28.7.26

Danh sách mừng thọ năm 2026

Trong thời gian qua Thường trực Ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội đã phối hợp với các chi hội kiểm tra các đ/c đến tuổi mừng thọ năm 2026 (70, 75, 80, 85, 90, 95 và 100 tuổi). Kết quả danh sách mừng thọ năm 2026 của Hội có 239 đồng chí được mừng thọ, gồm:

- Tuổi 100:  01 đ/c

- Tuổi 95:    04 đ/c

- Tuổi 90:    08 đ/c

- Tuổi 85:    25 đ/c

- Tuổi 80:    58 đ/c

- Tuổi 75:    54 đ/c

- Tuổi 70:    89 đ/c

Danh sách mừng thọ cụ thể theo các chi hội như sau:

TT Họ và tên Năm sinh Tuổi Chi hội sinh hoạt
1 Lê Văn Bảo 1936 90 Chi hội Đội 101 & C5
2 Trịnh Xuân Dung 1956 70 Chi hội Đội 101 & C5
3 Phan Tiến Dĩnh 1956 70 Chi hội Đội 101 & C5
4 Ngô Văn Thân 1956 70 Chi hội Đội 101 & C5
5 Bùi Dũng 1956 70 Chi hội Đội 101 & C5
6 Đỗ Hữu Tuyên 1956 70 Chi hội Đội 101 & C5
7 Nguyễn Văn Thuấn 1956 70 Chi hội Đội 101 & C5
8 Nguyễn Huy Văn 1931 95 Chi hội D303
9 Phan Thị Kim Chi 1936 90 Chi hội VTĐ 204
10 Vương Thị Minh Sâm 1936 90 Chi hội VTĐ 204
11 Nguyễn Minh Mận 1951 75 Chi hội Phòng Quân lực
12 Nguyễn Ngọc Lăng 1956 70 Chi hội Phòng Quân lực
13 Phạm Văn Tòng 1956 70 Chi hội Phòng Quân lực
14 Nguyễn Huy Thiêm 1956 70 Chi hội Phòng Quân lực
15 Nguyễn Khánh Cước 1956 70 Chi hội Phòng Quân lực
16 Nguyễn Đình Mạnh 1956 70 Chi hội Phòng Quân lực
17 Phùng Mạnh Hùng 1946 80 Chi hội Phòng Công trình
18 Nguyễn Hưng Quốc 1946 80 Chi hội Phòng Công trình
19 Nguyễn Minh Sơn 1946 80 Chi hội Phòng Công trình
20 Nguyễn Văn Toàn 1951 75 Chi hội Phòng Công trình
21 Dương Văn Trễ 1951 75 Chi hội Phòng Công trình
22 Nguyễn Xuân Chín 1951 75 Chi hội Phòng Công trình
23 Nguyễn Quốc Huấn 1956 70 Chi hội Phòng Công trình
24 Đoàn Ngọc Nhã 1941 85 Chi hội Trường Sĩ quan TT
25 Nguyễn Nam Mộc 1941 85 Chi hội Trường Sĩ quan TT
26 Đoàn Quốc Vĩnh 1941 85 Chi hội Trường Sĩ quan TT
27 Vũ Văn Biền 1946 80 Chi hội Trường Sĩ quan TT
28 Lê Thị Tuế 1946 80 Chi hội Trường Sĩ quan TT
29 Dương Xuân Sê 1946 80 Chi hội Trường Sĩ quan TT
30 Vũ Minh Trực 1946 80 Chi hội Trường Sĩ quan TT
31 Lê Quyết Thắng 1946 80 Chi hội Trường Sĩ quan TT
32 Bùi Minh Thắng 1951 75 Chi hội Trường Sĩ quan TT
33 Trần Thị Việt 1951 75 Chi hội Trường Sĩ quan TT
34 Nguyễn Trọng Dân 1951 75 Chi hội Trường Sĩ quan TT
35 Phạm Thị Mến 1951 75 Chi hội Trường Sĩ quan TT
36 Trần Thị Liễu 1951 75 Chi hội Trường Sĩ quan TT
37 Nguyễn Đỗ Trường 1951 75 Chi hội Trường Sĩ quan TT
38 Lữ Tuyết Mai 1951 75 Chi hội Trường Sĩ quan TT
39 Nguyễn Ngọc Tuấn 1956 70 Chi hội Trường Sĩ quan TT
40 Trần Thị Thu Hà 1956 70 Chi hội Trường Sĩ quan TT
41 Nguyễn Đại Đồng 1956 70 Chi hội Trường Sĩ quan TT
42 Tạ Thị Miến 1956 70 Chi hội Trường Sĩ quan TT
43 Nguyễn Anh Tuấn 1956 70 Chi hội Trường Sĩ quan TT
44 Vũ Thị Lý 1956 70 Chi hội Trường Sĩ quan TT
45 Lương Thị Đôn 1956 70 Chi hội Trường Sĩ quan TT
46 Nguyễn Duy Phúng 1956 70 Chi hội Trường Sĩ quan TT
47 Tạ Minh Côi 1956 70 Chi hội Trường Sĩ quan TT
48 Kiều Quang Luyến 1956 70 Chi hội Trường Sĩ quan TT
49 Trần Hữu Nghị 1956 70 Chi hội Trường Sĩ quan TT
50 Nguyễn Ngọc Hồng 1951 75 Chi hội Trường Thông tin K
51 Lê Thanh Bình 1956 70 Chi hội Trường Thông tin K
52 Lê Xuân Tươi 1956 70 Chi hội Trường Thông tin K
53 Đỗ Hồng Duy 1956 70 Chi hội Trường Thông tin K
54 Nguyễn Hồng Thủy 1956 70 Chi hội Trường Thông tin K
55 Khổng Trung Quýnh 1956 70 Chi hội Lữ đoàn 132
56 Hán Bình Lương 1951 75 Chi hội A69
57 Bùi Thế Khuê 1936 90 Chi hội M1
58 Bùi Quang Được 1941 85 Chi hội M1
59 Đỗ Thị Nguyệt 1946 80 Chi hội M1
60 Nguyễn Thị Sâm 1951 75 Chi hội M1
61 Nguyễn Văn Hiến 1956 70 Chi hội M1
62 Đào Trọng Lơi 1956 70 Chi hội M1
63 Nguyễn Thị Phương 1956 70 Chi hội M1
64 Cao Xuân Hoàn 1956 70 Chi hội M1
65 Trần Bá Bình 1956 70 Chi hội M1
66 Nguyễn Thị Đào 1956 70 Chi hội M1
67 Nguyễn Văn Tám 1956 70 Chi hội M1
68 Phạm Văn Độ 1956 70 Chi hội M1
69 Mai Văn Đang 1941 85 Chi hội M3
70 Hoàng Đức Minh 1946 80 Chi hội M3
71 Nguyễn Thị Hợi 1946 80 Chi hội M3
72 Nguyễn Thị Bản 1946 80 Chi hội M3
73 Phan Xuân Hiếu 1946 80 Chi hội M3
74 Nguyễn Thị Tố Loan 1946 80 Chi hội M3
75 Lưu Thế Quảng 1951 75 Chi hội M3
76 Phạm Văn Phác 1951 75 Chi hội M3
77 Nguyễn Hợp Trác 1951 75 Chi hội M3
78 Hoàng Đức Long 1951 75 Chi hội M3
79 Nguyễn Đức Long 1956 70 Chi hội M3
80 Phạm Thành Trung 1956 70 Chi hội M3
81 Nguyễn Thị Thành 1956 70 Chi hội M3
82 Phạm Đình Đang 1956 70 Chi hội M3
83 Phạm Quốc Diên 1956 70 Chi hội M3
84 Hoàng Thị Hiền 1956 70 Chi hội M3
85 Dương Thị Luận 1956 70 Chi hội M3
86 Phạm Quang Lộc 1956 70 Chi hội M3
87 Lê Thanh Hà 1956 70 Chi hội M3
88 Bùi Thái 1941 85 Chi hội D2 Thanh Trì
89 Chử Văn Minh 1946 80 Chi hội D2 Thanh Trì
90 Nguyễn Đình Thọ 1951 75 Chi hội D2 Thanh Trì
91 Vương Văn Lộc 1951 75 Chi hội D2 Thanh Trì
92 Nguyễn Công Ban 1941 85 Chi hội D4 Tiếp sức
93 Phạm Ngọc Hạp 1946 80 Chi hội D4 Tiếp sức
94 Lê Anh Canh 1946 80 Chi hội D4 Tiếp sức
95 Lương Sơn Hà 1945 80 Chi hội D4 Tiếp sức
96 Nguyễn Xuân Hoạt 1951 75 Chi hội D4 Tiếp sức
97 Nguyễn Quang Ngọc 1956 70 Chi hội D4 Tiếp sức
98 Trần Quang Thọ 1956 70 Chi hội D4 Tiếp sức
99 Bùi Đình Dậu 1956 70 Chi hội D4 Tiếp sức
100 Nguyễn Đình Đồng 1946 80 Chi hội Đoàn 559
101 Nguyễn Thị Nhàn 1951 75 Chi hội Đoàn 559
102 Trần Quang Khải 1951 75 Chi hội Đoàn 559
103 Phạm Quang Hùng 1951 75 Chi hội Đoàn 559
104 Nguyễn Trọng Thưởng 1951 75 Chi hội Đoàn 559
105 Nguyễn Kim Thanh 1951 75 Chi hội Đoàn 559
106 Đồng Thị Mai 1951 75 Chi hội Đoàn 559
107 Nguyễn Ngọc Việt 1956 70 Chi hội Đoàn 559
108 Phạm Thị Sa 1956 70 Chi hội Đoàn 559
109 Phạm Thông Ích 1946 80 Chi hội Đoàn 239
110 Phan Quốc Minh 1946 80 Chi hội Đoàn 239
111 Phùng Sơn Chí 1946 80 Chi hội Đoàn 239
112 Nguyễn Ngọc Hậu 1946 80 Chi hội Đoàn 239
113 Từ Văn Hoành 1946 80 Chi hội Đoàn 239
114 Nguyễn Thanh Hải 1946 80 Chi hội Đoàn 239
115 Nguyễn Tiến Lập 1946 80 Chi hội Đoàn 239
116 Nguyễn Văn Bảy 1946 80 Chi hội Đoàn 239
117 Đào Thế Sự 1951 75 Chi hội Đoàn 239
118 Đặng Ngọc Chiến 1951 75 Chi hội Đoàn 239
119 Nguyễn Văn Đình 1951 75 Chi hội Đoàn 239
120 Hoàng Xuân Đồng 1951 75 Chi hội Đoàn 239
121 Nguyễn Duy Lai 1951 75 Chi hội Đoàn 239
122 Đinh Chí Nguyện 1951 75 Chi hội Đoàn 239
123 Lê Đình Xuyên 1951 75 Chi hội Đoàn 239
124 Nguyễn Tiến Lên 1941 85 Chi hội QĐ1
125 Vũ Hữu Vĩnh 1941 85 Chi hội QĐ1
126 Hà Văn Lạc 1946 80 Chi hội QĐ1
127 Nguyễn Văn Tiến 1956 70 Chi hội QĐ1
128 Trần Văn Ưng 1941 85 Chi hội Pháo binh
129 Vũ Quang Cần 1946 80 Chi hội Pháo binh
130 Ngô Tòng Khánh 1946 80 Chi hội Pháo binh
131 Nguyễn Đắc Liên 1946 80 Chi hội Pháo binh
132 Nguyễn Văn Lương 1946 80 Chi hội Pháo binh
133 Trần Văn Tựu 1946 80 Chi hội Pháo binh
134 Đinh Công Triết 1946 80 Chi hội Pháo binh
135 Phí Thị Vĩnh 1946 80 Chi hội Pháo binh
136 Đỗ Danh Chỉnh 1946 80 Chi hội Pháo binh
137 Lê Chí Nguyện 1946 80 Chi hội Pháo binh
138 Nguyễn Thị Hậu 1951 75 Chi hội Pháo binh
139 Bùi Thị Lượt 1951 75 Chi hội Pháo binh
140 Dương Đức Tuy 1936 90 Chi hội P.không - K.quân
141 Nguyễn Văn Thi 1941 85 Chi hội P.không - K.quân
142 Đào Danh Dục 1946 85 Chi hội P.không - K.quân
143 Đinh Ngọc Ngoạn 1951 75 Chi hội P.không - K.quân
144 Nguyễn Đình Ngợi 1956 70 Chi hội P.không - K.quân
145 Vũ Đình Hưng 1956 70 Chi hội P.không - K.quân
146 Tô Đức Thọ 1956 70 Chi hội P.không - K.quân
147 Nguyễn Văn Sơn 1956 70 Chi hội P.không - K.quân
148 Phạm Đức Huấn 1956 70 Chi hội P.không - K.quân
149 Tô Quang Luân 1956 70 Chi hội P.không - K.quân
150 Nguyễn Mạnh Hải 1956 70 Chi hội P.không - K.quân
151 Phạm Công Biên 1956 70 Chi hội P.không - K.quân
152 Đỗ Xuân Thành 1956 70 Chi hội P.không - K.quân
153 Hồ Văn Thới 1956 70 Chi hội P.không - K.quân
154 Nguyễn Văn Tài 1956 70 Chi hội P.không - K.quân
155 Vũ Hồng Kinh 1956 70 Chi hội P.không - K.quân
156 Nguyễn Công Thành 1941 85 Chi hội D813 Trị Thiên
157 Vũ Văn Soạn 1941 85 Chi hội D813 Trị Thiên
158 Bùi Văn Đức 1946 80 Chi hội D813 Trị Thiên
159 Nguyễn Văn Hanh 1951 75 Chi hội D813 Trị Thiên
160 Lương Sỹ Pháp 1931 95 Chi hội Hào Nam T5C
161 Trần Quốc Việt 1946 80 Chi hội Hào Nam T5C
162 Nguyễn Thị Mậu 1956 70 Chi hội Hào Nam T5C
163 Ngô Văn Sơn 1956 70 Chi hội Hào Nam T5C
164 Trịnh Quang Nam 1956 70 Chi hội Hào Nam T5C
165 Hồ Tri Liêm 1941 85 Chi hội Hào Nam T579
166 Nguyễn Hữu Đăng 1941 85 Chi hội Hào Nam T579
167 Vũ Tiến Đoan 1946 80 Chi hội Hào Nam T579
168 Nguyễn Thị Chòn 1951 75 Chi hội Hào Nam T579
169 Bùi Văn Phiếm 1956 70 Chi hội Hào Nam T579
170 Phạm Duy Mỵ 1936 90 Chi hội Long Biên - Gia Lâm
171 Hoàng Thị Gia 1946 80 Chi hội Long Biên - Gia Lâm
172 Vũ Đình Mỹ 1946 80 Chi hội Long Biên - Gia Lâm
173 Trần Văn Hạnh 1951 75 Chi hội Tây Hồ 1
174 Nguyễn Như Thoa 1941 85 Chi hội Tây Hồ 2
175 Phạm Minh Tâm 1941 85 Chi hội Tây Hồ 2
176 Đào Viết Hiền 1946 80 Chi hội Tây Hồ 2
177 Hoàng Thị Nga 1951 75 Chi hội Tây Hồ 2
178 Vũ Hồng Bút 1956 70 Chi hội Tây Hồ 2
179 Vũ Hữu Ước 1936 90 Chi hội Trung Hòa
180 Nguyễn Kim Quyền 1946 80 Chi hội Trung Hòa
181 Nhữ Thị Vui 1956 70 Chi hội Trung Hòa
182 Phạm Quang Ngân 1946 80 Chi hội Thanh Trì
183 Lê Thị Bình 1956 70 Chi hội Thanh Trì
184 Trần Đức Thuấn 1956 70 Chi hội Thanh Trì
185 Vũ Công Phúc 1956 70 Chi hội Thanh Trì
186 Nguyễn Thị Chanh 1956 70 Chi hội Thanh Trì
187 Nguyễn Quý Pha 1941 85 Chi hội Nhân Chính
188 Trần Khắc Vinh 1946 80 Chi hội Nhân Chính
189 Đỗ Việt Cường 1946 80 Chi hội Nhân Chính
190 Phạm Ngọc Dũng 1946 80 Chi hội Nhân Chính
191 Phạm Văn Trác 1946 80 Chi hội Nhân Chính
192 Nguyễn Xuân Ba 1951 75 Chi hội Nhân Chính
193 Trần Quang Song 1956 70 Chi hội Nhân Chính
194 Nguyễn Văn Tiếp 1956 70 Chi hội Nhân Chính
195 Hoàng Lân 1956 70 Chi hội Nhân Chính
196 Vũ Tất Thành 1926 100 Chi hội Láng Thượng
197 Lê Hồng Tuân 1931 95 Chi hội Láng Thượng
198 Nguyễn Thạc Duyệt 1931 95 Chi hội Láng Thượng
199 Phạm Minh Tuấn 1956 70 Chi hội Láng Thượng
200 Lê Danh Lục 1956 70 Chi hội Láng Thượng
201 Nguyễn Văn Lập 1956 70 Chi hội Láng Thượng
202 Ngô Công Đoàn 1956 70 Chi hội Láng Thượng
203 Nguyễn Đức Hoạt 1936 90 Chi hội Ngọc Khánh
204 Phạm Văn Chung 1941 85 Chi hội Ngọc Khánh
205 Đoàn Văn Kháng 1946 80 Chi hội Ngọc Khánh
206 Lưu Thị Vân 1951 75 Chi hội Ngọc Khánh
207 Đào Đình Bột 1941 85 Chi hội Cổ Nhuế
208 Phạm Thị Cát 1946 80 Chi hội Cổ Nhuế
209 Lê Thị Bích 1946 80 Chi hội Cổ Nhuế
210 Vũ Đức Khiêm 1951 75 Chi hội Cổ Nhuế
211 Nguyễn Thị Bạch Mai 1956 70 Chi hội Cổ Nhuế
212 Nguyễn Thị Thành 1956 70 Chi hội Cổ Nhuế
213 Lê Văn Sinh 1941 85 Chi hội Ba Đình
214 Nguyễn Sỹ Độ 1941 85 Chi hội Ba Đình
215 Ngô Văn Lân 1946 80 Chi hội Ba Đình
216 Nguyễn Thúy Nga 1946 80 Chi hội Ba Đình
217 Phạm Quyết Thắng 1946 80 Chi hội Ba Đình
218 Đỗ Thị Lan 1946 80 Chi hội Ba Đình
219 Trần Văn Tơ 1951 75 Chi hội Ba Đình
220 Lê Thanh Tân 1951 75 Chi hội Ba Đình
221 Mạc Đình Trọng 1941 85 Chi hội Phòng KHQS
222 Đặng Trường Lưu 1946 80 Chi hội Phòng KHQS
223 Lê Thị Bích Thuận 1951 75 Chi hội Phòng KHQS
224 Hồ Sơn 1951 75 Chi hội Phòng KHQS
225 Tô Thị Xuân 1951 75 Chi hội Phòng KHQS
226 Đỗ Thị Minh Thu 1956 70 Chi hội Phòng KHQS
227 Quách Thị Hà 1956 70 Chi hội Phòng KHQS
228 Nguyễn Hải Lộc 1956 70 Chi hội Phòng KHQS
229 Nguyễn Thế Vinh 1956 70 Chi hội Phòng KHQS
230 Nguyễn Bá Toàn 1951 75 Chi hội D2 MT Tây Nguyên
231 Phạm Phú Nhân 1946 80 Chi hội Trường Văn hóa
232 Võ Văn Chiến 1951 75 Chi hội Trường Văn hóa
233 Nguyễn Trọng Thạnh 1951 75 Chi hội Trường Văn hóa
234 Trần Thị Mùi 1956 70 Chi hội Trường Văn hóa
235 Nguyễn Công Thê 1941 85 Chi hội Lữ đoàn 132B
236 Trần Văn Tơ 1951 75 Chi hội Lữ đoàn 132B
237 Vương Đình Thái 1951 75 Chi hội Lữ đoàn 132B
238 Nguyễn Văn Minh 1956 70 Chi hội Ngọc Thụy
239 Nguyễn Văn Miện 1956 70 Chi hội Ngọc Thụy
Tin: Thân Ngọc Thúy
Đăng bởi Quang Hưng

Bát phở mậu dịch

Phạm Đình Trọng

Trong rất nhiều nỗi nhớ khi xa Hà Nội, trong tôi có một nỗi nhớ lặng lẽ, bền bỉ không bao giờ phai nhạt là nỗi nhớ hương vị ngào ngạt, ấm lòng của bát phở mậu dịch đường Phùng Hưng, Hà Nội.

Sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, tháng 8 năm 1964, tàu khu trục Mađốc Mĩ rình rập ở cửa ngõ vịnh Bắc Bộ, máy bay Mĩ lần đầu tiên đánh phá miền Bắc bị bắn rơi ở Quảng Bình, giặc lái Anvarê bị bắt sống ở vịnh Hạ Long, tổng trạm thông tin vô tuyến điện của Bộ Tổng Tư lệnh đang làm việc trong ngôi nhà rộng gần cổng Cửa Nam khu thành cổ Hà Nội liền được lệnh phân tán. Cụm đài giữ liên lạc với chiến trường miền Nam chuyển lên gian phòng trên tầng ba tháp Cột Cờ. Máy đặt trong lòng tháp kín đáo, chung quanh có tường dày cả mét bao bọc. Ăngten giăng như mạng nhện trên sân sau Bảo tàng Quân đội. Cụm đài chúng tôi giữ liên lạc với các quân khu, quân chủng, binh chủng và các đơn vị cơ động của Bộ thì chuyển xuống mấy cái hầm lô cốt bê tông nửa chìm của Pháp để lại ở gần cổng Cửa Đông.

Chúng tôi đã thực sự bước vào cuộc chiến. Thêm nhiều đối tượng mới phải giữ liên lạc. Điện chuyển đi, điện nhận về từng tập dày. Điện tối khẩn hẹn giờ tới tấp đưa đến. Lẽ ra phải có thêm người làm việc thì chúng tôi lại phải san bớt người cho các mặt trận đang mở ra ngày càng rộng! Thế là phải tăng ca, tăng giờ làm việc. Liên tục làm việc trong hầm ẩm thấp, thiếu khí trời tươi xanh trong lành, sức khoẻ giảm sút thấy rõ. Mệt nhất là ca "zêrô-xít"1), không giờ đến sáng. Sau một đêm ngồi dưới hầm ngột ngạt, ôm máy căng óc lọc sóng điện trời, chúng tôi bước ra khỏi hầm, ai cũng hối hả hít lấy hít để không khí mát lành ngoài trời rộng. Mấy nữ chiến sĩ báo vụ trẻ, lúc mới bổ sung về cụm đài, má đỏ căng, tóc dày mượt, ánh mắt như tia nắng, thế mà chỉ sau một thời gian theo ca đêm, buổi sáng bước ra khỏi hầm, tóc họ xơ xác, da tái nhợt, tia nắng trong mắt không còn nữa!

Không ai kêu ca một lời nhưng cấp trên cũng biết, liền cho mỗi người làm ca từ đêm đến sáng được ăn bồi dưỡng một bát phở ba hào. Sau ca làm việc, tiểu đội cử người mang xoong ra cửa hàng phở mậu dịch phố Phùng Hưng, bên ngoài cổng Cửa Đông lấy phở, kí sổ. Hàng tháng, quản lý đơn vị sẽ thanh toán với cửa hàng.

Chúng tôi được thường xuyên ăn phở mậu dịch Phùng Hưng từ đó. Dạo ấy chúng tôi trẻ lắm, ăn khoẻ, ngủ khoẻ. Ngủ đã thiếu! Ăn thì bữa nào cũng còn thòm thèm! Và thèm ăn nhất là sau ca làm đêm! Phở mậu dịch Phùng Hưng cũng như nhiều hàng phở khác ở Hà Nội hồi ấy, không có thịt bò, cũng không có thịt gà! Phở thịt lợn trắng nhởn mà sao ngon thế! Chỉ có ba hào mà mỗi người được hai lần múc, hai "bát sắt B52" đầy phở!

Phùng Hưng là con đường nối từ chợ Đồng Xuân, từ bến xe Nứa, từ ga lẻ Long Biên về ga lớn Hàng Cỏ nên suốt ngày đêm trên đường lúc nào cũng tất bật dòng người gồng gánh, người ba lô, người trên xích lô, người trên xe đạp hối hả ngược xuôi. Cửa hàng mậu dịch Phùng Hưng vừa mở lập tức có dòng người xếp hàng nối dài. Nhưng chúng tôi vừa mang xoong ra là chị bán hàng mang tạp dề trắng làm phở cho chúng tôi ngay. Lần ấy chúng tôi cử cô lính mới bổ sung về tiểu đội đi lấy phở. Vừa bê xoong phở ra, cô đụng phải ông xích lô. Xoong phở đổ ụp xuống đường! Cúi xuống cầm chiếc xoong không đã bị móp méo lên, cô bộ đội trẻ bỗng bật khóc. Chị cửa hàng trưởng liền chạy ra, cầm chiếc xoong trên tay cô bộ đội nắn tròn lại và bảo cô lính trẻ thôi, không việc gì phải khóc, mang xoong vào rửa sạch rồi đưa chị bán hàng làm bù cho xoong phở khác! Những xoong phở như thế đối với chúng tôi có một hương vị đặc biệt, làm sao chúng tôi có thể quên được!

Bọn con trai chúng tôi chỉ được ăn phở mậu dịch Phùng Hưng một thời gian ngắn. Đứa trước đứa sau lần lượt lên đường ra trận. Sau khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thông tin, tôi vào mặt trận Tây Nguyên. Lonnon đảo chính Xihanúc, nguồn hàng từ miền Bắc qua đường Campuchia tiếp tế cho Tây Nguyên bị cắt! Lính đói gạo, đói thuốc men, đói cả quần áo, gầy guộc, xanh xao và rách rưới. Có đợt ô tô vượt đường lửa Trường Sơn đưa vào được ít quần áo thì lại đưa nhầm toàn quần áo bộ đội nữ! Vải kaki Tô Châu (Trung Quốc) xanh bóng vừa bền vừa đẹp nhưng quần thì hàng cúc mở bên hông, áo thì hai bên ngực lại có li làm cho ngực áo cứ phồng lên và hai bên vạt có hai túi chéo! Con trai mặc vừa chật, vừa ngắn nhưng vẫn là bộ quần áo diện, chỉ những dịp đặc biệt mới dám mặc! Mới vào chiến trường, chưa có bãi tăng gia, Tết năm 1971 chúng tôi phải mang muối vào buôn đổi lấy sắn, mài sắn thành bột làm bánh. Ngoài gạo tiêu chuẩn, bảy lạng một ngày, canh môn thục nấu với mấy con cá trầu bắt trong hốc đá dưới suối, có thêm chiếc bánh sắn, thế là Tết! Trong những ngày đó, chúng tôi chỉ thèm một bữa cơm no và đặc biệt là thèm rau muống! Đói khổ như thế nên nhớ và thèm phở mậu dịch Phùng Hưng cũng phải! Nhưng bây giờ cuộc sống đã khá hơn, thế mà vẫn thèm phở mậu dịch Phùng Hưng Hà Nội mới lạ chứ!

Cũng như rất nhiều cửa hàng phở mậu dịch khác ở Hà Nội, đến nay phở mậu dịch Phùng Hưng cũng không còn nữa! Nhưng may mắn làm sao, giữa thời kinh tế thị trường quyết liệt, ở Hà Nội vẫn còn một cửa hàng phở mậu dịch, khách phải xếp hàng, phải trả tiền trước, phải tự bê lấy phở đi tìm chỗ ngồi thế mà lúc nào cũng có người xếp hàng mua phở. Đó là phở mậu dịch đường Lý Quốc Sư gần Nhà thờ lớn. Lần nào trở về Hà Nội tôi cũng phải đến phố Lý Quốc Sư xếp hàng ăn bát phở mậu dịch để bùi ngùi nhớ lại hương vị đậm đà, ấm lòng của bát phở mậu dịch  đường Phùng Hưng ngày nào.

P.Đ.T

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

--------------------------------------------

1 06 – âm tiếng Pháp. 

26.7.26

Ghi trên đường đi

Đặng Trường Lưu

Chào Thanh Hóa, chào Quảng Xương

Ta chào những sớm mai hường trời trong

Bâng khuông nhớ mọi tấm lòng

Về, đi cháy bỏng tình thương mặn mà

 

Gió vờn mát cả lời ca

Đường ra mặt trận ai mà không vui

Nhanh nào chút nữa xe ơi

Xôn xao đất nước gọi người lập công

 

Tiếng ai thổn thức trên đồng

Phải người vẫn đợi vẫn trông mỗi ngày?

Đau thương tang tóc còn đây

Nhắn em chờ nhé một ngày mai vui

 

Đường vào như trải nắng tươi

Công trường nao nức tiếng cười thông xe

Nhìn nhau, ánh mắt say mê

Cô xung phong hẹn: ngày về

- Gớm chưa!

 

Thành Vinh trong buổi chiều tà

Trong bom đạn vẫn nở hoa anh hùng

Phố nhà mái ngói đổ tung

Ta nghe mỗi đoạn đường rung oán hờn

Mai ngày phố lại đẹp hơn

Có em nhỏ hát vang trên lề đường

 

Xe dừng vì bến phà đông

Hoàng hôn dồn bước trùng trùng quân vô

Dòng Lam, núi Quyết, bóng cờ

Giọng hò Nghệ Tĩnh đôi bờ xuyến xao

 

“Ai đi tiền tuyến thì vào”

Cảng xa sáng điện, trời cao trăng ngần

 

Ồ ra đây huyện Nghi Xuân

Thảo nào nghe tiếng Thúy Vân, Thúy Kiến

Trăng xanh tiếng hát dập dìu

Bâng khuâng lại nhớ thi hào Nguyễn Du

Nổi chìm non nước bao thu

Có nghe vùng dậy cơ đồ hôm nay

Đất bằng cho chín tầng mây

Bao Từ Hải mới ra tay diệt thù

 

Xe đi rẽ lối sương mù

Nắng lên cho biển xô bờ mênh mang

Mây quàng trắng đỉnh đèo Ngang

Ta vui bay giữa thênh thang đất trời

 

Xóm nhà ai dựng chân đồi

Dòng sông ôm ấp biển khơi chan hòa

Bom thù dội nát đồng ta

Hố bom giặc Mỹ thành ra ao bèo

 

Chân trời vi vút dương reo

Nơi đây bom dội lửa thiêu mấy lần

Êm đềm ơi giọng miền Trung

Chào em, o gái anh hùng xông pha

Chặng đường tuyến lửa ta qua

Xe đi bao phút thiết tha bao tình

 

Chào đoàn quân giữa bình minh

Rung rinh cành lá trường chinh dập dồn

Lời chào lời hẹn lập công

Xe reo giữa tiếng muốn lòng sướng vui

Vẫy nhau tròn nở nụ cười

Quân đi như thác cuộn trời xôn xao

Nước mình đánh giặc gian lao

Tự trong lòng đất cũng chao căm hờn

 

Hôm nay về lại Trường Sơn

Tiếng chim “Khắc phục” giục hơn mọi lần

12-1968

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

Gái đảm

Đặng Trường Lưu

Em cười, súng khoác ngang vai

Tóc thơm búi gọn em gài nhành hoa

Em đi đồng lúa reo ca

Của em tất cả quê nhà thân thương

Dập bèo mờ sáng tinh sương

Chiều vui bóng gội bên mương nước tràn

Cày bừa thẳng tắp dọc ngang

Gánh gồng đun đẩy thóc vàng níu chân

 

Dân làng gọi: Gái đảm đang

Riêng anh bảo: đóa trăng vàng là em!

Tháng 5/1967

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Dặm đường mưa nắng”. NXB Văn học 2021) 

24.7.26

Kể chuyện đi vẽ ở chiến trường (2/2)

Phạm Ngọc Liệu

Tiếp theo Phần 1/2 và hết

Lúc này, bờ sông Thạch Hãn thật yên ả. Xa xa chỉ có tiếng ì ầm của động cơ gì đó. Sao vẫn nhấp nháy trên trời cao. Trung đoàn trưởng cho biết bên cạnh còn một căn hầm nữa, muốn sang đó cũng được, hoặc ở lại với anh em bên này thì tuỳ. Xuân Hạnh nhấp nhổm định xin sang hầm bên kia để được tự do hút thuốc lào vặt và bù khú. Nhưng sang xem qua, tôi thấy căn hầm ẩm mốc lạnh lẽo, bèn bàn với Xuân Hạnh về lại căn hầm của anh em ngủ cho vui. Nào có ngủ được! Mong cho trời sáng để còn đi vẽ mà! Tuổi trẻ đang hăng. Đang còn trăn trở, bỗng chúng tôi giật thót người vì những tiếng nổ long trời lở đất ngay nóc hầm. Đất đá, mảnh gỗ vụn rơi rào rào bắn cả vào cửa hầm. Các đồng chí lãnh đạo đẩy chúng tôi xuống cửa hầm sâu hơn và vồ ngay máy điện thoại. Rồi chúng tôi được biết, đó là loạt pháo bắn vu vơ của địch từ một hạm đội hải quân ở phía Cửa Tùng. Sáng ra mới nhận thấy căn hầm mà chúng tôi định ngủ tối qua đã bị trúng một quả pháo sập bẹp gí. Các thủ trưởng hú vía:

- May mà hôm qua không để cho "2 tướng" ngủ bên đó, nếu không thì hôm nay đã...

Theo một chiến sĩ dẫn đường, chúng tôi đến từng điểm chốt. Ngay sát bờ sông Thạch Hãn, đường hào chạy liên tục ra tận mép sông. Trên miệng hào lau sậy dày đặc.

Một chiến sĩ trẻ dặn tôi:

- Anh nhớ nhé, khi nghe tiếng nổ ở phía sân bay Ái Tử lập tức anh phải chui vào tấm tôn này (một tấm tôn có múi cuốn cong như hầm Đờ Cát-tơ-ri nhưng nhỏ hơn). Hoặc tốt nhất anh ngồi vào trong này mà vẽ, bọn chúng thường bắn vu vơ thôi nhưng nghe tiếng cạch đầu nòng mà tránh ngay vẫn kịp. Tuyệt đối anh không được đi lại nhô đầu cao hơn mép hào. Đây, anh xem.

Cậu ta bẻ một cành cây, xọc vào một cái mũ rách, giơ lên cao trên mép hào, lập tức những viên đạn bắn tỉa xơi bay cái mũ. Còn anh lính trẻ của tôi cũng có nhiệm vụ ôm khẩu súng có nòng dài ngoằng và kính ngắm xa nhằm vào những điểm động ở bên kia để bắn tỉa.

Đêm ấy chúng tôi ngủ với anh em chiến sĩ ở một căn hầm trên điểm chốt. Toàn các chiến sĩ trẻ, họ chăm sóc chúng tôi rất chu đáo. Chúng tôi chiêu đãi anh em bằng thuốc lào Thống Nhất - món quà quý hiếm ở chiến trường. Anh em chia nhau hút và lấy phần về cho các tổ. Có cậu từ điểm chốt ở bên kia sông sát sân bay Ái Tử nghe báo bằng điện thoại là có thuốc lào đã lặn qua sông Thạch Hãn sang chỉ để hút một điếu cho đã đời, rồi mang phần về cho anh em. Tôi ngạc nhiên vì sao cậu bơi qua sông mà không bị lộ khi pháo sáng, đèn pha nó quét như thế?

- Em bơi chìm chứ - Cậu lính hóm hỉnh trả lời, và giơ hai đoạn ống nhựa, làm động tác gắn đầu này vào mũi, đầu kia gác lên bèo hoặc rác nổi trên mặt sông. Sở trường nghiệp vụ đặc công nước đã được phát huy cho... điếu thuốc lào.

Có lần, tôi đang vẽ dở một đoạn chiến hào đã bị pháo kích. Những thân cây, những cột nhà chồng chéo lên nhau, in trên nền trời rực lửa buổi hoàng hôn, trông thật hùng vĩ. Bên cạnh là một chiến sĩ thông tin đang rải dây. Tôi hối hả ghi lại cảm xúc ấy bằng bút vẽ của mình. Bỗng dưng một loạt pháo từ đâu ầm ầm dội xuống. Bối cảnh tôi đang vẽ bay tung toé lên trời. Cậu lính đang trải dây vội lao tới đẩy tôi xuống một cái hầm gần đó. Tôi không kịp thu dọn đồ nghề và cả cặp vẽ cũng không kịp ôm theo. Người lính trẻ đứng chặn ngay cửa hầm, nhấp nha nhấp nhổm. Pháo vừa ngớt, cậu ta chồm lên lao về phía cái cặp vẽ của tôi. Tôi vội níu áo cậu lại nhưng không kịp. Trong nháy mắt, cậu đã ấn cái cặp vào hầm. Tôi trách:

- Sao cậu liều thế?

Cậu trả lời gọn lỏn:

- Đó là tài sản quý giá cả chuyến đi của anh.

Tôi đoán chắc cậu đã được xem hết mấy chục ký hoạ tôi vừa vẽ nóng hổi trong những ngày ở đây. Đã thành lệ, sau một ngày đi vẽ về, chúng tôi lại mở từng chiếc cho anh em từ thủ trưởng đến chiến sĩ cùng xem, cùng bàn luận phê phán và chỉ trỏ trêu chọc người nọ người kia được thể hiện trên tranh. Rồi cùng nhau rít thuốc lào, uống nước chè được chế từ một thứ cây hoang dã, nếm thấy đăng đắng ngòn ngọt, đem sao lên rồi pha.

Sau này, năm 1990, tôi có vẽ lại một bức sơn mài thể hiện bối cảnh đoạn hào ấy cùng người chiến sĩ rải dây. Chỉ tiếc, cứ hối hả với ngổn ngang tư liệu, khi ấy, tôi đã không kịp hỏi tên người lính trẻ.

Đầu năm 1973, ngay sau mấy ngày đình chiến để hai bên cùng được ăn Tết Nguyên đán, tôi đi vẽ ở một trận địa chốt trên sân bay Ái Tử. Cuộc giao ban trao đổi tình hình nhiệm vụ của một tiểu đội trong phần nổi của căn hầm chữ A. Người thì ngồi trên bao cát, người ngồi trên cuộn dây bọc. Người khoác súng chếch, người lại kẹp súng ở hai đùi, người đứng dựng khẩu B40 như cầm thanh long đao... Một bố cục tự nhiên rất sinh động và rất chặt chẽ. Tôi ghi nhanh toàn bộ bối cảnh này. Giao ban xong, từng người còn nán lại giúp tôi hoàn thiện nốt chi tiết dáng, anh nào xong trước rời vị trí trước. Và cuối cùng, tôi chia tay anh em với thuốc lào và nước chè rừng mà không thể chờ được đến bữa cơm. Tôi còn phải tới tiểu đội khác.

Vừa rời khỏi căn hầm ấy vài phút, một loạt pháo từ sân bay Ái Tử dội xuống trận địa của ta. Những quả đạn bội ước mở đầu năm mới đã rót chính xác xuống những căn hầm, trong đó có căn hầm tôi vừa vẽ cuộc giao ban. Cả tiểu đội ấy đã ra đi khi chưa kịp triển khai bữa ăn sáng. Tôi rưng rưng nhìn lại chân dung từng người vừa phác hoạ. Họ là những người lính trẻ đẹp trai, thông minh vừa rời ghế nhà trường. Mới đấy thôi, mà bây giờ họ chỉ còn hiển hiện trong bức ký hoạ của tôi. Nhưng họ sống mãi trong lòng tôi, trong sự ghi công của Tổ quốc. Một lần nữa, tôi lại ân hận vì đã không kịp ghi tên từng người trong tranh, vì tôi không có được thói quen rất đáng trân trọng của các nhà báo. Sau này, mỗi lần xem lại bức ký hoạ này, ấn tượng về những người lính trẻ đẹp thông minh ấy lại sống dậy trong tôi. Và họ cũng sống lại trong những lần tôi công bố bức tranh này tại các triển lãm chung cũng như triển lãm cá nhân. Tôi vẫn giữ gìn bức kí hoạ ấy một cách trân trọng, như gìn giữ phần hồn của những người đã mất.

Tôi kể một câu chuyện này nữa, để nói thêm về cái sự "cao số" của tôi, hay là các chiến sĩ trẻ sống khôn chết thiêng đã phù hộ tôi, cũng không biết nữa. Một lần, cũng trên sân bay Ái Tử, tôi phải hành quân một mình không có người dẫn đường vì hôm trước có người đến đón thì tôi lại đang cảm cúm nặng không đi được. Tôi lần theo đường hào, len lỏi qua những hố bom đạn, những tấm tôn bị xé nát cong queo, những khung nhà xiêu vẹo gạch đất ngổn ngang, những hòm đạn, súng các kiểu, cả xác và tháp pháo xe tăng ngổn ngang dọc đường. Tôi khoác ba lô, cặp vẽ; vũ khí là vài cái bút chì bút mực, mẩu than, cứ nhằm mục tiêu anh em đã chỉ mà mạnh bước. Bất thình lình, trước mặt, một chiếc Utiti sà xuống, như sấn thẳng về phía tôi. Tôi đang bối rối chưa biết xử lý thế nào thì lập tức một loạt đạn không biết cỡ nào và từ đâu vụt lên. Chỉ biết rằng cái "cái gáo" ấy bị dập đầu rơi ngay tại chỗ. Tên phi công nhảy dù xuống mép sông Thạch Hãn. Anh em khẩu đội cao xạ phục kích ở gần đấy vội kéo tôi xuống hầm và dẫn đường cho tôi đi tiếp. Anh em nói: "Chúng định bắt sống anh đấy! Nếu không chúng đã tặng anh một loạt đạn rồi".

Những kỷ niệm của một thời đi vẽ ở chiến trường đầy xúc động, chan chứa tình đồng đội như thế, kể sao cho hết, và làm sao tôi có thể quên? Chính đó là suối nguồn trong trẻo, vô tận, theo tôi trong suốt cuộc đời và sự nghiệp làm người lính vẽ.

Hết

P.N.L

Hà Nội, tháng 9-2004

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005) 

22.7.26

Trung tướng Trương Mạnh Dũng kiểm tra tại Binh chủng Thông tin liên lạc

Sáng 22-7-2026, Trung tướng Trương Mạnh Dũng, Phó Tổng Tham mưu trưởng đến kiểm tra tại Binh chủng Thông tin liên lạc.

Mời các đồng chí xem thông tin chi tiết về buổi kiểm tra của đ/c Phó Tổng Tham mưu trưởng đối với Binh chủng Thông tin liên lạc theo đường link đến báo QĐND như sau:

https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/tin-tuc/trung-tuong-truong-manh-dung-kiem-tra-tai-binh-chung-thong-tin-lien-lac-1050248

Đăng bởi Quang Hưng

Kể chuyện đi vẽ ở chiến trường (1/2)

Phạm Ngọc Liệu

Hàng năm, vào dịp hè hoặc Tết Nguyên đán, sinh viên mỹ thuật thường phải thực hiện bài tập ngoại khoá. Để không cho ra đời những bức tranh "salông", chúng tôi phải đi thực tế tại cơ sở. Những sinh viên mặc áo lính như chúng tôi, lựa chọn duy nhất đúng là xuống với đồng đội của mình ở chiến trường, để chia sẻ với họ, và quan trọng hơn là nhận từ họ niềm tin yêu, trân trọng với những người lính mà vũ khí là bút vẽ, bảng màu.

Đó là vào cuối năm 1972. Tình hình chiến sự đang dồn lên điểm cao, cả miền Bắc hậu phương đâu đâu cũng là chiến tuyến. Binh chủng Thông tin cũng đang ráo riết chuẩn bị lực lượng tinh nhuệ nhất cung cấp cho chiến trường. Về đơn vị báo cáo ý định của mình sẽ đi vẽ ở tuyến trước, tôi được các thủ trưởng Ban Tuyên huấn và Phòng Chính trị Bộ tư lệnh cử đi B5. Vì thế, mặc dù là hoạ sĩ tương lai, tôi vẫn được trang bị đầy đủ như một anh lính đi B, nghĩa là cũng ba lô, tăng võng, lương khô, thuốc men và tất nhiên là cả mũ tai bèo nữa.

Nhóm chúng tôi có 3 người. Chúng tôi được "gửi gắm" xuống một đơn vị quân bưu - nơi đang tổ chức những đơn vị nhỏ, những kỹ sư, kỹ thuật viên - chiến sĩ thông tin thành thạo nghiệp vụ để Nam tiến.

Đêm đầu tiên, chúng tôi hành quân bằng cơ giới, trên chiếc xe Molotova của Nga. Trên xe không chỉ là những khí tài thông tin mà còn là những bao, những bọc thư từ, công văn, báo chí - những món hàng đặc trưng của quân bưu. Qua được Bến Thủy, một trạm quân bưu ở phía Tây Nghệ An đón chúng tôi. Mỗi người chúng tôi được trang bị một chiếc xe đạp Vĩnh Cửu của Trung Quốc. Anh lính quân bưu dẫn đường thì phải đèo một bịch công văn tài liệu cùng khẩu AK, còn 2 lính vẽ (tôi và Xuân Hạnh) thì lặc lè ba lô, lỉnh kỉnh với cặp vẽ, giấy vẽ. Chỉ nhà thơ Phạm Đức là gọn nhẹ, vì với công việc viết báo và làm thơ, chỉ một cuốn sổ tay và cái bút chì là quá đủ. Đi ban ngày là phải bám sát bìa rừng tránh những đoạn đường địch thường xuyên đánh phá. Trời mưa, đường bìa rừng nhầy nhụa đất đỏ. Vừa trơn vừa bết, đất đỏ trộn nước sền sệt thành một thứ keo bám chặt vành lốp và khung xe, xe chúng tôi cứ đổ oành oạch, dù nhiều chỗ chẳng thể nào đạp được, cứ đẩy như đẩy xe thổ hồi Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Qua đất Quảng Bình thì chúng tôi đành phải từ giã ngựa sắt ở một trạm quân bưu. Một chiến sĩ quân bưu khác được cử dẫn đường cho chúng tôi. Trên vai anh không phải là ba lô mà là một bao tải có quai như ba lô chật căng công văn, thư từ chuyển tiếp vào Nam. Hết rừng thưa quang đãng lại đến rừng già tối om, cổ áo tay áo gài chặt, bít tất trùm ngoài ống quần vẫn không thoát khỏi những con vắt tinh quái bò vào cổ vào nách chén no rồi rơi ngay trong đó.

Những chặng hành quân cùng chiến sĩ quân bưu, chúng tôi mới thấm thía vì sao phải đeo gạch leo núi Yên Tử.

Cuối cùng chúng tôi cũng đến được Sở chỉ huy Tiền phương của Bộ tư lệnh Thông tin. Và những bức tranh về tổ đường dây, về chiến sĩ gái thông tin A10 thuộc Trung đoàn 134, các chiến sĩ giao liên... đã lần lượt ra đời tại đây. Thú vị nhất là chúng tôi được dự một đám cưới ngay giữa rừng Trường Sơn: chú rể là chiến sĩ đường dây, cô dâu là cán bộ Tổng trạm A10. Họ đã từng cùng nhau đọc tác phẩm về tình yêu của Mác và Gienny khi đang giai đoạn "tìm hiểu". Đám cưới dưới hầm mà thật vui. Có rượu trắng tự nấu lấy bằng gạo dính, có thịt hộp, cá hộp chế biến cùng rau rằng. Và nhiều loại bánh kẹo thật khó đặt tên do lính tự chế bằng đường, lạc, bột mỳ, bột gạo... Cặp vợ chồng mới được anh em tặng cho một căn hầm chữ A xinh xắn có lát và ốp gỗ rừng Trường Sơn làm phòng tân hôn. Đồng chí Tư lệnh Tiền phương Phạm Niên tặng họ một chiếc màn tuyn đôi được ghép từ 2 chiếc màn cá nhân của chiến sĩ đi B. Tuần trăng mật của họ ấm áp tình đồng đội.

Lại theo đường giao liên, chúng tôi đến Phân đội 18 - đơn vị Anh hùng của Thông tin Vĩnh Linh. Thật là một kho tư liệu thực tế! Chúng tôi hối hả ghi chép tổ đài 15W, tổng đài hữu tuyến, trạm quân bưu, giao liên đưa quân ra đưa quân vào, các chiến sĩ bộ đàm ở nhiều hướng nhiều mũi khác nhau. Chính tại đây, tôi đã được chiến sĩ quân bưu Đồng Văn Mức dạy tỉ mỉ cách đi đứng, luồn lách dưới hào sao cho an toàn, bí mật. Sau này, tôi được biết chính anh Mức là người bắn phát pháo hiệu đầu tiên truyền lệnh mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Được phép vượt sông Bến Hải, chúng tôi đến một trung đoàn bộ binh đang dàn binh ở sông Thạch Hãn. Đi theo một tổ thông tin hữu tuyến, ngược về phía Tây Vĩnh Linh, tìm một đoạn sông hẹp nhất và an toàn nhất, chúng tôi cho hết ba lô cặp vẽ giấy vẽ vào bao đựng gạo, buộc chặt lại để làm phao. Tất cả trần như nhộng vượt sông. Dưới ánh sáng sao trời mờ ảo, chúng tôi luồn lách trong rừng cây, lá lau cứa rát cả mặt, mà cứ lầm lũi đi, nhìn hình ảnh những người đi trước in đậm nét trên nền trời thật kiêu hãnh và hùng tráng. Anh giao liên giới thiệu với tôi đây là Cồn Tiên, kia là Dốc Miếu, xa xa là sân bay Ái Tử... Thật là diệu kỳ. Tôi thẫn thờ nhìn ngắm những địa danh mà trước đây tôi chỉ được nghe, được đọc qua đài báo trong những bản tin chiến sự. Nào ngờ hôm nay mình lại được đặt chân lên chính mảnh đất lừng danh này.

Đêm ấy, tôi và Xuân Hạnh được Ban chỉ huy Trung đoàn đón tiếp trong một căn hầm chữ A khá rộng rãi, chắc chắn, lót bằng gỗ rừng và cả gỗ dỡ từ nhà ra. Xung quanh vách là những tấm tôn múi hoặc ghi của sân bay. Trên nóc là những bao cát xếp dày nhiều lớp. Dưới ánh đèn lờ mờ làm từ quả bom bi, Chính uỷ Trung đoàn dặn chúng tôi những điều cần lưu ý và động viên chúng tôi:

- Biết các cậu sắp đến đây, anh em trong đơn vị vui lắm. Cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, nhưng phải tuyệt đối an toàn đấy.

Và ông cử ngay một chiến sĩ chuyên lo việc dẫn đường, bảo vệ cho chúng tôi đi vẽ.

 Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

20.7.26

Đôi mắt của tàu

Phù Việt Trang (nhật ký chiến đấu)

Ngày 22-5-1975

Bầu trời Sài Gòn tắm mình rực rỡ dưới ánh nắng chiều. Trên bến Bạch Đằng, âm thanh của các đoàn tàu về cặp bến rộn rã loang khắp hai bờ sông. Trong vườn hoa ven sông từng cặp trai gái sánh vai nhau hoà vào đoàn người quần áo đủ màu sắc dạo mát, càng làm tăng thêm vẻ đẹp và sức sống mới của thành phố vừa được giải phóng. Họ không thể biết rằng, cùng lúc này, trên bến cảng ngay nơi họ đang dạo chơi hai tàu tuần tiễu cao tốc của hải quân ta đang chuẩn bị lên đường tiếp tục những trận đánh cuối cùng của cuộc chiến tranh. Chỉ có chúng tôi, các chiến sĩ hải quân trên tàu mới rõ chuyến đi này về những quần đảo phía tây, mảnh đất thiêng liêng cuối cùng Tổ quốc còn đang bị bọn tàn quân ngụy cấu kết với bọn ngụy Lon Non Campuchia chiếm giữ.

15 giờ, tàu trưởng Hoàng Din ra lệnh lên đường. Chiếc tàu tách bến bám theo biên đội, cờ hiệu trên tay chiến sĩ thông tin Phạm Ngọc Cách phất lên truyền lệnh tới tàu bạn. Mọi người đều quay nhìn về bến Nhà Rồng chào thành phố mang tên Bác như thầm hứa với Người: "Chúng con quyết giành lại từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc để Bác vui lòng".

Ngày 5-6-1975

Dư âm của trận chiến đấu giải phóng quần đảo Thổ Châu đang còn làm nức lòng đơn vị, hôm nay chúng tôi lại lên đường tiến về tham gia giải phóng đảo Ông, đảo Bà. Đây là những hòn đảo nằm trong quần đảo cuối cùng của Tổ quốc ta. Hai tuần trước đây bọn tàn quân địch từ các nơi chạy ra tụ tập thành bọn cướp biển. Chúng tràn lên các đảo cướp bóc và tàn sát dã man đồng bào ta, quấy nhiễu đường biển trong khu vực.

Trời càng về chiều sóng càng lớn, từng lớp nước trắng xoá dựng đứng tràn qua mặt boong. Các chiến sĩ quần áo ướt hết, nước mặn nhớp nháp khó chịu. Trên chòi cao của đài chỉ huy, Cách đưa ống nhòm quan sát mà chưa tìm thấy đảo. Cách nghĩ tầm nhìn ngày càng thu ngắn lại, nếu không phát hiện được vị trí đảo thì sẽ bị muộn giờ hoặc phải chiến đấu trong điều kiện bất ngờ. Liên đội trưởng ra lệnh:

- Tất cả các đài quan sát tăng cường làm việc, nhanh chóng báo cáo vị trí đảo!

Trong ống kính của Phạm Ngọc Cách hiện dần lên hai vệt mờ mờ. Mỗi vệt cách nhau khoảng hai hải lý. Anh đối chiếu bản đồ rồi nhanh chóng báo cáo:

- Hướng X, đã nhìn thấy đảo... Nam Tây Nam, hướng 360o hai tàu địch chạy hướng về phía ta.

Biên đội trưởng truyền lệnh các cụm hoả lực sẵn sàng chiến đấu, đội hình tàu chạy hàng dọc. Tiếng Cách vẫn vang lên dõng dạc các thông số chính xác cho chỉ huy biên đội:

- Hoả lực 2 súng: 12,8 hai nòng, một cối 60 ly...

Cách vừa đánh tín hiệu hỏi thì bọn địch đã nổ súng, nước dựng đứng trước mũi tàu, đạn bay xé gió trên đầu các chiến sĩ. Tàu ta gầm lên tăng tốc độ chọn hướng tấn công. Tất cả các ụ súng đều phát hoả.

- Vị trí 4 đạn cao... Vị trí 3 bắn tốt... - Tiếng Phạm Ngọc Cách xen giữa tiếng súng nổ, giúp các pháo thủ kịp thời chỉnh đường ngắm. Lúc này tàu ta và tàu địch tiến rất gần nhau, đạn pháo xối ra. Mặt biển sôi lên, trận chiến đấu mỗi lúc một ác liệt. Lửa đã bén lên mũi tàu 199. Các chiến sĩ vừa đánh địch vừa dập lửa. Đạn pháo ta nã trúng chiếc đi đầu, khói bốc lên, tàu địch quay đầu tháo chạy.

Cùng lúc đó, phối hợp tuyệt đẹp, chiếc 219 cắt một đường chạy bất ngờ trút đạn vào đài chỉ huy chiếc đi sau, ngọn lửa bùng lên trùm kín đài quan sát, tàu địch cũng vội vàng tháo lui. Nhưng chúng chạy không được xa, một tiếng nổ làm rung chuyển mặt nước. Chiếc tàu giật lên từng hồi trong tiếng nổ nối nhau và từ từ chìm xuống đáy biển. Anh emta reo hò đến khản cổ. Đó là lúc 17 giờ 14 phút ngày 5-6-1975.

Trên đài chỉ huy, Cách đánh tín hiệu chiến thắng vào báo cho biên đội trở về. Vùng biển quanh đảo trở lại hiền hoà, tắm mình dưới ánh nắng hoàng hôn rực rỡ của biển chiều.

P.V.T.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005) 

18.7.26

Ghi ở chiến trường (2/2)

II. Mắt xích phía Bắc

Buổi chiều, tiểu đoàn trưởng phổ biến nhiệm vụ xong, trừ số anh em nuôi quân và làm lán còn tất cả chúng tôi đều bắt tay vào nhiệm vụ tỏa mạng liên lạc xuống các đơn vị. Buổi tối, Trung đội 9 nhận được lệnh: Đi tìm và rải dây cho Trung đoàn X thiết giáp ở hướng đông bắc. Không ai biết gì hơn về trung đoàn này, ngoài cái tên đơn vị mà cấp trên vừa phổ biến. Ngày thứ nhất chúng tôi len lỏi trong rừng cao su, cứ nhằm hướng đông bắc mà đi, đến ngày thứ hai, qua một khu rừng cà phê lớn thì nghe thấy động cơ xe, bốn anh em mừng quá chạy ra, nhưng không làm cách nào để báo tin cho cái con "bọ hung" bằng thép khổng lồ này dừng lại được. Tiếng máy nổ, tiếng xích nghiến ầm ầm, chúng tôi liền ùa xuống đường chặn đầu xe tăng lại. Một đồng chí tóc đã hoa râm từ trong xe chui ra:

- Thế nào? Các "tướng" thèm ăn xúc xích hay sao mà làm thế? Muốn đi nhờ xe chứ gì?

- Báo cáo đồng chí, chúng tôi được lệnh đi mắc dây cho xe tăng mà tìm chưa thấy đơn vị đâu cả.

Nét vui mừng lộ rõ trên gương mặt đồng chí chỉ huy:

- À, thông tin đấy ư, bọn mình đang mong các cậu. Lên cả đây rồi ta nói chuyện sau.

Thế là chúng tôi kéo nhau lên xe tăng về Trung đoàn X, các trung đội khác đã toả mạng xuống điểm cao: 300, 320, 350, 370... Bộ binh từ Đức Lập và các điểm cao đã bao vây tiêu diệt những cứ điểm vòng ngoài bảo vệ cho Buôn Ma Thuột, chặt đứt những vuốt nhọn của "con thú". Đường dây của chúng tôi dài theo bước chân các đơn vị tạo thành mắt xích mới thít chặt vào cổ Sư đoàn 23 ngụy. Bọn địch tung ra hàng chục toán biệt kích dò la tình hình và nghe trộm điện thoại của ta. Hai đồng chí Lê Văn Việt và Phạm Văn Hùng phát hiện địch cắt dây đã cùng anh em trong trạm tổ chức đánh địch, tiêu diệt và bắt sống năm tên. Hàng chục vụ phá hoại khác của chúng đều bị các tổ bảo vệ đường dây phát hiện kịp thời. Mắt xích phía bắc được giữ bí mật tới phút nổ súng tiêu diệt quân địch ở Buôn Ma Thuột, mở đầu cho chiến dịch lịch sử giải phóng Tây Nguyên.

III. Mắt ngọc bên cửa Thuận

Lê Trường Mạnh vừa chợp mắt thì có người gọi. Anh chồm dậy: - Có chuyện gì đó? Tư lệnh gọi cậu! Mạnh vồ lấy ống nghe trên tay bạn. Tư lệnh lữ đoàn quyết định cho tổ đài lên đường thọc sâu xuống Thuận An. Sau khi Buôn Ma Thuột bị thất thủ, toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch từ chiến trường Tây Nguyên tới một phần đất còn lại của tỉnh Quảng Trị bị tiêu diệt, binh đoàn Hương Giang đã nhanh chóng đưa Trung đoàn 18 bộ binh hành quân thần tốc vào đánh chiếm cứ điểm 560 và chặt đứt đường số một ở phía nam Huế, giáng một đòn khủng khiếp vào tâm lí thất bại tan rã của hàng chục vạn quân tướng nguy, chúng dồn ra cửa Thuận An và Tư Hiền để hòng tháo lui bằng đường biển. Tổ đài Lê Trường Mạnh có nhiệm vụ nhanh chóng vượt qua các cứ điểm còn lại của địch ra cửa Thuận An làm nhiệm vụ chỉ huy cho pháo ta tiêu diệt chúng. Sau Tư lệnh, Chính uỷ giọng chậm rãi ấm áp:

- Lữ trưởng đã giao nhiệm vụ, tôi chỉ nhắc thêm phải thật "thần tốc, táo bạo, dũng cảm, và cảnh giác cao". Pháo chúng tôi đã sẵn sàng, chờ những đôi mắt ngọc của các đồng chí.

3 giờ đêm tổ đài lên đường, rừng tối đen, vượt ra tới đường 1 thì vừa sáng. Anh em bám nhau vận động theo hướng Phú Bài. Một người dân đi ngược lại, Linh hỏi thăm:

- Bác đi từ đâu đến đây ạ?

- Dạ, thưa mấy ông từ Phú Bài ạ.

- Chúng tôi là bộ đội cách mạng, bác đừng gọi như thế.

- Dạ.

- Bọn địch ở Phú Bài có khám xét gì không?

- Chúng rút hết trơn hồi đêm rồi mấy chú ạ, mọi ngày đi qua đó là chúng khám xét dữ lắm mà hôm nay tôi hổng thấy đứa nào.

- Cám ơn bác.

Nét vui mừng lộ rõ trên mặt, chúng tôi quyết định đi tắt qua Phú Bài - Cái sân bay lớn ở tây nam Huế này với hàng loạt căn cứ bảo vệ giờ trông thật điêu tàn. Quần áo, giày mũ, súng đạn của lính, xác xe, pháo còn cháy leo lét quanh căn cứ, chứng tỏ một cuộc tháo chạy rất hoảng loạn đã diễn ra hồi đêm qua.

Đến đầu quận Hương Thủy anh em dừng lại, các đảng viên tranh thủ hội ý. Anh em đều được nhắc nhở sự cảnh giác vì tổ đài đã vào trong lòng địch. Càng xuống sâu, tình hình địch càng phức tạp, nhiều tốp mang súng chạy lếch thếch ra cửa sông, nhiều tên trút bỏ quần áo lính để dễ lẫn và người dân chạy trên đường. Mạnh vẫy một chiếc xe, ông già lái xe khoảng trên 50 tuổi sau khi nghe anh trình bày đã vui vẻ nhận đưa anh em xuống cửa Thuận. Trên đường đi ông còn cho anh em biết thêm về tình hình địch. Đi khoảng năm, sáu cây số gặp một đoàn 3 xe Jeép địch đang chạy về phía cửa biển, chúng tôi nổ súng cảnh cáo yêu cầu bọn địch dừng xe, bỏ vũ khí đầu hàng. Quá hoang mang, bọn địch rối rít xin hàng. Mạnh thu vũ khí, giải thích và chỉ cho bọn giặc về nơi tập trung. Nhiều  bà con thấy bộ đội ta liền xúm lại hỏi thăm, một thanh niên lách đám đông vào nói:

- Tôi là sinh viên Y khoa Huế, tôi biết lái xe đề nghị các anh cho tôi lái xe đưa các anh đi.

Bà con nhiều người cũng muốn giúp đỡ các chiến sĩ, anh em phải giải thích cho bà con thông cảm và đồng ý để anh sinh viên lái giúp xe. Tổ chia thành hai bộ phận lên đường.

Xe vừa tới Phú Vang thì lại thấy một bọn địch tới trên hai chục tên mang súng ra hàng. Các chiến sĩ ta thu vũ khí chất lên xe, bọn địch càng hoang mang, chúng không hiểu sao "Việt cộng" đến nhanh thế.

2 giờ chiều tổ đài tới bên bờ phá Tam Giang Bọn địch đã đánh chìm tất cả các phương tiện qua sông. Bên kia phá, suốt một dải cát dài ngổn ngang xe, pháo và đủ các sắc lính của quân đoàn I chạy ra đây, nhiều tên dùng thân cây chuối để vượt sông trông thật thảm hại. Một cuộc hội ý chớp nhoáng. Tổ đài bí mật triển khai trên nóc khu nhà hai tầng kín đáo nhưng tiện quan sát. 10 phút sau, từ các trận địa pháo của ta vang lên mệnh lệnh chiến đấu:

- Mục tiêu X, góc phương vị... 130 ly đạn nổ, bắn!

12 xe tăng địch cụm ở phía nam và 7 chiếc khác cụm ở phía bắc bất ngờ bị "ăn" đạn. Xác địch tung lên lẫn với bụi cát mù trời, nhiều tên cuống cuồng lao đầu xuống biển. Hiền dán mắt vào chiếc ống nhòm tiêu cự lớn, chỉnh cho pháo ta bắn chính xác hơn. Anh thấy bọn địch dùng máy bộ đàm kêu tàu biển vào cấp cứu. Mắt ngọc của tổ đài thông tin lại gọi pháo bắn thẳng vào bọn hải quân ngụy.

- Z 25 đâu?

- 6 tàu địch vào toạ độ X...

Đạn ta gầm lên. Hai chiếc tàu địch lập tức bốc cháy. Hai chiếc khác ngoan cố tiến vào chỗ bọn địch đang cố bơi ra nhưng số phận chúng cũng không hơn bọn trước. Những chiếc còn lại liền quay mũi tháo lui không nhòm ngó gì đến bọn trên bờ đang la ó và quay ra bắn nhau loạn xạ. Các chiến sĩ ta sung sướng reo lên, hoan hô pháo bắn tốt, thế là chúng hết đường chạy, hàng trăm tên địch đền tội, xác nằm rải rác khắp dải cát, bọn còn lại cực kì hoang mang, nhiều tên ôm đầu chạy trở lại. Vừa lúc ấy mũi truy kích đầu tiên của đoàn Ái Tử đến, tiếng reo hò dậy đất của chiến sĩ ta làm bọn địch chỉ còn biết rũ xuống xin hàng.

Thế là hơn một ngày dũng cảm luồn sâu bám địch, tổ đài thông tin trinh sát của đoàn pháo binh Ái Tử do Lê Trường Mạnh chỉ huy đã góp công xuất sắc vào nhiệm vụ chặn đứng cuộc rút lui co cụm của địch ở Thừa Thiên Huế, tiêu diệt và bắt sống hơn 10.000 tên địch, bắn cháy 4 tàu biển và hàng chục xe tăng vận tải. Các chiến sĩ dũng cảm của tổ đài còn thu được 105 khẩu súng, 3 xe Jeep, bắt hơn 30 tù binh địch và chỉ đường cho chúng về nơi tập trung.

Sau chiến dịch, anh em trong đơn vị tặng tổ đài cái tên mới "Mắt ngọc bên cửa Thuận".

IV. Cánh sóng về Đà Nẵng

- Sông Cấm đâu, sông Cấm đấy hả?

- Đề nghị đồng chí giữ liên lạc với đài X...

Nghĩa liên tục xoay núm chọn tần số. Anh không còn thấy đói mệt nữa, trong lồng ngực dậy lên một niềm sung sướng mới. Tiếng Lý xa xa gọi về:

- Sông Cấm đâu?

- Sông Thương đây, sông Cấm nghe rõ, trả lời.

Nghĩa bóp chặt ống nói như ghé sát vào tai bạn, anh gào lên:

- Sống Cấm nghe rõ, alô, sông Thương...

Lệnh cho A3 lấy xe tăng địch vượt cầu, truy kích tàn quân địch.

- Sông Hồng gọi sông Cấm, lệnh cho X2 đánh đường Độc Lập, X3 chiếm và cắm cờ toà Thị chính...

Âm lượng nhỏ dần, đài anh đã cạn nguồn. Nghĩa đứng dậy lục tung số pin cũ. Đành phải đấu lại thôi. Khối nguồn cứ lớn mãi lên.

Ánh nắng rực rỡ của một ngày mới chiếu xiên vào vòm hang nơi đặt máy, Nghĩa mới nhận ra trời đã sáng từ khá lâu.

Gần hai trăm công điện được chuyển về các đơn vị trong đêm. Nghĩa vươn vai đứng dậy định lấy phong lương khô ăn tạm thì mắt tối sầm, người nôn nao ớn lạnh. Sốt rồi. Cơn sốt ập đến quá nhanh chóng. Chiến dịch đang ở phút cao điểm nhất, các cánh quân đã bao quanh Đà Nẵng, tổ đài của anh như trạm trung chuyển thông tin từ chỉ huy xuống các mũi tấn công. Không thể sốt vào lúc này. Chỉ còn có cách chạy cho vã mồ hôi thì mới đỡ. Để máy ở chế độ trực tự động, Nghĩa lao vụt xuống dốc giữa hai vách đá, được vài trăm mét thì quay lại. Mười phút, mười lăm phút, mồ hôi đổ ra nhớp nháp. Anh tiếp tục chạy, đây là cách tự chữa sốt rét mà anh em ở các đơn vị các tổ đài lẻ gọi đùa là "cuộc chạy đua với ký sinh trùng". Người anh đẫm mồ hôi, đầu nhẹ dần. Không kịp ăn uống gì nữa, Nghĩa lại lao vào bên máy. Tiếng Lý reo lên:

- Sông Cấm đấy hả? Chúng tôi đã vào Đà Nẵng, báo cho sông Hồng: Các cánh quân phát triển thắng lợi, X3 cắm cờ toà Thị chính 14 giờ 30 phút ngày...

Nghĩa gào to

- Lý ơi? Sông Thương đâu? Hoan hô các đồng chí! Chúc mừng các đồng chí!

Lý đã cắt liên lạc nhưng Nghĩa vẫn áp chặt ống nghe vào tai. Anh thấy trong tiếng lao xao, những bước chân rầm rập, tiếng reo hò dậy trời của bà con, cô bác Đà Nẵng ùa ra đón những người con chiến thắng.

Lệnh trên cho đài anh xuống núi. Nghĩa đứng ngắm hồi lâu dòng sông Hàn như dải lụa bao quanh thành phố. Biển đẹp bát ngát đựng đầy ánh nắng của ngày mới.

Gương phục vụ chiến đấu của đảng viên, chiến sĩ báo vụ Lê Xuân Nghĩa, Quân giải phóng Quảng - Đà

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)