Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường
Trung cấp Kỹ thuật Thông tin
10 tháng 3 năm 1975.
Đó là ngày chiến thắng Buôn Ma Thuột. Chiến thắng đã
thổi làn gió phấn khởi, đầy hào hứng cho mọi người dân Việt Nam, cả trong và ngoài
nước, đồng thời cũng dấy lên tinh thần sẵn sàng đi B giết giặc. Đơn vị tôi cũng
không ngoài lệ.
16h30′ ngày 28/3/1975, tôi được lệnh bàn giao để đi nhận
nhiệm vụ mới.
19h00 cùng ngày có mặt ở Bộ tư lệnh. Đồng chí Tham mưu
trưởng phổ biến quyết định điều chúng tôi đi B. Mọi người nhất trí, ngày mai đồng
chí Tư lệnh giao nhiệm vụ. Sau đấy xuống nhận quân trang đi B.
Về nhà, tôi nói cho cả gia đình biết. Thầy tôi và vợ
tôi đều nói, cứ yên tâm mà đi, đã có anh em, bà con làng xóm, xí nghiệp và đơn
vị giúp đỡ. Nói vậy nhưng làm sao mà tôi vô tư được, khi mà thầy tôi đã 75 tuổi,
lại mới qua trận tai biến cách đây vài năm, các con tôi: cháu lớn nhất 10 tuổi,
bé nhất 01 tháng tuổi. Đơn vị giúp tôi sửa cái nhà, còn nợ anh em 3.000 đồng
(tương đương hơn ba chục tháng lương của tôi). Tất cả đè lên vai của vợ tôi khi
tôi đi B. Sáng hôm sau, tôi ngồi rút quai đôi dép râu, con gái thứ hai 8 tuổi
ngồi xem, nhìn đôi mắt thơ dại của con, lòng tôi trào lên niềm thương vô hạn,
nước mắt cứ đầm đìa, lã chã.
6h30 hôm sau, Tư lệnh giao nhiệm vụ cho chúng tôi: “tiếp
quản các trung tâm kỹ thuật thông tin của địch mà quân ta thu được, bảo vệ, gìn
giữ để đưa vào khai thác sử dụng phục vụ chiến đấu”. Đoàn có 7 người, hầu hết
là kỹ sư thông tin, do Trung tá Vũ Anh Hiền, Phó Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Thông
tin làm Trưởng đoàn, tôi làm Bí thư chi bộ.
Ngay sau đó lên đường, anh chị em trong Bộ tư lệnh đứng
đầy sân tiễn chúng tôi đi. Một nữ học viên cũ của Trường đỡ ba lô của tôi dắt
tay ra xe.
Ô tô đi sang sân bay Gia Lâm. Chúng tôi ngồi đợi máy
bay đến 11h00’ thì được biết sân bay Phú Bài (Huế) không hạ cánh được. Đoàn lên
ô tô về nghỉ tại Trạm 66 (Hà Nội) đến 14h00 lại lên ô tô đi xuống Hải Phòng.
Đến cảng chúng tôi xuống chiếc tàu 200 tấn. Lệnh trên
trước khi ra đến phao số 0, không ai được lên boong, tất cả ở dưới hầm tàu. Ra
đến biển quốc tế, tôi lên boong ngắm xem phong cảnh. Mênh mông sóng biển nước
xanh nổi liền mây trắng của trời. Xa xa thỉnh thoảng có chiếc tàu trắng lướt
qua. Con tàu của chúng tôi chỉ như chiếc lá tre giữa hồ nước. Tôi chợt nhớ những
con tàu không số chở bao nhiêu vũ khí đạn dược cho đồng bào miền Nam đánh giặc
và bao nhiêu chiến sỹ đã hy sinh trên những con tàu đó. Ngày nay không biết đã
có ai tự đối mặt với các liệt sỹ xem xét mình trong sự nghiệp vì dân vì nước? Nhờ
trời, tôi không bị say sóng, vẫn có thể bưng cơm, lấy nước giúp các đồng chí bị
mệt. Đêm xuống chúng tôi ngủ dưới hầm tàu.
Ngày 29/3/1975 Đà Nẵng giải phóng.
Sáng ngày hôm sau chúng tôi vào quân cảng Đà Nẵng.
Trên cầu tàu, những người chạy tỵ nạn hôm qua vứt lại bừa bãi quần áo, son phấn,
giầy dép, mũ, ti vi... ngập đến đầu gối người đi qua. Vài chiếc thuyền cá vừa từ
khơi trở về.
Chúng tôi lên xe về sân bay. Đường phố vắng vẻ, hầu hết
các nhà đều đóng cửa, vài cây hoa giấy đỏ trắng nở góc nhà cho thêm sức sống. Vào
sở chỉ huy sân bay. Trên bàn một cốc cà phê uống dở để lại. Cuốn nhật biên vẫn
mở, cạnh là chiếc bút máy. Cuốn nhật biên ghi: "Đêm qua đặc công Việt cộng
vào sân bay". Tin cho hay: Các trung tâm thông tin đã được bảo vệ tốt. Tôi
nấu cơm cho anh em ăn, lấy ít gạo Nhật, mấy hộp thịt bò Mỹ, ít muối và một bó củi
bỏ lên ô tô. Chiếc xe GMC (tải) đưa chúng tôi và một số nhà báo chạy theo quốc
lộ 1 vào đến Nha Trang. Dọc đường không có những làng xóm xanh mướt hàng tre
như ngoài Bắc mà là những mái nhà tôn đan xen những cây dừa cao vút. Cuối mùa
mưa nên cây cỏ khô héo thỉnh thoảng gặp một cái “ấp chiến lược” của giặc để lại,
với những mái lều lợp tôn thấp tè. Xung quanh là hàng rào kẽm gai, thương cho
bà con bị chúng nhốt ở đó.
Xe đi, thỉnh thoảng phải dừng lại vì những chiếc cầu bị
giặc phá hỏng, có lúc phải nghỉ đến 2 giờ để công binh sửa tạm. Dọc đường hình thành
hai dòng người xuôi ngược. Dòng bộ đội đi từ Bắc vào. Dòng bà con gầy đen quần
áo lam lũ từ các “ấp chiến lược” trở về quê, dòng những tên lính ngụy thất trận,
lấm lét, lủi thủi quay lại nơi ở cũ. Bà con thấy xe bộ đội qua đều vẫy tay hoan
hô. Có những cô gái, tóc bay theo gió điệu đà trên chiếc Hon đa đuổi theo xe bộ
đội vẫy chào.
Trước mặt đã là Nha Trang. Từ Hà Nội vào đây chỉ có mấy
ngày. Những năm về trước chúng ta phải tốn bao sương máu vượt qua mấy ngàn cây
số băng qua đèo cao, suối sâu trên con đường Trường Sơn huyền thoại, đi mấy
tháng trời mới tới được miền Nam yêu quý.
Ngày 02/4/1975 thành phố du lịch Nha Trang giải phóng.
Chúng tôi vào thành phố lúc 16h00 ngày 03/4/1975, phải
dừng xe hỏi đường. Thấy vậy bà con xung quanh chạy ra xúm quanh ô tô hỏi chuyện.
Ai cũng khen bộ đội khỏe mạnh, hiền. Một người thấy tôi đeo cái đài Orionton, to
như cái tráp liền bảo: sao không mang cái nhỏ cho gọn? Tôi đáp: để khi họp đông
người nghe cho tiện! Anh ta gật đầu tán thành. Có người mang cho xoài, mía,
chuyện trò rất vui. Một bác già nói: Bộ đội nhiều súng to, có cả xe tăng sao không
vào sớm để bà con đỡ khổ? Tôi đáp: đánh giặc phải có từng bước chứ bác! Bác ta
gật đầu thú vị.
Trong đời bộ đội, 2 lần tôi được vinh dự vào vùng mới
giải phóng. Lần 1 ngày 10/10/1954 tôi cùng đơn vị hành quân từ Phù Lỗ về tiếp
quản sân bay Gia Lâm (Hà Nội). Dọc đường nhân dân hai bên đường cách xa mấy
trăm mét cũng cầm cờ chạy ra đón bộ đội. Về đến cầu Đuống hơn chục xe xích lô cắm
cờ đỏ sao vàng, mời chúng tôi lên xe: "Các anh đi bộ đã 9 năm, ngồi lên xe
cho chúng em thơm lây một quãng". Tất nhiên chẳng ai làm theo, thế là hình
thành một đám rước, mọi người hoan hô. Còn đây là lần 2 tiếp quản Nha Trang.
Một thanh niên bám tay vào cửa xe dẫn chúng tôi tới Sở
chỉ huy Quân đoàn 3 của ngụy.
Một khu nhà khá đẹp. Trước sân đã có đông bà con đang
chuẩn bị cơm chiều đón bộ đội. Các cửa phòng mở toang trong nhà giấy tờ sổ sách
vứt tung tóe. Ảnh mấy tên sỹ quan ngụy bị dẫm nát dưới đất.
Bốn nồi quân dụng cơm đã chín, một nồi thức ăn bốc hơi
thơm ngào ngạt, do tự vệ thành phố giúp đỡ. Cơm xong đang đứng nói chuyện thì
có báo động. Tiếng máy bay gầm rú tiếp theo là tiếng nổ dữ dội của bom. Chúng
tôi chạy ra bờ biển. Lửa cháy sáng rực. Sau mấy loạt bom, thành phố trở lại
bình thường, chúng tôi ra xe chạy ngược về phía đèo Rù Rì, cách thành phố chừng
2km. Trời tối, sương xuống hơi lạnh. Lệnh: nghỉ tại chỗ. Chúng tôi nằm ngay mép
đường. Xe tải, tăng, pháo, tên lửa... rình rịch đi qua suốt đêm không ngủ được
nhưng mà vui.
Sáng hôm sau tôi vào "Trung tâm nối mạch thông
tin" của Nha Trang. Những ăng ten cánh buồm cao chừng 5m, xung quanh rào
dây thép gai kín. Lối vào độ 1m, nhà lợp tôn có chống nóng bằng những tấm xốp.
Nền lát gạch nhựa, 2 ngày đánh xà phòng 1 lần... Những chiếc máy đứng thành
giàn ngay ngắn. Tôi chú ý ở cửa ra vào có một cuốn nhật biên ghi rất tỉ mỉ, ai
ra vào cũng phải ghi, kể cả trung tá Mỹ vào thay một linh kiện máy.
Sân bay rộng mênh mông. Mấy dãy nhà 2 tầng cho quân ngụy
ở nay bỏ trống. Tối chúng tôi ở một căn gác. Trừ đoàn trưởng, còn ai cũng phải gác.
Tôi cầm khẩu AK đạn đã lên nòng đứng nép vào một góc, không gian vắng lặng. Một
vài đám cháy sáng một góc trời khiến tôi nhớ lại những đêm mới kháng chiến ở Hà
Nội. Gió biển thổi ù ù, thỉnh thoảng khua vào một mảnh tôn rách kêu loảng xoảng.
Tôi căng mắt quan sát xung quanh. Một phút tĩnh lặng tôi lại nhớ đến con tôi.
Xa xa từ quốc lộ 1 vọng đến tiếng ầm ì của động cơ ô tô, xe tăng. Bầu trời có
lúc vụt lên những đạn tín hiệu xanh, đỏ. Cứ tưởng địch - không phải! Anh em bộ
đội lấy được đạn tín hiệu của địch, bắn lên cho “vui” thôi!
Sáng hôm sau, tôi tìm đến “Bộ chỉ huy mặt trận Cực Nam
Trung bộ” để báo cáo tình hình. Đường vẫn vắng lặng. Gió biển thổi những chùm lá
khô loạt soạt theo đường phố làm tôi nhớ vô cùng Hà Nội ngày trở gió. Tôi lên đạn
khẩu súng ngắn, giắt vào lưng tìm đường đi. Tới hỏi thăm người dân, mắt căng
nhìn đường phố, cảnh giác. Bỗng có tiếng xe máy đỗ phía sau, tôi quay lại thấy
một thanh niên đội mũ vải, tóc dài sau gáy, râu dậm tới ngực, đeo kính trắng,
tôi hơi giật mình.
- “Chú đi mô? Con dẫn chú đi”. Tôi ậm ừ không nói.
- “Con là tự vệ giúp các chú vô thành phố”.
Tôi hơi yên tâm nói: "Cho tôi đến cầu Bóng".
Lên xe, tay tôi vẫn để vào khẩu súng ngắn, xe chạy một
lát, anh ta nói: “Bọn con hoạt động ở đây, ăn mặc theo địa phương hơi kỳ với
các chú”. Tôi bảo: “Quan trọng là cái đầu luôn nghĩ về Tổ quốc Việt Nam là được”.
Lát sau xe đến cầu Bóng. Một dãy phố mới bị máy bay ngụy
dội bom hôm kia. Những tấm tôn, những mảng tường khói đen, xác chiếc Honda cháy
xém, còng queo. Dưới sông thuyền dày đặc cái nọ liền cái kia. Tôi đặc biệt vui
sướng ngắm nhìn ngôi tháp Chàm cổ còn nguyên vẹn với hàng trăm năm mưa gió và
dâu bể.
Tôi qua cầu đi về hướng Bắc tìm đến nhà chị Ba để liên
lạc. Một ngôi nhà 3 gian lợp tôn, xung quanh có nhiều dừa. Chị bổ dừa, mời tôi
một cốc nước. Chị cho biết: gia đình chị là một cơ sở cách mạng. Chồng chị hy
sinh trong cuộc nổi dậy mùa xuân 1968. Anh chị có 2 con gái đã lấy chồng ở
thành phố.
Tôi gặp cán bộ của “Mặt trận cực Nam Trung Bộ” báo cáo
tình hình và đề nghị một vài biện pháp hỗ trợ.
Những ngày sau, địch cũng cố phòng tuyến ở Phan Rang,
chúng tôi dừng lại ở Nha Trang, tiếp tục xem xét ở trong trạm máy. Trung tuần tháng
tư tôi được lệnh quay lại Đà Nẵng, vất vả vì xe cộ và đi bộ để về đến “Sở chỉ
huy tiền phương của Binh chủng”. Nhiệm vụ mới của tôi: Tổ chức lớp huấn luyện cấp
tốc về máy thông tin mới thu được, lấy Trạm thông tin Sơn Trà làm nơi thực tập,
ăn ngủ tại trại huấn luyện. Biệt kích ngụy cách Trạm thông tin chừng 500m.
Đây là một cơ sở u ám, hoang vu, cỏ cao 1m đang mùa
khô lụi dần. Mấy quả đạn pháo bỏ lăn lóc trên cỏ. Vài căn nhà mái tôn hoen rỉ,
nối với nhau bằng lối đi chừng lm láng xi măng. Trong nhà giấy tờ, quần áo vứt
bừa bãi. Một vũng nước với vài con cá cờ, vài cây rau dại cùng mấy cái hầm làm
phương tiện huấn luyện.
Lớp học có hơn ba chục học viên, là các nhân viên kỹ
thuật từ các đơn vị gửi về. Anh em ở trong các nhà của trại. Trong khi làm vệ
sinh đã phổ biến không được đốt rác, vậy mà... Một buổi trưa đang ngủ, bỗng tiếng
nổ ùng oàng inh tai, khói đen kín cả một nhà, lửa đang lem lém bãi cỏ. Nếu cháy
tiếp mấy quả đạn pháo to bị kích nổ... thì không biết cái gì sẽ xẩy ra?
Tôi hết sức lo lắng. Lệnh lấy bao cát lấp các cửa
tránh thương vong, một số lấy bao cát ném vào lửa. Rất may anh Phùng Văn An
cùng vài học viên phát hiện 2 thùng nước ở góc nhà đã dũng cảm dùng mũ sắt vục
nước hắt vào lửa. Đám cháy bị dập tắt. Thật hú vía.
Nguyên nhân do học viên cầu nghiện thuốc lá nặng. Tay
luôn có bật lửa. Trưa đó ngồi hút thuốc, thuận tay châm vào vỏ bao, ném ra cửa,
gặp đám cỏ, cháy bùng. Đoàn cảnh cáo, đề nghị trên trả về đơn vị cũ.
Lớp học đã đi vào nề nếp.
30/4/1975 Sài Gòn giải phóng.
Tất cả lớp vô cùng xúc động, cùng nhau lắng nghe Đài Tiếng
nói Việt Nam, hát vang bài “Giải phóng miền Nam” bàn tán về niềm vui khi được
vào Sài Gòn. Ai cũng nhớ đến Bác Hồ không còn để chung vui với con cháu trong
ngày đại thắng của dân tộc.
Đầu tháng 5/1975, tôi được lệnh trở về đơn vị cũ.
Tôi quay lại sân bay Đà Nẵng. Trước khi lên máy bay mọi
người đều phải kiểm tra hành lý. Một dãy dài bộ đội đứng sau ba lô của mình với
hầu hết là bộ quân phục cũ bạc mầu, thỉnh thoảng có một con búp bê bằng nhựa,
vài cuộn len xanh đỏ, một cái khung xe đạp. Tài sản của anh bộ đội sau chiến thắng
trở về!
Tôi về đến Hà Nội. Không khí đặc biệt sôi động sau chiến
thắng vĩ đại của mùa xuân lịch sử, chiến thắng của hòa bình sau mấy chục năm chiến
tranh, chiến thắng mang lại thống nhất non sông sau hơn một thế kỷ bị chia cắt.
Tôi về đơn vị và gia đình vui sướng, hạnh phúc vì đã
hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2004
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016)
0 comments:
Đăng nhận xét