và rải chất độc hóa học nên cây cối chết trụi, hình dung như sa mạc cát trắng, nên đi cũng dễ bị lộ rất nguy hiểm. Để đảm bảo an toàn cho các đoàn xe qua đây, ta bố trí các trận địa phòng không có 57, 37, 14,5 vì vậy, máy bay địch bay qua đây phải bay cao để ném bom tọa độ là chính, mà không dám đánh bổ nhào nên xe ta cứ bình tĩnh mà chạy ít khi bị dính bom. Xe tôi đi qua đây lúc ấy vào khoảng 2, 3 giờ sáng. Cả đoàn anh em đang chạy trong rừng có cây kín đáo, ra đây địa hình quang đãng, trời sáng hẳn lên, mọi người ai cũng vui, xe cứ bon bon chạy (nhưng cũng chỉ 20 – 25 km/giờ). Nhớ mãi lúc ấy ai cũng có cảm giác như mình là những "Hóc cơ" đóng phim trong phim chiến đấu vậy: khói bụi mù mịt, pháo phòng không của ta bắn đạn vạch đường loang loáng bầu trời rồi nổ bung ra như hoa pháo. Máy bay địch gầm rú, xa xa bom nổ chớp lóe lên. Máy bay địch tập trung đánh vào các trận địa phòng không, nên xe ta cứ yên trí tranh thủ mà chạy. Một tình huống xảy ra khi xe chúng tôi chạy đến giữa khu vực trận địa phòng không thì trước chúng tôi có một xe Zin-khơ bị trúng bom nằm chắn mất đường. Xe dừng lại anh em nhảy xuống để xem tình hình ra sao, Zin-khơ chở lương thực, xe bị hư hại, đồng chí lái xe ngồi ôm tay lái đã hy sinh! Giữa lúc này thật khó khăn vì xử trí chậm một chút thì chính mình cũng khó thoát vì là khu trận địa pháo địch, địch tập trung đánh rất ác liệt. Chúng tôi đành đưa đồng chí ra khỏi xe để lại đó và tất cả không ai nói với ai một câu, hình như trong lòng mọi người đều có một điều gì đó uất hận trào dâng. Vượt qua quãng đường, xe xuống hết dốc gặp đường 9 theo bản đồ quặt trái chạy độ 15 km là tới khu vực sở chỉ huy chiến dịch, đường 9 là quốc lộ có rải nhựa.

Đường chạy tốt nên không ai chú ý theo dõi, xe chúng tôi chạy quá vào đến Làng Vây. Đây là cứ điểm của địch trên đường cửa ngõ của tập đoàn Khe Sanh đã bị quân ta tiêu diệt. Gặp mấy tốp chiến sĩ nữ, chúng tôi mới biết là đã vào gần giáp Khe Sanh còn cách độ 10 km, xe phải quay lại gần 10 km rẽ vào đường rừng một quãng nữa mới tới khu vực sở chỉ huy. Vào đây thì cơ mật lắm! Theo lệnh Bộ chỉ huy mặt trận, mọi người để xe lại và phải hành quân bộ vào nơi làm việc, đường không xa nhưng phải trèo qua một cái dốc khá cao, theo con đường mòn được ngụy trang rất kín. Theo lệnh chiến dịch, là mọi người vào khu này đều phải đi đêm không được đi ban ngày. Hôm ấy, chúng tôi hành quân gặp nhiều khó khăn nên khi vào đến trạm gác ngoài thì trời đã sáng, công tác thì rất khẩn trương, nếu như tôi không có giấy đặc biệt của Bộ ở Hà Nội thì đã bị giữ lại chờ qua ngày đến tối mới được đi. Được ưu tiên, chúng tôi vội hành quân nhanh, mọi đồ đạc nặng thì để lại, chỉ mỗi người mang theo tài liệu làm việc, súng đạn, vài bộ áo lót và một ít quà cho anh em như: thuốc lá, một vài cân đường chứ cũng chẳng có gì. Vượt qua dốc đường cũng phải dài đến 5 km, tới nơi là một khu vực rừng le (như cây trúc miền xuôi) lơ thơ có mấy cây gỗ, đồi đất hơi bằng, lại có những mỏm đá nên ta lợi dụng để đào hầm hố triển khai sở chỉ huy. Lợi dụng khe núi đá vôi có nhiều hang hốc, nhưng khi bị đánh thì rất nguy hiểm, vì bom đánh vào khu vực núi đá thì dễ bị sát thương hơn đồi đất. Đầu tiên chúng tôi gặp là trưởng ban tác chiến của mặt trận. Tôi báo cáo vắn tắt chỉ thị của đồng chí Tổng Tham mưu trưởng, rồi tranh thủ tới khu vực thông tin gặp đồng chí Hoàng Xuân Vượng anh em rất mừng! Chúng tôi không nghỉ, mặc dù sau một đêm hành quân hết sức khó khăn. Tranh thủ làm việc ngay với đồng chí chủ nhiệm thông tin và anh em Ban 3 mặt trận. Nghe tình hình, bàn bạc bổ sung những gì chưa đầy đủ, khôi phục ngay liên lạc với Hà Nội. Mọi việc đều tiến hành thuận lợi, sau đó gặp được các đồng chí Trần Quý Hai - Tư lệnh, Vũ Lăng – Tham mưu trưởng, các đồng chí đón tiếp rất thân mật, tin tưởng thông tin sẽ phục vụ tốt các đợt 2, 3 chiến dịch.

Sinh hoạt ở đây tuy là chiến trường nhưng chiến dịch là do Bộ phụ trách, các đơn vị quân, binh chủng tham gia đều là của chủ lực chính quy nên cũng được bảo đảm cung cấp mọi thứ đầy đủ hơn những nơi khác. Vũ khí phương tiện cái gì hiện đại cũng đều có, đúng là một cuộc đọ sức trên cả phương diện vật chất với Mỹ.

 

TỜ GIẤY PHÉP QUA KHU VỰC BỊ ĐÁNH PHÁ VÀ TỜ GIẤY QUA PHÀ ƯU TIÊN

Từ ngày đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh đánh phá bằng không quân ra miền Bắc, công tác chi viện cho miền Nam ngày càng lớn, càng khẩn trương bằng mọi phương tiện thô sơ, cơ giới, đường sông, đường biển và có cả đường không, thì đường sá, cầu cống, sông suối bị địch đánh phá ngày đêm tan tành. Mặc dầu ta đã có nhiều biện pháp khắc phục bằng tất cả mọi lực lượng: bộ đội, dân công, thanh niên xung phong chiến đấu làm việc suốt ngày đêm dưới làn bom đạn của địch. Trên con đường Bắc – Nam trước chỉ có con đường số 1, một phần đường 15 nhưng do địch đánh phá ta đã hình thành một mạng lưới đường sá quân sự làm gấp, cầu phà tạm, nhưng vì lưu lượng xe cơ động rất lớn và chỉ hành quân được ban đêm, nên xe xếp hàng dài mấy cây số để vượt qua trọng điểm. Đối với đoàn vận tải đành phải chờ đợi, còn với những đoàn cán bộ đi công tác thì rất ảnh hưởng vì phải bảo đảm thời gian. Do vậy, mới đề ra những giấy tờ đặc biệt để đảm bảo cho những trường hợp này.

Là một giấy qua cầu phà ưu tiên (có ưu tiên I và ưu tiên II)

Ưu tiên I: là cho đối tượng đặc biệt quan trọng mà mọi lực lượng bảo đảm hành quân trên đường phải dành cho họ, kể cả điều động lực lượng cao xạ phòng không yểm trợ.

Ưu tiên II: là loại giấy vào các khu vực địch đánh phá, thường được cấp cho cán bộ chỉ huy tham mưu, tác chiến ở chiến trường, loại giấy này cũng có giá trị lớn vì những khu vực còn đánh nhau, có bộ đội canh gác thì anh vẫn có thể vào để kiểm tra, quan sát nắm tình hình. Những cán bộ thông tin đi công tác chiến trường thường được cung cấp đủ hai loại giấy tờ ấy...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

22.11.24

Đường đi chiến dịch (năm 1968)

Hoàng Niệm

Tôi đang trên đường đi kiểm tra công tác Trường sĩ quan ở Hà Bắc thì nhận được điện của đồng chí Tổng Tham mưu trưởng gọi về nhận lệnh cấp tốc đi vào chiến trường Khe Sanh để kiểm tra khôi phục lại thông tin, vì đã ba ngày không liên lạc được với cơ quan Bộ ở Hà Nội. Lúc này, tình hình chiến trường miền Nam đang hết sức căng thẳng, ác liệt. Địch sử dụng B52 và nhiều loại máy bay liên tục đánh phá các mục tiêu hòng cắt đứt các đường hành quân và tiếp tế của miền Bắc cho chiến trường miền Nam của ta. Đường sá, cầu cống, các bến phà đều bị tắc, đặc biệt phía Tây đường 15, giáp biên giới Việt - Lào bị địch đánh suốt ngày đêm.

Bộ đội công binh, thanh niên xung phong cùng với dân quân địa phương ra sức khôi phục đường để bảo đảm giao thông cho tiền tuyến. Lúc này, ở mặt trận Khe Sanh, sở chỉ huy mặt trận bị bom B52 đánh phá ác liệt nên phải di chuyển lùi về phía sau để củng cố công sự, mạng lưới thông tin liên lạc. Tư lệnh chiến dịch là đồng chí Trần Quý Hai - Chủ nhiệm thông tin chiến dịch, đồng chí Hoàng Xuân Vượng - Phó Tư lệnh Binh chủng Thông tin trực tiếp phụ trách.

Được lệnh hành quân gấp vào chiến trường, tôi tổ chức bộ phận hết sức gọn nhẹ: 1 xe Gaz, lái xe là một chiến sĩ trẻ, dũng cảm, thuộc đường sá, đã nhiều lần cùng tôi đi vào chiến trường miền Nam. Ba cán bộ tham mưu gồm: 1 vô tuyến, 1 hữu tuyến, 1 thông tin vận động và 1 đồng chí bảo vệ. Chúng tôi chuẩn lên đường rất gấp. Ngoài súng đạn cá nhân và một ít lương khô đoàn còn mang theo một súng thể thao Tiệp với 200 viên đạn. Thế là yên trí. Cứ ngày ngày năm ba con chim, con gà rừng, con cheo... bồi dưỡng lúc nào cũng có chất tươi. Tôi đã đi chiến trường nhiều lần, nhưng lần này tôi cho là hết sức khó khăn. Một là, thời gian rất khẩn trương, phải vào chiến trường cho kịp kế hoạch tác chiến. Hai là, đường sá đang bị địch đánh phá hư hỏng nhiều, thời tiết miền Trung đang mùa mưa nên rất lầy lội, hầu như phải đi vào ban đêm, xe chạy đèn gầm, chờ đợi qua phà, qua cầu, qua nhiều trọng điểm đánh phá nên rất chậm. Từ Hà Nội, chúng tôi theo đường Hòa Bình, Nho Quan, đường số 1 hoàn toàn bị tắc. Vào đến đất Thanh Hoá, qua Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã không biết bao nhiêu điểm tắc cầu, phà. Ngã ba Đồng Lộc tuy là đường đồng bằng nhưng địch lại đánh phá ác liệt, có nhiều đoạn xe phải chạy qua làng, qua đồng ruộng. Hôm nào trời mưa, mây mù là hôm ấy anh em rất vui vì tranh thủ chạy cả được ban ngày, lợi dụng cung đường nhưng cũng có bất lợi là không có bộ đội công binh và thanh niên xung phong bảo đảm đường sá.

Đến Truông Bồn thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ An. Anh em thường gọi là Truông Bồn (đèo con) vì qua đây địch đánh phá rất ác liệt nên dễ bị thương vong. Hai bên Truông là hẻm núi. Tuy Truông Bồn không dài nhưng địch thường đánh tọa độ và sử dụng nhiều loại bom hẹn giờ, bom bi, bom từ trường. Loại bom này khi ném xuống không nổ ngay mà trong bom có cài thiết bị cảm ứng từ, tự động kích nổ khi có xe hoặc vật kim loại đến gần...

Hôm qua đây, buổi sáng trời âm u nên không sợ máy bay địch phát hiện. Cách Truông Bồn 200 m đã thấy biển báo trên đường có bom từ trường. Đã từng có ít kinh nghiệm qua những đoạn đường như thế này nên tôi bảo lái xe dừng lại, anh em cởi bỏ hết súng đạn, vật dụng bằng kim loại trên xe và hành quân bộ qua đoạn đường đó, còn xe để lại cho đồng chí Cư lái. Đồng chí Cư cũng đã nhiều lần xử trí tình huống tương tự nên rất bình tĩnh, tự tin. Cư kiểm tra lại xe cẩn thận, khi chúng tôi đi qua đoạn nguy hiểm, đến chỗ an toàn thì đồng chí Cư mới khởi động máy để lấy đà và cho xe phóng thật nhanh qua chỗ quả bom đang nằm "phục" hòng hạ nốc ao xe của ta. Vì biết quy luật nổ của loại bom này, Cư đã lợi dụng thời gian sơ hở 5 giây hẹn nổ của quả bom cho xe chạy vút qua. Xe đã chạy cách quả bom chừng 100 m thì một tiếng nổ vang lên, đồng chí Cư và xe đã dừng ngay tại chỗ chúng tôi. Mọi người đều thở phào vui mừng reo lên: Ta đã thắng!

Tất cả lại lên xe để hành quân tiếp vào tiền tuyến.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Trở về miền Nam chiến đấu

Đại tá Đặng Khắc Thoả

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, tôi và nhiều cán bộ ở miền Nam tập kết ra Bắc học tập và xây dựng quân đội. Một số cán bộ, chiến sĩ được phân công ở lại tiếp tục học tập, công tác và xây dựng lực lượng.

Sau học tập về cải cách ruộng đất, tôi được cử đi học ở Tiểu đoàn 5 - Khoa Thông tin thuộc Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn do đồng chí Lê Văn Sai phụ trách.

Kết thúc khoá học tôi và Châu Dương được giữ lại làm cán bộ khung, nhưng được nửa khoá thì có lệnh trở về miền Nam chiến đấu.

Tuy rất phấn khởi nhưng trong tâm tư cũng có chút bịn rịn vì hai người đều đã có bạn gái ở miền Bắc. Trước khi lên đường, chúng tôi đã gặp để chia tay và hứa hẹn đến ngày thống nhất sẽ đón các bạn vào Nam thăm gia đình... Riêng tôi đã mua một cặp áo gối, một lược ngà để tặng cô bạn chiếc lược và một áo gối, còn một chiếc tôi mang theo về Nam, cất kỹ trong ba lô suốt cuộc hành quân vượt Trường Sơn và những năm tháng chiến đấu bên mình. Trong một đợt phục vụ chiến dịch lớn, tư trang của tôi (trong đó có chiếc áo gối) đã gửi lại hậu cứ và bị thất lạc theo năm tháng.

Ngày 5 tháng 5 năm 1961, Đoàn "Phương Đông 1" hành quân về miền Nam. Thành phần gồm khung các cơ quan Bộ Tư lệnh Miền, khung các cơ quan Quân khu trong đó có khung Trường Thông tin Miền gồm 4 người: Nguyễn Hữu Nhơn, Châu Dương, Lê Phong Quang, Đặng Khắc Thoả.

Vào Nam chiến đấu là một nhiệm vụ cao cả, là nguyện vọng chính đáng của những người con miền Nam tập kết ra Bắc. Nhưng khi chuẩn bị và hành quân phải giữ tuyệt đối bí mật. Hành trang mỗi người đi B mang một ba lô khoảng 30-35 kg. Trang bị gồm: một bộ đồ soọc, một bộ quân phục Giải phóng, vải kaki màu hột gà, một bộ bà ba đen, một bộ đồ quân phục của bộ đội Lào, một nón tai bèo và một số đồng kíp (tiền Lào) để sử dụng khi hành quân trên đất Lào, vũ khí: một súng ngắn P38, một các-bin. Tất cả đồ dùng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đều để lại, không được mang về.

Cuộc hành quân từ Xuân Mai - Hoà Bình đến Thanh Hoá bằng ô tô. Trạm dừng đầu tiên được đón tiếp, ăn ngủ đầy đủ. Qua ngày hôm sau hành quân tiếp đến Đồng Hới. Trước khi hành quân bộ, được trực thăng tiếp tế gạo, sữa đường, thức ăn khô,... trên vai mỗi người thêm một trọng lượng khá nặng. Nhưng dù nặng nhọc, vất vả đến mấy anh em vẫn vui vẻ vì là chuyến hành quân về Nam chiến đấu.

Tuy mang vác nặng, hành quân đường rừng mới mở, lên đèo vượt núi, lội sông, hành quân từ sáng sớm đến chiều tối mới tới trạm. Chuẩn bị chỗ ngủ, nấu cơm ăn tối, chuẩn bị vắt cơm cho ngày hôm sau. Có hôm hành quân dưới trời mưa tầm tã suốt ngày, khi đến nơi càng mưa to. Cả tiểu đội vừa bẻ củi, vừa căng bạt làm mái che để nấu cơm. Tuy thức ăn đơn sơ, chủ yếu là muối nhưng mọi người ăn vẫn ngon lành.

Ngày hành quân trên đất Mường Phìn với quân phục Giải phóng quân Lào. Vừa hành quân vừa mở đường, khi vượt qua đường số 9 - Nam Lào còn mùi khét của bom đạn, khói lửa đã thúc giục mọi người vượt qua khó khăn trở ngại trên đường hành quân. Khi đoàn về đến các trạm tỉnh Quảng Đà không có gạo phải ăn sắn, ngày hôm sau hành quân tiếp, đói và mệt, trên đường tạm dừng bẻ măng lồ ô luộc ăn. Một số không quen, bị ói mửa, nhưng quyết tâm về Nam chiến đấu thôi thúc anh em cố gắng đến trạm trong ngày để ngày mai tiếp tục hành quân.

Sau 3 tháng vượt bao gian lao vất vả, cực nhọc về tinh thần, nặng đôi vai, chùn đôi chân... Cuối cùng niềm vui, ước mơ về đến miền Nam đã được thực hiện. Ngày đầu đoàn hành quân tạm nghỉ tại Mã Đà lại gặp đoàn quân chiến thắng của lực lượng miền Đông vừa giải phóng tỉnh Phước Thành trở về tại Mã Đà. Cuộc hội ngộ bất ngờ, tình cảm người ra đi trở về cùng người ở lại chiến đấu tay bắt mặt mừng, niềm vui khôn xiết, là nguồn động viên sức mạnh chiến đấu cho ngày mai.

Hành quân dài ngày mới về, mệt mỏi nhưng ngày hôm sau phải đi tải gạo ngay. Bữa cơm gạo trắng đầu tiên của miền Nam, ăn với mắm ruốc ngon lành, có người ăn hết 1 kg gạo. Bụng đã no nhưng miệng vẫn còn thèm ăn nữa...

Khi đoàn "Phương Đông 1" chia tay để về các chiến trường, 4 chúng tôi trở về Ban thông tin R do anh Lê Văn Sai và Nguyễn Xuân Đào phụ trách và được giao nhiệm vụ xây dựng Trường Thông tin Miền. Với 8 bàn tay, 4 chiếc cuốc, 2 cưa, được trang bị một súng tự tạo, 1 các-bin, 1 quả mìn clây-mo để xây dựng trường đầu tiên trên khu vực Trảng Dài.

Do yêu cầu chiến trường, anh Tám Trần, Sáu Quang được điều về Quân khu 9; anh Châu Dương về làm chủ nhiệm thông tin Q762. Trong trận đánh vào kho bom Biên Hoà, anh Dương bị thương nặng, được đưa ra điều trị, an dưỡng tại miền Bắc. Không có gì vui mừng và sung sướng bằng những người con miền Nam tập kết ra Bắc, sau đó được điều về miền Nam chiến đấu. Vinh dự được có mặt trong đoàn quân tiến vào giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, chúng tôi tự hào đã hoàn thành nhiệm vụ trở về miền Nam chiến đấu và chiến thắng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc – Tập 2”) 

Một ít nét chính về đồng chí Hoàng Đạo Thúy

 Hoàng Niệm

Tình đồng chí, đồng đội, tình thầy trò và cả tình đồng sự đã để lại trong tôi những tình cảm đặc biệt sâu sắc không bao giờ quên về đồng chí Hoàng Đạo Thúy. Ông sinh năm 1900, con một gia đình nho giáo, có tinh thần yêu nước tại làng Kiêm Lữ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Tây. Năm 1920, sau khi tốt nghiệp trường sư phạm, đồng chí Hoàng Đạo Thúy làm giáo viên ở một trường tiểu học, hăng hái hoạt động thanh niên thể thao, truyền bá chữ quốc ngữ và là trưởng ban Hướng đạo sinh Đông Dương, nên đồng chí có nhiều ảnh hưởng trong thanh niên lúc bấy giờ. Tôi có tham gia Hướng đạo sinh ở Nghệ An một thời gian và cũng đã được nghe giới thiệu về đồng chí Hoàng Đạo Thuý. Đồng chí Hoàng Đạo Thúy tham gia cách mạng ngày 2 tháng 9 năm 1945, lúc đó đồng chí 45 tuổi, được đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Hoàng Văn Thái giao nhiệm vụ phụ trách tổ chức công tác thông tin và mật mã cho Trung ương và Bộ Quốc phòng.

Tháng 4 năm 1946, đồng chí được cử làm Hiệu trưởng Trường võ bị Trần Quốc Tuấn (khóa I đến khóa III).

Tháng 6 năm 1949, đồng chí lại trở về giữ chức Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc đầu tiên của quân đội cho đến tháng 1 năm 1962 thì chuyển ngành ra làm Hiệu trưởng Trường Dân tộc Trung ương và công tác ở đó cho tháng 4 năm 1964 đồng chí về nghỉ hưu.

Đồng chí Hoàng Đạo Thúy đã có nhiều công lao đối với Binh chủng Thông tin liên lạc. Là người đặt nền móng đầu tiên về thông tin liên lạc quân đội. Suốt những năm công tác, đồng chí luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, quân đội giao phó: Đã tham gia phụ trách nhiều chiến dịch trong chiến tranh chống Pháp như chiến dịch Biên Giới, Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh và chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1958, đồng chí Hoàng Đạo Thúy được phong quân hàm đại tá. Sau khi chuyển ngành đến công tác ở Trường Dân tộc Trung ương và đến khi về hưu tuy tuổi cao nhưng đồng chí lúc nào cũng dành nhiều tình cảm với cơ quan Binh chủng Thông tin và các đơn vị thông tin. Đồng chí luôn được anh em cán bộ cũng như chiến sĩ trong Binh chủng kính trọng, yêu quý.

Với những đóng góp của mình, đồng chí Hoàng Đạo Thúy đã được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”)

Những kỷ niệm với đồng chí Hoàng Đạo Thúy - người thủ trưởng đầu tiên của Binh chủng Thông tin liên lạc

Thiếu tướng Hoàng Niệm – nguyên Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc

Năm 1947, sau ngày tốt nghiệp khóa đào tạo sĩ quan Trường võ bị Trần Quốc Tuấn (khóa II) tôi ở lại làm cán bộ của trường. Trong thời gian này tôi đã gặp và làm việc với thầy hiệu trưởng Hoàng Đạo Thuý, cùng thầy hiệu trưởng kéo nhau về đóng quân ở bản Na Rì trong an toàn khu (ATK) Việt Bắc thuộc quân số Cục Quân huấn thuộc Bộ Tổng tham mưu.

Trong thời gian chờ phân công nhiệm vụ, thầy trò vẫn giữ nền nếp sinh hoạt như ở trường, sáng sáng tập thể dục. Thầy Hoàng Đạo Thúy làm huấn luyện viên thể thao. Tuy thầy đã có tuổi nhưng vẫn còn linh hoạt. Khi vào thi đấu các môn chạy nhanh hoặc nhảy cao, nhảy dài thì thầy không thể địch nổi bọn trẻ chúng tôi. Theo luật ai thua người đó phải cõng chạy một vòng sân. Anh em thắng rất ngại bắt thầy cõng. Đến phiên tôi chạy được khoảng nửa vòng, bỗng thầy thở dốc không chạy được mà như đi bộ. Tôi tinh ý nhảy xuống cõng thầy lên lưng và chạy tiếp đến đích. Tôi để thầy xuống nhưng vì chân yếu nên thầy ngồi thụp xuống và lăn luôn ra đất. Anh em đứng quanh xem, được một trận cười. Thầy cũng cười. Từ đó, hình như giữa tôi và thầy có ý thân nhau hơn.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi được cấp trên điều đi học ở Liên Xô để đào tạo cán bộ thông tin. Hôm tôi lên đường, thầy Hoàng Đạo Thuý đã tiễn tôi ra đến tận ga Hàng Cỏ.

Đến Liên Xô, tôi cùng 6 anh em cán bộ được phân về Lê-nin-grát và vào học ở Học viện Thông tin (Liên Xô). Sau 6 năm học, tốt nghiệp xong tôi trở về và được phân công làm Cục phó Cục Thông tin. Khi ấy thầy Hoàng Đạo Thuý là Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc.

Từ tình nghĩa thầy trò, nay lại cùng làm việc nên công việc của chúng tôi rất thuận lợi. Tháng Giêng năm 1962, cấp trên điều thầy chuyển ngành ra ngoài làm Hiệu trưởng Trường Dân tộc Trung ương. Quan hệ giữa chúng tôi vẫn gần gũi thân thích cho đến ngày tôi rời Binh chủng về hưu năm 1988. Khi nghe tôi về nghỉ, thầy đã không quên gửi lá thư chúc mừng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

9.11.24

Tin buồn

Chi hội Truyền thống Phòng Công trình – Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội vô cùng thương tiếc báo tin:

Đồng chí Thượng tá KIỀU KIM SƠN

Sinh năm 1924; thường trú tại: Số nhà 15, ngõ 95 Kim Mã, phường Kim Mã, quận Ba Đình, TP Hà Nội; đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; hội viên Chi hội Truyền thống Phòng Công trình, Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội; nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 134, nguyên Trưởng phòng Công trình, Bộ Tham mưu, Binh chủng Thông tin; đã nghỉ hưu.

Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng.

Đồng chí đã từ trần hồi 7 giờ 30 phút ngày 05-11-2024. Lễ viếng tổ chức từ 7 giờ 30 phút đến 8 giờ 30 phút ngày 09-11-2024, tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng (số 5 Trần Thánh Tông, TP Hà Nội). Lễ truy điệu và đưa tang tổ chức hồi 8 giờ 30 phút cùng ngày; hỏa táng tại Đài hóa thân Vĩnh Hằng (xã Vật Lại, huyện Ba Vì, TP Hà Nội); an táng tại Nghĩa trang quê nhà xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội.

Chi hội Truyền thống Phòng Công trình – Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội kính báo. 

7.11.24

Nhớ về Xê chín (C9)

Hoàng Thị Lan (kỹ sư vô tuyến điện - nguyên học viên Đại đội 9)

Trường ta Sĩ quan Thông tin

Xa rồi vẫn nhớ như in trong lòng

Thoi đưa mấy chục năm ròng

Không sao quên được mấy vòng hành quân

Ngày đầu với nữ quân nhân

Học viên cũ, mới ân cần giúp nhau

Quân đi kẻ trước người sau

Ba lô, xẻng, cuốc, lá đầu ngụy trang

Súng trường vai khoác tay mang

Hành quân qua núi, qua làng bình an

Tới trường chuyện nở ríu ran

Mà sao trường chẳng ghế bàn chi đây?

Lớp học ở giữa vườn cây

Bảng treo, ghế xếp trò thầy bên nhau

Thời gian học cũng qua mau

Học viên Thảo gái, dẫn đầu giỏi giang

Chăn màn, nội vụ gọn gàng

Họp tổ bên đống khoai lang giữa nhà

Xê-chín (C9) đại đội chúng ta

Thương yêu, đoàn kết, chan hoà vui chung

Hiệp Hoà cảnh đẹp, dân hùng

Biết bao nét đẹp sống cùng chúng ta

Quân dân thắm thiết đậm đà

Bát cơm, củ sắn mặn mà tình dân

Văn nghệ mỗi quý đôi lần

Bên nhau điệu múa, chung vẫn dân ca

Ra trường đi khắp gần xa

Góp phần nhỏ bé quân ta thắng thù

Có người an giấc ngàn thu

Ven rừng, gió hát vi vu mỗi chiều

Bây giờ tóc đã muối tiêu

Xê-chín (C9) nhớ mãi, càng yêu mến nhiều.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”) 

Mừng Trường Anh hùng (kính tặng: Trường Sĩ quan Thông tin)

Lương Toán

Mừng Trường được phong Anh hùng

Trọn niềm vui, có công chung bao người

Giấu trong ánh mắt nụ cười

Có hình ảnh bao cuộc đời đi qua

Sử vàng truyền thống Trường ta

Sáu mươi năm bước đường xa gập ghềnh

Mỗi khó khăn một trưởng thành

Mỗi giai đoạn như thấy mình lớn lên

Mỗi miền quê Trường dừng chân

Còn bao kỷ niệm tình dân đậm đà

Bản Piềng, Định Hoá, Hiệp Hoà

Như về đây với Khánh Hoà, Nha Trang

Cho cơ nghiệp mới thênh thang

Trường lên đại học, trên đường chính quy

Cho bao sĩ quan chỉ huy

Từ nơi đây lại toả đi khắp miền

Cho thông mạch máu thông tin

Nhớ lời Bác dạy, Bác khuyên năm nào

Ơi vinh dự, ơi tự hào

Của bao thế hệ góp vào mới nên...

 

Hỏi ai còn nhớ hay quên

Câu ca của lớp học viên Hiệp Hoà

"Đóng cay, đào giếng làm nhà

Xong ba việc ấy mới là học viên..."

Nay Trường cao mái, vững nền

Nước đã có máy, cay viên chẳng còn

Vẫn cần chí vững, gan bền

Vẫn cần truyền thống học, rèn ngày xưa

Vẫn cần thử thách nắng mưa

Nhiệm vụ phía trước đang chờ chúng ta.

Niềm vui xúc động thành thơ

Hôm nay tái ngộ đón cờ vui chung

Hân hoan tay bắt mặt mừng

Nâng ly rượu chúc mà lòng rưng rưng

Mừng Trường được phong anh hùng

Chút tình riêng góp vui chung mọi người.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Hồi ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 1”)