9.9.25

Binh chủng Thông tin liên lạc kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh

Sáng 9-9, Binh chủng Thông tin liên lạc (TTLL) tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Bộ đội TTLL (9-9-1945 / 9-9-2025) và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh. Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dự, phát biểu chỉ đạo.

Dự Lễ kỷ niệm có các đồng chí: Trung tướng Đỗ Xuân Tụng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Thiếu tướng Nguyễn Bá Lực, Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; lãnh đạo, chỉ huy một số tổng cục, cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng.

Lãnh đạo Bộ Quốc phòng và các đại biểu dự Lễ kỷ niệm.

Về phía Binh chủng TTLL, dự Lễ kỷ niệm có các đồng chí: Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng, Tư lệnh Binh chủng; Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng; các đồng chí trong Đảng ủy, Bộ tư lệnh và nguyên lãnh đạo Binh chủng; đại biểu lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị và cán bộ, nhân viên Binh chủng TTLL qua các thời kỳ.

Thượng tướng Võ Minh Lương phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm.

Diễn văn kỷ niệm cho biết, lịch sử ra đời, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Bộ đội TTLL là một chặng đường rất vẻ vang, đáng trân trọng và tự hào. Suốt 80 năm qua, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ TTLL luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; anh dũng, mưu trí, sáng tạo; không quản ngại gian khổ, hy sinh, bảo đảm TTLL “kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn”.

Trong lịch sử xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, đã có rất nhiều tấm gương tập thể, cá nhân tiêu biểu, với quyết tâm “Tim còn đập, thông tin còn thông suốt” để giữ vững mạch máu thông tin phục vụ Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị LLVT thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ và chiến đấu thắng lợi.

Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng, Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc trình bày diễn văn kỷ niệm.

Những năm gần đây, thực hiện chủ trương xây dựng lực lượng TTLL quân sự tiến thẳng lên hiện đại, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Binh chủng TTLL đã chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo, kịp thời tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, ban hành “Chiến lược phát triển hệ thống TTLL quân sự giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; quy hoạch, chuyển đổi công nghệ, xây dựng, phát triển hệ thống TTLL quân sự hiện đại, vững chắc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và phục vụ nhiệm vụ phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ điện tử trong Quân đội...

Phát biểu chỉ đạo Lễ kỷ niệm, thay mặt Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Võ Minh Lương biểu dương, chúc mừng những thành tích, chiến công mà các thế hệ Bộ đội TTLL đã đạt được trong suốt 80 năm qua; khẳng định Huân chương Hồ Chí Minh mà Binh chủng TTLL được đón nhận một lần nữa khẳng định sự ghi nhận, đánh giá rất cao của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đối với Binh chủng nói riêng và lực lượng TTLL quân sự nói chung trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc đọc Thư khen của Chủ tịch nước gửi Binh chủng và Bộ đội Thông tin liên lạc.

Trước yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, Thượng tướng Võ Minh Lương yêu cầu, thời gian tới, Binh chủng TTLL và Bộ đội TTLL cần tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, trọng tâm là nghị quyết, chiến lược về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, coi trọng xây dựng Binh chủng và lực lượng TTLL toàn quân vững mạnh về chính trị. Cùng với đó, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị; có ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Thượng tướng Võ Minh Lương trao Huân chương Hồ Chí Minh tặng Binh chủng Thông tin liên lạc.
Binh chủng cần chủ động, nhạy bén, nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu, đề xuất với các cấp về quy hoạch, phát triển hệ thống TTLL; thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về quốc phòng trong lĩnh vực TTLL; tiếp tục triển khai, thực hiện tốt “Chiến lược phát triển hệ thống TTLL quân sự giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Thượng tướng Võ Minh Lương, các đại biểu và lãnh đạo, chỉ huy Binh chủng Thông tin liên lạc tại Lễ kỷ niệm.

Đồng thời, thực hiện tốt việc quy hoạch, phát triển, xây dựng hệ thống TTLL quân sự hiện đại; đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục đào tạo, xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và các phong trào, cuộc vận động khác, xây dựng Đảng bộ Binh chủng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ.

Tiết mục văn nghệ đặc sắc chào mừng Lễ kỷ niệm.

Thượng tướng Võ Minh Lương lưu ý, bên cạnh các nhiệm vụ trên, Binh chủng TTLL cần thường xuyên quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội; thực hiện tốt công tác dân vận, chính sách và đền ơn đáp nghĩa; tích cực giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai; củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân; làm lan tỏa hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, uy tín của Quân đội và của Binh chủng.

Tại buổi Lễ, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Thượng tướng Võ Minh Lương đã gắn Huân chương Hồ Chí Minh lên Quân kỳ Quyết thắng và trao bằng Huân chương tặng Binh chủng TTLL.

Tin, ảnh: Văn Chiển

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn báo QĐND điện tử) 

Thư của Chủ tịch nước Lương Cường chúc mừng cán bộ, chiến sĩ TTLL nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc Anh hùng (09/9/1945 - 09/9/2025), Ban Biên tập trang tin Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội xin kính gửi đến các đồng chí hội viên toàn văn thư của Chủ tịch nước Lương Cường gửi chúc mừng cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Thông tin liên lạc toàn quân.

Đồng chí Lương Cường - Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025

Thân ái gửi các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Thông tin liên lạc!

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Binh chủng Thông tin liên lạc, Bộ Quốc phòng (09/9/1945 - 09/9/2025). Tôi thân ái gửi tới các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Thông tin liên lạc những tình cảm thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Là Binh chủng ra đời sớm nhất của Quân đội ta, trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Thông tin liên lạc đã khắc ghi lời Bác dạy, phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, đoàn kết, chủ động, sáng tạo, mưu trí, kiên cường, khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt “Kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn" phục vụ Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị lực lượng vũ trang chiến đấu, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, diễn tập, phỏng, chống khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, sự cố, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và đảm bảo thông tin, truyền hình phục vụ các sự kiện do Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng tổ chức và giành được nhiều thành tích xuất sắc trong các hội thi, hội thao, thi đấu thể thao thành tích cao, xây dựng, phát triển lực lượng Thông tin liên lạc “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hai lần được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tôi nhiệt liệt biểu dương, chúc mừng những thành tích xuất sắc của Binh chủng Thông tin liên lạc trong 80 năm qua và mong rằng trong giai đoạn cách mạng mới, Binh chủng Thông tin liên lạc phát huy hơn nữa thành tích đã đạt được, truyền thống Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, tiêu biểu trong phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số của Bộ Quốc phòng; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, xây dựng lực lượng Thông tin liên lạc “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc, tiến bộ!

Thân ái

Lương Cường

Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn Trang tin "Cánh sóng" của BTL TTLL)

8.9.25

Xây dựng Binh chủng Thông tin liên lạc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Phát huy truyền thống 80 năm của Bộ đội Thông tin liên lạc (09-9-1945 / 09-9-2025), Binh chủng Thông tin liên lạc (TTLL) xác định tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng Binh chủng hiện đại, bảo đảm TTLL cho lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy điều hành luôn thông suốt, vững chắc, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trước yêu cầu cấp thiết bảo đảm TTLL cho Trung ương Đảng, Bộ Tổng Tư lệnh nắm, chỉ đạo, chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang (LLVT) ngăn chặn và đập tan âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù nhằm lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ, ngày 07-9-1945, Phòng TTLL quân sự được thành lập. Chỉ 2 ngày sau, Phòng TTLL quân sự đã triển khai thành công mạng vô tuyến điện và mạng liên lạc đặc biệt. Kết quả đó là mốc son lịch sử và ngày 09-9-1945 trở thành Ngày truyền thống của Bộ đội TTLL.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiểm tra, động viên lực lượng bảo đảm thông tin liên lạc, truyền hình phục vụ Diễn tập HN-24. Ảnh: Xuân Quang.

80 năm qua, các thế hệ Bộ đội TTLL luôn đoàn kết, mưu trí, dũng cảm, sáng tạo, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, bảo đảm TTLL “kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn”. Nhiều tấm gương quả cảm, không ngại xả thân giữ vững “mạch máu thông tin” thông suốt của Bộ đội TTLL đã đi vào lịch sử như một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần quan trọng để Quân đội ta lập nên những chiến công oanh liệt trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những năm gần đây, Binh chủng đã có nhiều chủ trương, biện pháp đột phá, thực hiện tốt chức năng tham mưu cho Quân ủy Trung ương (QUTƯ), Bộ Quốc phòng về chuyên ngành; trực tiếp chỉ huy, chỉ đạo xây dựng Binh chủng và lực lượng thông tin toàn quân tiến thẳng lên hiện đại, đạt nhiều kết quả tích cực. Hệ thống TTLL quân sự phát triển mạnh, vững chắc cả về quy mô, phương thức với công nghệ hiện đại, đa dạng loại hình dịch vụ ở cả 3 cấp (chiến lược, chiến dịch, chiến thuật). Chất lượng bảo đảm TTLL được nâng cao, đáp ứng kịp thời cho các nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng chiến đấu, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, các sự kiện chính trị của đất nước và đối ngoại quốc phòng...

Với những thành tích xuất sắc, Binh chủng TTLL vinh dự được Đảng, Nhà nước 2 lần tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý; 69 tập thể, 37 cá nhân được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân...

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển mới, đặt ra cho Binh chủng mục tiêu, yêu cầu mới rất cao cùng nhiều vấn đề phải giải quyết. TTLL có vai trò thiết yếu, không chỉ phục vụ cho lãnh đạo, chỉ huy mà đã trở thành hạ tầng công nghệ nền tảng cho hệ thống tự động hóa chỉ huy, điều khiển vũ khí công nghệ cao như máy bay không người lái (UAV), phương tiện mặt nước không người lái (USV), tên lửa, đạn pháo điều khiển từ xa... và cho tác chiến điện tử, tác chiến không gian mạng; nền tảng cho cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ điện tử trong Quân đội... Nhận thức rõ bối cảnh tình hình và vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ được giao, Binh chủng TTLL tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chủ trương tiến thẳng lên hiện đại, trọng tâm thực hiện tốt “Chiến lược phát triển hệ thống TTLL quân sự giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045”, với một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, chủ động, tích cực thực hiện tốt công tác tham mưu, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về TTLL quân sự. Binh chủng đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo, đánh giá đúng tình hình nhiệm vụ và những vấn đề mới đặt ra, làm cơ sở để tham mưu với QUTƯ, Bộ Quốc phòng và cơ quan chức năng triển khai thực hiện có hiệu quả “Chiến lược phát triển hệ thống TTLL quân sự giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Kịp thời điều chỉnh, bổ sung mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình, bước đi trong triển khai thực hiện chiến lược ở từng giai đoạn, bảo đảm chất lượng, đúng tiến độ, phù hợp với thực tiễn.

Trước mắt, để bảo đảm công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy điều hành sau khi điều chỉnh tổ chức, biên chế Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại và hoạt động của hệ thống chính quyền địa phương hai cấp, Binh chủng chủ động rà soát hệ thống văn kiện bảo đảm, tổ chức tham mưu và tập trung triển khai bảo đảm TTLL, trang bị kỹ thuật thông tin cho các cơ quan, đơn vị, ưu tiên các đơn vị làm nhiệm vụ cơ động, sẵn sàng chiến đấu, lực lượng thành lập mới, đơn vị được trang bị vũ khí, khí tài mới, hiện đại, nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy điều hành công tác quốc phòng, quân sự ở địa phương... Cùng với đó, Binh chủng tiếp tục đẩy mạnh tham mưu xây dựng hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về công tác quản lý, chỉ huy điều hành hệ thống TTLL quân sự; phối hợp chặt chẽ với các mạng viễn thông tăng cường độ vững chắc cho hệ thống và khả năng động viên công nghiệp phục vụ bảo đảm TTLL trong các tình huống.

Hai là, tiếp tục đột phá nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục và đào tạo. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW ngày 20-12-2022 của QUTƯ về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo, toàn Binh chủng tập trung đột phá nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu cho các đối tượng thuần thục kỹ thuật, chiến thuật chuyên ngành, đạt trình độ “giỏi về thông tin truyền thống, tinh nhuệ về thông tin cơ động, làm chủ khí tài, trang bị thông tin công nghệ cao” và tiêu chuẩn “phân đội cơ động tinh nhuệ”. Kết hợp giữa huấn luyện nâng cao trình độ chỉ huy tham mưu tác chiến, khả năng nắm vùng mạng, quản lý, điều hành mạng TTLL của cán bộ với tăng cường huấn luyện chuyên sâu cho nhân viên chuyên môn kỹ thuật, làm nòng cốt trong tiếp nhận, khai thác, sửa chữa các trang bị, khí tài thông tin thế hệ mới.

Thường xuyên bổ sung, hoàn thiện phương án sẵn sàng triển khai bảo đảm TTLL phục vụ công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn... trên địa bàn cả nước. Tiếp tục xây dựng hai nhà trường thuộc Binh chủng theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, chuẩn hóa và hội nhập, theo mô hình nhà trường thông minh. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển nghệ thuật tổ chức bảo đảm TTLL trong tác chiến chiến lược và các hình thức tác chiến mới, nghệ thuật bảo đảm TTLL phù hợp với vũ khí, trang bị hiện đại.

Ba là, xây dựng hệ thống TTLL quân sự hiện đại. Phát triển mạng thông tin cố định theo hướng đồng bộ, hiện đại, dựa trên nền tảng IP, lấy mạng truyền dẫn làm xương sống, mạng truyền số liệu làm nền tảng để phát triển các dịch vụ thông tin quân sự với dung lượng siêu lớn, băng thông siêu rộng, tổ chức kết nối mạng rộng khắp trong toàn quân, gắn với yêu cầu tự động hóa chỉ huy, xây dựng Chính phủ điện tử trong Quân đội.

Triển khai nâng cấp đường trục chiến lược, chuyển đổi công nghệ mạng khu vực sang công nghệ IP băng rộng đối với mạng truyền dẫn quang; tiếp tục mở rộng, nâng cấp mạng truyền số liệu quân sự ứng dụng công nghệ định tuyến phân đoạn; hoàn thành chuyển đổi công nghệ, mở rộng phạm vi bảo đảm mạng tổng đài chuyển mạch mềm; thu hồi mạng tổng đài công nghệ chuyển mạch kênh. Tổ chức quản lý hệ thống tập trung, dự phòng theo khu vực; có khả năng kết nối linh hoạt với các mạng viễn thông dân sự trên nền tảng mạng đa dịch vụ. Kết hợp chặt chẽ giữa trang bị, công nghệ hiện đại với kinh nghiệm truyền thống, bảo đảm TTLL đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Binh chủng Thông tin liên lạc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm thông tin, truyền hình tại Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9.

Đầu tư triển khai hệ thống TTLL cơ động đồng bộ với mạng thông tin cố định ở cả 3 cấp chiến lược, chiến dịch, chiến thuật phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ, yêu cầu, địa bàn tác chiến. Trước mắt, thực hiện hiệu quả dự án “Tăng cường tiềm lực hệ thống thông tin cơ động”; chú trọng trang bị các loại khí tài hiện đại như trạm VSAT tự động bảo đảm kết nối vệ tinh linh hoạt, các thiết bị chuyển mạch đa năng, trang bị thông tin cầm tay. Đồng thời, hoàn thiện phương án, báo cáo đề xuất Bộ Quốc phòng triển khai mạng thông tin đối lưu thế hệ mới; hệ thống vệ tinh quỹ đạo thấp, các UAV trong bảo đảm TTLL truyền hình; triển khai mạng di động 5G dùng riêng trong lĩnh vực TTLL quân sự... Đối với các trung tâm điều hành hoạt động, đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu số, công nghệ số, nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ về công tác quản lý, chỉ huy, điều hành hoạt động của hệ thống TTLL quân sự; đồng thời, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong quản lý khai thác, phát triển và khắc phục kịp thời sự cố thông tin.

Bốn là, thực hiện tốt công tác bảo đảm kỹ thuật. Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết số 1656-NQ/QUTW ngày 20-12-2022 của QUTƯ về lãnh đạo công tác kỹ thuật đến năm 2030 và những năm tiếp theo, Binh chủng tập trung hoàn thiện cơ chế, phương thức bảo đảm kỹ thuật hiện đại, phù hợp với sự phát triển của hệ thống trang bị kỹ thuật thông tin, điều hành, sửa chữa tập trung, kết hợp thay thế khối, cụm và cấp đổi trang bị.

Chủ động ứng dụng khoa học-công nghệ tiên tiến trong quản lý kỹ thuật, tự động hóa trong điều hành sản xuất, sửa chữa, quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật và lực lượng kỹ thuật; xây dựng, nâng cấp các cơ sở sửa chữa theo mô hình nhà máy, xưởng sửa chữa thông minh, nhà kho thông minh, tự động hóa trong quản lý, tiếp nhận, cấp phát. Phối hợp với các doanh nghiệp trong nước sản xuất trang bị thông tin cấp chiến thuật, chiến dịch đạt tiêu chuẩn quân sự, tiến tới làm chủ hoàn toàn về sản xuất trang bị, vật tư, phụ tùng đồng bộ và các phần mềm, hệ điều hành... phục vụ công tác bảo đảm kỹ thuật và phát triển hệ thống. Duy trì hiệu quả các tổ bảo đảm kỹ thuật cơ động, kiên quyết không để xảy ra vùng trắng, vùng trống trong bảo đảm kỹ thuật.

Phát huy truyền thống vẻ vang 80 năm Bộ đội TTLL Anh hùng, Binh chủng TTLL phấn đấu lập nhiều thành tích mới trên mọi lĩnh vực công tác, xây dựng hệ thống TTLL quân sự hiện đại, ngang tầm các nước trên thế giới, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng, Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn báo QĐND điện tử) 

6.9.25

Dũng

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Theo thông lệ hàng năm cứ đến Ngày Thương binh - Liệt sĩ, Nhà trường lại mời các học viên con liệt sĩ đến gặp mặt trao đổi, động viên học tập. Năm nay 27/7/1981 cũng vậy.

Gần hai chục học viên quây quần quanh bàn nước của Văn phòng. Tôi chú ý thấy một em trắng trẻo, trông rất non trẻ ngồi cuối bàn.

- Đồng chí tên gì? Ở đại đội nào?

- Em là Dũng, học viên c16.

- Em quê ở đâu? Bố hy sinh ở chiến trường nào? Bia mộ ghi ở đâu?

- Em quê ở Thái Bình - Bố em hy sinh ở tỉnh Phú Khánh, huyện Tuy An.

- Gia đình có biết hài cốt của bố em ở đâu không?

- Theo thông báo thì hiện nay mộ của bố em ở ngay huyện Tuy An trong tỉnh này.

Tôi chợt nhớ trường hợp cậu em rể của tôi, liệt sỹ, gia đình phải vất vả lắm mới tìm được mộ, nên tôi nghĩ từ Nha Trang đi huyện Tuy An chừng 30km, nên có thể cho Dũng đến thăm bố được. Tôi đưa ý đó ra bàn, Ban giám hiệu nhất trí giúp Dũng. Tôi thấy Dũng hơi nhỏ con, đi xa sợ không an toàn, nên hỏi Dũng:

- Em có bạn nào khỏe hơn không?

- Có một bạn đồng hương.

Sắp đến ngày Lễ Quốc khánh được nghỉ 2 ngày, tôi gọi Dũng lên, muốn cho Dũng đến thăm mộ bố. Đơn vị cấp giấy giới thiệu với Ban chỉ huy Quân sự huyện Tuy An, và cấp công tác phí cho 2 người. Đi sáng 01/9 hẹn chiều 03/9 thì về.

Tôi ở Trường theo dõi sát sao, hết ngày 03/9 đến sáng 04/9 chẳng thấy Dũng về. Tôi rất nóng ruột, dự định nếu chiều hôm đó không về thì phải lấy xe đi tìm. Rất may, tối đó Dũng về.

Lý do về chậm là tôi quên ngày 02/9 người ta đều nghỉ cả, Dũng phải chờ 04/9 mới có người đưa về xã, nơi có nghĩa trang an nghỉ của bố Dũng.

Đồng chí Thành cán bộ dẫn Dũng về xã, cũng là đồng đội, người mai táng bố Dũng khi bị hy sinh, ông kể:

- Bố Dũng được bổ sung về huyện Tuy An là quân địa phương chống giặc. Tình hình lúc đó rất căng thẳng. Ông Thành và bố Dũng, ban ngày ở trên rừng, tối về xã lấy lương thực, vận động nhân dân. Nhờ có sự hỗ trợ của bộ đội địa phương mấy năm sau phong trào đã khác, giặc tăng cường vây, sau đó khủng bố gắt gao hơn. Hai anh em không về lấy lương được. Mẹ Hai, người mẹ đỡ đầu của bố Dũng cho con gái, lấy bao gạo để dưới sọt trên đựng phân bò khô, gánh ra đồng để tiếp tế. Không may lính ngụy bắt được, hất tung sọt gạo, bắt cô gái về tra tấn, đánh đạp, cô gái vẫn không hề khai, nhưng thân hình tàn tật, đầu óc không còn tỉnh táo. Cụ Hai rất đau xót khi thấy con gái bị bắt, liền bàn với bà con, sáng hôm sau cho các cháu bé đi thả trâu báo cho anh em trên rừng đừng xuống làng.

Ông Thành và bố Dũng nằm ven rừng thấy cháu bé và con trâu đến gần, bố Dũng nhỏm người lên hỏi. Trạm gác của lính ngụy đầu làng phát hiện thấy, liền xả một băng trung liên. Bố Dũng hy sinh. Ông Thành lùi lại không xuống nữa. Sau đó suốt một tuần địch lùng sục, không thể an táng bố Dũng được. Đến khi địch rút khỏi làng mới đưa thi thể cốt về làng an táng.

Ông Thành dẫn Dũng đến nhà mẹ Hai, một gia đình nghèo. Mẹ Hai chừng 50 tuổi, sống với hai con gái. Cô lớn bị địch đánh gây mất trí, cụ ông bị địch bắn chết trong cuộc nổi dậy Mậu Thân. Trông thấy Dũng, mẹ ôm choàng, khóc vì mẹ thấy Dũng giống bố quá. Mẹ vừa lau nước mắt vừa nhắc lại những ngày bố Dũng đã sống và chiến đấu ở đây.

Sau khi thắp hương cho bố xong, Dũng trở lại ngay đơn vị, rất vui và gửi thư về nhà báo tin cho bà, mẹ và cả nhà biết. Bà cụ gửi thư vào, rất xúc động và cảm ơn Trường. Cụ cũng nêu ra một đề nghị: nếu có thể thì cho phép giúp đỡ Dũng đưa bố về quê.

Tôi hỏi Dũng, Dũng cũng có nguyện vọng như thế, và Dũng rất tin bác Thành có thể hỗ trợ tích cực được.

Đây là việc khó nhưng làm được cũng rất hay. Tôi viết thư cho anh Thành và tính toán thời gian để kết hợp lúc lớp học Dũng bế giảng, Dũng có điều kiện về nhà. Cuối năm 1982, lớp Dũng thi tốt nghiệp xong. Phải chờ chừng 10 ngày học viên mới ra khỏi Trường về đơn vị mới. Tôi giúp Dũng, xin Ban Quân nhu cấp cho cái ba lô, tạm ứng tiền công tác cho Dũng mua giấy bản, vàng lá, nước rửa hài cốt, nước hoa và tôi dặn kỹ phải về đúng hạn để đi tàu. Chậm là hỏng hết.

Tất cả mọi việc nhờ anh Thành và gia đình mẹ Hai hỗ trợ. Chiều ngày hôm sau Dũng quay về Trường sau lưng cõng hài cốt người cha thân yêu. Tối để ngoài hiên, chó nhà dân của suốt đêm. Ngày hôm sau, chuyến tàu quân sự về Bắc ngoài 60 học viên Trường còn 1 liệt sĩ trở lại quê sau bao năm chiến đấu gian khổ.

Hai ngày một đêm trên xe lửa kết thúc. 17 giờ Dũng đã đưa bố về đến quê hương. Tại trụ sở UBND xã, bà con họ hàng, Đảng ủy, UBND, các đoàn thể đã tụ tập đông đủ đón. Mấy bà ôm lấy hài cốt khóc.

Sau đó là lễ viếng cho tới khuya, sáng sớm hôm sau mới đưa ra an táng tại nghĩa trang liệt sỹ quê nhà.

Sau đó gia đình đã viết thư vào cảm ơn Nhà trường. Rất tiếc qua mấy lần di chuyển tôi đã để thất lạc.

Tôi có ý định lưu Dũng phục vụ Trường một thời gian, rồi gửi đi đào tạo sỹ quan. Nhưng qua thư của chú Dũng thì gia đình có khó khăn, Dũng lại là cháu đích tôn nên xin phép cháu phục vụ Quân đội mấy năm rồi xin về xây dựng gia đình.

Dũng ra trường về công tác ở Tiểu đoàn Thông tin Quân khu 3. Tôi có gặp lại đôi lần trên đường đi công tác.

Nha Trang 10/1982

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016) 

5.9.25

Chuyến đi cuối năm

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

20 giờ ngày 21/12/1981 đồng chí Trưởng phòng Công trình Bộ tư lệnh Binh chủng điện vào:

- Đơn vị X còn phiếu 50 mét khối gỗ lấy ở Quy Nhơn, mà nay chỉ còn mấy hôm nữa hết năm, tấm phiếu đó coi như hết tác dụng. Cậu xem có cách nào tận dụng được ít nào, thì mình gửi vào.

- Môi trường ở đây tôi cũng không quen. Chưa nghĩ ra cách gì cả, nhưng tôi gần trạm gỗ hơn, anh cứ gửi nhanh vào đây. Còn nước còn tát.

Chiều ngày 23/12 tôi nhận được phiếu: Tôi báo cáo với Ban giám hiệu, mời Chủ nhiệm Hậu cần, Tài vụ và Doanh trại đến làm việc, quyết định: 4 giờ hôm sau đi Quy Nhơn.

Đúng giờ, 4 người chúng tôi và lái xe lên đường. May rủi, chưa biết thế nào. Đường phố còn vắng, đèo Rù Rì tối om, xe bon bon chạy. Xuống đèo ăn vội bát phở, lại đi. Hơn 8 giờ tối đến Trạm Lâm sản Quy Nhơn. Sau khi xuất trình giấy tờ, gặp Trưởng trạm.

Ông quãng ngoài 50 tuổi, tóc đã bạc, tính tình vui vẻ. Sau khi xem phiếu, nghe tôi trình bày, ông gọi nhân viên mang sổ sách đến xem, ông nói:

- Số lượng này lớn quá! Tôi rất muốn giúp anh nhưng khó quá, chỉ có thể đáp ứng được 5 mét thôi.

Tôi nghĩ mình không quen cũng khó lắm, tôi nói:

- Hay là anh cho tôi về Nha Trang?

- Ừ, anh thử về xem sao?

Nói rồi, đồng chí đó viết ngay và dặn nếu còn khó khăn gì quay lại đây tôi tính giúp!

Chúng tôi đi tìm quán cơm, ăn vội vàng lại quay ngay về Nha Trang.

Tới Nha Trang tôi lao ngay đến Phòng Lâm sản và đưa phiếu để đồng chí Trưởng phòng xem. Đồng chí cầm tấm phiếu lật đi lật lại mấy lần, rồi nhìn tôi nói:

- Thế này thì khó quá bác ạ. Đây cả trạm của tôi, bác ra mà xem cố gắng lắm lấy được 10 khối là nhiều... Mà thời gian hết mất rồi.

- Vâng, khối lượng lớn, thời gian hết, bác xem có cách gì giúp được chúng tôi chăng?

Đồng chí đó nhìn lên trần rồi hỏi:

- Kế hoạch của bác năm tới có chưa?

- Nét lớn thì có rồi: chẳng giấu gì bác chúng tôi mới ở Vũng Tàu ra, nhà ở, lớp học, bàn ghế còn phải làm nhiều lắm!

Nghe vậy mặt ông ấy tươi hẳn lên.

- Thế thì có cách giúp bác. Bác lên xưởng gỗ ở Ninh Hòa đặt hàng với họ, sơ bộ tính toán giá trị công trình, số lượng gỗ cần tiêu thụ, bác cầm hợp đồng về đây ta bàn tiếp.

Tôi chợt nhớ tới một vài gia đình giáo viên phải trải rơm xuống đất nằm hoặc phải mượn giường bộ đội ghép lại năm... Hay là nhân dịp này làm một số giường cho anh em....

Tôi mang suy nghĩ đó trao đổi với Ban giám hiệu và đồng chí Bí thư Đảng ủy. Các anh ấy đều hoan nghênh, chỉ lo không lấy được gỗ. Tôi đề nghị Bí thư triệu tập Đảng ủy hội ý nhanh để xin phương hướng giải quyết ngày hôm nay.

20 giờ 30’, các đảng ủy viên và một vài đầu ngành quan trọng cũng có mặt. Đảng ủy nhất trí nếu lấy được số gỗ như trên thì ưu tiên để xây dựng doanh trại, dùng một số làm cho mỗi cán bộ giáo viên 1 cái giường đôi rộng 1,6 mét, dài 1,9 mét. Hội nghị bế mạc rất vui vẻ, tràn đầy hy vọng.

Tôi lên xí nghiệp mộc ở Ninh Hòa làm hợp đồng giường đôi, còn lại làm xà gồ, ván cửa.

Tôi mang hợp đồng lên Trạm Lâm sản Nha Trang. Đồng chí Trưởng trạm liền viết phiếu gỗ của Trường chuyển cho Ninh Hòa. Tôi bắt tay, cảm ơn sâu sắc về sự giúp đỡ đó. Tôi về đến Trường, một không khí tưng bừng náo nức, ngồi đâu cũng bàn về giường.

Sang năm 1982, các xe tải của Trường lượt đi ra Hà Nội lấy hàng đều chở giường của cán bộ giáo viên.

Rất may, cũng năm 1982, Bộ tư lệnh đã quyết định chuyển Trường từ Nha Trang ra Sơn Tây nên số gỗ đó đã giúp Nhà trường nhanh chóng ổn định nơi học tập, sinh hoạt.

Ô tô chở giường ra Hà Nội được an toàn, thông báo anh em đến nhận nhanh gọn.

Tôi đến thăm anh Thị, nguyên Trưởng ban Hậu cần, nghỉ hưu ở Hưng Hóa (Phú Thọ) và anh Bùi Thọ Văn, nguyên Trưởng ban Bảo đảm vật chất huấn luyện, nghỉ hưu ở khu tập thể bờ sông, đều có mang theo tặng mỗi anh một cái giường.

Các anh ấy rất xúc động cảm ơn Nhà trường.

22/12/1982

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016) 

2.9.25

Đường ra mặt trận

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

10 tháng 3 năm 1975.

Đó là ngày chiến thắng Buôn Ma Thuột. Chiến thắng đã thổi làn gió phấn khởi, đầy hào hứng cho mọi người dân Việt Nam, cả trong và ngoài nước, đồng thời cũng dấy lên tinh thần sẵn sàng đi B giết giặc. Đơn vị tôi cũng không ngoài lệ.

16h30′ ngày 28/3/1975, tôi được lệnh bàn giao để đi nhận nhiệm vụ mới.

19h00 cùng ngày có mặt ở Bộ tư lệnh. Đồng chí Tham mưu trưởng phổ biến quyết định điều chúng tôi đi B. Mọi người nhất trí, ngày mai đồng chí Tư lệnh giao nhiệm vụ. Sau đấy xuống nhận quân trang đi B.

Về nhà, tôi nói cho cả gia đình biết. Thầy tôi và vợ tôi đều nói, cứ yên tâm mà đi, đã có anh em, bà con làng xóm, xí nghiệp và đơn vị giúp đỡ. Nói vậy nhưng làm sao mà tôi vô tư được, khi mà thầy tôi đã 75 tuổi, lại mới qua trận tai biến cách đây vài năm, các con tôi: cháu lớn nhất 10 tuổi, bé nhất 01 tháng tuổi. Đơn vị giúp tôi sửa cái nhà, còn nợ anh em 3.000 đồng (tương đương hơn ba chục tháng lương của tôi). Tất cả đè lên vai của vợ tôi khi tôi đi B. Sáng hôm sau, tôi ngồi rút quai đôi dép râu, con gái thứ hai 8 tuổi ngồi xem, nhìn đôi mắt thơ dại của con, lòng tôi trào lên niềm thương vô hạn, nước mắt cứ đầm đìa, lã chã.

6h30 hôm sau, Tư lệnh giao nhiệm vụ cho chúng tôi: “tiếp quản các trung tâm kỹ thuật thông tin của địch mà quân ta thu được, bảo vệ, gìn giữ để đưa vào khai thác sử dụng phục vụ chiến đấu”. Đoàn có 7 người, hầu hết là kỹ sư thông tin, do Trung tá Vũ Anh Hiền, Phó Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Thông tin làm Trưởng đoàn, tôi làm Bí thư chi bộ.

Ngay sau đó lên đường, anh chị em trong Bộ tư lệnh đứng đầy sân tiễn chúng tôi đi. Một nữ học viên cũ của Trường đỡ ba lô của tôi dắt tay ra xe.

Ô tô đi sang sân bay Gia Lâm. Chúng tôi ngồi đợi máy bay đến 11h00’ thì được biết sân bay Phú Bài (Huế) không hạ cánh được. Đoàn lên ô tô về nghỉ tại Trạm 66 (Hà Nội) đến 14h00 lại lên ô tô đi xuống Hải Phòng.

Đến cảng chúng tôi xuống chiếc tàu 200 tấn. Lệnh trên trước khi ra đến phao số 0, không ai được lên boong, tất cả ở dưới hầm tàu. Ra đến biển quốc tế, tôi lên boong ngắm xem phong cảnh. Mênh mông sóng biển nước xanh nổi liền mây trắng của trời. Xa xa thỉnh thoảng có chiếc tàu trắng lướt qua. Con tàu của chúng tôi chỉ như chiếc lá tre giữa hồ nước. Tôi chợt nhớ những con tàu không số chở bao nhiêu vũ khí đạn dược cho đồng bào miền Nam đánh giặc và bao nhiêu chiến sỹ đã hy sinh trên những con tàu đó. Ngày nay không biết đã có ai tự đối mặt với các liệt sỹ xem xét mình trong sự nghiệp vì dân vì nước? Nhờ trời, tôi không bị say sóng, vẫn có thể bưng cơm, lấy nước giúp các đồng chí bị mệt. Đêm xuống chúng tôi ngủ dưới hầm tàu.

Ngày 29/3/1975 Đà Nẵng giải phóng.

Sáng ngày hôm sau chúng tôi vào quân cảng Đà Nẵng. Trên cầu tàu, những người chạy tỵ nạn hôm qua vứt lại bừa bãi quần áo, son phấn, giầy dép, mũ, ti vi... ngập đến đầu gối người đi qua. Vài chiếc thuyền cá vừa từ khơi trở về.

Chúng tôi lên xe về sân bay. Đường phố vắng vẻ, hầu hết các nhà đều đóng cửa, vài cây hoa giấy đỏ trắng nở góc nhà cho thêm sức sống. Vào sở chỉ huy sân bay. Trên bàn một cốc cà phê uống dở để lại. Cuốn nhật biên vẫn mở, cạnh là chiếc bút máy. Cuốn nhật biên ghi: "Đêm qua đặc công Việt cộng vào sân bay". Tin cho hay: Các trung tâm thông tin đã được bảo vệ tốt. Tôi nấu cơm cho anh em ăn, lấy ít gạo Nhật, mấy hộp thịt bò Mỹ, ít muối và một bó củi bỏ lên ô tô. Chiếc xe GMC (tải) đưa chúng tôi và một số nhà báo chạy theo quốc lộ 1 vào đến Nha Trang. Dọc đường không có những làng xóm xanh mướt hàng tre như ngoài Bắc mà là những mái nhà tôn đan xen những cây dừa cao vút. Cuối mùa mưa nên cây cỏ khô héo thỉnh thoảng gặp một cái “ấp chiến lược” của giặc để lại, với những mái lều lợp tôn thấp tè. Xung quanh là hàng rào kẽm gai, thương cho bà con bị chúng nhốt ở đó.

Xe đi, thỉnh thoảng phải dừng lại vì những chiếc cầu bị giặc phá hỏng, có lúc phải nghỉ đến 2 giờ để công binh sửa tạm. Dọc đường hình thành hai dòng người xuôi ngược. Dòng bộ đội đi từ Bắc vào. Dòng bà con gầy đen quần áo lam lũ từ các “ấp chiến lược” trở về quê, dòng những tên lính ngụy thất trận, lấm lét, lủi thủi quay lại nơi ở cũ. Bà con thấy xe bộ đội qua đều vẫy tay hoan hô. Có những cô gái, tóc bay theo gió điệu đà trên chiếc Hon đa đuổi theo xe bộ đội vẫy chào.

Trước mặt đã là Nha Trang. Từ Hà Nội vào đây chỉ có mấy ngày. Những năm về trước chúng ta phải tốn bao sương máu vượt qua mấy ngàn cây số băng qua đèo cao, suối sâu trên con đường Trường Sơn huyền thoại, đi mấy tháng trời mới tới được miền Nam yêu quý.

Ngày 02/4/1975 thành phố du lịch Nha Trang giải phóng.

Chúng tôi vào thành phố lúc 16h00 ngày 03/4/1975, phải dừng xe hỏi đường. Thấy vậy bà con xung quanh chạy ra xúm quanh ô tô hỏi chuyện. Ai cũng khen bộ đội khỏe mạnh, hiền. Một người thấy tôi đeo cái đài Orionton, to như cái tráp liền bảo: sao không mang cái nhỏ cho gọn? Tôi đáp: để khi họp đông người nghe cho tiện! Anh ta gật đầu tán thành. Có người mang cho xoài, mía, chuyện trò rất vui. Một bác già nói: Bộ đội nhiều súng to, có cả xe tăng sao không vào sớm để bà con đỡ khổ? Tôi đáp: đánh giặc phải có từng bước chứ bác! Bác ta gật đầu thú vị.

Trong đời bộ đội, 2 lần tôi được vinh dự vào vùng mới giải phóng. Lần 1 ngày 10/10/1954 tôi cùng đơn vị hành quân từ Phù Lỗ về tiếp quản sân bay Gia Lâm (Hà Nội). Dọc đường nhân dân hai bên đường cách xa mấy trăm mét cũng cầm cờ chạy ra đón bộ đội. Về đến cầu Đuống hơn chục xe xích lô cắm cờ đỏ sao vàng, mời chúng tôi lên xe: "Các anh đi bộ đã 9 năm, ngồi lên xe cho chúng em thơm lây một quãng". Tất nhiên chẳng ai làm theo, thế là hình thành một đám rước, mọi người hoan hô. Còn đây là lần 2 tiếp quản Nha Trang.

Một thanh niên bám tay vào cửa xe dẫn chúng tôi tới Sở chỉ huy Quân đoàn 3 của ngụy.

Một khu nhà khá đẹp. Trước sân đã có đông bà con đang chuẩn bị cơm chiều đón bộ đội. Các cửa phòng mở toang trong nhà giấy tờ sổ sách vứt tung tóe. Ảnh mấy tên sỹ quan ngụy bị dẫm nát dưới đất.

Bốn nồi quân dụng cơm đã chín, một nồi thức ăn bốc hơi thơm ngào ngạt, do tự vệ thành phố giúp đỡ. Cơm xong đang đứng nói chuyện thì có báo động. Tiếng máy bay gầm rú tiếp theo là tiếng nổ dữ dội của bom. Chúng tôi chạy ra bờ biển. Lửa cháy sáng rực. Sau mấy loạt bom, thành phố trở lại bình thường, chúng tôi ra xe chạy ngược về phía đèo Rù Rì, cách thành phố chừng 2km. Trời tối, sương xuống hơi lạnh. Lệnh: nghỉ tại chỗ. Chúng tôi nằm ngay mép đường. Xe tải, tăng, pháo, tên lửa... rình rịch đi qua suốt đêm không ngủ được nhưng mà vui.

Sáng hôm sau tôi vào "Trung tâm nối mạch thông tin" của Nha Trang. Những ăng ten cánh buồm cao chừng 5m, xung quanh rào dây thép gai kín. Lối vào độ 1m, nhà lợp tôn có chống nóng bằng những tấm xốp. Nền lát gạch nhựa, 2 ngày đánh xà phòng 1 lần... Những chiếc máy đứng thành giàn ngay ngắn. Tôi chú ý ở cửa ra vào có một cuốn nhật biên ghi rất tỉ mỉ, ai ra vào cũng phải ghi, kể cả trung tá Mỹ vào thay một linh kiện máy.

Sân bay rộng mênh mông. Mấy dãy nhà 2 tầng cho quân ngụy ở nay bỏ trống. Tối chúng tôi ở một căn gác. Trừ đoàn trưởng, còn ai cũng phải gác. Tôi cầm khẩu AK đạn đã lên nòng đứng nép vào một góc, không gian vắng lặng. Một vài đám cháy sáng một góc trời khiến tôi nhớ lại những đêm mới kháng chiến ở Hà Nội. Gió biển thổi ù ù, thỉnh thoảng khua vào một mảnh tôn rách kêu loảng xoảng. Tôi căng mắt quan sát xung quanh. Một phút tĩnh lặng tôi lại nhớ đến con tôi. Xa xa từ quốc lộ 1 vọng đến tiếng ầm ì của động cơ ô tô, xe tăng. Bầu trời có lúc vụt lên những đạn tín hiệu xanh, đỏ. Cứ tưởng địch - không phải! Anh em bộ đội lấy được đạn tín hiệu của địch, bắn lên cho “vui” thôi!

Sáng hôm sau, tôi tìm đến “Bộ chỉ huy mặt trận Cực Nam Trung bộ” để báo cáo tình hình. Đường vẫn vắng lặng. Gió biển thổi những chùm lá khô loạt soạt theo đường phố làm tôi nhớ vô cùng Hà Nội ngày trở gió. Tôi lên đạn khẩu súng ngắn, giắt vào lưng tìm đường đi. Tới hỏi thăm người dân, mắt căng nhìn đường phố, cảnh giác. Bỗng có tiếng xe máy đỗ phía sau, tôi quay lại thấy một thanh niên đội mũ vải, tóc dài sau gáy, râu dậm tới ngực, đeo kính trắng, tôi hơi giật mình.

- “Chú đi mô? Con dẫn chú đi”. Tôi ậm ừ không nói.

- “Con là tự vệ giúp các chú vô thành phố”.

Tôi hơi yên tâm nói: "Cho tôi đến cầu Bóng".

Lên xe, tay tôi vẫn để vào khẩu súng ngắn, xe chạy một lát, anh ta nói: “Bọn con hoạt động ở đây, ăn mặc theo địa phương hơi kỳ với các chú”. Tôi bảo: “Quan trọng là cái đầu luôn nghĩ về Tổ quốc Việt Nam là được”.

Lát sau xe đến cầu Bóng. Một dãy phố mới bị máy bay ngụy dội bom hôm kia. Những tấm tôn, những mảng tường khói đen, xác chiếc Honda cháy xém, còng queo. Dưới sông thuyền dày đặc cái nọ liền cái kia. Tôi đặc biệt vui sướng ngắm nhìn ngôi tháp Chàm cổ còn nguyên vẹn với hàng trăm năm mưa gió và dâu bể.

Tôi qua cầu đi về hướng Bắc tìm đến nhà chị Ba để liên lạc. Một ngôi nhà 3 gian lợp tôn, xung quanh có nhiều dừa. Chị bổ dừa, mời tôi một cốc nước. Chị cho biết: gia đình chị là một cơ sở cách mạng. Chồng chị hy sinh trong cuộc nổi dậy mùa xuân 1968. Anh chị có 2 con gái đã lấy chồng ở thành phố.

Tôi gặp cán bộ của “Mặt trận cực Nam Trung Bộ” báo cáo tình hình và đề nghị một vài biện pháp hỗ trợ.

Những ngày sau, địch cũng cố phòng tuyến ở Phan Rang, chúng tôi dừng lại ở Nha Trang, tiếp tục xem xét ở trong trạm máy. Trung tuần tháng tư tôi được lệnh quay lại Đà Nẵng, vất vả vì xe cộ và đi bộ để về đến “Sở chỉ huy tiền phương của Binh chủng”. Nhiệm vụ mới của tôi: Tổ chức lớp huấn luyện cấp tốc về máy thông tin mới thu được, lấy Trạm thông tin Sơn Trà làm nơi thực tập, ăn ngủ tại trại huấn luyện. Biệt kích ngụy cách Trạm thông tin chừng 500m.

Đây là một cơ sở u ám, hoang vu, cỏ cao 1m đang mùa khô lụi dần. Mấy quả đạn pháo bỏ lăn lóc trên cỏ. Vài căn nhà mái tôn hoen rỉ, nối với nhau bằng lối đi chừng lm láng xi măng. Trong nhà giấy tờ, quần áo vứt bừa bãi. Một vũng nước với vài con cá cờ, vài cây rau dại cùng mấy cái hầm làm phương tiện huấn luyện.

Lớp học có hơn ba chục học viên, là các nhân viên kỹ thuật từ các đơn vị gửi về. Anh em ở trong các nhà của trại. Trong khi làm vệ sinh đã phổ biến không được đốt rác, vậy mà... Một buổi trưa đang ngủ, bỗng tiếng nổ ùng oàng inh tai, khói đen kín cả một nhà, lửa đang lem lém bãi cỏ. Nếu cháy tiếp mấy quả đạn pháo to bị kích nổ... thì không biết cái gì sẽ xẩy ra?

Tôi hết sức lo lắng. Lệnh lấy bao cát lấp các cửa tránh thương vong, một số lấy bao cát ném vào lửa. Rất may anh Phùng Văn An cùng vài học viên phát hiện 2 thùng nước ở góc nhà đã dũng cảm dùng mũ sắt vục nước hắt vào lửa. Đám cháy bị dập tắt. Thật hú vía.

Nguyên nhân do học viên cầu nghiện thuốc lá nặng. Tay luôn có bật lửa. Trưa đó ngồi hút thuốc, thuận tay châm vào vỏ bao, ném ra cửa, gặp đám cỏ, cháy bùng. Đoàn cảnh cáo, đề nghị trên trả về đơn vị cũ.

Lớp học đã đi vào nề nếp.

30/4/1975 Sài Gòn giải phóng.

Tất cả lớp vô cùng xúc động, cùng nhau lắng nghe Đài Tiếng nói Việt Nam, hát vang bài “Giải phóng miền Nam” bàn tán về niềm vui khi được vào Sài Gòn. Ai cũng nhớ đến Bác Hồ không còn để chung vui với con cháu trong ngày đại thắng của dân tộc.

Đầu tháng 5/1975, tôi được lệnh trở về đơn vị cũ.

Tôi quay lại sân bay Đà Nẵng. Trước khi lên máy bay mọi người đều phải kiểm tra hành lý. Một dãy dài bộ đội đứng sau ba lô của mình với hầu hết là bộ quân phục cũ bạc mầu, thỉnh thoảng có một con búp bê bằng nhựa, vài cuộn len xanh đỏ, một cái khung xe đạp. Tài sản của anh bộ đội sau chiến thắng trở về!

Tôi về đến Hà Nội. Không khí đặc biệt sôi động sau chiến thắng vĩ đại của mùa xuân lịch sử, chiến thắng của hòa bình sau mấy chục năm chiến tranh, chiến thắng mang lại thống nhất non sông sau hơn một thế kỷ bị chia cắt.

Tôi về đơn vị và gia đình vui sướng, hạnh phúc vì đã hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2004

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016) 

30.8.25

Xoan tím

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Cán bộ kỹ thuật là một thành phần không thể thiếu của Bộ đội Thông tin. Ngay từ nhũng ngày đầu được giao làm Trưởng phòng Thông tin của Bộ Tổng Tham mưu, cụ Hoàng Đạo Thúy đã tập họp ngay các anh Lê Dung, Nguyễn Diệp, những người có tay nghề V.T.Đ vào hoạt động. Đến năm 1950 đã mở lớp cơ công V.T.Đ khóa chiến thắng (01/5/1950 - 30/8/1950) với 35 học viên. Những năm 1960 là các lớp trung cấp kỹ thuật trong và ngoài nước.

Theo sự phát triển của Quân đội ta, ngày 24/3/1967 Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký quyết định thành lập Trường Kỹ thuật Thông Tin (QĐNDVN).

Trường do sát nhập từ Tiểu đoàn 3 (Trường Sỹ quan Thông tin) và một đại đội của Trường Sỹ quan Kỹ thuật mà thành.

Việc thành lập Trường đánh dấu bước trưởng thành của Binh chủng và riêng ngành kỹ thuật, khiến mọi người rất vui sướng như mùa xuân thấy “hoa xoan phơi phới bay”.

Trường Kỹ thuật Thông tin khi đó chỉ có 4 đại đội, các giáo viên kiêm khung.

Tôi từ Cơ quan Bảo đảm vật chất huấn luyện Trường Sỹ quan Thông tin được điều về Đại đội 9 của Trường Kỹ thuật làm Đại đội trưởng. Chính trị viên là Công Tường, Đại đội phó là Phạm Sáu.

Tôi đồng thời là Tổ trưởng giáo viên, lại đang theo học năm cuối Đại học Bách khoa Hà nội, vợ ở Sơn Tây về quê chồng chưa được đăng ký hộ khẩu. Anh Tường quê Nghệ Tĩnh, vợ mới hy sinh khi máy bay Mỹ ném bom vào nơi chị làm việc, để lại 3 cháu còn thơ dại, anh Sáu mới tốt nghiệp Đại học Bách Khoa Hà Nội, chuyên môn giỏi, nhiệt tình, tháo vát. Ba chúng tôi làm việc với nhau rất tốt bàn bạc tập thể, triển khai rõ ràng.

Từ một cán bộ cơ quan nay xuống phụ trách đơn vị, tôi rất lo, nhất là khâu bảo đảm an toàn. Tôi rất yên tâm tin tưởng ở cấp ủy và tập thể anh em. Nhưng với trách nhiệm cá nhân phải rất cố gắng. Tôi tự đề ra phương châm 6S (xông xáo, sâu sát à đạt tới sắc sảo). Tôi đã nhanh chóng quản lý được công việc.

Tôi nói chuyện anh em đều tán đồng, có người vận dụng làm theo như anh Nguyễn Viết Phụng là Chủ nhiệm lớp BI sau này đã trở thành Chủ nhiệm Cục Hậu cần của Binh chủng.

Đại đội 9 đóng ở làng Đông, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang, bà con rất tốt giúp cho bộ đội nơi ăn chốn ở, chỗ học, giúp vật liệu làm nhà cho chỉ huy và nhà ăn kiêm hội trường. Một đêm đã báo cho bộ đội giữ một người lạ nằm ngoài hàng rào nhà chỉ huy. Bộ đội đã giao cho công an địa phương để xem xét.

Học viên là những người mới, rời ghế các trường phổ thông ở địa phương, chịu khó học và rèn luyện, những ngày mưa rét vẫn luyện hành quân kể cả đi xa như đi đến Mai Sơn. Học được 6 tháng thì khám sức khỏe, phát hiện học viên Bách, đã mổ dạ dày. Hỏi tại sao còn đi bộ đội? Đáp: Thanh niên bây giờ mà không đi chiến trường thì xoàng quá, nên trốn để được đi. Khi biết đây là đơn vị huấn luyện đi B, đồng chí đó đã 2 lần gặp chỉ huy xin đừng loại.

Giữa năm 1968, Trường lấy Đại đội 9 là đơn vị điểm, rút kinh nghiệm về cách tổ chức “giáo viên kiêm khung”.

Cuối năm đó tôi lên cơ quan làm Chủ nhiệm Khoa giáo viên đầu tiên của trường, nhưng hình ảnh của Đại đội 9 sống mãi trong tim.

Cuối năm 1968, lần đầu tiên, Trường tổ chức hội nghị huấn luyện, kiểm điểm, đánh giá kết quả huấn luyện. Hội nghị đã tập hợp tất cả giáo viên, cán bộ, rất vui, kết quả rất tốt đẹp.

Năm 1970, Cục Nhà trường tổ chức rút kinh nghiệm giảng dạy ở các trường trung cấp kỹ thuật, tổ chức tại Trường Thông tin với hơn 100 đại biểu từ toàn quân về.

Năm 1971, Bộ Giáo dục công nhận 3 trường trung cấp quân đội đạt cấp quốc gia: Trường Kỹ thuật Thông tin, Trường Trung cấp Quân y, Trường Trung cấp Quân giới.

Năm 1972, trường được Bộ Giáo dục mời dự hội nghị các trường. Tổ chức tại Trường Đại học Thương nghiệp, Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp đã đến nói chuyện.

Hè năm 1974, Trường lại được mời dự Hội nghị, Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp đến huấn thị, buổi họp nào cũng đông nghịt người, chăm chú nghe vừa bổ ích có tác dụng rất tốt với công tác chỉ đạo ở các trường.

Hè 1974

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016) 

29.8.25

Mát tay

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Năm 1952 sau khi đã phục vụ Chiến dịch Hòa Bình, tôi trở lại Xưởng Thông tin. Khi đó Ban quản đốc và Công đoàn đã cho phép các gia đình và công nhân ở tập thể được nuôi gà, ngan và trồng rau để cải thiện.

Cụ công nhân mộc Phi Công Thực đã làm một chuồng gà, nuôi nhốt đẻ tránh bị cầy cáo về vồ mất. Một sáng chủ nhật cụ định bắt một con thịt, nhưng chuồng quá sâu cụ với mãi không bắt được và “khục”! một tiếng ở vai, cụ đau buốt, tay không cử động được nữa. Đến viện quân y xác định cụ bị gãy khớp bả vai.

Cụ đã đi chữa gần 3 tháng, tiến bộ chẳng được bao nhiêu do đã già, xương phát triển kém.

Ít lâu sau đó, một hôm họp chấp hành công đoàn có cả Quản đốc xưởng Dư, đồng chí Chủ tịch Công đoàn nói:

- Cụ Thực muốn xin về gia đình để chữa tay, mà từ đây về nhà cụ phải đi mất mấy ngày đối với người khỏe. Cụ lại già, yếu thì đi thế nào?

Thảo luận một hồi, quyết định!

- Do cụ đã quá tuổi lao động nên để cụ nghỉ luôn, thành lập một tổ đưa cụ về nhà, giao cho đồng chí Khoát lo việc này.

Tôi lập tổ công tác gồm 5 người: 4 người thay nhau khiêng cụ, một người dự bị ốm đau dọc đường, lo ăn nghỉ.

Sau khi lưu luyến anh em cụ leo lên võng, chúng tôi khiêng cụ đi. Lãnh đạo nhắc đi nhắc lại: chú ý an toàn. Được cái người cụ cũng nhẹ nên việc khiêng đi cũng chấp nhận được. Cứ đi chừng 1km lại đổi người khiêng, chuyện trò vui vẻ nên cũng không thấy vất vả lắm.

Cụ quê ở Thạch Thất, Phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, tản cư lên Yên Bái, hiện gia đình đều ở đó cả. Chúng tôi đi 3 ngày 2 đêm thì về đến gia đình. Rất mừng tất cả đều an toàn, cụ rơm rớm nước mắt trong vòng tay của cụ bà và 2 con.

Thục, con gái lớn của cụ mang ra lưng thúng quýt. Cả nhà và chúng tôi ăn, chuyện trò vui vẻ.

Cơm tối xong, ngồi quanh ấm nước, cụ vỗ vai tôi, nói:

- Tôi ở với anh đã mấy năm nhưng hôm nay mới thật biết anh: anh là người rất tốt, gia đình và tôi rất cảm ơn các anh.

- Cụ ơi, thầy cháu cũng là công nhân, ta giúp nhau thôi cụ ạ.

- Tôi đã già, chẳng biết sống chết thế nào, còn 2 việc nhờ các anh và Xưởng giúp đỡ. Một là cháu Thục đây, năm nay 18 tuổi, các anh đây hay ở Xưởng có anh nào ưng ý, tôi xin ủng hộ, hai là cháu Thụ năm nay 15 tuổi, nếu Xưởng có việc gì phù họp thì cho cháu đi theo. Mấy năm công tác với anh em Xưởng tôi thấy anh em rất tốt.

Thục nghe bố nói vậy thì quay mặt đi.

- Vâng cháu xin chuyển lời của cụ về Công đoàn và Quản đốc xưởng.

Tôi quay lại vỗ lưng anh em ra sân hội ý.

- “Đánh nhanh, thắng nhanh” ý kiến cụ Thực, bọn mình ai có ý kiến gì không? Tôi thì vô tư!

- “Tụi tôi cũng vậy”, mấy anh ở Phú Thọ đáp. Thấy vậy tôi tiếp luôn.

- Anh Nhì năm nay 26 rồi, “xung phong” đi!

- Biết người ta thế nào, liệu có nên cơm cháo gì không?

- Cứ “xung phong” đi!

Tôi quay vào nói với hai cụ:

- Được ý của cụ, cháu báo cáo xin phép hai cụ cho anh Nhì được trao đổi với em Thục đôi điều.

Cụ Thực vỗ tay:

- Đồng ý! Anh Nhì cùng phân xưởng với tôi, anh ấy hiền lành lắm.

Anh Nhì và Thục đi ra phía bờ sông. Chúng tôi lên giường ngủ một giấc say sưa sau mấy ngày vất vả trên đường.

Sáng hôm sau, thấy anh Nhì tươi tỉnh cùng Thục đi chợ. Và hôm sau khi chúng tôi ra về, thì anh Nhì xin ở lại một ngày nữa. Tháng mười năm đó đám cưới Nhì - Thục được tổ chức, tôi bận không về dự được. Sau khi miền Bắc được hòa bình, từ Thạch Thất anh chị đã về nhà tôi chơi mấy lần, con trai gái đầy đủ cả.

Em Phi Công Thụ về Xưởng năm 1957 được đi đào tạo kỹ sư V.T.Đ ở Liên Xô.

20.11.1960

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016) 

26.8.25

Ở rừng

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Mùa xuân năm 1953 tôi đang làm cơ công V.T.Đ thực tập tại phân xưởng V.T.Đ của Xưởng Thông tin ở Quán Vuông huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên thì được lệnh lên tập trung ở Cục Thông tin để đi công tác. Sau này mới biết là đi chiến dịch đánh giặc Pháp ở Thượng Lào.

Cứ 17 giờ thì tập trung mặc niệm đồng chí Stalin, vì khi đó đồng chí ấy mới mất. Sau đó hành quân bộ đến chừng 2 giờ đêm thì nghỉ.

Vì không có cái gì để che mưa nên khi đi qua Phú Thọ, Ban chỉ huy phát động phong trào làm áo tơi như bà con ta vẫn dùng. Lá cọ và giây móc, nhân dân ủng hộ. Chúng tôi tước lá ngồi khâu. Kết quả, sau ba lô của bộ đội có tấm áo tơi lá xanh, khi mưa thì che, tối thì trải nằm thay chiếu ấm lủng.

Cứ đêm đi ngày nghỉ liền như vậy, chẳng mấy buổi đã đến Mộc Châu. Bài thơ “Lên Tây Tiến” lại vang trong đầu.

Chứng tôi đặt chân lên quốc lộ 41, nơi đã ghi bao dấu tích của lịch sử. Nhưng con đường xưa rải đá rộng 2 mét, nay cỏ mọc gần hết mặt đường chỉ có dấu chân mờ mờ trên cỏ, rộng chừng 20cm.

Rừng cây um tùm đầy vẻ hoang sơ. Mỗi khi có người đi tới, từng đàn khỉ gọi nhau làm rung động cả khu rừng. Những con chim đuôi dài, lông mầu sặc sỡ, bay lượn trông rất đẹp mắt. Nghe nói vùng này rất nhiều hổ, có lần bộ đội hành quân đã gặp hổ ngồi ven đường. Nhưng bộ đội thì bảo nhau! Hổ sợ lửa, sợ tiếng tinh nứa cọ vào nhau, hổ đánh hơi người rất xa nên cũng không phải lúc nào cũng giết người được. Những điều đó chẳng biết đúng sai nhưng với lính trẻ chúng tôi cũng thêm yên tâm vào rừng.

Đi qua Mộc Châu một đêm tôi được giao nhiệm vụ mới: Tìm địa điểm đặt kho thông tin tiền phương để tiếp nhận hàng từ hậu phương đưa ra bổ sung cho tiền tuyến và đón nhận chiến lợi phẩm ta thu về.

Đi với tôi có Trương Ngọc Vĩnh, dân Hà Nội gốc. Vĩnh học cùng lớp cơ công với tôi, kém tôi hai tuổi nhưng nhanh nhẹn, rất được các cấp trên quý, tuy chưa phải là đảng viên.

Chúng tôi đi cũng chẳng có trang bị gì thêm ngoài một con dao chặt củi, một bao gạo 5kg và một lọ măng kem.

Dạo này Pháp đã đánh hơi thấy hướng đi của quân ta nên máy bay của chúng suốt ngày lùng sục dọc đường 41, có dấu hiệu nghi vấn, chúng bắn ngay.

Tôi và Vĩnh cứ mầy mò cả ngày lẫn đêm để tìm địa điểm trong 5 hôm liền. Có đêm đang đi Vĩnh kêu: “Đói quá mày ạ!” Tôi liền bảo! Thế thì nghỉ nấu cơm!” Đến bờ con suối, chúng tôi lấy củi đốt sáng bừng cả khu rừng. Nấu nước uống, xong nấu cơm. Ăn xong. Vĩnh lại bảo “Tao buồn ngủ quá”! Tôi bảo “Thế mày ngủ đi tao gác cho”. Vĩnh lấy hai cái áo tơi là trải xuống làm chiếu, ngủ ngay. Tôi ngồi một mình, vun đống lửa to để phòng hổ dưới suối. Có tiếng vật gì lội lõm bõm, tôi lấy mảnh đất ném tiếng lõm bõm chạy xa. Tôi đoán có lẽ là con lợn rừng hoặc con hươu thấy lửa lại gần. Vĩnh đã tỉnh, đến lượt tôi. Nhớ có đêm đang trên đường 41, chúng tôi căng màn ôm nhau ngủ, mặc dân công, bộ đội hành quân qua.

Sau mấy ngày đi chưa tìm được địa điểm vừa ý, người thấm mệt thì một sáng tôi gặp đại đội điện thoại cũng đang trên đường ra mặt trận. Đại đội đó do anh Lê (Lê Cao) làm chính trị viên. Chúng tôi xin “ăn trực” bữa cơm. Ăn xong Vĩnh lăn ra ngủ như chết. Tôi là đảng viên rất lo về nhiệm vụ. Tôi cầm gậy ra đi. Gặp con suối cạn, tôi ngược suối đó độ 100 mét thì gặp một núi đá, có nhiều hang to nhỏ, lại có hồ nước gần đó. Như vậy là rất tuyệt. Tôi trèo lên một hòn đá to như đống rơm, ngồi nghêu ngao hát.

Bỗng dưng tôi thấy tiếng bước chân người quay lại, thấy hai nam giới, mặc quần áo gụ, mũ bẹp vành, thắt lưng lại có súng ngắn và lựu đạn, trông có dáng lính dù ngụy? Nhưng có ai thông báo ở đây có giặc? Chẳng biết ta? Hay giặc? Nhưng cứ bình tĩnh đã, tôi nghĩ vậy, tôi lại ngồi.

Bất ngờ, tôi quay người lại, quát to!

- Đứng lại! giơ tay lên.

Tôi thấy chúng cũng đứng lại. Tôi cầm gậy chạy xuống hỏi: Đi đâu? Giấy tờ? Chúng đáp:

- Chúng em bị bộ đội bắt ở Nà Sản, cho về quê. Mấy ngày nay đi rừng mất hết cả giấy tờ.

- Cơm nước gì chưa?

- Chưa!

- Tôi sẽ đi kiếm cơm cho các anh ăn và xin giấy cho đi, nếu không có người ta bắt đấy!

Nói rồi tôi đi trước, chúng theo sau. Được vài bước, chúng nói với nhau bằng tiếng dân tộc, tôi không hiểu, cứ nghĩ nó sẽ giết mình. Tôi bẻ hai cánh lá, đưa cho chúng:

- Che lên đầu kẻo máy bay trông thấy sẽ bắn chết.

Chúng “ngoan ngoãn” làm theo. Mục đích của tôi là đưa chúng ra quốc lộ thì mình mới an toàn.

Ra tới quốc lộ, nơi lúc tôi đến tôi đã trông thấy một anh bộ đội gánh nước ở đó.

- Xuống rửa mặt cho tỉnh táo đi!

Mục đích của tôi là kéo dài thời gian chờ đợi. Sau khi xong, chúng lên bờ nằm, tôi xuống rửa. Rất may anh bộ đội gánh nước lại ra tôi té nước, chỉ tay về hai tên lạ mặt. Một phút sau một nửa tiểu đội quân ta bắt nó mang về nơi tạm trú. Tại đây mới thấy hết trang bị trên người chúng. Mỗi tên 1 khẩu súng ngắn, hai quả lựu đạn, một dao găm, một cái bánh mì to, một cân muối, một ít tiền Đông Dương của Pháp và mấy đồng bạc trắng. Theo lời chúng khai: Chúng còn để súng tiểu liên, mấy bộ đàm và dù ở hang ngoài rừng. 17 giờ ngày hôm qua chúng lên máy bay ở Bạch Mai, rồi nhảy dù xuống khu vực này để tìm hướng đi của quân ta. Bọn chúng có 6 tên chia làm 3 nhóm.

Tôi rất phấn khởi chỉ xin đơn vị đó một quả lựu đạn để phòng thân. Tôi về báo cáo với đồng chí Lê, đồng chí ấy nói:

- Sao dại thế? Bắt được địch là có công, phải báo cáo trên để lĩnh thưởng chứ! Sang bảo họ trả hai tên đó mang về đây và tất cả trang bị của nó!

Tôi sang báo cáo với đơn vị bạn. Họ trả ngay, về đơn vị thông tin cũng không trói, không tra hỏi gì khác, mỗi đứa một cái lán, cách nhau vài mét một anh bộ đội cầm súng gác.

17 giờ, bộ đội đổi gác để tiếp tục hành quân. Lợi dụng thời cơ đó, trời lại sắp tối. Chúng chạy mất, bộ đội bắn mấy phát súng chỉ tiêng, tiếp tục lên đường.

Một vài hôm sau, tôi nhận được kế hoạch mới. Đón nhận xe hàng từ hậu phương ra, lập kho ở một địa phương khác gần bãi đỗ xe chung.

Vĩnh đã về đơn vị cũ, trên bổ sung cho tôi hai đồng chí đảng viên: đồng chí Giáp và đồng chí Sửu. Đồng chí Giáp đã trên 30 tuổi, tóc lốm đốm bạc, có vợ và một con trai, đồng chí Sửu chừng 25 tuổi, rất nông dân, khỏe, rất nhiệt tình, có vợ và một con gái.

Hàng tôi nhận gồm hơn chục cây số dây điện thoại, mấy chiếc máy điện thoại và mấy chục hòn pin để cho máy.

Chúng tôi làm lán để khí tài, có giá cách mặt đất 1 mét.

Một lán để ở, sàn cao trên 1 mét, xung quanh phên che kín vì sợ hổ mò đến ban đêm, một lán nhỏ sát mép suối, suốt ngày có củi sưởi để tiếp khách.

Chiến dịch bắt đầu, 2 đồng chí cán bộ tham mưu đi qua gửi lại 2 xe đạp khi nào về sẽ vào lấy. Một vài đơn vị đến lấy pin và dây điện thoại. Anh Đông (học viên cùng lớp cơ công với tôi) nay là cán bộ của Ban Thông tin Đại đoàn 308, mang đến gửi về Cục Thông tin 5 máy BC-1000 và 1 máy GRC-9. Vì kho ở gần bãi đỗ xe, sợ bị máy bay địch đánh bom, tôi mang số máy thông tin vào trong bản gửi, cách kho chừng hơn 1km.

Dân trong bản nhiều người không biết tiếng kinh, tôi thấy một cô gái nói sõi, nhờ đến nhà trưởng bản. Trưởng bản chừng ngoài 60 tuổi, rất vui vẻ giúp chúng tôi và cho biết cô gái đó tên là Mai. Tôi mang gói thuốc lào ra mời ông hút. Thật không ngờ lại có tác dụng mạnh thế. Ông đứng ra sân nói to vài tiếng, thế là bà con đến luôn, hút thuốc nói chuyện rất vui.

Mai dẫn tôi về một căn gác nhỏ để cất máy. Mai là một cô gái chừng 17, 18 tuổi Khá xinh, da trắng hồng, môi đỏ, tóc đen, nói năng lưu loát.

Sau này nhiều lần dẫn bà con ra lán chúng tôi đổi hàng. Bà con mang ra đủ thứ, ngô xay để ăn thay gạo, rau cải và cả thuốc phiện (tất nhiên cái này chúng tôi không nhận). Chúng tôi đổi lại cho bà con: thuốc lào, đá lửa, kim chỉ. Những thứ này chúng tôi mua lại của lái xe.

Mưa rào! Mai dẫn Giáp, Sửu đi bắt rùa con và cua đá ở trong núi.

Chiến dịch kết thúc, Chính ủy Hoàng Bửu Đôn khi trở về đã nghỉ ở lán chúng tôi một ngày. Chúng tôi mời Chính ủy một bữa canh cua đá nấu rau cải. Chính ủy khen: “Các cậu ăn sướng hơn cả cao cấp”.

Chúng tôi lặng lẽ chuyển khí tài lên ô tô về hậu phương, trong lòng nhớ mãi bản xa và Mai.

07/3/2001

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016)