Phạm Ngọc Liệu
Hàng năm, vào dịp hè hoặc Tết Nguyên đán, sinh viên mỹ
thuật thường phải thực hiện bài tập ngoại khoá. Để không cho ra đời những bức
tranh "salông", chúng tôi phải đi thực tế tại cơ sở. Những sinh viên
mặc áo lính như chúng tôi, lựa chọn duy nhất đúng là xuống với đồng đội của
mình ở chiến trường, để chia sẻ với họ, và quan trọng hơn là nhận từ họ niềm
tin yêu, trân trọng với những người lính mà vũ khí là bút vẽ, bảng màu.
Đó là vào cuối năm 1972. Tình hình chiến sự đang dồn
lên điểm cao, cả miền Bắc hậu phương đâu đâu cũng là chiến tuyến. Binh chủng
Thông tin cũng đang ráo riết chuẩn bị lực lượng tinh nhuệ nhất cung cấp cho chiến
trường. Về đơn vị báo cáo ý định của mình sẽ đi vẽ ở tuyến trước, tôi được các
thủ trưởng Ban Tuyên huấn và Phòng Chính trị Bộ tư lệnh cử đi B5. Vì thế, mặc
dù là hoạ sĩ tương lai, tôi vẫn được trang bị đầy đủ như một anh lính đi B,
nghĩa là cũng ba lô, tăng võng, lương khô, thuốc men và tất nhiên là cả mũ tai bèo
nữa.
Nhóm chúng tôi có 3 người. Chúng tôi được "gửi gắm"
xuống một đơn vị quân bưu - nơi đang tổ chức những đơn vị nhỏ, những kỹ sư, kỹ
thuật viên - chiến sĩ thông tin thành thạo nghiệp vụ để Nam tiến.
Đêm đầu tiên, chúng tôi hành quân bằng cơ giới, trên
chiếc xe Molotova của Nga. Trên xe không chỉ là những khí tài thông tin mà còn
là những bao, những bọc thư từ, công văn, báo chí - những món hàng đặc trưng của
quân bưu. Qua được Bến Thủy, một trạm quân bưu ở phía Tây Nghệ An đón chúng tôi.
Mỗi người chúng tôi được trang bị một chiếc xe đạp Vĩnh Cửu của Trung Quốc. Anh
lính quân bưu dẫn đường thì phải đèo một bịch công văn tài liệu cùng khẩu AK,
còn 2 lính vẽ (tôi và Xuân Hạnh) thì lặc lè ba lô, lỉnh kỉnh với cặp vẽ, giấy vẽ.
Chỉ nhà thơ Phạm Đức là gọn nhẹ, vì với công việc viết báo và làm thơ, chỉ một
cuốn sổ tay và cái bút chì là quá đủ. Đi ban ngày là phải bám sát bìa rừng tránh
những đoạn đường địch thường xuyên đánh phá. Trời mưa, đường bìa rừng nhầy nhụa
đất đỏ. Vừa trơn vừa bết, đất đỏ trộn nước sền sệt thành một thứ keo bám chặt
vành lốp và khung xe, xe chúng tôi cứ đổ oành oạch, dù nhiều chỗ chẳng thể nào
đạp được, cứ đẩy như đẩy xe thổ hồi Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Qua đất Quảng Bình thì chúng tôi đành phải từ giã ngựa
sắt ở một trạm quân bưu. Một chiến sĩ quân bưu khác được cử dẫn đường cho chúng
tôi. Trên vai anh không phải là ba lô mà là một bao tải có quai như ba lô chật
căng công văn, thư từ chuyển tiếp vào Nam. Hết rừng thưa quang đãng lại đến rừng
già tối om, cổ áo tay áo gài chặt, bít tất trùm ngoài ống quần vẫn không thoát
khỏi những con vắt tinh quái bò vào cổ vào nách chén no rồi rơi ngay trong đó.
Những chặng hành quân cùng chiến sĩ quân bưu, chúng
tôi mới thấm thía vì sao phải đeo gạch leo núi Yên Tử.
Cuối cùng chúng tôi cũng đến được Sở chỉ huy Tiền
phương của Bộ tư lệnh Thông tin. Và những bức tranh về tổ đường dây, về chiến
sĩ gái thông tin A10 thuộc Trung đoàn 134, các chiến sĩ giao liên... đã lần lượt
ra đời tại đây. Thú vị nhất là chúng tôi được dự một đám cưới ngay giữa rừng Trường
Sơn: chú rể là chiến sĩ đường dây, cô dâu là cán bộ Tổng trạm A10. Họ đã từng
cùng nhau đọc tác phẩm về tình yêu của Mác và Gienny khi đang giai đoạn
"tìm hiểu". Đám cưới dưới hầm mà thật vui. Có rượu trắng tự nấu lấy bằng
gạo dính, có thịt hộp, cá hộp chế biến cùng rau rằng. Và nhiều loại bánh kẹo thật
khó đặt tên do lính tự chế bằng đường, lạc, bột mỳ, bột gạo... Cặp vợ chồng mới
được anh em tặng cho một căn hầm chữ A xinh xắn có lát và ốp gỗ rừng Trường Sơn
làm phòng tân hôn. Đồng chí Tư lệnh Tiền phương Phạm Niên tặng họ một chiếc màn
tuyn đôi được ghép từ 2 chiếc màn cá nhân của chiến sĩ đi B. Tuần trăng mật của
họ ấm áp tình đồng đội.
Lại theo đường giao liên, chúng tôi đến Phân đội 18 - đơn
vị Anh hùng của Thông tin Vĩnh Linh. Thật là một kho tư liệu thực tế! Chúng tôi
hối hả ghi chép tổ đài 15W, tổng đài hữu tuyến, trạm quân bưu, giao liên đưa
quân ra đưa quân vào, các chiến sĩ bộ đàm ở nhiều hướng nhiều mũi khác nhau. Chính
tại đây, tôi đã được chiến sĩ quân bưu Đồng Văn Mức dạy tỉ mỉ cách đi đứng, luồn
lách dưới hào sao cho an toàn, bí mật. Sau này, tôi được biết chính anh Mức là
người bắn phát pháo hiệu đầu tiên truyền lệnh mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Được phép vượt sông Bến Hải, chúng tôi đến một trung
đoàn bộ binh đang dàn binh ở sông Thạch Hãn. Đi theo một tổ thông tin hữu tuyến,
ngược về phía Tây Vĩnh Linh, tìm một đoạn sông hẹp nhất và an toàn nhất, chúng
tôi cho hết ba lô cặp vẽ giấy vẽ vào bao đựng gạo, buộc chặt lại để làm phao. Tất
cả trần như nhộng vượt sông. Dưới ánh sáng sao trời mờ ảo, chúng tôi luồn lách
trong rừng cây, lá lau cứa rát cả mặt, mà cứ lầm lũi đi, nhìn hình ảnh những
người đi trước in đậm nét trên nền trời thật kiêu hãnh và hùng tráng. Anh giao
liên giới thiệu với tôi đây là Cồn Tiên, kia là Dốc Miếu, xa xa là sân bay Ái Tử...
Thật là diệu kỳ. Tôi thẫn thờ nhìn ngắm những địa danh mà trước đây tôi chỉ được
nghe, được đọc qua đài báo trong những bản tin chiến sự. Nào ngờ hôm nay mình lại
được đặt chân lên chính mảnh đất lừng danh này.
Đêm ấy, tôi và Xuân Hạnh được Ban chỉ huy Trung đoàn
đón tiếp trong một căn hầm chữ A khá rộng rãi, chắc chắn, lót bằng gỗ rừng và cả
gỗ dỡ từ nhà ra. Xung quanh vách là những tấm tôn múi hoặc ghi của sân bay.
Trên nóc là những bao cát xếp dày nhiều lớp. Dưới ánh đèn lờ mờ làm từ quả bom
bi, Chính uỷ Trung đoàn dặn chúng tôi những điều cần lưu ý và động viên chúng
tôi:
- Biết các cậu sắp đến đây, anh em trong đơn vị vui lắm.
Cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, nhưng phải tuyệt đối an toàn đấy.
Và ông cử ngay một chiến sĩ chuyên lo việc dẫn đường, bảo vệ cho chúng tôi đi vẽ.
Còn nữa
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Tín hiệu văn hóa – Tín hiệu tiến công”. NXB Công an nhân dân 2005)
0 comments:
Đăng nhận xét