Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường
Trung cấp Kỹ thuật Thông tin
Mùa xuân năm 1953 tôi đang làm cơ công V.T.Đ thực tập
tại phân xưởng V.T.Đ của Xưởng Thông tin ở Quán Vuông huyện Định Hóa tỉnh Thái
Nguyên thì được lệnh lên tập trung ở Cục Thông tin để đi công tác. Sau này mới
biết là đi chiến dịch đánh giặc Pháp ở Thượng Lào.
Cứ 17 giờ thì tập trung mặc niệm đồng chí Stalin, vì
khi đó đồng chí ấy mới mất. Sau đó hành quân bộ đến chừng 2 giờ đêm thì nghỉ.
Vì không có cái gì để che mưa nên khi đi qua Phú Thọ,
Ban chỉ huy phát động phong trào làm áo tơi như bà con ta vẫn dùng. Lá cọ và
giây móc, nhân dân ủng hộ. Chúng tôi tước lá ngồi khâu. Kết quả, sau ba lô của
bộ đội có tấm áo tơi lá xanh, khi mưa thì che, tối thì trải nằm thay chiếu ấm lủng.
Cứ đêm đi ngày nghỉ liền như vậy, chẳng mấy buổi đã đến
Mộc Châu. Bài thơ “Lên Tây Tiến” lại vang trong đầu.
Chứng tôi đặt chân lên quốc lộ 41, nơi đã ghi bao dấu
tích của lịch sử. Nhưng con đường xưa rải đá rộng 2 mét, nay cỏ mọc gần hết mặt
đường chỉ có dấu chân mờ mờ trên cỏ, rộng chừng 20cm.
Rừng cây um tùm đầy vẻ hoang sơ. Mỗi khi có người đi tới,
từng đàn khỉ gọi nhau làm rung động cả khu rừng. Những con chim đuôi dài, lông
mầu sặc sỡ, bay lượn trông rất đẹp mắt. Nghe nói vùng này rất nhiều hổ, có lần
bộ đội hành quân đã gặp hổ ngồi ven đường. Nhưng bộ đội thì bảo nhau! Hổ sợ lửa,
sợ tiếng tinh nứa cọ vào nhau, hổ đánh hơi người rất xa nên cũng không phải lúc
nào cũng giết người được. Những điều đó chẳng biết đúng sai nhưng với lính trẻ chúng
tôi cũng thêm yên tâm vào rừng.
Đi qua Mộc Châu một đêm tôi được giao nhiệm vụ mới:
Tìm địa điểm đặt kho thông tin tiền phương để tiếp nhận hàng từ hậu phương đưa
ra bổ sung cho tiền tuyến và đón nhận chiến lợi phẩm ta thu về.
Đi với tôi có Trương Ngọc Vĩnh, dân Hà Nội gốc. Vĩnh học
cùng lớp cơ công với tôi, kém tôi hai tuổi nhưng nhanh nhẹn, rất được các cấp trên
quý, tuy chưa phải là đảng viên.
Chúng tôi đi cũng chẳng có trang bị gì thêm ngoài một
con dao chặt củi, một bao gạo 5kg và một lọ măng kem.
Dạo này Pháp đã đánh hơi thấy hướng đi của quân ta nên
máy bay của chúng suốt ngày lùng sục dọc đường 41, có dấu hiệu nghi vấn, chúng bắn
ngay.
Tôi và Vĩnh cứ mầy mò cả ngày lẫn đêm để tìm địa điểm
trong 5 hôm liền. Có đêm đang đi Vĩnh kêu: “Đói quá mày ạ!” Tôi liền bảo! Thế
thì nghỉ nấu cơm!” Đến bờ con suối, chúng tôi lấy củi đốt sáng bừng cả khu rừng.
Nấu nước uống, xong nấu cơm. Ăn xong. Vĩnh lại bảo “Tao buồn ngủ quá”! Tôi bảo
“Thế mày ngủ đi tao gác cho”. Vĩnh lấy hai cái áo tơi là trải xuống làm chiếu, ngủ
ngay. Tôi ngồi một mình, vun đống lửa to để phòng hổ dưới suối. Có tiếng vật gì
lội lõm bõm, tôi lấy mảnh đất ném tiếng lõm bõm chạy xa. Tôi đoán có lẽ là con
lợn rừng hoặc con hươu thấy lửa lại gần. Vĩnh đã tỉnh, đến lượt tôi. Nhớ có đêm
đang trên đường 41, chúng tôi căng màn ôm nhau ngủ, mặc dân công, bộ đội hành
quân qua.
Sau mấy ngày đi chưa tìm được địa điểm vừa ý, người thấm
mệt thì một sáng tôi gặp đại đội điện thoại cũng đang trên đường ra mặt trận. Đại
đội đó do anh Lê (Lê Cao) làm chính trị viên. Chúng tôi xin “ăn trực” bữa cơm.
Ăn xong Vĩnh lăn ra ngủ như chết. Tôi là đảng viên rất lo về nhiệm vụ. Tôi cầm
gậy ra đi. Gặp con suối cạn, tôi ngược suối đó độ 100 mét thì gặp một núi đá,
có nhiều hang to nhỏ, lại có hồ nước gần đó. Như vậy là rất tuyệt. Tôi trèo lên
một hòn đá to như đống rơm, ngồi nghêu ngao hát.
Bỗng dưng tôi thấy tiếng bước chân người quay lại, thấy
hai nam giới, mặc quần áo gụ, mũ bẹp vành, thắt lưng lại có súng ngắn và lựu đạn,
trông có dáng lính dù ngụy? Nhưng có ai thông báo ở đây có giặc? Chẳng biết ta?
Hay giặc? Nhưng cứ bình tĩnh đã, tôi nghĩ vậy, tôi lại ngồi.
Bất ngờ, tôi quay người lại, quát to!
- Đứng lại! giơ tay lên.
Tôi thấy chúng cũng đứng lại. Tôi cầm gậy chạy xuống hỏi:
Đi đâu? Giấy tờ? Chúng đáp:
- Chúng em bị bộ đội bắt ở Nà Sản, cho về quê. Mấy
ngày nay đi rừng mất hết cả giấy tờ.
- Cơm nước gì chưa?
- Chưa!
- Tôi sẽ đi kiếm cơm cho các anh ăn và xin giấy cho
đi, nếu không có người ta bắt đấy!
Nói rồi tôi đi trước, chúng theo sau. Được vài bước,
chúng nói với nhau bằng tiếng dân tộc, tôi không hiểu, cứ nghĩ nó sẽ giết mình.
Tôi bẻ hai cánh lá, đưa cho chúng:
- Che lên đầu kẻo máy bay trông thấy sẽ bắn chết.
Chúng “ngoan ngoãn” làm theo. Mục đích của tôi là đưa
chúng ra quốc lộ thì mình mới an toàn.
Ra tới quốc lộ, nơi lúc tôi đến tôi đã trông thấy một
anh bộ đội gánh nước ở đó.
- Xuống rửa mặt cho tỉnh táo đi!
Mục đích của tôi là kéo dài thời gian chờ đợi. Sau khi
xong, chúng lên bờ nằm, tôi xuống rửa. Rất may anh bộ đội gánh nước lại ra tôi
té nước, chỉ tay về hai tên lạ mặt. Một phút sau một nửa tiểu đội quân ta bắt
nó mang về nơi tạm trú. Tại đây mới thấy hết trang bị trên người chúng. Mỗi tên
1 khẩu súng ngắn, hai quả lựu đạn, một dao găm, một cái bánh mì to, một cân muối,
một ít tiền Đông Dương của Pháp và mấy đồng bạc trắng. Theo lời chúng khai:
Chúng còn để súng tiểu liên, mấy bộ đàm và dù ở hang ngoài rừng. 17 giờ ngày
hôm qua chúng lên máy bay ở Bạch Mai, rồi nhảy dù xuống khu vực này để tìm hướng
đi của quân ta. Bọn chúng có 6 tên chia làm 3 nhóm.
Tôi rất phấn khởi chỉ xin đơn vị đó một quả lựu đạn để
phòng thân. Tôi về báo cáo với đồng chí Lê, đồng chí ấy nói:
- Sao dại thế? Bắt được địch là có công, phải báo cáo
trên để lĩnh thưởng chứ! Sang bảo họ trả hai tên đó mang về đây và tất cả trang
bị của nó!
Tôi sang báo cáo với đơn vị bạn. Họ trả ngay, về đơn vị
thông tin cũng không trói, không tra hỏi gì khác, mỗi đứa một cái lán, cách
nhau vài mét một anh bộ đội cầm súng gác.
17 giờ, bộ đội đổi gác để tiếp tục hành quân. Lợi dụng
thời cơ đó, trời lại sắp tối. Chúng chạy mất, bộ đội bắn mấy phát súng chỉ
tiêng, tiếp tục lên đường.
Một vài hôm sau, tôi nhận được kế hoạch mới. Đón nhận
xe hàng từ hậu phương ra, lập kho ở một địa phương khác gần bãi đỗ xe chung.
Vĩnh đã về đơn vị cũ, trên bổ sung cho tôi hai đồng chí
đảng viên: đồng chí Giáp và đồng chí Sửu. Đồng chí Giáp đã trên 30 tuổi, tóc lốm
đốm bạc, có vợ và một con trai, đồng chí Sửu chừng 25 tuổi, rất nông dân, khỏe,
rất nhiệt tình, có vợ và một con gái.
Hàng tôi nhận gồm hơn chục cây số dây điện thoại, mấy
chiếc máy điện thoại và mấy chục hòn pin để cho máy.
Chúng tôi làm lán để khí tài, có giá cách mặt đất 1
mét.
Một lán để ở, sàn cao trên 1 mét, xung quanh phên che
kín vì sợ hổ mò đến ban đêm, một lán nhỏ sát mép suối, suốt ngày có củi sưởi để
tiếp khách.
Chiến dịch bắt đầu, 2 đồng chí cán bộ tham mưu đi qua gửi lại 2 xe đạp khi nào về sẽ vào lấy. Một vài đơn vị đến lấy pin và dây điện thoại. Anh Đông (học viên cùng lớp cơ công với tôi) nay là cán bộ của Ban Thông tin Đại đoàn 308, mang đến gửi về Cục Thông tin 5 máy BC-1000 và 1 máy GRC-9. Vì kho ở gần bãi đỗ xe, sợ bị máy bay địch đánh bom, tôi mang số máy thông tin vào trong bản gửi, cách kho chừng hơn 1km.
Dân trong bản nhiều người không biết tiếng kinh, tôi
thấy một cô gái nói sõi, nhờ đến nhà trưởng bản. Trưởng bản chừng ngoài 60 tuổi,
rất vui vẻ giúp chúng tôi và cho biết cô gái đó tên là Mai. Tôi mang gói thuốc
lào ra mời ông hút. Thật không ngờ lại có tác dụng mạnh thế. Ông đứng ra sân
nói to vài tiếng, thế là bà con đến luôn, hút thuốc nói chuyện rất vui.
Mai dẫn tôi về một căn gác nhỏ để cất máy. Mai là một
cô gái chừng 17, 18 tuổi Khá xinh, da trắng hồng, môi đỏ, tóc đen, nói năng lưu
loát.
Sau này nhiều lần dẫn bà con ra lán chúng tôi đổi hàng.
Bà con mang ra đủ thứ, ngô xay để ăn thay gạo, rau cải và cả thuốc phiện (tất
nhiên cái này chúng tôi không nhận). Chúng tôi đổi lại cho bà con: thuốc lào,
đá lửa, kim chỉ. Những thứ này chúng tôi mua lại của lái xe.
Mưa rào! Mai dẫn Giáp, Sửu đi bắt rùa con và cua đá ở
trong núi.
Chiến dịch kết thúc, Chính ủy Hoàng Bửu Đôn khi trở về
đã nghỉ ở lán chúng tôi một ngày. Chúng tôi mời Chính ủy một bữa canh cua đá nấu
rau cải. Chính ủy khen: “Các cậu ăn sướng hơn cả cao cấp”.
Chúng tôi lặng lẽ chuyển khí tài lên ô tô về hậu
phương, trong lòng nhớ mãi bản xa và Mai.
07/3/2001
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016)
0 comments:
Đăng nhận xét