Phạm Đình Trọng
Trong rất nhiều nỗi nhớ khi xa Hà Nội, trong tôi có một
nỗi nhớ lặng lẽ, bền bỉ không bao giờ phai nhạt là nỗi nhớ hương vị ngào ngạt, ấm
lòng của bát phở mậu dịch đường Phùng Hưng, Hà Nội.
Sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, tháng 8 năm 1964, tàu khu trục
Mađốc Mĩ rình rập ở cửa ngõ vịnh Bắc Bộ, máy bay Mĩ lần đầu tiên đánh phá miền Bắc
bị bắn rơi ở Quảng Bình, giặc lái Anvarê bị bắt sống ở vịnh Hạ Long, tổng trạm
thông tin vô tuyến điện của Bộ Tổng Tư lệnh đang làm việc trong ngôi nhà rộng gần
cổng Cửa Nam khu thành cổ Hà Nội liền được lệnh phân tán. Cụm đài giữ liên lạc
với chiến trường miền Nam chuyển lên gian phòng trên tầng ba tháp Cột Cờ. Máy đặt
trong lòng tháp kín đáo, chung quanh có tường dày cả mét bao bọc. Ăngten giăng
như mạng nhện trên sân sau Bảo tàng Quân đội. Cụm đài chúng tôi giữ liên lạc với
các quân khu, quân chủng, binh chủng và các đơn vị cơ động của Bộ thì chuyển xuống
mấy cái hầm lô cốt bê tông nửa chìm của Pháp để lại ở gần cổng Cửa Đông.
Chúng tôi đã thực sự bước vào cuộc chiến. Thêm nhiều đối
tượng mới phải giữ liên lạc. Điện chuyển đi, điện nhận về từng tập dày. Điện tối
khẩn hẹn giờ tới tấp đưa đến. Lẽ ra phải có thêm người làm việc thì chúng tôi lại
phải san bớt người cho các mặt trận đang mở ra ngày càng rộng! Thế là phải tăng
ca, tăng giờ làm việc. Liên tục làm việc trong hầm ẩm thấp, thiếu khí trời tươi
xanh trong lành, sức khoẻ giảm sút thấy rõ. Mệt nhất là ca "zêrô-xít"1),
không giờ đến sáng. Sau một đêm ngồi dưới hầm ngột ngạt, ôm máy căng óc lọc
sóng điện trời, chúng tôi bước ra khỏi hầm, ai cũng hối hả hít lấy hít để không
khí mát lành ngoài trời rộng. Mấy nữ chiến sĩ báo vụ trẻ, lúc mới bổ sung về cụm
đài, má đỏ căng, tóc dày mượt, ánh mắt như tia nắng, thế mà chỉ sau một thời
gian theo ca đêm, buổi sáng bước ra khỏi hầm, tóc họ xơ xác, da tái nhợt, tia nắng
trong mắt không còn nữa!
Không ai kêu ca một lời nhưng cấp trên cũng biết, liền
cho mỗi người làm ca từ đêm đến sáng được ăn bồi dưỡng một bát phở ba hào. Sau
ca làm việc, tiểu đội cử người mang xoong ra cửa hàng phở mậu dịch phố Phùng
Hưng, bên ngoài cổng Cửa Đông lấy phở, kí sổ. Hàng tháng, quản lý đơn vị sẽ thanh
toán với cửa hàng.
Chúng tôi được thường xuyên ăn phở mậu dịch Phùng Hưng
từ đó. Dạo ấy chúng tôi trẻ lắm, ăn khoẻ, ngủ khoẻ. Ngủ đã thiếu! Ăn thì bữa
nào cũng còn thòm thèm! Và thèm ăn nhất là sau ca làm đêm! Phở mậu dịch Phùng
Hưng cũng như nhiều hàng phở khác ở Hà Nội hồi ấy, không có thịt bò, cũng không
có thịt gà! Phở thịt lợn trắng nhởn mà sao ngon thế! Chỉ có ba hào mà mỗi người
được hai lần múc, hai "bát sắt B52" đầy phở!
Phùng Hưng là con đường nối từ chợ Đồng Xuân, từ bến
xe Nứa, từ ga lẻ Long Biên về ga lớn Hàng Cỏ nên suốt ngày đêm trên đường lúc
nào cũng tất bật dòng người gồng gánh, người ba lô, người trên xích lô, người
trên xe đạp hối hả ngược xuôi. Cửa hàng mậu dịch Phùng Hưng vừa mở lập tức có
dòng người xếp hàng nối dài. Nhưng chúng tôi vừa mang xoong ra là chị bán hàng
mang tạp dề trắng làm phở cho chúng tôi ngay. Lần ấy chúng tôi cử cô lính mới bổ
sung về tiểu đội đi lấy phở. Vừa bê xoong phở ra, cô đụng phải ông xích lô. Xoong
phở đổ ụp xuống đường! Cúi xuống cầm chiếc xoong không đã bị móp méo lên, cô bộ
đội trẻ bỗng bật khóc. Chị cửa hàng trưởng liền chạy ra, cầm chiếc xoong trên
tay cô bộ đội nắn tròn lại và bảo cô lính trẻ thôi, không việc gì phải khóc,
mang xoong vào rửa sạch rồi đưa chị bán hàng làm bù cho xoong phở khác! Những
xoong phở như thế đối với chúng tôi có một hương vị đặc biệt, làm sao chúng tôi
có thể quên được!
Bọn con trai chúng tôi chỉ được ăn phở mậu dịch Phùng
Hưng một thời gian ngắn. Đứa trước đứa sau lần lượt lên đường ra trận. Sau khi
tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thông tin, tôi vào mặt trận Tây Nguyên. Lonnon đảo
chính Xihanúc, nguồn hàng từ miền Bắc qua đường Campuchia tiếp tế cho Tây Nguyên
bị cắt! Lính đói gạo, đói thuốc men, đói cả quần áo, gầy guộc, xanh xao và rách
rưới. Có đợt ô tô vượt đường lửa Trường Sơn đưa vào được ít quần áo thì lại đưa
nhầm toàn quần áo bộ đội nữ! Vải kaki Tô Châu (Trung Quốc) xanh bóng vừa bền vừa
đẹp nhưng quần thì hàng cúc mở bên hông, áo thì hai bên ngực lại có li làm cho
ngực áo cứ phồng lên và hai bên vạt có hai túi chéo! Con trai mặc vừa chật, vừa
ngắn nhưng vẫn là bộ quần áo diện, chỉ những dịp đặc biệt mới dám mặc! Mới vào chiến
trường, chưa có bãi tăng gia, Tết năm 1971 chúng tôi phải mang muối vào buôn đổi
lấy sắn, mài sắn thành bột làm bánh. Ngoài gạo tiêu chuẩn, bảy lạng một ngày,
canh môn thục nấu với mấy con cá trầu bắt trong hốc đá dưới suối, có thêm chiếc
bánh sắn, thế là Tết! Trong những ngày đó, chúng tôi chỉ thèm một bữa cơm no và
đặc biệt là thèm rau muống! Đói khổ như thế nên nhớ và thèm phở mậu dịch Phùng
Hưng cũng phải! Nhưng bây giờ cuộc sống đã khá hơn, thế mà vẫn thèm phở mậu dịch
Phùng Hưng Hà Nội mới lạ chứ!
Cũng như rất nhiều cửa hàng phở mậu dịch khác ở Hà Nội,
đến nay phở mậu dịch Phùng Hưng cũng không còn nữa! Nhưng may mắn làm sao, giữa
thời kinh tế thị trường quyết liệt, ở Hà Nội vẫn còn một cửa hàng phở mậu dịch,
khách phải xếp hàng, phải trả tiền trước, phải tự bê lấy phở đi tìm chỗ ngồi thế
mà lúc nào cũng có người xếp hàng mua phở. Đó là phở mậu dịch đường Lý Quốc Sư
gần Nhà thờ lớn. Lần nào trở về Hà Nội tôi cũng phải đến phố Lý Quốc Sư xếp
hàng ăn bát phở mậu dịch để bùi ngùi nhớ lại hương vị đậm đà, ấm lòng của bát
phở mậu dịch đường Phùng Hưng ngày nào.
P.Đ.T
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu
tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)
--------------------------------------------
1 06 – âm tiếng Pháp.
0 comments:
Đăng nhận xét