28.7.26

Bát phở mậu dịch

Phạm Đình Trọng

Trong rất nhiều nỗi nhớ khi xa Hà Nội, trong tôi có một nỗi nhớ lặng lẽ, bền bỉ không bao giờ phai nhạt là nỗi nhớ hương vị ngào ngạt, ấm lòng của bát phở mậu dịch đường Phùng Hưng, Hà Nội.

Sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, tháng 8 năm 1964, tàu khu trục Mađốc Mĩ rình rập ở cửa ngõ vịnh Bắc Bộ, máy bay Mĩ lần đầu tiên đánh phá miền Bắc bị bắn rơi ở Quảng Bình, giặc lái Anvarê bị bắt sống ở vịnh Hạ Long, tổng trạm thông tin vô tuyến điện của Bộ Tổng Tư lệnh đang làm việc trong ngôi nhà rộng gần cổng Cửa Nam khu thành cổ Hà Nội liền được lệnh phân tán. Cụm đài giữ liên lạc với chiến trường miền Nam chuyển lên gian phòng trên tầng ba tháp Cột Cờ. Máy đặt trong lòng tháp kín đáo, chung quanh có tường dày cả mét bao bọc. Ăngten giăng như mạng nhện trên sân sau Bảo tàng Quân đội. Cụm đài chúng tôi giữ liên lạc với các quân khu, quân chủng, binh chủng và các đơn vị cơ động của Bộ thì chuyển xuống mấy cái hầm lô cốt bê tông nửa chìm của Pháp để lại ở gần cổng Cửa Đông.

Chúng tôi đã thực sự bước vào cuộc chiến. Thêm nhiều đối tượng mới phải giữ liên lạc. Điện chuyển đi, điện nhận về từng tập dày. Điện tối khẩn hẹn giờ tới tấp đưa đến. Lẽ ra phải có thêm người làm việc thì chúng tôi lại phải san bớt người cho các mặt trận đang mở ra ngày càng rộng! Thế là phải tăng ca, tăng giờ làm việc. Liên tục làm việc trong hầm ẩm thấp, thiếu khí trời tươi xanh trong lành, sức khoẻ giảm sút thấy rõ. Mệt nhất là ca "zêrô-xít"1), không giờ đến sáng. Sau một đêm ngồi dưới hầm ngột ngạt, ôm máy căng óc lọc sóng điện trời, chúng tôi bước ra khỏi hầm, ai cũng hối hả hít lấy hít để không khí mát lành ngoài trời rộng. Mấy nữ chiến sĩ báo vụ trẻ, lúc mới bổ sung về cụm đài, má đỏ căng, tóc dày mượt, ánh mắt như tia nắng, thế mà chỉ sau một thời gian theo ca đêm, buổi sáng bước ra khỏi hầm, tóc họ xơ xác, da tái nhợt, tia nắng trong mắt không còn nữa!

Không ai kêu ca một lời nhưng cấp trên cũng biết, liền cho mỗi người làm ca từ đêm đến sáng được ăn bồi dưỡng một bát phở ba hào. Sau ca làm việc, tiểu đội cử người mang xoong ra cửa hàng phở mậu dịch phố Phùng Hưng, bên ngoài cổng Cửa Đông lấy phở, kí sổ. Hàng tháng, quản lý đơn vị sẽ thanh toán với cửa hàng.

Chúng tôi được thường xuyên ăn phở mậu dịch Phùng Hưng từ đó. Dạo ấy chúng tôi trẻ lắm, ăn khoẻ, ngủ khoẻ. Ngủ đã thiếu! Ăn thì bữa nào cũng còn thòm thèm! Và thèm ăn nhất là sau ca làm đêm! Phở mậu dịch Phùng Hưng cũng như nhiều hàng phở khác ở Hà Nội hồi ấy, không có thịt bò, cũng không có thịt gà! Phở thịt lợn trắng nhởn mà sao ngon thế! Chỉ có ba hào mà mỗi người được hai lần múc, hai "bát sắt B52" đầy phở!

Phùng Hưng là con đường nối từ chợ Đồng Xuân, từ bến xe Nứa, từ ga lẻ Long Biên về ga lớn Hàng Cỏ nên suốt ngày đêm trên đường lúc nào cũng tất bật dòng người gồng gánh, người ba lô, người trên xích lô, người trên xe đạp hối hả ngược xuôi. Cửa hàng mậu dịch Phùng Hưng vừa mở lập tức có dòng người xếp hàng nối dài. Nhưng chúng tôi vừa mang xoong ra là chị bán hàng mang tạp dề trắng làm phở cho chúng tôi ngay. Lần ấy chúng tôi cử cô lính mới bổ sung về tiểu đội đi lấy phở. Vừa bê xoong phở ra, cô đụng phải ông xích lô. Xoong phở đổ ụp xuống đường! Cúi xuống cầm chiếc xoong không đã bị móp méo lên, cô bộ đội trẻ bỗng bật khóc. Chị cửa hàng trưởng liền chạy ra, cầm chiếc xoong trên tay cô bộ đội nắn tròn lại và bảo cô lính trẻ thôi, không việc gì phải khóc, mang xoong vào rửa sạch rồi đưa chị bán hàng làm bù cho xoong phở khác! Những xoong phở như thế đối với chúng tôi có một hương vị đặc biệt, làm sao chúng tôi có thể quên được!

Bọn con trai chúng tôi chỉ được ăn phở mậu dịch Phùng Hưng một thời gian ngắn. Đứa trước đứa sau lần lượt lên đường ra trận. Sau khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thông tin, tôi vào mặt trận Tây Nguyên. Lonnon đảo chính Xihanúc, nguồn hàng từ miền Bắc qua đường Campuchia tiếp tế cho Tây Nguyên bị cắt! Lính đói gạo, đói thuốc men, đói cả quần áo, gầy guộc, xanh xao và rách rưới. Có đợt ô tô vượt đường lửa Trường Sơn đưa vào được ít quần áo thì lại đưa nhầm toàn quần áo bộ đội nữ! Vải kaki Tô Châu (Trung Quốc) xanh bóng vừa bền vừa đẹp nhưng quần thì hàng cúc mở bên hông, áo thì hai bên ngực lại có li làm cho ngực áo cứ phồng lên và hai bên vạt có hai túi chéo! Con trai mặc vừa chật, vừa ngắn nhưng vẫn là bộ quần áo diện, chỉ những dịp đặc biệt mới dám mặc! Mới vào chiến trường, chưa có bãi tăng gia, Tết năm 1971 chúng tôi phải mang muối vào buôn đổi lấy sắn, mài sắn thành bột làm bánh. Ngoài gạo tiêu chuẩn, bảy lạng một ngày, canh môn thục nấu với mấy con cá trầu bắt trong hốc đá dưới suối, có thêm chiếc bánh sắn, thế là Tết! Trong những ngày đó, chúng tôi chỉ thèm một bữa cơm no và đặc biệt là thèm rau muống! Đói khổ như thế nên nhớ và thèm phở mậu dịch Phùng Hưng cũng phải! Nhưng bây giờ cuộc sống đã khá hơn, thế mà vẫn thèm phở mậu dịch Phùng Hưng Hà Nội mới lạ chứ!

Cũng như rất nhiều cửa hàng phở mậu dịch khác ở Hà Nội, đến nay phở mậu dịch Phùng Hưng cũng không còn nữa! Nhưng may mắn làm sao, giữa thời kinh tế thị trường quyết liệt, ở Hà Nội vẫn còn một cửa hàng phở mậu dịch, khách phải xếp hàng, phải trả tiền trước, phải tự bê lấy phở đi tìm chỗ ngồi thế mà lúc nào cũng có người xếp hàng mua phở. Đó là phở mậu dịch đường Lý Quốc Sư gần Nhà thờ lớn. Lần nào trở về Hà Nội tôi cũng phải đến phố Lý Quốc Sư xếp hàng ăn bát phở mậu dịch để bùi ngùi nhớ lại hương vị đậm đà, ấm lòng của bát phở mậu dịch  đường Phùng Hưng ngày nào.

P.Đ.T

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)

--------------------------------------------

1 06 – âm tiếng Pháp. 

0 comments:

Đăng nhận xét