7.2.25

Vào Nam - những năm tháng không thể nào quên

Đại tá Trần Minh Thạnh

Những ngày cuối năm 1963, trời đất xứ Thanh se sắt trong cái rét cắt da cắt thịt, con người xứ Thanh với bao lo toan của ngày cuối năm, vừa bừng bừng niềm căm giận trước những tội ác của kẻ thù, đang từng ngày từng giờ trút xuống mảnh đất miền Nam ruột thịt. Đồng chí trợ lý cán bộ của Sư đoàn xuống Tiểu đoàn thông báo lệnh chuẩn bị đi Nam cho tôi - Trần Minh Thạnh là Chính trị viên phó tiểu đoàn, Lê Danh Thụ - Tiểu đoàn phó và một số cán bộ trung, đại đội. Sau khi chuẩn bị bàn giao để nghỉ phép về thăm gia đình trước khi lên đường, chúng tôi nhận được thông báo về Trung đoàn 68 của Sư đoàn 304 để nghe Thiếu tướng Trần Độ - Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn nói chuyện. Buổi nói chuyện của đồng chí Chính ủy để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc, đặc biệt là khi đồng chí nói về 4 cửa ải mà chúng tôi phải vượt qua nếu muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng chí nói: "Mỗi đồng chí phải phấn đấu vượt qua 4 cửa ải để hoàn thành nhiệm vụ của người đảng viên. Bốn cửa ải đó là:

- Giải quyết tốt vấn đề tư tưởng của bản thân và gia đình, làm cho gia đình yên tâm và đồng tình với việc đi chiến trường miền Nam của bản thân.

- Vượt qua khó khăn vất vả trong học tập và rèn luyện ở đơn vị khung.

- Hành quân vượt Trường Sơn tới đích.

- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được phân công".

Lời đồng chí Chính ủy vừa ân cần vừa nghiêm nghị "Giải quyết tốt vấn đề tư tưởng của bản thân và gia đình, làm cho gia đình yên tâm và đồng tình với việc đi miền Nam của bản thân", với tôi và các chiến sĩ chuẩn bị vào Nam nói chung, đây là một cửa ải lớn mà chúng tôi phải vượt qua, bởi đó là "hậu phương" của mỗi cá nhân người chiến sĩ, "hậu phương" có yên tâm và đồng tình thì "tiền tuyến" mới vững lòng, chắc tay súng. Phải nói thêm rằng, hoàn cảnh gia đình tôi khá khó khăn, vợ tôi một nách bốn đứa con nhỏ dại (đứa lớn 14 tuổi, đứa út chỉ mới 8 tháng tuổi), sớm hôm tần tảo, vừa thay chồng nuôi dạy con thơ, vừa phụng dưỡng mẹ già, vừa cùng bà con lao động sản xuất, gánh nặng đè lên đôi vai bé nhỏ. Đã vắng bóng người đàn ông trụ cột 4 - 5 năm trời, nay về thông báo chuẩn bị đi Nam, không hẹn ngày về, đối với vợ tôi là một điều thật khó khăn. Tôi nhìn thấy rõ nỗi lòng của vợ qua những dòng nước mắt lặng thầm ướt đẫm ngực áo, những dòng nước mắt thương chồng ra đi biết ngày nào trở lại, thương mình lại thân cò lặn lội nuôi con một mình với biết bao nhớ thương, ngóng đợi. Nhưng vợ tôi vẫn không một lời trách móc, níu kéo tôi ở lại, bao yêu thương đều đọng lại qua bàn tay chăm chút, nâng niu từng đồ vật xếp vào ba lô cho tôi lên đường và lời dặn lúc chia tay: anh đi nhớ giữ gìn sức khỏe và năng biên thư về cho mẹ con. Mẹ tôi đã trên 70 tuổi, nắm tay con trai run run dặn dò: "Con giữ gìn sức khỏe và yên lòng làm tròn nhiệm vụ Đảng giao, đừng lo cho mẹ, cho vợ con, ở nhà còn có anh em, xóm giềng". Các anh trai tôi, đang đảm nhiệm các nhiệm vụ ở địa phương nắm chặt vai tôi nhắc lại: "Chú cứ yên tâm ra đi chiến đấu, ở nhà đã có các anh và bà con chu toàn thay chú".

Sau Tết Nguyên đán hết phép, chúng tôi tập trung về Lữ đoàn 338, đơn vị khung đón tiếp anh em tập trung đi chiến trường ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (hậu cứ của Sư đoàn 330 cũ). Chúng tôi về địa điểm Tứ Trụ, tôi được biên chế về Tiểu đoàn 4 làm cán bộ chính trị, thời gian ở đây được học tập chính trị, quân sự, rèn luyện mang vác và bồi dưỡng sức khỏe. Trong các nội dung rèn luyện học tập, vất vả nhất là việc rèn luyện mang vác. Gạch chỉ được xếp vào ba lô con cóc, lúc đầu đeo 10 viên sau nâng dần lên, giai đoạn cuối xếp đầy trong ba lô, hai túi hông, túi giữa để trọng lượng được khoảng 35-40kg, hàng đêm cứ từ 20-23 giờ đeo ba lô gạch từ Tứ Trụ lên Nông trường đến gần 23 giờ thì đi về Tứ Trụ, cứ thế đêm này qua đêm khác mưa cũng tập, hai vai bị tím bầm, lưng bị trầy nhưng chúng tôi đều kiên trì chịu đựng rèn luyện, không ai bỏ cuộc. Rèn luyện tuy cực nhọc vất vả nhưng vấn đề ăn uống tốt nên sức khỏe ngày một tăng. Lúc bấy giờ bộ đội ăn chế độ: đại táo ăn 6 hào rưỡi một ngày, trung táo 9 hào, tiểu táo một đồng hai, chúng tôi được ăn hai đồng tư một ngày. Đồng bào miền Bắc nói chung, Thanh Hóa nói riêng còn nhiều khó khăn nhưng những lương thực, thực phẩm ngon, tốt, bổ chúng tôi đều được ưu tiên.

Sau hơn 3 tháng học tập rèn luyện, anh em được tổ chức thành từng đoàn để vào Nam, Đoàn 615 của tôi gồm 4 khung tiểu đoàn, 3 khung tiểu đoàn bộ binh và 1 khung tiểu đoàn Binh chủng Thông tin. Khung tiểu đoàn Binh chủng Thông tin gồm toàn anh em cán bộ thông tin của Sư đoàn 304, chi viện cho Ông Cụ (Khu 9) gồm anh Lê Danh Thụ - Tiểu đoàn trưởng, tôi là Chính trị viên tiểu đoàn, anh Quang Năm - Tham mưu trưởng, cán bộ trung đại đội gồm các anh: Minh, Tuấn, Kha, Nghiêm, Giao, Bản, Tám, Thịnh, Diễm... và một số nhân viên kỹ thuật.

Ngày 21 tháng 5 năm 1964 bắt đầu hành quân. Lúc bấy giờ còn rất bí mật, chúng tôi được ăn mặc như bộ đội thường ngày, hành quân bằng ô tô từ huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa, đêm đầu tiên nghỉ ở nhà giao tế thành phố Vinh, ăn uống được hưởng theo chế độ tiếp khách, đêm thứ hai đến Đồng Hới cũng được ăn theo chế độ chiêu đãi, đêm thứ ba nghỉ ở Làng Ho - chặng đầu của tuyến đường Trường Sơn. Tất cả những gì còn lại của anh Bộ đội Cụ Hồ đều được để lại thay trang phục của anh giải phóng quân, bắt đầu trèo đèo lội suối.

Hành quân nhiều ngày sức khỏe giảm dần, bệnh tật phát sinh, nhất là "sốt rét", chẳng ai thoát khỏi. Chất tươi, rau xanh, ngay cả gạo cũng thiếu; đường sữa, thuốc lá không còn. Đèo cao, suối sâu, muỗi, vắt, mưa liên miên, là những nguyên nhân làm cho sức khỏe ngày càng giảm. Có những cái dốc đứng, chân người leo trước muốn giáp mặt người leo sau, tay chân phải bám vào các rễ cây hai bên để lên, đường trơn lầy lội, chân đi dép cao su vắt cắn máu ra cộng với nhớt của vắt chân bước cứ lệch về một bên, bàn chân cứ muốn chuồi ra ngoài dép, mỗi khi quai dép bị tuột thì nhanh chóng đứng né ra bên đường để xâu lại quai không làm ảnh hưởng đến tốc độ hành quân. Hành quân đường Trường Sơn, leo dốc cũng khổ mà xuống dốc cũng khổ, trời mưa càng khổ hơn. Leo dốc mồ hôi ra nhiều, khát nước mỗi người chỉ có một bị động, khát khô cổ nhưng nước chỉ để thấm giọng, xuống dốc không may trượt chân lăn từ trên xuống thì thật là nguy hiểm. Nấu cơm không có củi khô, nấu được nồi cơm chín thật là vất vả, sau này có kinh nghiệm dọc đường nhặt dăm ba cành củi khô đến nơi có củi nấu cơm, qua rừng thông đẽo một số gỗ thông để trong ba lô làm nòng (mồi). Chất tươi, rau xanh, gạo ăn cũng thiếu, dọc đường phát hiện cái gì ăn được là thu hái như rau tàu bay, rau má, lá bứa, măng... dùng gương, lược cắt tóc, quần áo, bút máy, đồng hồ, đổi lấy rau xanh, mì, mía, chuối, trứng gà, vịt, thuốc rê, mật ong…, để cải thiện cho tổ, cho tiểu đội. Có một lần đến chỗ nghỉ gần dân, anh em vào đổi một đồng hồ được một con lợn khoảng 30-40 cân hơi, ăn tươi cả đoàn và dành chia cho từng cá nhân ăn những bữa sau. Lần lượt vượt qua đường 14, giao liên báo chuẩn bị cơm ăn hai ngày rưỡi, vượt qua đường sang trạm bên kia không nấu được cơm, vì sợ bị lộ, mỗi người chuẩn bị năm nắm mỗi nắm cũng chỉ bằng quả cam to, nắm thật chặt và nướng thật khô, để phòng cơm thiu chảy nước. Đến rẫy sắn (mì) cách mạng, sắn bạt ngàn tha hồ đào bới, lấy củ, cây trồng lại, về luộc, nướng, nạo ra làm bánh, hấp, hầm, làm canh... vấn đề ăn uống nghĩ lại cũng buồn cười. Hôm ở rây săn 5, 6 anh em ăn một xoong cơm, một xong sắn luộc, một nilon choàng rau má bụng căng, mồm vẫn muốn ăn; còn sắn nướng, bánh sắn hấp tiếp tục ăn, khi lên võng nằm, bụng ọc ạch tức khó chịu không nằm được, phải chờ cho tiêu bớt mới nằm được.

Hơn 3 tháng hành quân, qua bao khó khăn gian khổ, Đoàn 615 đã về tới đích, hoàn thành nhiệm vụ bàn giao cho tổ chức, nghỉ ngơi bồi dưỡng và chờ công tác. Ở đây được phát lương thực, thực phẩm đầy đủ, có tính chất bồi dưỡng, có anh ăn một bữa hết vài lon gạo, anh em được phát tiền móc gia đình, 320 đồng tiền ngụy, chúng tôi không có gia đình trong miền Nam cũng được phát khoản tiền ấy. Sau thời gian nghỉ ngơi bồi dưỡng chúng tôi được điều về Tiểu đoàn 44 làm nhiệm vụ đảm bảo thông tin cho Bộ chỉ huy Miền, anh Thụ về làm Tiểu đoàn trưởng, tôi làm Chính trị viên Tiểu đoàn.

Về tiểu đoàn được một thời gian, anh Thụ đưa một bộ phận thông tin vô tuyến điện, hữu tuyến điện, thông tin vận động đi phục vụ chiến dịch Bình Giã. Sau chiến dịch anh Thụ ở lại xây dựng thông tin của Sư đoàn 9 bộ binh và trực tiếp làm Chủ nhiệm, anh Lê Văn Bản xuống làm Chính trị viên Đại đội 2 thay anh Sáu Thu. Riêng tôi vẫn làm Chính trị viên Tiểu đoàn 44. Đến năm 1969 lên làm Trưởng ban chính trị Phòng Thông tin B2.

Sau 17 năm trong quân ngũ, từ năm 1964 vào chiến trường miền Nam đến tháng 12 năm 1980, nhìn lại chặng đường đã đi tôi rất tự hào, phấn khởi vì đã thực hiện tốt 4 vấn đề (4 cửa ải) mà đồng chí Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn đã căn dặn.

Thanh Hóa, tháng 11-2008

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Những bức điện lịch sử từ chiến trường Hậu Giang

Trần Văn Ron - nguyên Trưởng đài vô tuyến điện

Từ năm 1970, ở miền Nam, đế quốc Mỹ càng tăng cường thực hiện những âm mưu thủ đoạn cực kỳ sâu độc nham hiểm tàn bạo, lừa mị hơn. Chúng sử dụng đủ các loại phi pháo, máy bay rải thảm B-52, chất độc hóa học, kết hợp với chiêu hồi, chiêu hàng, càn quét liên tục vào một khu vực, chà đi xát lại buộc nhân dân chạy ra vùng chúng kiểm soát và đánh bật lực lượng ta, hòng tát nước bắt cá để chúng tiếp tục chiếm đóng. Ở xã nhiều nhất chúng lập tới 15-16 đồn, xã ít nhất 4-5 đồn; ở Cần Thơ, Sóc Trăng trên 2.500 đồn, chi khu.

Đặc biệt, sau khi có Hiệp định Paris, Thiệu tuyên bố: Trên hòa bình, dưới chiến tranh "tràn ngập lãnh thổ". Lợi dụng các chiến trường khác gần như im tiếng súng, địch tập trung lực lượng đánh vào Quân khu 9, U Minh và vùng Hậu Giang.

Về phía ta, quán triệt tinh thần phải giữ đất, bảo vệ dân, buộc địch phải thi hành Hiệp định Paris, lực lượng ta tích cực vây địch ở trong đồn và liên tục bẻ gãy các cuộc càn của địch.

Tháng 8 năm 1973, địch tập trung 70 tiểu đoàn tiến hành cuộc càn vào Chương Thiện, hướng chủ yếu đánh vào Trung đoàn 1. Đại đội thông tin chiến đấu trên một hướng, kết hợp hầm chông, địa lôi, bãi lửa diệt gần 1 đại đội địch giữ vững trận địa tại kinh Nhà Nước (Long Mỹ) và được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Suốt thời gian chiến dịch, tiền phương Quân khu luôn đứng trên địa bàn trọng điểm để chỉ huy 4 trung đoàn (1, 2, 10, 20), tiểu đoàn pháo, Đoàn 8 đặc công đánh trả quyết liệt buộc địch phải thi hành hiệp định. Thông tin đã khắc phục muôn vàn khó khăn, luôn gan dạ, khôn khéo bám trụ chiến đấu, giữ vững liên lạc nhất là trên sóng PRC-25 dùng trà trộn với địch như: Trung đoàn 1, Trung đoàn 3 và các tiểu đoàn nên bảo đảm thông tin thông suốt cho công tác chỉ huy chiến đấu. Đặc biệt ngày 5 tháng 9 năm 1973 tổ đài đồng chí Trần Văn Ron, Nguyễn Thanh Tân phụ trách khắc phục mọi ác liệt bom pháo càn vào khu vực điện đài; đồng chí Nguyễn Văn Cho báo vụ đã bình tĩnh chuyển xong bức điện ZN cuối cùng thì không may bị loạt pháo của đồn Tô Mai (Cần Thơ), đồng chí Cho đã hy sinh anh dũng trong tư thế bảo vệ máy.

Những bức điện trên là của đồng chí Lê Đức Anh – Tư lệnh Quân khu (sau này là Đại tướng - nguyên Chủ tịch nước) gửi Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh Miền (B2), có bức điện với nội dung: Sau khi đánh giá tình hình tương quan ta - địch, tôi đề nghị triển khai bảy điểm tiến công địch... Đây là một trong nhiều bức điện cực kỳ quan trọng đóng góp ý kiến với Trung ương ra Nghị quyết 21, chuẩn bị cho thời cơ chiến lược...

Sau đó tháng 11 năm 1973, địch càng cay cú tập trung 75 tiểu đoàn, rút lực lượng từ Sài Gòn, Châu Đốc, Gò Công... về tấn công ta, nhưng cũng bị thất bại phải chấm dứt cuộc càn.

Đây là thời điểm coi như chiến trường miền Nam thu nhỏ tại nơi này và cuộc đấu trí, đấu lực, về thông tin liên lạc cũng diễn ra một cách quyết liệt. Địch muốn cắt đứt mọi liên lạc, băm nhỏ lực lượng ta để tiêu diệt thì chính thông tin là điều kiện, là phương tiện bảo đảm sự chỉ huy tập trung thống nhất, góp phần đáng kể tạo nên chiến thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Lời ru biên giới

Nguyễn Văn Củng

Đội sửa chữa lưu động

Theo sát các chiến trường

Lặng lẽ đêm Mường Khương

Một ngôi sao biên giới

 

Nấm mồ vừa đắp vội

Lặng lẽ bên hầm đài

Một bên anh, bên tôi

Lẽ nào là biên giới?

 

Giữ lặng im tiếng nói

Anh yên giấc trong mồ

Tôi lần theo sơ đồ

Đang dò tìm hỏng hóc

 

Đau thương mà không khóc

Bởi kẻ thù còn kia

Nước mắt nhòe đêm khuya

Trên sơ đồ tôi đọc

 

Trong tạp âm tiếng moóc

Vỗ giai điệu tạch tè

Ôi như tiếng chim nghe

Hót trong đêm biên giới

 

Bên nấm mồ đồng đội

Tích tà, tích tích tích

Trên đường truy kích địch

Tiếng moóc như lời ru

 

Anh yên giấc ngàn thu

Có chúng tôi đồng đội

Đem tiếng chim biên giới

Hát mãi bên mồ anh

 

Hát mãi khúc quân hành

Như lời ru biên giới

Như cánh chim không mỏi

Tích tà, tích tà tà...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Chiến công và nghĩa tình của cán bộ kỹ thuật thông tin Đoàn 239

Nguyễn Huỳnh

Kể từ ngày 5 tháng 5 năm 1961, Đoàn Phương Đông 1 vượt Trường Sơn vào Nam, để thực hiện quyết định thành lập Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam. Đoàn có 600 người trong đó có 18 đồng chí cán bộ Binh chủng Thông tin về trước chuẩn bị thành lập và xây dựng Bộ đội Thông tin Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ở hậu phương Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc hàng năm chăm lo xây dựng lực lượng Binh chủng chi viện cho chiến trường, từng đoàn cán bộ chỉ huy, kỹ thuật, báo vụ và nhiều tiểu đoàn thông tin lần lượt vào chiến trường. Trong đó có "Đoàn 239" cán bộ trung cấp kỹ thuật thông tin.

Sau 35 năm chiến tranh ở Việt Nam đã thành quá khứ, những vết thương đã và đang được hàn gắn, song nhiều ký ức về chiến tranh không thể phai nhạt đối với những người đã từng có mặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc. Được sống trong không khí hào hùng náo nhiệt hăng say của thời kỳ đổi mới, những nhân chứng lịch sử nay tuổi đã cao nhưng rất vui có "Hội bạn chiến đấu" hàng năm có ngày gặp mặt.

Tại Thủ đô Hà Nội có Ban liên lạc của Đoàn 239 được sự chỉ đạo của Hội Truyền thống Binh chủng Thông tin, Hội bạn chiến đấu 239 đang có nhiều hoạt động, đậm đà thiết thực nghĩa tình đồng đội để mãi mãi xứng đáng là những chiến sĩ của Binh chủng Thông tin.

Tháng 1 năm 1966, Bộ Tổng Tham mưu điều động một số quân nhân trẻ, khỏe đã tốt nghiệp trung học phổ thông để đào tạo cấp tốc "Khoa cán bộ trung cấp kỹ thuật thông tin" đáp ứng nhu cầu cấp bách của chiến trường miền Nam.

Tháng 7 năm 1967, Bộ Tổng Tham mưu quyết định thành lập đoàn cán bộ "Trung cấp kỹ thuật thông tin" mang phiên hiệu Đoàn 239, gồm 62 đồng chí do đồng chí Nguyễn Đức Đàn làm Đoàn trưởng. Chi bộ Đảng có 7 đồng chí: Nguyễn Anh Tuấn - Chính trị viên kiêm Bí thư chi bộ.

Ngày 6 tháng 8 năm 1967, Đoàn được lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam, chiến đấu và phục vụ chiến đấu với quyết tâm sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đoàn có 15 đồng chí bổ sung cho B1, 47 đồng chí cho B2 (miền Đông Nam Bộ).

Sau 4 tháng 20 ngày hành quân vượt Trường Sơn gian khổ, ác liệt, đói ăn, sốt rét, ở tuổi đời 20-21 gót chân chưa dạn dày phong trần, biết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ với 100% quân số tới đích tại cầu 48 thuộc tỉnh Tây Ninh. Được Thủ trưởng Phòng Thông tin Cục Tham mưu Quân giải phóng miền Nam tiếp nhận, các thành viên Đoàn 239 được điều động nhận nhiệm vụ làm lực lượng nòng cốt đảm bảo kỹ thuật thông tin cho chiến trường B2. Như làm Trạm trưởng sửa chữa phương tiện thông tin các quân khu, phân khu, các sư đoàn chủ lực, Bộ chỉ huy tiền phương, phục vụ các mũi thọc sâu xuống đồng bằng, có đồng chí nhận nhiệm vụ xuống các tỉnh đội...

- Khối thông tin Miền (R) có các đồng chí Đàn, Nhân, Ích, Huy, Thành, Thịnh, Công, Hoan...

- Bộ chỉ huy tiền phương (301) có đồng chí Đoàn Văn Phi.

- Về các phân khu có các đồng chí Lộc, Tràng, Thược, Giáp, Anh, Chóng, Nhượng, Bảy...

- Về Quân khu 8-9 có các đồng chí Bảy Tấn, Vũ Quý, Đăng, Phạm Ngân.

- Về các sư đoàn chủ lực 5, 7, 9 lữ đoàn đặc công có các đồng chí Dậu, Miêng, Duy Quý, Tiếng, Lâm, Quốc Hoan.

- Đi Quân khu Đông Bắc Cam-pu-chia và bảo vệ khu Ăngco có các đồng chí Du, Sáng, Minh.

- Về thông tin Cục Hậu cần có các đồng chí Dũng, Thương, Đắc, Đức Quang, Đức...

Các đồng chí về Phòng Thông tin Miền (chủ yếu là ở X35), Tiểu đoàn 44, Tiểu đoàn 42, H19 (Trường Huấn luyện thông tin).

Trong điều kiện chiến trường xa hậu phương, bom đạn ác liệt, phương tiện máy móc khí tài, tài liệu chuyên môn thiếu thốn... Song những người lính thợ kỹ thuật, cơ công thông tin bằng trí tuệ, mồ hôi, xương máu đã góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật của Binh chủng Thông tin ở chiến trường. Những chiến công thầm lặng của anh em cơ công phía trước là những chiến sĩ giỏi tay nghề, dũng cảm trong chiến đấu, phải tự mình giải quyết tại chỗ khi máy móc trục trặc, quyết không để mất liên lạc thuộc về trách nhiệm của cơ công.

Các đồng chí X35, cùng các đồng chí kỹ sư: Hoàng Trung, Bốn Ngọc, Hoàng Hà, Tấn Đạt, Trần Bành... đã lắp ráp hàng trăm máy vô tuyến điện tự tạo, gọn nhẹ phù hợp với điều kiện chiến trường, có thể bỏ gọn trong hòm máy đại liên chống được nước ở chiến trường Đồng Tháp Mười. Các loại máy "Ấp Bắc 64-AB67", "Sài Gòn 68", tăng âm điện thoại TA10, TA40, máy tiếp vận... là những sản phẩm quý và thân quen đối với chiến sĩ thông tin chiến trường B2.

Các đồng chí Ích, Phi và các anh em khác đã bám sát các máy móc thiết bị từ hậu phương chi viện vào, các máy hiện đại thu được của địch, nghiên cứu hoàn thành sơ đồ lý thuyết, sửa chữa các loại máy PRC-25, máy thu phát đơn biên SSB, máy thu phát trên xe RT524, máy thu tiếng động, bộ đàm cầm tay HT1, TOKAI... Sự miệt mài nghiên cứu của các đồng chí đã giúp cho anh em cơ công toàn chiến trường có tài liệu sửa chữa khi máy móc bị hỏng. Đồng chí Lê Văn Lộc - thông tin Phân khu 1 (Sài Gòn - Gia Định) có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật như cải tiến mạch phân áp máy phát 102E giúp cho anh em đủ sức quay ragônô trong điều kiện ăn đói vẫn giữ được điện áp đảm bảo liên lạc, đảm bảo tốt kỹ thuật thông tin cho Ban liên hiệp bốn bên, tham gia phát hiện vô hiệu hóa nhiều máy nghe trộm của địch cài vào trụ sở của phái đoàn bốn bên ta ở Tân Sơn Nhất.

Ngoài ra ở chiến trường, bất cứ loại máy nào hư hỏng đều đến tay cơ công sửa chữa như máy X quang, điện tâm đồ, máy đo huyết áp, máy ảnh, máy thu chuyên dụng của tình báo, máy chiếu phim, máy chữ, máy điểm hỏa...

Suốt những năm tháng gian khổ ở chiến trường, bên cạnh công tác chuyên môn đảm bảo kỹ thuật thông tin là chủ yếu còn nhiều đồng chí dũng cảm trong chiến đấu, không quản ác liệt hy sinh. 100% thành viên của Đoàn 239 đều được công nhận là Dũng sĩ quyết thắng, nhiều đồng chí là Dũng sĩ diệt Mỹ, Chiến sĩ thi đua như đồng Phạm Thông Ích, Nguyễn Văn Phi, Lại Văn Hay... Qua thử thách nhiều đồng chí cán bộ kỹ thuật trở thành cán bộ chỉ huy, lãnh đạo và 100% thành viên Đoàn 239 được kết nạp vào Đảng.

Song phần thưởng cao quý nhất của những người lính thợ bình dị, khiêm tốn, vui vẻ với một tay mỏ hàn, một tay súng, chữa máy giỏi, đánh giặc hăng đó là sự tin cậy của chỉ huy lãnh đạo các cấp, sự hợp tác hết mình của các bạn chiến đấu, các đồng chí đồng nghiệp của Binh chủng, sự che chở đùm bọc của nhân dân, nên anh em Đoàn 239 đã giữ vững được quyết tâm truyền thống, nghĩa tình đồng đội sâu sắc gắn bó. Từ buổi ban đầu cùng nhau học tập rèn luyện, cùng nhau vượt Trường Sơn, cùng nhau phục vụ chiến đấu ở chiến trường. Niềm tự hào của các thành viên 239 đã tô thắm thêm truyền thống của Bộ đội Thông tin B2 anh hùng.

Đoàn 239 là một tập thể cùng là học sinh, cùng đi bộ đội năm 1964-1965, cùng được đào tạo tại Trường Kỹ thuật thông tin, cùng vượt Trường Sơn và cùng nhau công tác, chiến đấu suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Anh em Đoàn 239 có gần 70 người vào chiến trường mà rải khắp từ Mặt trận Trị Thiên đến tận Cà Mau, sang chiến trường Campuchia. Đã có 40 năm gắn bó nghĩa tình đồng đội làm nên truyền thống tốt đẹp đó là "Cần cù chăm chỉ trong học tập, tận tụy, thông minh sáng tạo trong công tác chuyên môn, kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu, thủy chung tình nghĩa trong cuộc sống".

Biết rằng nhân chứng trong cuộc chiến này sẽ mai một đi, song những chiến công thầm lặng của chiến sĩ cơ công 239 mãi mãi vẫn còn trong ký ức của Bộ đội Thông tin B2.

Về với đời thường, nét đẹp cơ bản của anh em 239 là làm đúng và giữ trọn vẹn nghĩa tình đồng đội, tự hào là đã cống hiến, phục vụ Binh chủng Thông tin anh hùng, đúng với bản chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.

Ngày 10-6-2009

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

4.2.25

"Đường kín", "đường hở" trên con đường Trường Sơn huyền thoại (trích hồi ức "Thức cùng Trường Sơn")

Trần Hữu Đạo

Việc mở đường kín để chạy ban ngày thay cho ban đêm trên toàn tuyến và hạn chế tác hại đánh phá của máy bay AC130 ở thời điểm này được Bộ Tư lệnh coi đây là vấn đề sinh tử hoàn toàn mới, phù hợp với nguyện vọng của quần chúng.

Từ trong khó khăn, các đơn vị đã có sáng kiến tuyệt vời. Binh trạm 32 đi đầu mở 40km đường dưới tán rừng già để cho xe chạy ban ngày (đường này về sau gọi là đường kín). Khi xe chạy, máy bay địch rất khó phát hiện. Sau thành công trên, được Bộ Tư lệnh Trường Sơn chủ trương mở đường kín dọc tuyến để chạy xe ban ngày.

Đường kín được khởi công xây dựng từ 20 tháng 4 năm 1971, dự kiến hoàn thành vào đầu năm 1972.

Đoạn đường từ Binh trạm 32 (Lùm Bùm) đến Bộ Tư lệnh 470 (Phi Hà) ngã ba Biên Giới, nếu tận dụng tối đa tán rừng già nguyên sinh che phủ thì tổng chiều dài làm đường kín khoảng 800km. Theo báo cáo của Tiểu đoàn thông tin dây trần 133 và 26, đường kín đi trùng hoặc đi sát đường dây đoạn từ Nam Tha Mé đến Bắc Bạc và dọc theo đồi Pô Thiên đến Chà Vằn khoảng 100km đường cột.

Một sự tái trùng hợp xảy ra là: khi thông tin mắc đường dây trần tải ba phải dựa vào đường trục ô tô để khảo sát, xác định tuyến, vận chuyển vật tư lương thực cho bộ đội thi công. Nay công binh mở đường kín đã tận dụng ưu thế sẵn có của đường dây để khảo sát, thiết kế, do dưới đường dây đã có đường đi lại rất thuận tiện, nhiều đoạn dây được mắc trên địa hình tương đối bằng phẳng ở trong rừng già và tán che phủ, nay chỉ cần mở rộng ra thành đường kín dễ dàng! Vì vậy nhiều đoạn đường được mở ra đã đi trùng lên đường dây trần.

Để thực hiện mở đường kín, Bộ Tư lệnh quyết định sử dụng bốn trung đoàn công binh cơ động (4, 10, 98, 217), Tiểu đoàn thuyền 73, sáu tiểu đoàn công binh tại chỗ Binh trạm 30 - Sở chỉ huy ở phía tây nam Hy Lạp làm nhiệm vụ quản lý đường và phục vụ trung chuyển.

Để chỉ huy lực lượng làm đường kín trong mùa mưa, phương tiện liên lạc chủ yếu là vô tuyến điện báo theo phiên ngày.

Đúng như dự kiến, ngày 30 tháng 1 năm 1972 "đường kín" thông suốt toàn tuyến từ các binh trạm cửa khẩu đến ngã ba Biên Giới. Tư lệnh tổ chức một đoàn cán bộ gồm cả tham mưu, chính trị, hậu cần trực tiếp kiểm tra lần cuối để định ngày đưa vào sử dụng. Chủ nhiệm thông tin cùng một xe điện đài đi theo vừa làm nhiệm vụ đảm bảo liên lạc cho Đoàn vừa kiểm tra hệ thống thông tin phục vụ cho chỉ huy điều hành khi đường kín đưa vào sử dụng.

Sau khi ra về, trong cuộc họp chuyên đề tổ chức bảo đảm thông tin ở đường kín, đồng chí Tụng nói: Tôi được đi cùng đoàn Tư lệnh kiểm tra đường kín mới hoàn thành, từ Đoàn bộ đến ngã ba Biên Giới gần một nghìn kilômét chỉ mất ba ngày, theo các đồng chí Cục vận chuyển tính, nếu xe vận tải đi đội hình lớn phải mất năm ngày, so với vận tải theo cung thì nhanh hơn từ mười lăm đến hai mươi ngày. Đường mới làm dễ đi, hầu như được tán cây che phủ - một "đặc ân" của rừng núi Trường Sơn cho quân vận tải 559 ta. Có hôm đoàn đi suốt cả ngày không nhìn thấy bóng một người dân, khoảng mười đến mười lăm kilômét lại có một tổ chốt công binh thường trực bảo vệ đường. Giữa đại ngàn Trường Sơn vắng lặng, xe lầm lũi lăn bánh nhiều lúc có cảm giác rợn người".

Anh Hoàng Đình Quý tiếp luôn câu chuyện:

Anh Ngọc "thọt" bố của cậu Nghiêm - trung cấp kỹ thuật thông tin, đầu năm 1968 đến thăm con vào Phòng Thông tin chơi nói chuyện, anh kể rằng: Quân ủy Trung ương cử phái đoàn thị sát Trường Sơn do Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện và Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Phạm Ngọc Mậu phụ trách trực tiếp đến các đơn vị tìm hiểu nguyên nhân vì sao tiểu đoàn của anh bị địch đánh phá cháy 20 xe ở cua chữ S trên đường 9 và triệu tập thiếu tá Nguyễn Ngọc chỉ huy đoàn xe chạy thẳng để báo cáo tình hình. Thiếu tá Ngọc thẳng thắn báo cáo: "Là người chỉ huy đoàn xe mà để bị đánh cháy 45 chiếc, chết 40 cán bộ, chiến sĩ. Tôi xin chịu tội. Nghe nói các thủ trưởng sẽ kỷ luật, giáng cấp người chỉ huy đoàn xe. Tôi xin chấp nhận". Đồng chí Ngọc tự tháo quân hàm cấp thiếu tá đặt lên bàn và nói: "Tôi không sợ chết. Song tình hình tổ chức chỉ huy trên đường không có trạm thông báo tin, không biết thế nào để xử trí tình huống, nên liên tục bị địch đánh ngăn chặn... Anh em lái xe rất dũng cảm, mưu trí lắm mới giao xong hàng, quay về được đến đây... Lần sau vẫn thế này thì chắc tôi cũng không còn đầu để về báo cáo các thủ trưởng!".

Nghe nói có lý, nên đồng chí Thiện cầm cặp quân hàm trao lại cho đồng chí Ngọc và nói: "Anh nhận lấy! Chưa ai có ý kỷ luật anh. Cứ bình tĩnh kiểm điểm lại sự việc, rút kinh nghiệm để lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu thắng địch".

Mọi người dự họp cùng cười, đồng chí Tụng nói tiếp: Trường hợp xe chạy như của đơn vị anh Ngọc nay không còn, hiện giờ xe chạy đường hở ban đêm cũng như đường kín ban ngày đều có chỉ huy hiệp đồng binh chủng công binh, pháo binh, xe tăng chặt chẽ, xe chạy có biển chỉ đường, có pháo cao xạ bảo vệ. Thông tin phục vụ chỉ huy hiệp đồng binh chủng được triển khai rộng khắp. Riêng trên đường kín, theo chủ trương xe chạy đội hình Trung đoàn và mật tập cần phải có thông tin hiệp đồng tốt mới đáp ứng nhiệm vụ.

Ngày 10 tháng 2 năm 1972, Trung đoàn 13 vận tải ô tô, một trung đoàn "tuấn mã" thiện chiến, đồng chí thiếu tá Phạm Văn Thi - Trung đoàn trưởng được chọn chạy khai thông đường kín.

Tôi có dịp gặp lại anh Thi vào ngày ra mắt Ban liên lạc truyền thống Trường Sơn ở Binh đoàn 12 năm 1999. Ôn lại đôi chút kỷ niệm về thông tin với lái xe, anh kể:

Trong "chiến dịch Bình Giã" tôi vinh dự được giao dẫn trung đoàn xe ô tô của mình lần đầu chở hàng chạy trên đường kín mới mở. Từ chỗ chỉ chạy vào ban đêm nay chạy giữa ban ngày dưới che phủ của tán cây rừng đại ngàn Trường Sơn, lái xe ai cũng hồi hộp và lo lắng. Nhưng khi xe chạy, đến đâu chúng tôi vẫn thấy như có đồng đội ở cạnh mình, họ chỉ đường, bảo vệ xe đi. Cả đội hình mười đại đội, gần năm trăm đầu xe Zin các loại của Trung đoàn từ nơi xuất kích đến nơi giao hàng, quay đều về an toàn theo đúng kế hoạch của Bộ Tư lệnh Trường Sơn giao.

Khi họp rút kinh nghiệm hỏi nhau mới rõ, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 472, 471 tổ chức chỉ huy rất chặt chẽ, cứ khoảng 10-15km lại có một barie, ở đó có máy điện thoại hoặc bộ đàm 2W để liên lạc về cấp trên, theo dõi chính xác từng chiếc xe qua. Xe tôi đi đến đâu ở Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Đoàn đều biết. Không có hệ thống thông tin tốt ở dọc đường làm sao có thể thực hiện được việc trên!

Đường kín đưa vào hoạt động, kết thúc những năm tháng dai dẳng phải chạy xe ban đêm, đồng thời cũng là một đòi hỏi Bộ đội Thông tin trên tuyến phải chuyển hướng phục vụ theo yêu cầu của nhiệm vụ mới khó khăn, phức tạp hơn.

Theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh, "đường kín" là hướng vận chuyển chủ yếu cho các đoàn xe chạy ban ngày, còn ban đêm vẫn tổ chức xe chạy "đường hở" để nghi binh lừa địch, do vậy mạng tải ba, tiếp sức, điện đài phải hướng về phục vụ "đường kín".

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Liên lạc công khai Quân khu 9

Nguyễn Thành Văn (Tám Danh) - Đội trưởng giao liên công khai Khu 9

Liên lạc công khai là một loại hình liên lạc mới, táo bạo ở Quân khu 9 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là thời kỳ địch tiến hành "bình định" ở miền Tây Nam Bộ gắt gao (1969-1972). Việc liên lạc công khai đã góp phần rất đắc lực vào việc đưa đón cán bộ trong đó có không ít cán bộ cấp Quân khu, vận chuyển nhiều tài liệu quan trọng, nhiều tiền bạc và cả vũ khí vượt qua vùng địch kiểm soát nhanh chóng, bí mật, bất ngờ, góp phần thu ngắn khoảng cách thực hiện mục tiêu chiến dịch, chiến lược của Quân khu.

Trước tình hình địch đánh phá khốc liệt chia cắt chiến trường Quân khu 9 ra hàng trăm ngàn mảnh, do đó việc liên lạc, đi lại gặp nhiều khó khăn. Đồng chí Võ Văn Kiệt, Bí thư Khu ủy, Chính ủy Quân khu đã chỉ thị cho các ngành và lực lượng vũ trang tổ chức liên lạc công khai, lực lượng thông tin công khai ra đời đã hỗ trợ đắc lực trong thời kỳ đánh địch cho đến năm 1974.

Vận dụng những kinh nghiệm liên lạc công khai của Đảng thời kỳ bí mật nhất là giai đoạn đấu tranh chính trị (1954-1960) ở miền Nam, lựa chọn số cán bộ đảng viên gia đình trung kiên có điều kiện hoạt động để tổ chức bồi dưỡng giao nhiệm vụ. Riêng tiền phương Quân khu ở Vĩnh Trà đã tổ chức liên lạc công khai sớm nhất trong lực lượng vũ trang Quân khu (cuối năm 1967) do đồng chí Cao Văn Đởm phụ trách hậu cần tiền phương Quân khu chỉ đạo, đã đưa tài liệu, cán bộ đi qua vùng địch kiểm soát từ Vĩnh Trà về Khu ở Cà Mau nhanh chóng an toàn, trong đó có đồng chí Cao Văn Đởm, Nguyễn Hoài Pho (Ba Mai) – Phó Tư lệnh Quân khu, chỉ huy trưởng tiền phương Vĩnh Trà.

Đội liên lạc công khai Ban thông tin (A8) được hình thành cuối năm 1970 do đồng chí Nguyễn Công Danh (Tám Danh) và Đinh Kha chỉ huy gồm 3 tổ: Tổ 1 Nguyễn Thị Mừng (Mười Kỳ) phụ trách, tổ 2 - chị Hai Ngọc, tổ 3 - gia đình anh Ba Phương và một số chốt ở Cà Mau, Rạch Giá và Cần Thơ. Tuy mới ra đời nhưng các đồng chí tích cực hoạt động đưa công văn hỏa tốc kịp thời cho các nơi địch đang càn quét, có lần đồng chí Mười Kỳ bình tĩnh khôn khéo nói đưa chồng đi trị bệnh qua mắt bọn lính xét hỏi để đưa đồng chí Khu ủy viên về dự hội nghị khu kịp thời. Địch thường xuyên phục kích tuyến đường qua lại sông Trẹm giữa U Minh Thượng - U Minh Hạ và chỗ anh em tới lui mua gạo... Đồng chí Tám Danh được trên giao nhiệm vụ vận động người làm ám hiệu mỗi khi có địch phục kích, nhờ vậy đã cứu nhiều đoàn cán bộ và đặc biệt đồng chí Tám Danh nhận hai lần 5.000 đô la Mỹ từ B2 gửi bằng đường công khai giúp Quân khu giải quyết kịp thời trong lúc túng ngặt, từ đó thông tin có tiền mua gạo, pin. Ở các tỉnh đội cũng tổ chức 2 đến 4 tổ, phương tiện xuồng máy do Ban tham mưu trực tiếp quản lý liên lạc trong ngoài tỉnh và về Khu.

Lực lượng liên lạc công khai Quân khu ngày càng thể hiện bản lĩnh trung thành vô hạn, dũng cảm và khôn khéo, trăm mưu ngàn kế qua mắt kẻ thù hoàn thành nhiệm vụ. Ở Cà Mau, má Nguyễn Thị Năm đi xuồng chèo tìm tiền phương Tỉnh đội rất khó khăn nguy hiểm, phần mệt, phần đói nhưng má cũng cố gắng đến nơi để đưa công văn hỏa tốc kịp thời, má được tặng Bằng khen (7-1969). Cô Hoa, cô Liễu vượt vòng vây địch ở Cây Khô về Tỉnh đội Cà Mau nhận nhiệm vụ (1970); má Chín Sức, cùng một lúc hoàn thành 3 nhiệm vụ được tặng Bằng khen (5-1974). Ở Rạch Giá có chị Năm Dô luôn hoàn thành nhiệm vụ, chị Tư Bốn (Phạm Thị Tư) ở kinh Xáng, Cò Tuất một mình 3 nhiệm vụ như đưa tin, tiếp tế, chuyển thương binh qua đồn địch... Lực lượng công khai quân báo Khu vượt mọi gian khổ hy sinh, mưu trí đưa tin địch kịp thời, góp phần đáng kể vào việc phá vỡ kế hoạch bình định U Minh. Điển hình như bác Gái tên Bảy Hường và con gái là cô Tuyết thường xuyên đưa thư mật, tài liệu về cụm quân báo Cần Thơ. Đặc biệt năm 1969 bác Bảy đã chuyển kịp thời các khóa mật mã KĐC khóa đối chứng tổng hợp sử dụng cho các quân binh chủng trên sóng cực ngắn ANC, ANK giữa các vùng chiến thuật, qua đó giúp Bộ Tư lệnh Quân khu nắm chắc tình hình địch. Những mệnh lệnh và báo cáo thỉnh thị của địch qua điện đài tới các đối tượng của chúng thì coi như là đồng điện cho ta. Chị Lê Thị Bình (Tư Mau) bị địch bắt không khai báo (1972). Ba má Tám làm giao liên công khai Vĩnh Trà đưa đồng chí Ba Trung - Phó Tư lệnh Quân khu về khu báo cáo kịp thời. Sau đó ba má Tám bị địch bắt tra tấn tàn nhẫn nhưng ba má không khai nửa lời, chúng đạp ba Tám xuống sông bắn chết nhằm uy hiếp tinh thần má Tám, nhưng má dùng lời lẽ đấu tranh với chúng, địch tiếp tục giam cầm má, nhưng vẫn không khai thác được gì. Sau này má Tám (Phùng Thị Năm) được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 22 tháng 12 năm 1994.

Lực lượng giao liên Cục Hậu cần do đồng chí Ba Lõi, Năm Hoằng, sau này là đồng chí Bảy Hồ, Năm An, Chín Lâm phụ trách hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Như đồng chí Trương Thị Mỹ, ngụy trang khéo léo, bên cạnh ghe máy mua thêm xe Pơgiô 404 loại cao cấp lúc ấy do anh Ba Xê phụ trách kiêm lái xe đưa rước cán bộ, đổi tiền cũng nhanh, đi đường ít ai hỏi. Có lần xe xuống Vị Thanh rước đồng chí Phạm Ngọc Hưng (Năm Hải) - Tư lệnh phó Quân khu 9 và Chủ nhiệm hậu cần Quân khu Ngô Đức Nhường lên B2 dự hội nghị trong ngày đến nơi, trong khi đó nếu đường giao liên du kích bí mật thì phải mất vài tháng. Trên tuyến Rạch Giá, đồng chí Bảy Hồ tổ chức đưa đồng chí Mười Hồng - Tỉnh đội phó Rạch Giá từ Thứ Ba về Ba Hòn bằng đường biển ba tiếng đồng hồ là đến, nếu đi đường bộ phải mất hai tháng, chưa chắc đến.

Liên lạc công khai của tiền phương Quân khu, của Hậu cần Quân khu cũng là tiền thân của vận tải công khai; nhiệm vụ vận tải công khai cũng rất nặng nề chuyên chở vũ khí khí tài, tiền đô la, thư từ miền Bắc gửi vào... Các đồng chí đã rất nhanh trí, sáng tạo vận dụng nhiều phương cách, khôn khéo vượt qua xét hỏi của đồn trạm, tàu tuần tra của địch về đến nơi an toàn, góp phần rất lớn để có vũ khí đánh địch trong lúc bị địch phong tỏa quyết liệt. Tiêu biểu cho thành tích tập thể Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là Tiểu đoàn 804 và ba cá nhân anh hùng: đồng chí Bùi Văn Viết (Tư Thắng), Trương Thị Mỹ và Lâm Văn Sắc (Hai Vinh).

Bên cạnh có sự hỗ trợ rất quan trọng của đội giao liên công khai của khu Tây Nam Bộ do đồng chí Đỗ Phú Cấn và Trần Phúc Sinh (Sáu Quắn) phụ trách đã từng tổ chức rất chu đáo đưa các đồng chí lãnh đạo Quân khu đi nhanh chóng, an toàn như đồng chí Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Phạm Ngọc Hưng, Nguyễn Đình Chức... Sau đây xin trích nhận xét của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt: "Tôi muốn nhấn mạnh phần này, trí tuệ của bà con mình lớn quá, họ là người bình thường (có khi chưa biết chữ) rất thiệt thà hiền hậu không cãi vã so hơn tính thiệt với ai. Nhưng xử lý tình huống thì thông minh bén nhạy, kiệt xuất và nếu như không có một khối người dường ấy khôn ngoan lanh lợi, họ sẽ không bảo vệ nổi chúng tôi và như vậy có nghĩa là mình sẽ rơi vào tay giặc...".

Giao liên công khai đã góp phần tích cực thực hiện các mục tiêu quan trọng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là thắng lợi mùa Xuân năm 1975.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Mùa mưa năm ấy

Nguyễn Hữu Xuân

Nằm trong chăn nệm ấm

Nghe sầm sập mưa rơi

Nhớ lại một quãng đời

Trường Sơn năm bảy mốt.

 

Co ro trong võng sốt

Đu đưa mái tăng che

Nước mưa vây bốn bề

Mưa cứ rơi rơi mãi

 

Mưa giăng màn kinh hãi

Mưa lũ ập sau lưng

Mưa sập ván ngủ rừng

Mưa ngập hầm tránh đạn.

 

Hôm qua con suối cạn

Hôm nay đã thành sông

Nước bốn bề mênh mông

Đỉnh đồi thành ốc đảo.

 

OV10 lơ láo

Bay lượn trên trời cao

Chỉ điểm pháo bắn vào

Bao thương vong máu đổ.

 

Những tháng năm gian khổ

Trôi qua đã từ lâu

Nhưng còn mãi nỗi đau

Nấm mồ người đồng đội!


Hôm nay giữa Hà Nội

Trong căn phòng ấm êm

Thức dậy một nỗi niềm

Về mùa mưa năm ấy...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Giao liên Quân khu 9

Ứng Doãn Núi - Đội trưởng Đội quân bưu

Ở chiến trường đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ chống Mỹ, ai đã từng đi theo đường giao liên mới cảm thông sâu sắc câu "Qua sông bạc đầu, qua cầu giám kỷ". Nhưng anh chị em giao liên vẫn ngày ngày gan dạ, khôn khéo vượt qua mọi sự đánh phá ngăn chặn của kẻ thù, đưa cán bộ, tài liệu, vũ khí... về đến đích an toàn.

Từ năm 1967 trở đi, chiến trường Khu 9 càng gian khổ ác liệt và chuẩn bị cho Mậu Thân 1968, Khu ủy và Quân khu thống nhất sáp nhập Quân bưu và Giao bưu vận thành đường giao liên quân - dân - chính - đảng, quy mô cấp trung đoàn do Quân khu chỉ đạo, tăng cường anh Trung Chính - cán bộ Trung đoàn làm chính trị viên. Ban chỉ huy 6 người, anh Sáu Sự là chỉ huy trưởng.

Đường giao liên này gồm 1 tổng trạm, 3 tuyến đường chính: 1A đi sông Hậu, 1B đi sông Tiền, 1C đi núi Cô Tô - mốc biên giới Cam-pu-chia và 1 đường đi nội địa, hình thành 35 trạm, trung bình mỗi trạm 7-8 người, mỗi tuyến đường chính có 1 phó chỉ huy phụ trách và 1 trung đội vũ trang mở đường.

Riêng lực lượng Quân bưu, phụ trách tổng trạm (T732), có 1 trung đội hỏa tốc, 1 trung đội vận tải hợp lại thành đại đội do đồng chí Ứng Doãn Núi, Nguyễn Văn Hưởng, Nguyễn Chí Tâm, Ba Phùng chỉ huy, hai trung đội T731- T733 bố trí thành 12 trạm từ Cà Mau lên nam sông Hậu.

Lực lượng giao liên đã khắc phục mọi gian khổ hy sinh, mưu trí giữ vững đường dây thông suốt nhất là các đầu cầu vượt sông Tiền và sông Hậu như đồng chí Lê Quang Vinh - trưởng trạm A546 (tuyến Trà Vinh, Mỏ Cày) khi qua sông Tiền bị tàu địch phát hiện, đồng chí đã liều mình nghi binh làm lạc hướng địch và bắn trả quyết liệt với tàu giặc để cứu đoàn cán bộ về Miền dự hội nghị được an toàn. Đồng chí Tiên ở đội hỏa tốc là "cây mở đường" có lệnh là đi, đi là đến, có lần qua cống Cả Luyện (Long Mỹ, Cần Thơ) bị địch phục kích, đồng chí đánh trả và khôn khéo vượt qua, đưa công văn kịp thời. Ở Long Châu Hà, địch thường đổ quân chốt chặn đánh phá, lực lượng giao liên kết hợp địa phương chiến đấu quyết liệt với địch để mở đường bảo vệ hàng, nhất là mùa nước nổi có đoạn dài 20-30km anh chị em phải trầm mình dưới nước suốt đêm, đầu đội hàng, tài liệu, quần áo bị cỏ cắt rách nát, ăn uống thất thường nhưng tất cả đều vượt qua. Nam cực 1, nữ khổ 10, nhiều chị em dũng cảm hy sinh trên đường, nhiều chị em bị bệnh rụng gần hết tóc, một số chị em mắc bệnh trầm trọng vì đời sống quá khó khăn, thiếu thốn. Có thể nói mỗi viên đạn, một bưu phẩm... đến chiến trường Khu 9 đều thấm máu của giao liên Khu 9.

Bên cạnh đó, phong trào thi đua sôi nổi từ cơ quan đến các trạm, ý thức tự lực được đề cao, làm ruộng đủ gạo ăn 6 tháng. Nổi bật là Trạm 547 đóng ở kinh Giáo Mẹo (Vĩnh Long) là đơn vị dẫn đầu của toàn ngành giao bưu vận, được Bộ Tư lệnh Miền tặng cờ Quyết thắng và Huân chương Chiến công hạng Nhì.

Đầu năm 1969, theo yêu cầu quân sự, Đội quân bưu được tách ra thành lập đại đội phiên hiệu B16 trực thuộc Ban thông tin Quân khu, quân số 62. Ban chỉ huy có 3 đồng chí: Ứng Doãn Núi, Hồ Hai, Dương Văn Đặng với nhiệm vụ vẫn duy trì 3 trung đội, 12 trạm móc nối tất cả các đơn vị, đồng thời liên lạc với bắc sông Hậu và có 2 tiểu đội hỏa tốc đi các hướng.

Đường giao liên B16 thời kỳ địch bình định U Minh, việc đảm bảo liên lạc rất gian khổ ác liệt, thường xuyên bị địch càn quét, chốt chặn chia cắt, đồn bót giăng khắp nơi, nhiều đoạn đường trước đi trong ngày, nay phải đi 5-6 ngày thậm chí đổi bằng máu.

Tuy vậy, từ chỉ huy đến chiến sĩ đều gan dạ, mưu trí bám trụ cơ động đánh địch, bảo vệ cán bộ, tài liệu... Như đồng chí Ba Thời dẫn đoàn cán bộ từ Sân Gạch về Xẻo Lá (Rạch Giá) đường xa, đi 2 - 3 ngày gặp địch phục kích, một số đánh kìm giữ địch, số còn lại đưa khách đi đường phụ an toàn.

Có nhiều đồng chí nữ để tránh địch, phải càn rừng, quần áo rách nát để đưa khách đi kịp dự hội nghị. Có trạm bám trụ để giữ liên lạc các nơi bị trận địa pháo thứ 11 (Rạch Giá) thường xuyên bắn phá, có lúc bắn hàng ngàn quả pháo vào tọa độ trạm đang ở, nhưng các đồng chí vẫn kiên cường củng cố công sự hai ba tuyến, tiếp tục ở.

Về ăn ở của B16 rất gian nan, liên tục bị đánh phá, càn quét, đơn vị đa số là nữ, đóng ở đâu các đồng chí cũng tổ chức đời sống tốt, xây dựng chòi trại, công sự vững chắc. Riêng đồng chí Lẹ, hành quân đến nơi, chị em chưa mang ba lô lên bờ đã thấy đồng chí ở trên nóc nhà che lại những chỗ bị phi pháo bắn, thật là "lẹ như sóc", đúng như cái tên cha mẹ đã đặt cho cô.

Đặc biệt ngày 7 tháng 9 năm 1970, đồng chí Trần Minh Xiêm - tiểu đội phó hỏa tốc đưa đoàn cán bộ về khu dự hội nghị. Trên đường vào gần đến rừng U Minh Thượng bị máy bay địch phát hiện, đồng chí chỉ đường cho cán bộ chạy vào rừng, mặt khác bắn máy bay thu hút hỏa lực về phía mình. Kết quả đồng chí bắn rơi 1 trực thăng cán gáo, bảo vệ đoàn cán bộ 10 đồng chí và đồng chí đã hy sinh anh dũng ở tuổi 18. Người con An Biên - Rạch Giá không còn nữa nhưng đã để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng đồng đội. Đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Năm tháng rồi qua đi, nhưng hình ảnh người giao liên Khu 9 vượt qua mưa bom, bão đạn giữ vững đường dây không thể nào phai mờ trong ký ức chúng tôi.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

1.2.25

Đường lên đỉnh núi Ti On

Đinh Kỷ

Tại vị trí tập kết của tiểu đoàn ở chiến trường Tây Nguyên, giữa tháng 2 năm 1975, nhiệm vụ đã được giao. Chia tay chúng tôi, anh Lưu Đức Doanh, đại đội trưởng, Phạm Quang Liệu - chính trị viên phó đưa trung đội do Nguyễn Văn Bớt làm trung đội trưởng tiếp tục hành quân đi cơ động cho chiến dịch. Để lại tôi và anh Nguyễn Văn Diến - chính trị viên chỉ huy đại đội phải chiếm lĩnh hai cao điểm bảo đảm liên lạc trên đường trục thông tin của tiểu đoàn từ Hà Nội vào chiến trường B2, trước mắt là phục vụ chiến dịch Tây Nguyên. Anh Diến đi cùng với trung đội đồng chí Nguyễn Xuân Liên lên cao điểm núi Chư Mom Ray. Tôi dẫn trung đội đồng chí Ngô Đăng Chữ lên cao điểm núi Ti On.

Với bản lĩnh của người chiến sĩ thông tin tiếp sức đã được tham gia triển khai thông tin phục vụ chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh thuộc trung đội anh Đào Kim Kính của C12; sau đó là làm trạm trưởng trạm tiếp sức của C13 được đi cơ động phục vụ cho hướng tiến công vào Huế ở chiến dịch Quảng Trị năm 1972, nên tôi đã tích lũy được một số kinh nghiệm. Với cương vị là một người cán bộ đại đội phó vừa mới được bổ nhiệm, tôi rất tự tin và đặc biệt là được sự ủng hộ và yêu mến của anh em trong đơn vị. Cuộc hành quân tiếp tục, từ vị trí tập kết vào đến chân núi Ti On chúng tôi phải hành quân mất một ngày đường. Vào đến chân núi phải qua một bản làng dân tộc người Ráy thuộc tỉnh Kon Tum. Sau một ngày ổn định nơi ăn ở cho bộ phận dưới núi, đồng thời làm công tác dân vận, tìm hiểu địa danh, tìm hiểu địch tình, tìm hiểu những đơn vị bộ đội đóng quân gần, xa để tiện việc quan hệ giúp đỡ. Ngày hôm sau trừ các đồng chí lái xe ở lại bảo quản, tìm nơi cất giấu xe, còn lại toàn trung đội vận chuyển khí tài, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, vũ khí, cuốc xẻng lên núi đào hầm đặt máy thông tin, dựng lán trại đủ bảo đảm cho một tiểu đội 8 đồng chí ăn ở bảo đảm thông tin, sau một tuần thì đổi kíp.

Đỉnh núi Ti On với độ cao trên 1.000m, đường lên rất hiểm trở, rừng già, vắt, muỗi nhiều. Theo người dân kể lại: Nơi đây là một trận địa của dân quân du kích. Vào năm bao nhiêu đó tôi không còn nhớ rõ đã xảy ra cuộc chiến đấu rất ác liệt giữa ta và địch nên dọc đường lên núi có thể còn sót lại những vũ khí, bom, mìn, cạm bẫy mà bây giờ người dân địa phương cũng không thể lường biết được hết. Đây quả là một thách thức lớn đến với chúng tôi và còn rất nhiều những khó khăn, gian khổ đang ở phía trước. Nhưng tất cả phải vượt lên để chinh phục được đỉnh núi này cho cánh sóng vươn cao, vươn xa vào chiến trường Nam Bộ. Trước mắt là phục vụ chiến đấu giải phóng Tây Nguyên. Mọi công việc đã được đồng chí trung đội trưởng sắp đặt cụ thể, mang vác phù hợp với sức khỏe của mọi người. Ai nấy đều phấn khởi, vui vẻ chuẩn bị gọn gàng, đầy đủ mọi thứ được giao cũng như trang bị cá nhân để sẵn sàng lên núi, chỉ tiếc là hôm ấy không có người dẫn đường mặc dù tôi đã có liên hệ nhưng bà con dân bản nói không cần, các chú cứ đi theo con đường mòn mới mà lên, dân bản vẫn thường đi. Cuộc hành quân lên núi thật quả đã quá quen thuộc với lính tiếp sức do vậy mà không ai phải chần chừ do dự.

Đi đầu là trung đội trưởng Ngô Đăng Chữ, Bùi Xuân Hòa - tiểu đội phó, Nguyễn Văn Lanh cơ công vô tuyến điện... Đi cuối cùng là tôi và đồng chí Tuấn y tá. Tất cả có trên 20 đồng chí thành một hàng dọc dìu dắt nhau hành quân. Sau hơn một giờ hành quân, quãng đường chúng tôi đã đi qua ước chừng được khoảng bảy, tám trăm mét. Thế rồi tự nhiên tôi thấy hai bàn chân ngứa ngáy rất khó chịu, tôi dừng lại một chút cởi giày ra, thấy đôi chân của tôi loang lổ nhiều máu, 4 chú vắt đất vẫn cong mình, chúi đầu thi nhau hút máu ở bàn chân tôi. Trong giày còn xuất hiện 3 chú đã hút máu no căng, nằm cuộn tròn như những hạt nhãn đen sì, làm tôi choáng hết cả người. Nhanh chóng giải quyết xong mấy chú vắt, tôi đứng dậy đi tiếp. Trước mắt tôi vẫn là đoàn quân đang hành tiến và bỏ xa tôi vào khoảng 3 chục mét, chỉ có y tá Tuấn là đứng lại chờ tôi và vẫy gọi. Vẫn là những bước chân của tôi trên con đường mòn ở dải đất bằng phẳng này, vậy mà không hiểu tại sao, trong người thấy lạnh toát như có một luồng gió độc thoáng qua dun dủi tôi loạng choạng bước chân ra khỏi đường mòn chừng độ hơn một mét thì ngã ập xuống, hai cánh tay còn dang ra được để chống đỡ. Nhưng đôi cẳng chân đang bị hung khí gì đó cắn rứt ngang dọc suốt từ đầu gối trở xuống rất nhức và buốt đến tận óc. Tôi kêu thất thanh được hai tiếng (cứu, cứu). Thế rồi chỉ trong giây phút cứ xỉu dần, xỉu dần và gục đầu xuống đất, nghe láng máng có tiếng người gọi ai đó và những tiếng huỳnh huỵch trên mặt đất vội vã và thưa dần văng vẳng trong tai tôi. Có lẽ đồng đội đang chạy lại cứu tôi. Từ đó, tôi bất tỉnh nhân sự không còn biết gì nữa.

Sau khi được y tá Tuấn và anh em sơ cứu. Tỉnh lại tôi ân hận quá vì chưa làm được việc gì, lại thêm gánh nặng cho anh em rồi. Tôi nói với anh em: có lẽ bị vắt cắn ra nhiều máu quá, đứng lên đã hoa mắt, lại đeo nặng, bước đi thấy loạng choạng thế rồi chẳng may lao đúng vào nơi có vũ khí của trận địa cũ chăng.

Đúng rồi, không còn nghi ngờ gì nữa, có tới 13, 14 mũi chông xuyên dọc xuyên ngang vào hai chân tôi. Mọi người nhìn tôi với một ánh mắt đầy thương xót. Một nỗi niềm luyến tiếc bắt buộc tôi phải trở về phía sau. Lúc ấy đồng chí Bùi Xuân Hòa là tiểu đội phó (năm 2006 đã là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 614), là người thương quý tôi nhất và rất lo lắng đến tính mạng của tôi, đồng chí đã khẩn khoản đề nghị với trung đội trưởng, để được trực tiếp cùng y tá Nguyễn Văn Tuấn và một đồng chí nữa khiêng cáng, cõng tôi quay trở xuống cho an toàn. Xuống đến chân núi, Hòa mới an tâm vui cười động viên tôi yên tâm vào viện điều trị. Bùi Xuân Hòa một mình tiếp tục rảo bước lên núi ngay. Đồng chí Tuấn y tá và một lái xe chở tôi ra trạm y tế của huyện 40 Kon Tum. Nằm ở đó 3 ngày nhưng không có đủ điều kiện để phẫu thuật lại vào gọi đơn vị cho xe chở tôi ra Đội 6 đội giải phẫu trạm quân y của Trung đoàn 10 đơn vị công binh. Bác sỹ quân y trung đoàn xem bệnh án của tôi ở D4 Bộ Tư lệnh Thông tin đã ân cần hỏi chuyện tôi, có biết Mẫu Bá Cát không? Tôi nói chuyện Mẫu Bá Cát là tài xế lái xe ở đơn vị tôi, hiện nay đi với đồng chí đại đội trưởng vào sở chỉ huy chiến dịch rồi, vậy còn bác sĩ là ai mà hỏi đến Mẫu Bá Cát? Tôi là Mẫu Bá Phèn anh trai của Mẫu Bá Cát. Vậy là may mắn cho tôi được gặp quý nhân phù trợ rồi. Đồng chí Phèn đích thân ra tay phẫu thuật, gắp được hết những mũi chông gẫy cắm sâu vào bàn chân, bắp chân của tôi, đặc biệt là công tác giải phẫu chống nhiễm trùng được bác sĩ hết sức chú trọng đến. Trong một tuần đầu nằm, ngồi đôi chân bất động nhưng được các y, bác sĩ chăm sóc rất chu đáo. Sau đó 20 ngày, các vết thương đã lành, sức khỏe được hồi phục, tôi được xuất viện trở về đơn vị công tác. Lúc này cũng là lúc chiến dịch Tây Nguyên bắt đầu, tôi lại được cùng anh em ngày đêm bảo đảm thông tin phục vụ chiến đấu tiếp cho đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Đội văn nghệ Trung đoàn 134

Đại tá Phạm Bá Hiến - nguyên cán bộ Trung đoàn 134

Nhớ về cội nguồn, biết ơn cội nguồn là một nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam.

"Cây có gốc mới nẩy cành, xanh ngọn

Nước có nguồn mới biển rộng, sông sâu".

Con người ta, ai cũng có quê hương để mà thương, mà nhớ, mà tự hào. Người lính thông tin chúng tôi cũng vậy, sau quê hương đúng nghĩa của nó, còn có một quê hương thứ hai. Đó là đơn vị mình nhập ngũ đầu tiên, nơi đấy có biết bao kỷ niệm; có những kỷ niệm không bao giờ quên. Nói như anh bạn văn nghệ của tôi thì nơi ấy là mối tình đầu; "Tình cũ không rủ cũng đến", quả thật như vậy, hễ nói đến gặp mặt bạn chiến đấu Trung đoàn là từ già đến trẻ, từ người ở nông thôn đến thành thị ai nấy đều háo hức, hồi hộp mong thời gian trôi nhanh để được "đến hẹn lại lên".

Trong cái quê hương rộng lớn của Trung đoàn 134 tôi còn có nhiều kỷ niệm với cái gia đình nho nhỏ mà rất đỗi thân thuộc của tôi. Đó là Đội văn nghệ Trung đoàn.

Sau thất bại trong "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc "chiến tranh cục bộ", tăng cường chiến tranh xâm lược ở miền Nam, mặt khác mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc với ý đồ "đẩy Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá". Để đáp ứng yêu cầu đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ huy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; ngày 8 tháng 8 năm 1966, Trung đoàn 134 hữu tuyến điện được thành lập, trên cơ sở Tiểu đoàn 134. Trung đoàn đóng quân phân tán trải khắp miền Bắc từ rừng phi lao Móng Cái đến Quảng Bình, Vĩnh Linh với hàng chục trạm cơ vụ, hàng trăm tổ đường dây. Những người lính thông tin hữu tuyến điện thời đó kiên cường, bám trụ ngày đêm chiến đấu trên đôi dây với đủ loại kẻ thù: bom đạn, biệt kích, thám báo, gió bão, lũ lụt, thú rừng, rắn rết, đói rét và thiếu thốn đủ đường. Ước ao của người lính lúc đó cũng thật bình dị. Có anh ước được gần mẹ, gần chị, gần em để khâu vá cho bộ quần áo lành lặn mặc đi chữa dây để các cô gái nhìn thấy khỏi cười. Trước yêu cầu đòi hỏi về đời sống tinh thần của bộ đội, Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn ra Nghị quyết thành lập Đội văn nghệ xung kích, với quy mô gọn, nhẹ, thiết thực. Có nhiệm vụ tham gia làm chuyên môn khi cần thiết, khâu vá, cắt tóc và biểu diễn văn nghệ phục vụ các tổ, trạm trên toàn tuyến Trung đoàn, trước hết ưu tiên cho tuyến lửa phía Nam từ Thanh Hóa trở vào Vĩnh Linh.

Trong bài "Cả nhà là chiến sĩ thông tin" đăng trên báo Nhân Dân, số ra ngày 24 tháng 9 năm 1967, tác giả Bùi Á viết: "Cả nhà là chiến sĩ thông tin là một vở chèo của đội nghệ thuật nghiệp dư, đơn vị bảo vệ đường dây X, Cục Thông tin liên lạc Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam. Đội nghệ thuật này thành lập tháng 8 năm 1966, gồm 15 người, trong đó có 7 nữ là chiến sĩ thông tin tích cực trong công tác và dũng cảm trong chiến đấu. Trong những tháng cuối năm 1966 đầu năm 1967, đội đã đi bộ hơn 500 cây số vào tuyến lửa để làm công tác chuyên môn và biểu diễn văn nghệ phục vụ chiến sĩ bảo vệ đường dây. Hầu hết các tiết mục nghệ thuật của đội là các vở chèo, tấu, thơ, dân ca do anh chị em trong đội sáng tác và biểu diễn".

Nếu tôi nhớ không nhầm thì sáu cô gái thông tin trẻ trung lúc đó là: Lê Thị Cửu, Lê Thị Bích Lộc, Dương Thị Lệ Phái, Đinh Thị Tuyết Lan, Nguyễn Thị Kim Tiến và Nguyễn Thị Kim Tuyến. Các chàng trai có mặt ngày đầu thành lập đội văn nghệ là Nguyễn Duy Nhuệ (nhà thơ Nguyễn Duy) biệt danh "Tổng Cóc", Đào Văn Doanh, Nguyễn Văn Thời, Nguyễn Văn Thỏa, Nguyễn Cao Nhẫn, Dương Hữu Cay, Hoàng Dĩ... Thoắt một cái đã bốn mươi năm, bây giờ gặp nhau đã lên ông bà nội, ngoại cả rồi.

Đội văn nghệ xung kích của Trung đoàn được thủ trưởng và Ban Chính trị Trung đoàn quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ, đầu tư về con người, về cơ sở vật chất, nhất là về nội dung tuyên truyền văn hóa, văn nghệ. Đội văn nghệ được coi là một phương tiện đưa nghị quyết của Đảng ủy Trung đoàn đến các tổ, trạm đường dây hiệu quả nhất. Mỗi bước tiến bộ, trưởng thành của Đội văn nghệ Trung đoàn đều có sự chỉ đạo, giúp đỡ của Phòng Tuyên huấn Binh chủng. Đặc biệt là sự quan tâm dìu dắt của đồng chí Nguyễn Văn Khoan, Trợ lý văn hóa Binh chủng nay là tiến sĩ sử học.

Sau chuyến đi công tác động xuân 1966-1967 đạt kết quả tốt, đội tiếp tục được củng cố và chuẩn bị cho các chuyến đi phục vụ xa hơn, khó khăn ác liệt hơn.

Đội văn nghệ Trung đoàn được các nhà đạo diễn, biên đạo múa, nhạc sĩ chuyên nghiệp trong quân đội đến dạy hát, dạy múa, giúp đội đạt được các giải cao trong các hội diễn nghệ thuật quần chúng của Binh chủng Thông tin liên lạc và của Bộ Tổng tham mưu, giúp đội có chương trình chất lượng cao hơn để phục vụ bộ đội tốt hơn. Cảm động nhất là nhìn thấy các thầy như: Vũ Trọng Hối, Văn An, Nguyễn Đức Toàn, Hoa Vinh xoay trần ra "đánh vật" với đội văn nghệ dưới tiếng máy bay phản lực gầm rít trên bầu trời, trong tiếng bom rơi, đạn nổ, để có những tiết mục văn nghệ, cánh lính đường dây còn nhớ mãi đến bây giờ như bài hát "Đường dây ai rải qua rừng", "Đường tôi đi dài theo đất nước", "Tấu cóc", hoạt cảnh chèo "Cả nhà là chiến sĩ thông tin". Nhạc sĩ Quốc Bảo, Thanh Phúc biên tập chuyên mục "Chiến sĩ ta ca hát", chương trình Phát thanh Quân đội nhân dân đã nhiều lần trực tiếp giúp đội dàn dựng chương trình phát trên Đài tiếng nói Việt Nam. Tiếng hát của đội đã vượt ra khỏi các trạm cơ vụ, các tổ đường dây bay vào vũ trụ, lan tỏa đi khắp năm châu, bốn biển hòa quyện cùng tiếng hát của toàn dân, toàn quân át đi tiếng bom đạn của quân thù, góp phần vào chiến thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

"Tiếng lành đồn xa", Đội văn nghệ Trung đoàn được các đơn vị bạn mời đi biểu diễn phục vụ bộ đội, được cấp trên chỉ định biểu diễn báo cáo với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ và Bộ Quốc phòng, được cấp trên khen ngợi.

Đội văn nghệ Trung đoàn tồn tại, phát triển cùng với sự lớn mạnh và trưởng thành của Trung đoàn, lớp lớp kế tiếp nhau, lứa đàn chị, đàn anh do yêu cầu nhiệm vụ đi học hoặc bổ sung sang đơn vị khác, lứa đàn em lại thay thế như một dòng chảy không bao giờ ngừng. Tôi còn nhớ chuyến đội đi làm nhiệm vụ ở phía Nam cuối năm 1969, đầu năm 1970, anh chị em hầu hết mới nhập ngũ như Lê Thị Xuyến, Vũ Thị Nhung, Nguyễn Văn Thanh, Đào Văn Lịch, Lê Xuân Số đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thủ trưởng Trung đoàn giao. Những năm sau đó, đội văn nghệ do anh Hồng, anh Sức lãnh đạo đã kế tục xứng đáng truyền thống của đội.

Bước vào phòng truyền thống Trung đoàn 134 anh hùng hôm nay, tôi bồi hồi, xúc động trước những hình ảnh, hiện vật mang những dấu ấn chiến công của cán bộ, chiến sĩ các thế hệ đã chiến đấu, công tác ở Trung đoàn. Ngước nhìn lên lá quân kỳ của Trung đoàn lấp lánh những tấm huân chương cao quý mà Đảng, Nhà nước trao tặng, tôi thầm nghĩ trong đó có những chiến công thầm lặng của Đội văn nghệ Trung đoàn.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)