Phạm Ngọc Liệu
Tiếp theo Phần 1/2 và hết
Lúc này, bờ sông Thạch Hãn thật yên ả. Xa xa chỉ có tiếng
ì ầm của động cơ gì đó. Sao vẫn nhấp nháy trên trời cao. Trung đoàn trưởng cho
biết bên cạnh còn một căn hầm nữa, muốn sang đó cũng được, hoặc ở lại với anh
em bên này thì tuỳ. Xuân Hạnh nhấp nhổm định xin sang hầm bên kia để được tự do
hút thuốc lào vặt và bù khú. Nhưng sang xem qua, tôi thấy căn hầm ẩm mốc lạnh lẽo,
bèn bàn với Xuân Hạnh về lại căn hầm của anh em ngủ cho vui. Nào có ngủ được!
Mong cho trời sáng để còn đi vẽ mà! Tuổi trẻ đang hăng. Đang còn trăn trở, bỗng
chúng tôi giật thót người vì những tiếng nổ long trời lở đất ngay nóc hầm. Đất
đá, mảnh gỗ vụn rơi rào rào bắn cả vào cửa hầm. Các đồng chí lãnh đạo đẩy chúng
tôi xuống cửa hầm sâu hơn và vồ ngay máy điện thoại. Rồi chúng tôi được biết,
đó là loạt pháo bắn vu vơ của địch từ một hạm đội hải quân ở phía Cửa Tùng.
Sáng ra mới nhận thấy căn hầm mà chúng tôi định ngủ tối qua đã bị trúng một quả
pháo sập bẹp gí. Các thủ trưởng hú vía:
- May mà hôm qua không để cho "2 tướng" ngủ bên
đó, nếu không thì hôm nay đã...
Theo một chiến sĩ dẫn đường, chúng tôi đến từng điểm
chốt. Ngay sát bờ sông Thạch Hãn, đường hào chạy liên tục ra tận mép sông. Trên
miệng hào lau sậy dày đặc.
Một chiến sĩ trẻ dặn tôi:
- Anh nhớ nhé, khi nghe tiếng nổ ở phía sân bay Ái Tử
lập tức anh phải chui vào tấm tôn này (một tấm tôn có múi cuốn cong như hầm Đờ
Cát-tơ-ri nhưng nhỏ hơn). Hoặc tốt nhất anh ngồi vào trong này mà vẽ, bọn chúng
thường bắn vu vơ thôi nhưng nghe tiếng cạch đầu nòng mà tránh ngay vẫn kịp. Tuyệt
đối anh không được đi lại nhô đầu cao hơn mép hào. Đây, anh xem.
Cậu ta bẻ một cành cây, xọc vào một cái mũ rách, giơ
lên cao trên mép hào, lập tức những viên đạn bắn tỉa xơi bay cái mũ. Còn anh
lính trẻ của tôi cũng có nhiệm vụ ôm khẩu súng có nòng dài ngoằng và kính ngắm
xa nhằm vào những điểm động ở bên kia để bắn tỉa.
Đêm ấy chúng tôi ngủ với anh em chiến sĩ ở một căn hầm
trên điểm chốt. Toàn các chiến sĩ trẻ, họ chăm sóc chúng tôi rất chu đáo. Chúng
tôi chiêu đãi anh em bằng thuốc lào Thống Nhất - món quà quý hiếm ở chiến trường.
Anh em chia nhau hút và lấy phần về cho các tổ. Có cậu từ điểm chốt ở bên kia sông
sát sân bay Ái Tử nghe báo bằng điện thoại là có thuốc lào đã lặn qua sông Thạch
Hãn sang chỉ để hút một điếu cho đã đời, rồi mang phần về cho anh em. Tôi ngạc
nhiên vì sao cậu bơi qua sông mà không bị lộ khi pháo sáng, đèn pha nó quét như
thế?
- Em bơi chìm chứ - Cậu lính hóm hỉnh trả lời, và giơ
hai đoạn ống nhựa, làm động tác gắn đầu này vào mũi, đầu kia gác lên bèo hoặc
rác nổi trên mặt sông. Sở trường nghiệp vụ đặc công nước đã được phát huy
cho... điếu thuốc lào.
Có lần, tôi đang vẽ dở một đoạn chiến hào đã bị pháo
kích. Những thân cây, những cột nhà chồng chéo lên nhau, in trên nền trời rực lửa
buổi hoàng hôn, trông thật hùng vĩ. Bên cạnh là một chiến sĩ thông tin đang rải
dây. Tôi hối hả ghi lại cảm xúc ấy bằng bút vẽ của mình. Bỗng dưng một loạt
pháo từ đâu ầm ầm dội xuống. Bối cảnh tôi đang vẽ bay tung toé lên trời. Cậu
lính đang trải dây vội lao tới đẩy tôi xuống một cái hầm gần đó. Tôi không kịp thu
dọn đồ nghề và cả cặp vẽ cũng không kịp ôm theo. Người lính trẻ đứng chặn ngay
cửa hầm, nhấp nha nhấp nhổm. Pháo vừa ngớt, cậu ta chồm lên lao về phía cái cặp
vẽ của tôi. Tôi vội níu áo cậu lại nhưng không kịp. Trong nháy mắt, cậu đã ấn cái
cặp vào hầm. Tôi trách:
- Sao cậu liều thế?
Cậu trả lời gọn lỏn:
- Đó là tài sản quý giá cả chuyến đi của anh.
Tôi đoán chắc cậu đã được xem hết mấy chục ký hoạ tôi
vừa vẽ nóng hổi trong những ngày ở đây. Đã thành lệ, sau một ngày đi vẽ về,
chúng tôi lại mở từng chiếc cho anh em từ thủ trưởng đến chiến sĩ cùng xem,
cùng bàn luận phê phán và chỉ trỏ trêu chọc người nọ người kia được thể hiện
trên tranh. Rồi cùng nhau rít thuốc lào, uống nước chè được chế từ một thứ cây
hoang dã, nếm thấy đăng đắng ngòn ngọt, đem sao lên rồi pha.
Sau này, năm 1990, tôi có vẽ lại một bức sơn mài thể
hiện bối cảnh đoạn hào ấy cùng người chiến sĩ rải dây. Chỉ tiếc, cứ hối hả với
ngổn ngang tư liệu, khi ấy, tôi đã không kịp hỏi tên người lính trẻ.
Đầu năm 1973, ngay sau mấy ngày đình chiến để hai bên
cùng được ăn Tết Nguyên đán, tôi đi vẽ ở một trận địa chốt trên sân bay Ái Tử.
Cuộc giao ban trao đổi tình hình nhiệm vụ của một tiểu đội trong phần nổi của
căn hầm chữ A. Người thì ngồi trên bao cát, người ngồi trên cuộn dây bọc. Người
khoác súng chếch, người lại kẹp súng ở hai đùi, người đứng dựng khẩu B40 như cầm
thanh long đao... Một bố cục tự nhiên rất sinh động và rất chặt chẽ. Tôi ghi
nhanh toàn bộ bối cảnh này. Giao ban xong, từng người còn nán lại giúp tôi hoàn
thiện nốt chi tiết dáng, anh nào xong trước rời vị trí trước. Và cuối cùng, tôi
chia tay anh em với thuốc lào và nước chè rừng mà không thể chờ được đến bữa
cơm. Tôi còn phải tới tiểu đội khác.
Vừa rời khỏi căn hầm ấy vài phút, một loạt pháo từ sân
bay Ái Tử dội xuống trận địa của ta. Những quả đạn bội ước mở đầu năm mới đã
rót chính xác xuống những căn hầm, trong đó có căn hầm tôi vừa vẽ cuộc giao
ban. Cả tiểu đội ấy đã ra đi khi chưa kịp triển khai bữa ăn sáng. Tôi rưng rưng
nhìn lại chân dung từng người vừa phác hoạ. Họ là những người lính trẻ đẹp
trai, thông minh vừa rời ghế nhà trường. Mới đấy thôi, mà bây giờ họ chỉ còn hiển
hiện trong bức ký hoạ của tôi. Nhưng họ sống mãi trong lòng tôi, trong sự ghi
công của Tổ quốc. Một lần nữa, tôi lại ân hận vì đã không kịp ghi tên từng người
trong tranh, vì tôi không có được thói quen rất đáng trân trọng của các nhà
báo. Sau này, mỗi lần xem lại bức ký hoạ này, ấn tượng về những người lính trẻ
đẹp thông minh ấy lại sống dậy trong tôi. Và họ cũng sống lại trong những lần tôi
công bố bức tranh này tại các triển lãm chung cũng như triển lãm cá nhân. Tôi vẫn
giữ gìn bức kí hoạ ấy một cách trân trọng, như gìn giữ phần hồn của những người
đã mất.
Tôi kể một câu chuyện này nữa, để nói thêm về cái sự
"cao số" của tôi, hay là các chiến sĩ trẻ sống khôn chết thiêng đã
phù hộ tôi, cũng không biết nữa. Một lần, cũng trên sân bay Ái Tử, tôi phải hành
quân một mình không có người dẫn đường vì hôm trước có người đến đón thì tôi lại
đang cảm cúm nặng không đi được. Tôi lần theo đường hào, len lỏi qua những hố
bom đạn, những tấm tôn bị xé nát cong queo, những khung nhà xiêu vẹo gạch đất ngổn
ngang, những hòm đạn, súng các kiểu, cả xác và tháp pháo xe tăng ngổn ngang dọc
đường. Tôi khoác ba lô, cặp vẽ; vũ khí là vài cái bút chì bút mực, mẩu than, cứ
nhằm mục tiêu anh em đã chỉ mà mạnh bước. Bất thình lình, trước mặt, một chiếc Utiti
sà xuống, như sấn thẳng về phía tôi. Tôi đang bối rối chưa biết xử lý thế nào
thì lập tức một loạt đạn không biết cỡ nào và từ đâu vụt lên. Chỉ biết rằng cái
"cái gáo" ấy bị dập đầu rơi ngay tại chỗ. Tên phi công nhảy dù xuống
mép sông Thạch Hãn. Anh em khẩu đội cao xạ phục kích ở gần đấy vội kéo tôi xuống
hầm và dẫn đường cho tôi đi tiếp. Anh em nói: "Chúng định bắt sống anh đấy!
Nếu không chúng đã tặng anh một loạt đạn rồi".
Những kỷ niệm của một thời đi vẽ ở chiến trường đầy
xúc động, chan chứa tình đồng đội như thế, kể sao cho hết, và làm sao tôi có thể
quên? Chính đó là suối nguồn trong trẻo, vô tận, theo tôi trong suốt cuộc đời
và sự nghiệp làm người lính vẽ.
Hết
P.N.L
Hà Nội, tháng 9-2004
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)
0 comments:
Đăng nhận xét