25.1.25

Trạm tiếp sức trong thành cổ Quảng Trị

Đàm Văn Ngọ - nguyên cán bộ Đại đội 13, Tiểu đoàn 4 vô tuyến tiếp sức

Giữa tháng 7 năm 1972, Đại đội 13 đang làm nhiệm vụ bảo đảm thông tin vô tuyến điện tiếp sức tại Sở chỉ huy Mặt trận B5 thì nhận được lệnh lên đường chi viện cho các lực lượng đang chiến đấu giằng co với địch để bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.

Tiểu đội chúng tôi gồm: Hoàng Văn Tịch - Trạm trưởng, Hoàng Văn Bỉnh - cơ công, Nguyễn Văn Kiểu, Đàm Văn Ngọ, Nùng Chí Sìn và Nguyễn Văn Đạt là học viên Học viện Chính trị đi thực tế ở chiến trường. Chúng tôi phấn khởi nhận nhiệm vụ và khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho trận chiến đấu mới! Vô cùng gian khổ và ác liệt.

Nhiệm vụ của chúng tôi là: Bằng mọi giá phải vào được Thành cổ Quảng Trị. Bảo đảm liên lạc vô tuyến điện tiếp sức từ Sở chỉ huy Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 312 về Sở chỉ huy mặt trận! Được trang bị hai cơ số máy và các thiết bị kèm theo, chúng tôi tháo dỡ 2 cỗ máy trên xe Bắc Kinh. Tất cả đều được cho vào balô, túi đựng. Sáu con người phân công nhau, mang vác trên vai, ngày đêm trèo đèo, lội suối dưới làn bom đạn của địch từ các pháo hạm ở ngoài biển bắn vào và máy bay địch liên tục quần đảo, trút bom đạn xuống bất cứ nơi nào mà chúng nghi ngờ có lực lượng của ta chốt giữ. Mặt đất bị cày xới. Hố bom chồng lên nhau, cây cối gãy đổ ngổn ngang, nhà cửa đổ nát, làng xóm tan hoang, xơ xác. Khét lẹt mùi thuốc súng và súc vật bị cháy xém...!

Qua dãy Trường Sơn, chúng tôi đã tới Cam Lộ, vùng Cùa, rồi qua Dốc Miếu, Cồn Tiên... Phải mất một tuần lễ, chúng tôi mới tới được trạm vô tuyến điện tiếp sức đặt tại Triệu Phong - Quảng Trị.

Đến đây chúng tôi phải nghỉ mất 3 ngày để chờ giao liên dẫn đường. Mọi người và khí tài mang theo đều an toàn. Nơi đây là vùng đệm của Thành cổ Quảng Trị. Vì thế 24/24 giờ trong ngày không khi nào ngớt tiếng súng. Không khí thật căng thẳng và ảm đạm! Tất cả những gì dã man, khủng khiếp nhất của chiến tranh đã được phơi bày trên mảnh đất này.

Đêm thứ 3 (tức là đã 10 ngày chúng tôi rời khỏi Sở chỉ huy mặt trận) mới có giao liên đến dẫn đường, phải đi vào ban đêm để tránh máy bay và pháo tầm xa của địch. Từ Triệu Phong, chúng tôi vượt qua sân bay Ái Tử tới làng Nhan Biều, bờ phía bắc sông Thạch Hãn. Nơi đây cuộc sống cực kỳ khó khăn. Suốt ngày đêm phải sống dưới hầm luôn ngập nước. Lúc này trời đã bắt đầu mưa, nước sông dâng cao, kéo theo nhiều cành cây to trôi lờ lững trên mặt nước. Từ Triệu Phong tới đây chúng tôi đi mất 2 đêm. Pháo sáng của địch lơ lửng trên bầu trời như sao trời từng chùm lấp lánh. Thỉnh thoảng lại có những làn đạn pháo đỏ rực, xé toạc màn đêm - bóng dáng con người lúc ẩn lúc hiện trong đêm tối.

Chúng tôi chuẩn bị vượt sông Thạch Hãn. Tất cả khí tài, súng đạn và mọi vật dụng đem theo đều được bọc kín trong các túi nilon dày làm thành phao để người bám vào đẩy mang qua sông cho đỡ tốn sức. Trước mắt chúng tôi là Thành cổ Quảng Trị, trông rất gần! Thế mà chúng tôi phải vật lộn với sông nước hàng giờ mới sang được bờ phía Nam sông Thạch Hãn.

Lúc đầu xuất phát sức trẻ còn dồi dào, nên vẫn giữ được đội hình. Càng về sau, sức chịu đựng đã giảm, nước sông chảy mạnh. Ai cũng thấy lạnh và thấm mệt nên dòng nước đã cuốn trôi mỗi người một ngả. Tôi mò mẫm lần theo bờ sông, ngược về phía Thành cổ. Người mệt nhoài, mặt mũi hốc hác! Thấy tôi tới nơi, quần áo ướt sũng, vai mang, tay xách, lỉnh kỉnh, mọi người sửng sốt, mừng rỡ vây quanh tôi, hỏi han đủ thứ chuyện...

Nhìn vào số khí tài tôi đem đến không đồng bộ, nên không thể triển khai thông tin được. Ai cũng xuýt xoa, thất vọng! Các đồng chí ở Đại đội 18 thông tin Trung đoàn 48 đã cử một tiểu đội đi tìm 5 đồng chí và số lượng lớn khí tài còn đang thất lạc (Tịch, Bình, Sìn, Kiểu, Đạt). Mãi 20 giờ tối tất cả anh em và toàn bộ khí tài, trang bị đem theo đã được đưa về đơn vị đầy đủ và an toàn.

Chúng tôi xuống hầm, đốt lửa sấy khô khí tài và lắp đặt máy, dựng ăngten. Trong chốc lát đã nối thông liên lạc với Sở chỉ huy Mặt trận B5. Mọi người hết sức mừng rỡ, thủ trưởng Trung đoàn 48 trực tiếp báo cáo tình hình với Tư lệnh mặt trận. Với gương mặt cương nghị và nụ cười rỡ, đồng chí đã biểu dương, khen ngợi toàn trạm và động viên chúng tôi tiếp tục vượt qua mọi khó khăn thử thách, bảo đảm thông tin thông suốt, vững chắc, phục vụ chiến đấu thắng lợi! Lúc này kim đồng hồ đã chỉ 22 giờ đêm.

Trong 10 ngày đầu của tháng 8, chúng tôi tổ chức canh liên tục 24/24 giờ để thay thế cho liên lạc hữu tuyến điện. Bởi bom đạn của địch đánh phá liên tục, mặt đất bị cày xới nhiều tầng nhiều lớp, đường dây bị bắn nát nên việc khôi phục gặp rất nhiều khó khăn, chậm trễ. Nhiều chiến sĩ thông tin đã bị thương vong trong lúc đi khôi phục lại đường dây bị đứt. Trạm vô tuyến điện tiếp sức đã trở thành kênh thoại duy nhất của chỉ huy Thành cổ nối với Sở chỉ huy mặt trận.

Trạm vô tuyến điện tiếp sức của chúng tôi được đặt dưới hầm ngầm tòa nhà của viên tỉnh trưởng Quảng Trị, đồng thời cũng là sở chỉ huy của Trung đoàn 48. Còn ăngten vẫn đặt trên gò đất cao ngoài cửa hầm. Vì vậy bom đạn của địch liên tục phá gãy. Cuối cùng cột ăngten cũng nát vụn. Chúng tôi phải dùng những đoạn gỗ làm củi đun để đẽo gọt chắp nối lại làm ăngten dã chiến. Thế mà chất lượng thông tin vẫn đảm bảo.

Chiến sự diễn ra ngày càng ác liệt, bom đạn cày xới, khói bụi mù mịt. Sở chỉ huy ngày đêm rung lên vì bom đạn và pháo của địch từ hạm đội của chúng ở ngoài biển bắn vào. Cả Thành cổ như cái chảo rang khổng lồ đang phát hỏa. Hai đồng chí Kiểu và Sìn bị thương phải chuyển về tuyến sau điều trị.

Trạm vô tuyến điện tiếp sức của chúng tôi còn 3 người, tiếp tục bám trụ để giữ vững Thành cổ. Ăngten của chúng tôi lại bị gãy nát cả cột lẫn dàn phát sóng. Bên ngoài không thể chi viện vào được, vật liệu tại chỗ thì khan hiếm, chắp vá. Vì vậy trên cho phép chúng tôi cứ đầu giờ mở máy làm việc, một người phải thoát ra cửa hầm, nấp mình trong đống gạch đổ nát để giữ ăngten. Hết giờ làm việc lại đưa vào hầm cất giữ, tránh bom đạn phá hỏng. Công việc cứ lặp đi lặp lại như vậy hơn 1 tháng trời, cực kỳ căng thẳng và mạo hiểm. Tất cả vì mạch máu thông tin không thể ngừng chảy.

Giữa tháng 9 năm 1972, chúng tôi nhận được lệnh cắt liên lạc và rút khỏi Thành cổ.

Thế là 3 anh em còn lại, phải mang tất cả 2 cơ số máy, ắc quy và máy nổ được phép giao lại cho Đại đội 18 thông tin của Trung đoàn 48.

Đêm hôm ấy, chúng tôi lại vượt sông, từ phía bờ Nam sông Thạch Hãn trở lại phía bờ Bắc. Lúc này thương binh rất nhiều, nên mọi xuồng cao su, thuyền nan... đều ưu tiên để chở thương binh. Chúng tôi lại lấy nilon bọc kín khí tài để làm phao vượt sông. Lần này có kinh nghiệm hơn và mang vác cũng nhẹ hơn nên việc qua sông cũng đỡ vất vả hơn rất nhiều.

Đồng chí Tịch được giao liên dẫn đường nên về đơn vị sớm hơn. Tôi và Bỉnh bị lạc, đi tới thị xã Đông Hà, Xuân Phú. Phải mất hơn 1 tuần hai chúng tôi mới về  tới đơn vị đang đóng quân ở Bãi Hà. Gặp lại nhau mừng mừng, tủi tủi... Lúc ra đi có 6 người trở về chỉ còn 3. Chúng tôi bùi ngùi xúc động thương tiếc đồng đội...

Sau chiến dịch, chúng tôi đều được tặng thưởng huân chương cho tập thể và cá nhân. Riêng tôi được thăng quân hàm từ Binh nhất lên Hạ sĩ.

Thấm thoắt đã gần 40 năm, mà những kỷ niệm xưa vẫn còn sống động mãi trong tôi. Giờ đây mái tóc đã pha sương, mọi người đã lên chức ông nội, ông ngoại. Nhưng chúng tôi rất tự hào được làm chiến sĩ thông tin tiếp sức, góp phần nhỏ bé của mình trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mùa hè năm 1972 lịch sử.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Đào tạo báo vụ phục vụ Chiến dịch Mậu Thân 1968

Đỗ Thanh Tâm

Tháng 8 năm 1967 Phòng Thông tin tổ chức hội nghị chuyên đề về thông tin vô tuyến điện gồm các đại biểu thông tin các quân khu, sư đoàn, binh chủng trực thuộc và các tỉnh về dự đông đủ.

Để quán triệt nhiệm vụ và rút kinh nghiệm về tổ chức thông tin liên lạc vô tuyến điện ở vùng sâu, nội thành và khai thác khí tài AB67 gọn nhẹ, do kỹ sư Trung, Tùng lắp ráp để phục vụ chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Kết hợp phổ biến quy ước "NT" và thống nhất một số quy định về nền nếp, lề lối làm việc, công tác xây dựng huấn luyện trong thời kỳ đặc biệt, khẩn trương...

Tháng 10 năm 1967, sau khi nhận được chỉ thị của Trung ương về Tổng công kích và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân 1968, Trung ương Cục ra "Nghị quyết Quang Trung" ngày 25 tháng 10 năm 1967, trong vòng 3 tháng phải hoàn thành việc tổ chức lực lượng.

Sau đó hội nghị vô tuyến điện đã quán triệt nhiệm vụ yêu cầu xây dựng lực lượng thông tin vô tuyến điện cho đơn vị hết sức cấp bách và số lượng rất lớn đối với nhân viên báo vụ. Nhà trường lúc đó thực lực, phương tiện, khí tài huấn luyện rất ít và có loại không có như maníp huấn luyện báo vụ. Nếu chờ xin được chi viện ngoài Trung ương rất lâu, thời gian không cho phép.

Nhà trường phải lấy 2 maníp gỗ của các đồng chí giáo viên mang từ Bắc về để đồng chí Bùi Ấn đi đặt thợ rèn đúc 200 cái maníp. Nhưng lò rèn chỉ làm được cần maníp, đế maníp... còn lò xo không có, lúc ấy không tìm được dây kẽm để quấn làm lò xo, mua loại kẽm chì về quấn để vào maníp đánh không đàn hồi, không nẩy lên được thành tịch, tà... Lúc ấy, ở căn cứ biết chạy đâu ra 200 lò xo maníp cho huấn luyện. Nhiều giáo viên hiến kế lấy dây thun buộc vào đế cần maníp, đánh thấy tịch, tà... Từ đó, phổ biến đại trà cho công tác huấn luyện động tác đánh tịch, tà thật tròn, chân phương cứ thế mà huấn luyện. Hơn một tháng sau, được hậu phương lớn chi viện một số lớn maníp gỗ và lấy đó để huấn luyện từ thấp lên cao. Để thực hiện chỉ thị của Phòng Thông tin B2 trong vòng 100 ngày đêm huấn luyện cho được 150 học viên ra trường, làm việc như một báo vụ thực sự trên máy thu phát AB67, 102E Trung Quốc, nhà trường đã mạnh dạn rút bớt thời gian huấn luyện điện công, để chia cho các khoa học khác trọng tâm và học tập lắp ráp nguồn điện cho máy thu phát bằng pin tròn 1,5V vào 1 thùng gỗ để mang.

Vì thời gian quá ít nên tổ giáo viên xin ý kiến đồng chí Phó Chủ nhiệm thông tin B2 Nguyễn Xuân Đào và đề nghị chi viện tối đa đủ cho 3 đồng chí báo vụ thực tập 1 bộ máy AB67, đủ nguồn làm việc, cho đi thông báo cự ly trung bình. Nếu giáo viên thấy anh em đủ trình độ cho vào thực tập máy, luân phiên nhau ngày đêm, thầy trò gắn bó làm thông báo chuyển nhận điện, tổ chức học thu, phát từng cụm một để anh em thêm vững vàng. Ngày ra trường được sung về các đơn vị theo yêu cầu và đã góp phần vào thông tin liên lạc phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Làn sóng điện kéo địch

Lại Văn Danh

Khoa vô tuyến điện của Trường, ngoài việc đào tạo báo vụ viên, do yêu cầu của chiến trường từ năm 1967 về sau còn đào tạo bổ túc cán bộ đài trưởng. Tuy rằng lực lượng Binh chủng Thông tin dồn sức phục vụ chiến đấu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, nhưng ở hậu cứ việc xây dựng lực lượng vẫn tiến hành bình thường. Một hôm, Ban chỉ huy đại đội của chúng tôi được lệnh nhận nhiệm vụ công tác đột xuất. Các đồng chí chọn đài trưởng, báo vụ giỏi, khí tài tốt, chuẩn bị nhiên liệu lương thực, thực phẩm đủ cho 7 ngày, không có bộ phận hậu cần đi theo (trừ cơ công sửa máy). Hành quân một ngày, có một buổi làm công sự. Sau khi nhận nhiệm vụ, các đồng chí triển khai làm công tác tổ chức ngay và đúng giờ, ngày như đã định thì hành quân. Binh chủng Thông tin vốn coi trọng yếu tố bí mật nhưng trong trường hợp này càng bí mật hơn, mang nhiều điện đài đi cùng một lúc, một hướng, bổ sung cho ai, làm gì? Có ai biết được. Từ hậu cứ qua 11 giờ cơm vắt hành quân, chúng tôi đã đến vị trí... chọn điểm đặt đài triển khai đào công sự ngay. Sau 4 - 5 giờ, các đài làm xong hầm trú ẩn, mắc võng chờ lệnh...

Sau bữa cơm trong ngày, các đài trưởng họp, chúng tôi giao nhiệm vụ, các đồng chí đài 1, đài 2... nhận tài liệu gồm: tên đài của mình, tên đài của bạn, đối tượng 1, 2, 3 giờ liên lạc, sóng thu phát của đài mình, đài bạn... Các đồng chí kiểm tra và về triển khai cho báo vụ trong đài, kiểm tra lại đèn dầu, lấy đồng hồ cho thống nhất. Thêm một lần nhận nhiệm vụ, thế mà có ai biết việc làm của mình, mình là ai, bạn là đơn vị nào? Bí mật vẫn là yêu cầu của Binh chủng, người đài trưởng, anh báo vụ chỉ biết sẽ đem tài năng của mình cùng với khí tài, đưa làn sóng điện lên không trung, theo quy ước gọi bắt liên lạc, phát đi những bức điện của cơ yếu cho đài bạn và thu những bức điện từ đài bạn, giao cho cơ yếu.

Từ 19 giờ trở đi các đài có việc. Hết đêm đầu mỗi đài thu phát khoảng 8 - 12 bức điện ngắn, có ký hiệu thường và khẩn. Ngày thứ hai, lai rai từ sáng đến chiều mỗi đài thu phát từ 1 - 10 bức điện, buổi chiều có 2 - 3 lượt máy bay trinh sát L19 của địch quần lượn vùng trú quân.

Tối thứ ba, mật độ thu phát điện của các đài tăng lên gấp đôi khoảng 17 - 20 bức điện cho một đài. Nhiều bức điện có ký hiệu thượng khẩn, tối khẩn.

Tối thứ tư, mật độ thu phát điện cũng tăng, có từ 12 – 15 bức điện cho một đài, cả ngày có nhiều đợt máy bay địch quần thảo trên khu vực đóng quân.

Tối thứ năm, chúng tôi nghe rõ nhiều tiếng súng đại liên, mật độ liên lạc giảm.

Sáng ngày thứ sáu, chúng tôi được lệnh thu dọn điện đài, 20 phút sau chúng tôi hành quân về căn cứ. Sau một ngày nghỉ ngơi, bảo dưỡng khí tài, chúng tôi tiếp tục học tập sinh hoạt bình thường.

Các ngày sau, qua đài phát thanh giải phóng và tin nội bộ chúng tôi biết các sư đoàn của ta và các sư đoàn của địch quần nhau ở Trảng Lớn. Đây là đợt 3 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Cuối đợt hoạt động, Bộ chỉ huy quân sự Miền có nhận xét là: Binh chủng Thông tin đã làm tốt nhiệm vụ nghi binh, kéo địch ra vùng lợi thế cho ta để tiêu diệt. Như vậy, nhiệm vụ đợt công tác đột xuất, cả nửa tháng sau cán bộ, chiến sĩ mới được giải đáp. Ai cũng vui mừng phấn khởi vì làn sóng điện của mình đã góp phần cùng bộ đội giành thắng lợi cho chiến dịch Tết Mậu Thân với kết quả diệt được 13.000 tên địch.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Trường Thông tin Mậu Thân ở Công trường 9*

Nguyễn Văn Lượng - nguyên cán bộ huấn luyện Công trường 9

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân dân ta cuối năm 1967 diễn ra quyết liệt khắp nơi, đẩy địch vào thế bị động trên chiến trường và bị cô lập trên trường quốc tế.

Trước tình hình đó, sau trận tiêu diệt chi khu Lộc Ninh Ban chỉ huy Công trường chỉ thị cho anh Năm Thụ (Lê Danh Thụ) đề đạt phòng 3 về kế hoạch đào tạo thông tin theo hướng Công trường tự lực cùng sự hỗ trợ của trên để kịp bổ sung cho chiến trường. Lúc đó, tôi đang ở Trung đoàn 3 (Q763) cũng được cho đi điều dưỡng 30 ngày rồi về nhận nhiệm vụ mới.

Tầm quan trọng của Xuân Mậu Thân lúc đó chẳng ai biết được. Nhưng qua nhận việc là nhanh chóng đào tạo chiến sĩ 3 phân khoa để phục vụ chiến trường thì chúng tôi cũng đoán biết được phần nào. Khi chiến dịch mở ra rầm rộ thì chúng tôi mới hiểu hết ý nghĩa của việc đào tạo cấp tốc đó.

Nhớ ngày xuất phát ở Nha Thức, khi toàn Công trường rầm rập xuống đường thì chúng tôi thúc nhau lên biên giới cũng sôi nổi không kém mà ngược lại nên đôi lúc cũng có chút suy tư... nhưng rồi cũng nhận ra "Tất cả vì Mậu Thân" nên đều vui vẻ sang phần đất bạn cạnh ngọn sông Sài Gòn khu Móc Câu (Mỹ gọi là "mỏm Ken-nơ-đi) để học tập.

Khung nhà trường lúc đó vẻn vẹn chỉ có 8 người nên chia nhau ra gánh việc: tôi lo 2 môn vô tuyến điện (báo và thoại), đồng chí chính trị viên Khổng Khoe lo lý thuyết và thực hành thông báo, đồng chí đội phó Thủy phụ trách 2 môn hữu tuyến điện, thông tin vận động, vừa tham mưu xử lý tình hình địch, anh Chất phụ trách hậu cần và bố trí phòng vệ, 2 tiểu đội trưởng trợ giáo viên kiêm chỉ huy đánh địch ở 2 hướng còn lính là học viên, anh nuôi Côi tiếp phẩm cải thiện vòng ngoài vừa nghe ngóng động tĩnh, y tá vừa lo chuyên môn vừa lo liên lạc.

Học viên khóa I có 17 báo vụ, 10 bộ đàm, 9 điện thoại, 10 vận động, khí tài vừa đủ tập luyện theo nền nếp dã chiến. Thời gian khóa học bắt đầu từ tháng 1 năm 1968 kết thúc vào tháng 6 năm 1968. Lớp học nằm gần quốc lộ 13 nên luôn bị ảnh hưởng. Bọn thám kích Bình Long, Lộc Ninh rình rập, L19, HU1A dòm ngó suốt ngày, bọn rình đêm có tia hồng ngoại, C47 gây trở ngại không ít. Vị trí các đài luôn thay đổi, kèm theo hạn chế công suất và thời gian phát sóng nhưng không tránh khỏi những trận phi pháo phủ đầu cùng những loạt rốc-két dò hỏi... Cái điệp khúc "học - ngưng - học" là bình thường. Với tinh thần vì phía trước, vì chiến trường, chúng tôi luyện tập bất kể ngày đêm cuối cùng đến cuối tháng 6 ấy có 46 tân binh ra trường về đơn vị phục vụ chiến đấu tốt.

Từ cuối năm 1968 đến đầu năm 1970, cục diện sau Mậu Thân đổi khác, chiến sự kéo sang đất Cam-pu-chia, các đơn vị bung xa nên chỉ huy chỉ đạo bằng 15W là chính. Công trường giao cho chúng tôi chỉ duy nhất có nhiệm vụ đào tạo báo vụ. Trong lúc học viên trước đã về hết còn khóa sau chưa đủ thì có một sự kiện khó quên đã xảy ra với chúng tôi. Đó là khi chúng tôi vừa bàn kế hoạch chuyển quân thì được lệnh nhanh chóng rời xa địa điểm cũ để tránh B-52. Vậy là chúng tôi phải tháo gỡ gồng gánh đi đến nửa đêm hôm sau mới đến chỗ mới. Đó là vùng Sóc Lam - Mi Mốt, cách địa điểm cũ hơn 15km. Ngay chiều hôm đó, tốp máy bay B-52 đầu tiên trút bom ngay địa điểm cũ, mở màn trận hủy diệt Móc Câu. Suốt 4 ngày đêm liền bừa đi tát lại, nên "mỏm Ken-nơ-đi" tan tác chẳng khác gì trên đất Củ Chi buộc trường phải chuyển về phía tây Tây Ninh (Vàm Xa Mách). Ở đây học được ba tháng thì biệt kích, phi pháo tăng lên theo kế hoạch "đẩy Việt Cộng sang bên kia biên giới" nên một lần nữa vượt sông Lò Gò đất bạn vùng Sếp Ba - Ông Tà giữa 2 huyện Căngchơrếc và Kôngchêymia tiếp tục 2 khóa báo vụ sau và hoàn tất kế hoạch vào tháng 4 năm 1970. Đây cũng chính là thời điểm hoàn thành "sứ mệnh" của trường ở đó và trở về phục vụ trong tình hình mới đang và sắp diễn ra của những tháng đầu năm 1970 đáng nhớ.

Như vậy Trường Thông tin Mậu Thân Công trường 9 hình thành và kết thúc theo tình thế. Tuy thời gian không dài (1/1968 – 4/1970) nhưng trường đã đào tạo được 57 báo vụ, 10 bộ đàm, 9 điện thoại, 10 thông tin vận động. Tuy là con số nhỏ nhưng ý nghĩa lại lớn vì nó đáp ứng kịp thời cho đơn vị chủ lực trên chiến trường then chốt ở thời điểm lịch sử. Nó đã thể hiện ý chí tự lực tự cường và khắc phục khó khăn tột bực mà không bom đạn nào ngăn cản được. Đó chính là bản chất truyền thống của Binh chủng Thông tin Anh hùng trong lực lượng Quân đội nhân dân anh hùng chúng ta.

Giờ đây bản chất truyền thống đó được ghi lại và lưu giữ vào cuốn lưu niệm Bộ đội Thông tin Quân giải phóng miền Nam Việt Nam để làm bài học cho hôm nay và cho cả mai sau.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

----------------------------------------

* Công trường 9 là mật danh của Sư đoàn bộ binh 9. 

23.1.25

Dũng cảm, mưu trí giữ cho làn sóng không bao giờ tắt

Đại tá Nguyễn Thông (Ba Kế)

Cuối năm 1963, tôi được nhận quyết định làm Đại đội trưởng cụm điện đài và trung đội bộ đàm vô tuyến (mới có khung), lúc này điện đài có khẩu hiệu "15 phút đến Trung ương, tối khẩn, dịch ngay giao liền", có lúc hết người đưa điện chúng tôi cũng đi.

Nối tiếp truyền thống giữ vững làn sóng không bao giờ tắt, mặc dù bị địch đánh ác liệt, máy bay B-52 ném bom trên 10 lần, trong đó có 5 lần rải thảm ngay đội hình, nhiều cơ quan đơn vị không dám ở gần điện đài. Lúc này tôi phụ trách chính trị viên Phòng Thông tin luôn gần gũi các đại đội thông tin, nhất là 2 đại đội vô tuyến điện, đi sâu sát nắm tình hình động viên kịp thời... Đặc biệt trong những năm địch càn quét, bình định vùng U Minh, các đài phân tán gần địch khoảng 1-2km, anh em vẫn vững vàng, ban ngày quần nhau chống địch, tối đưa máy lên làm việc, dù có điện hay không cũng lên tiếng để cấp trên và các đơn vị yên tâm. Quân khu vẫn bám trụ trên địa bàn trọng điểm đã góp phần đảm bảo chỉ đạo thông suốt, kể cả những lúc hiểm nghèo nhất. Tiêu biểu như tổ đài tiên tiến Nguyễn Văn Quân (sau này được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân về thông tin liên lạc), có hôm "một ngày hai trận thắng", đêm làm xong chôn giấu máy... sáng đưa bốn đồng chí qua chi viện Phòng Thông tin đánh bật tiểu đoàn địch đang càn quét, tối về lo chôn cất đồng chí Sơn vừa bị pháo bắn hy sinh. Kế đến là đào máy lên liên lạc với Trung ương và Bộ Tư lệnh Miền. Trong cuộc chiến đấu rất gay go, quyết liệt và gian khổ hy sinh ấy, không thể nào quên được liệt sĩ Trần Văn Thái (Anh hùng thông tin) là thương binh 2/4, cụt cánh tay phải và bị thương chân nhưng ý chí tiến công cách mạng rất cao, từ một quay viên trở thành đài trưởng giỏi, tập đánh maníp bằng tay trái, làm việc tốt, bơi xuồng giao điện, giăng câu trong hoàn cảnh ác liệt và một mình giữ ba chức vụ: Đại đội trưởng, Chính trị viên và quản lý ở Đại đội 2 vô tuyến điện. Có đồng chí khi nghe về đây do dự, nhưng đồng chí Thái sẵn sàng (vì trong thời gian ngắn cả 2 ban chỉ huy đã hy sinh 4 đồng chí). Có một việc phản ánh đầy đủ nhất phẩm chất của Thái: Đó là một hôm tôi đến thăm đơn vị tại rừng 390 (Cà Mau) vào mùa nước nổi, trên căn nhà nhỏ sàn lót bằng cây tràm, sau khi trao đổi tình hình xong, Thái nhìn tôi và nói: Hàng ngày em đều kết sổ tài chính, coi như bàn giao vắng mặt, nếu lỡ có hy sinh thì không làm phiền anh em khác.

Không ngờ chiều hôm sau (8-6-1971) được tin Thái hy sinh khi tìm địa điểm dự bị, tôi bàng hoàng và toàn đơn vị ai cũng đau buồn thương tiếc Trần Văn Thái, một người con của quê hương Hòn Đất anh hùng không còn nữa, nhưng tinh thần triệt để cách mạng, lạc quan vẫn còn mãi trong tôi và đồng đội.

Còn rất nhiều gương mưu trí dũng cảm khác ở 8 đại đội thuộc Phòng Thông tin Quân khu 9, như đồng chí Nguyễn Văn Rỡ - một cây "dùi", "cây mở đường" giao liên. Ngoài ra còn bố trí 2 đại đội ở 2 khu vực xa nhau có tài liệu quy ước và sẵn sàng thay thế nhau hoặc kẹt lắm thì Đài trưởng Hà Đình Phát tìm mọi cách vượt qua hàng rào địch mượn máy đài bạn làm việc để chuyển nhận điện kịp thời. Đúng là:

"Bủa vây giặc đánh khắp nơi

Ngàn ngày vẫn vững điện trời vẫn bay".

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Rải đường dây chiến thắng Huế

Khắc Phúc

Tôi đứng trên đồi cao

Nhìn thấu thành phố Huế

Mà lòng dạ xôn xao

Ước gì có cánh bay

Lao một mạch rải dây

Xuyên vào thành phố Huế

 

Hay biết mấy là hay

Huế thân yêu ơi!

Mơ về Huế đây rồi

Từ ngày đi giải phóng

Chắc Huế hiểu lòng tôi

Tôi đã bay rất nhanh

Qua đồi cao, bãi gianh

Giữa trời đêm mù mịt

Gai góc cắn da thịt

 

Quên cơm

Quên mệt

Quên nặng

Quên đau

Ước vọng một câu:

"Rung hồi chuông giải phóng

Dây ơi! Dây là mạch sống

Dây ơi? Dây là chỉ hồng tươi

Từng mối nối dây là niềm hy vọng

Cho mùa thơ "... toàn thắng"

Đó lời Người

 

Máy ơi!

Máy sẽ rung hồi chuông trận

Chào mùa xuân hơn hẳn mấy xuân qua...

Máy dây ơi!

Là thần kinh, xương máu, thịt, tim ta

 

Huế đêm nay

Huế giờ đây vang lời thơ Bác,

Máy dây ta cũng ngào ngạt hương thơ

Ngàn năm dây, máy ơi? Có phút bây giờ

Chớp lên rồi?

Súng nổ rồi?

Huế vào xuân xông trận

Máy, dây ơi! Quyết chiến đấu cùng ta

Cho Huế về đẹp giữa mùa hoa

 

Hướng chớp lửa

Hướng súng nổ

Hoàng thành Huế, đường dây tôi lao tới

Như đường lê xung kích xung thiên

Như nòng pháo ngẩng cao đầu khạc lửa

Như chàng trai bộc phá trung kiên

Như mũi chông Phong Chương, Quảng Thái

Như đoàn quân du kích A Lê Ninh

 

Sông Hương ơi? Bao năm em vất vả

Ngày hôm nay gặp gỡ em đây

Em quấn quýt, hiền hoà không vội vã

Hãy cùng anh yêu tha thiết đường dây

 

Em lắng nghe lệnh truyền khởi nghĩa

Em hãy nghe pháo ta nổ dập dồn

Một đôi dây tình keo sơn vì Huế

Hỏi em rằng có sung sướng gì hơn

 

Chào thành Huế, dây mình vào đây nhé

Theo đoàn quân màu xanh áo mùa xuân

Phố phường ơi? Em sẽ về đẹp đẽ

Trong hồi chuông Quân giải phóng vang ngân.

 

Huế yêu ơi, muốn nhìn em say đắm

Thỏa tình đầu buổi gặp mặt hôm nay

Vì rải dây mắt quên cười gặp gỡ

Trong mắt đen anh gửi cả đường dây

 

Chào tường thành bao năm cổ kính

Kỳ công xưa dựng trên đất Huế này

Người xưa đó cùng binh đoàn khởi nghĩa

Dồn quân thù quyết thít chặt vòng vây

 

Dây trên vai giờ cũng thành dũng sĩ

Máy trọn lời: "Diệt Mỹ, ngụy" "Toàn thắng ắt về ta”

Thành vui vẻ cúi rạp mình ngoan thế

Cho đường dây thông tin Quân giải phóng ta qua...

 

Ta đã sống sáu trăm giờ chiến thắng

Trên khắp thành phố Huế nở hoa

Đầu ta đội mấy ngàn... bom pháo đạn

Nối đường dây vang khúc hát hùng ca

 

Sáu trăm giờ không thể nào quên được

Trong Đông Ba, Tăng Bạt Hổ, Thái Phiên

Giữa Mang Cá, Ngọ Môn, Đại Nội

Giữ đường dây cho máu chảy về tim!

 

Ta đã thề trước lúc giờ xuất trận

"Nếu nhịp tim còn thoi thóp sống

Máy phải còn được truyền lệnh đi xa...”

Âu cũng phần lý tưởng đời ta

 

Đã chiến đấu những ngày gay gắt nhất

Thuốc độc phun rải khắp quanh mình

Khói độc nào làm được ta mờ mắt

Chất độc nào chen được giọng kiên trinh,

 

Ta đi đây chưa phải là trận cuối

Mới đầu ngày của một sớm mùa xuân

Dây ta mới rải một đường nhưng rồi tới

Rải trăm đường vào thành Huế mến thân.

 

Huế ơi! Huế! Lòng ta yêu biết mấy

Giờ tạm xa mình sẽ hẹn trở về

Mình sẽ căng những đường dây bóng bẩy

Chói màu vàng rung nhạc gió đồng quê

 

Sáu trăm giờ thời gian còn ngắn lắm

Của thời gian người chiến sĩ thông tin

Nhưng cũng là thời gian ta vui nhất

"Rải đường dây chiến thắng Huế đầu tiên".

2-1968

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Thông tin tiếp sức phục vụ cuộc chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ

Đại tá Nguyễn Ngọc Châu

Cuối năm 1963 bị thất bại nghiêm trọng ở miền Nam, đế quốc Mỹ âm mưu tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc nước ta.

Nắm được âm mưu của địch, ngày 9 tháng 1 năm 1964 Bộ Tổng Tham mưu tổ chức Hội nghị Phòng không nhân dân, bàn các biện pháp đánh bại cuộc tập kích bằng không quân của đế quốc Mỹ.

Sau hội nghị, Bộ giao nhiệm vụ cho Cục Thông tin liên lạc tổ chức đảm bảo thông tin thông suốt, vững chắc, phục vụ Bộ lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang trên toàn miền Bắc. Đặc biệt là Quân chủng Hải quân và Quân chủng Phòng không - Không quân. Tích cực chủ động đánh địch, bảo vệ vững chắc các khu kinh tế, quân sự trọng điểm. Bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

Trên cơ sở các mạng thông tin vô tuyến điện sóng ngắn, hữu tuyến điện và quân bưu đã có, Cục Thông tin tiến hành bổ sung thêm khí tài, nhân lực. Tổ chức thêm các đường liên lạc trực tuyến và vu hồi đến sở chỉ huy dã chiến của các quân khu, quân chủng. Mạng lưới vô tuyến điện tiếp sức, vô tuyến điện sóng cực ngắn cũng được triển khai đến các quân khu, quân chủng và các lực lượng phòng không trên toàn miền Bắc. Các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực chiến từ trên xuống đến các đài, trạm thông tin được duy trì nghiêm ngặt. Nhờ vậy các mạng thông tin đều thông suốt, đảm bảo mọi mệnh lệnh, chỉ huy tác chiến kịp thời. Giúp cho lãnh đạo, chỉ huy các cấp nắm chắc mọi diễn biến, các âm mưu và động thái của địch. Kịp thời xử lý và chủ động đánh địch ở cả đất liền, trên không và hải đảo của Tổ quốc.

Hàng loạt những hoạt động khiêu khích của địch và xâm phạm hải phận, không phận nước ta đều bị phát hiện và trừng trị thích đáng.

- Ngày 12 tháng 6 năm 1964 biệt kích ngụy phá cầu Hang (Thanh Hoá).

- Ngày 30 tháng 6 chúng lại phá nhà máy nước thị xã Đồng Hới, Quảng Bình.

- Ngày 31 tháng 7 và ngày 1 tháng 8 máy bay Mỹ từ Thái Lan sang bắn phá đồn công an Nậm Cắn và Noọng Dẻ, Nghệ Tĩnh.

Ngày 2 tháng 8 năm 1964 Mỹ cho tàu Ma-đốc vào sâu hải phận nước ta trên vùng biển vịnh Bắc Bộ, gần đảo Hòn Mê và cửa Lạch Trường, Thanh Hoá. Các đài quan sát và hệ thống thông tin của ta đặt ở núi Am Váp, kịp thời báo về Bộ Tư lệnh hải quân 135 và phân đội 3 tàu phóng lôi kiên quyết tấn công làm tàu Ma-đốc hoảng sợ phải tháo chạy.

Trưa và chiều ngày 5 tháng 8 năm 1964, hạm đội 7 của Mỹ đậu ngoài biển Đông, đã cho 64 lần chiếc máy bay F105 và F4 ném bom và bắn phá dữ dội vào thành phố Vinh, Bến Thủy, cảng sông Gianh, Lạch Trường (Thanh Hoá) và thị xã Hòn Gai.

Trạm thông tin Sở chỉ huy căn cứ 1 Hải quân ở Hòn Gai đã giữ liên lạc chặt chẽ với tổng trạm thông tin sở chỉ huy của Bộ Tổng tham mưu, nên đã nhận được sự chỉ đạo kịp thời và chính xác của Bộ. Do vậy đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng Hải quân và Phòng không đánh trả quyết liệt, bắn rơi tại chỗ 8 máy bay Mỹ, bắt sống tên giặc lái đầu tiên Ê-vơ-rét An-va-re (Everett Alvarez) ở Hòn Gai.

Ngày 7 tháng 8 năm 1964, Bộ Tổng tư lệnh tổ chức lễ tuyên dương công trạng các lực lượng vũ trang nhân dân đã lập công xuất sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và ân cần căn dặn: “... Các chú đã thu được thắng lợi vẻ vang, nhưng chớ vì thắng lợi mà tự mãn, chủ quan, khinh địch. Chúng ta cần hiểu rằng: Đế quốc Mỹ và bọn tay sai "chết thì chết, nết không chừa" chúng còn nhiều âm mưu hung ác".

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, phát huy kết quả chiến thắng trận đầu và rút kinh nghiệm trong việc tổ chức đảm bảo thông tin trong tác chiến của các lực lượng phòng không, Cục Thông tin đã tăng cường cho các hướng trọng điểm, tăng thêm các đường thông tin trực tuyến và vượt cấp.

Đại đội 13 vô tuyến điện tiếp sức P401, P401M và P405 do đại đội trưởng Ngô Xuân Trinh (sau này là Doãn Đức Đạm chỉ huy) phối hợp với thông tin của Quân chủng Phòng không - Không quân, triển khai các trạm vô tuyến điện tiếp sức ở sân bay Bạch Mai, Gia Lâm, Kép, Nội Bài, Hoà Lạc...

Đại đội 14 do Nguyễn Văn Tư làm đại đội trưởng (sau này là Lữ Trung Tấn chỉ huy), sử dụng hai bộ xe máy P400M2 triển khai tại Sở chỉ huy quân chủng ở Bạch Mai, sau này chuyển về Sở chỉ huy ở chùa Trầm, một trạm đặt tại sân bay Đa Phúc (Nội Bài) phục vụ quân chủng chỉ huy các trận không chiến với lực lượng không quân khổng lồ của đế quốc Mỹ.

Đại đội 15 do đồng chí Đặng Phụng (sau này là đồng chí Nguyễn Minh Đức) làm đại đội trưởng, sử dụng xe máy vô tuyến điến tiếp sức P401M kết hợp với sóng cực ngắn P105R triển khai trên cao điểm 1287 Ba Vì, cao điểm 1519 Tam Đảo và một số vị trí ở Quảng Ninh. Toàn bộ lực lượng vô tuyến điện tiếp sức của Tiểu đoàn 4 được tăng cường cho lãnh đạo, chỉ huy Quân chủng Phòng không – Không quân ở Kỳ Sơn - Hoà Bình từ những năm 1964 đến cuối năm 1972 (cuối năm 1968 một số đơn vị đã được rút về hậu cứ).

Khi cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta bằng không quân của Mỹ bị thất bại, Hiệp định Pa-ri được ký kết, Tiểu đoàn 4 đã khẩn trương huấn luyện, củng cố lực lượng, bổ sung quân số và trang bị, chuẩn bị mọi mặt để nhận nhiệm vụ mới.

Trong báo cáo tổng kết chiến tranh của Binh chủng Thông tin liên lạc đã khẳng định: "...Thông tin liên lạc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Hệ thống thông tin liên lạc của Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân đã tận dụng tốt các đường trục hữu tuyến điện kết hợp với sử dụng mạng vô tuyến điện sóng ngắn, sóng cực ngắn và vô tuyến điện tiếp sức đặt trên các cao điểm nên đã bảo đảm chỉ huy thông suốt từ Bộ Tư lệnh quân chủng đến các đơn vị tên lửa, pháo cao xạ và không quân. Hiệp đồng chiến đấu giành thắng lợi hết sức to lớn...".

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Vài điều nhớ lại Khoa Thông tin ở Trường Sĩ quan Lục quân (1958-1965)

Nguyễn Viết Quyền - nguyên giáo viên hữu tuyến điện

Trường Thông tin ở Đa Phúc giải thể.

Một số lớn cán bộ, giáo viên, công nhân viên kỹ thuật chuyển về Khoa Thông tin và Tiểu đoàn 5 của Trường Sĩ quan Lục quân công tác vào khoảng tháng 9 năm 1958. Nhà trường nhận nhiệm vụ "đào tạo trung đội trưởng thông tin dài hạn 3 năm và bổ túc cán bộ sơ cấp, trung cấp thông tin 1 năm". Các lớp đào tạo trung đội trưởng khóa 11 (1958-1960) và khóa 12 (1959-1961) là những lớp đào tạo chính quy đầu tiên của chúng tôi ở Trường Sĩ quan Lục quân. Học viên những khóa này hầu hết là những hạ sĩ quan, chiến sĩ thông tin quân tình nguyện (nhập ngũ trước năm 1954) ít nhiều trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, được bồi dưỡng toán - lý - hóa hết cấp 3. Đó là những lớp học viên có kỷ luật tự giác, tinh thần ham học, ý thức tập thể cao. Công tác huấn luyện toàn diện về kỹ thuật bộ binh theo chế độ chính quy cộng với huấn luyện về kỹ thuật nghiệp vụ và tổ chức thông tin liên lạc cấp tiểu đoàn đã rèn luyện các lớp học viên này trở thành những sĩ quan thông tin vừa giỏi về kỹ thuật nghiệp vụ vừa giỏi về tổ chức chỉ huy. Ra trường một thời gian ngắn họ đã trở thành những cán bộ phân đội thông tin đáng tin cậy trong toàn quân. Giáo viên chúng tôi đã trưởng thành nhanh chóng sau những khóa huấn luyện này. Bám theo trung đội trưởng thông tin trong diễn tập tiểu đoàn bộ binh của Nhà trường, chúng tôi đã nhận được yêu cầu của đối tượng đào tạo: Trung đội trưởng thông tin phải thành thạo vận động trên chiến trường dưới hỏa lực địch, phải giỏi kỹ thuật nghiệp vụ hữu tuyến, vô tuyến để nhanh chóng xử lý mọi tình huống khó khăn về thông tin liên lạc, đồng thời phải vững vàng về tổ chức chỉ huy các phân đội thông tin chuyển đạt, đường dây điện thoại cũng như vô tuyến điện để bảo đảm cho tiểu đoàn trưởng chỉ huy chiến đấu. Thời bấy giờ trung đội trưởng vô tuyến điện là một đối tượng đào tạo được thảo luận nhiều ở Khoa Thông tin. Trình độ thu phát điện báo moóc, nghiệp vụ liên lạc vô tuyến điện trên thực tế đài trạm không dễ dàng đạt được trình độ chiến sĩ giỏi theo yêu cầu đặt ra.

Những khóa huấn luyện theo tác phong chính quy ở Trường Sĩ quan Lục quân đã dạy cho giáo viên chúng tôi nền nếp công tác chuẩn bị và thực hành huấn luyện nghiêm chỉnh. Công tác chuẩn bị bắt đầu từ viết giáo án theo mẫu quy định. Muốn viết giáo án, trước hết phải nắm vững nội dung. Nội dung được chia ra từng phần, từng giai đoạn, từng điểm, từng ý. Mỗi phần, mỗi đoạn đều được phân phối thời gian thích hợp. Ứng với mỗi phần, mỗi đoạn đều ghi rõ vào cột phương pháp cách tiến hành huấn luyện: hoặc giảng giải, hoặc ví dụ, hoặc dẫn chứng, hoặc kết hợp mô hình học cụ, hoặc kiểm tra học viên... Tất cả đều được giáo viên chuẩn bị và thông qua tập thể bộ môn hoặc trưởng khoa, trưởng phòng. Trên cơ sở giáo án đã được thông qua, giáo viên bắt tay vào công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, học cụ, dây máy, thao trường và mô hình học cụ thật tỉ mỉ chu đáo để đến khi thực hành huấn luyện là yên tâm thực hiện kế hoạch.

Thời kỳ Khoa Thông tin ở Trường Sĩ quan Lục quân, Nhà trường được vinh dự đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm. Trong phong trào thi đua "Dạy tốt học tốt" theo lời dạy của Bác, giáo viên Thông tin đã có nhiều bài giảng được đánh giá có chất lượng. Tổ giáo viên điện thoại đã được giao nhiệm vụ thực hiện một bài giảng mẫu giới thiệu với đoàn khách In-đô-nê-xi-a do tướng Xu-hác-tô dẫn đầu. Giáo viên đã trình bày lý thuyết kết hợp với mô hình (điện thoại điện chung) có hiển thị bằng đèn vừa dễ hiểu vừa hấp dẫn. Học viên Đại đội 20 (khóa 12) rất linh hoạt khi giáo viên kiểm tra nhanh ở lớp. Không khí lớp học thật sôi động. Chúng tôi còn nhớ lời cảm ơn của Tướng Xu-hac-tô lúc chia tay. Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, mô hình học cụ của Khoa Thông tin được xếp hạng cao và trình bày trong triển lãm ở Nhà trường và ở Sơn Tây. Một số giáo viên được khen thưởng "chụp ảnh trước quân kỳ". Để tạo điều kiện cho học viên có trình độ làm chủ khí tài được trang bị, cùng với Khoa Thông tin, tổ Điện thoại đã thành công trong việc dùng "tám bước thử" để kiểm tra máy điện thoại, có thể phát hiện hầu hết các hư hỏng thông thường trên mạch điện nguyên lý và cách khắc phục những hư hỏng đó trên chiến trường cũng như ở đơn vị. "Tám bước thử" đã được phổ biến rộng rãi trong toàn quân. Tổ chức luyện tập trên thao trường cũng theo nền nếp chính quy. Chúng tôi còn nhớ cố Trưởng khoa Hà Ngọc Oánh một lần đến kiểm tra buổi tập luyện thao tác sử dụng tổng đài 10 cửa ở bãi tập, đã hạ lệnh ngừng tập vì đội ngũ không thẳng hàng, động tác người tập không dứt khoát, người bình thiếu nghiêm túc. Giáo viên làm mẫu lại và buổi tập tiếp tục.

Những hình ảnh về huấn luyện chính quy ở Trường Sĩ quan Lục quân còn đậm nét trong giáo viên chúng tôi khi rời Nhà trường về công tác cùng Trường Sĩ quan Thông tin. Và trong suốt cuộc đời giáo viên thông tin chúng tôi luôn giữ gìn tác phong đáng yêu đó.

Tháng 9-2000

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Anh Tám Xai - Trưởng ban Thông tin đầu tiên của Miền (B2)

Đại tá Nguyễn Xuân Đào

Năm 1946, tôi đưa thuyền vũ khí từ miền Bắc vào Nam Bộ, sau đó được nhập cùng đoàn cả người và vũ khí về miền Đông (Khu 7) để thành lập Trung đoàn 300. Khi đến địa phận tỉnh Gò Công thì gặp tiểu đoàn của anh Lê Văn Xai (Tám Xai) (Ban chỉ huy còn có anh Phước "Râu", anh Sĩ "Kiến").

Chúng tôi nhờ giúp đỡ, anh Tám sốt sắng cho người mang vác vũ khí, lo thuyền cho chúng tôi vượt sông Soài Rạp sang Chiến khu Rừng Sác.

Trước khi về chiến khu, anh Tám gợi ý rủ chúng tôi "đánh chơi một trận". Có lẽ các anh thấy chúng tôi mang về vũ khí tốt có đại liên, trung liên, súng cối, súng phóng lựu... nên muốn hợp tác đánh trận chắc ăn hơn, còn chúng tôi lần đầu tiên về lại đất Nam Bộ dự trận đầu tiên, nên ai cũng vui vẻ tán thành. Chúng tôi cùng bộ đội anh Tám xung trận, đánh đoàn xe giặc từ đồn Vàm Láng về Gò Công, đánh tại ngã ba Kiển Phước, đánh gọn, tiêu diệt nhanh.

Chiến khu Rừng Sác cũng là hậu cứ của bộ đội anh Tám và tỉnh Gò Công nên anh Tám thường tới lui. Anh Tám có đặc điểm đi thường ở trần, áo vắt vai, chân đất đeo bên hông khẩu súng ngắn "colt 12". Anh em vẫn nói đùa nhìn từ xa là biết "Đội Xai", có lẽ hồi trước anh Tám đi lính Pháp làm "báo vụ viên" lên cấp "Đội".

Anh Tám lớn tuổi hơn tôi, song anh đối xử với tôi thân tình như anh em. Biết tôi tốt nghiệp Trường Quân chính Việt Nam ở Sơn Tây nên anh đề nghị tôi cung cấp tài liệu huấn luyện bộ đội. Anh khích tôi: "Cậu lặn lội từ Nam ra Bắc tầm sư học đạo học rồi bỏ đó thì uổng công tốn sức".

Sau đó tôi về phụ trách Tiểu đoàn "Trần Phong" của Trung đoàn 300, địa bàn hoạt động khác nhau nên từ năm 1952 khi tôi được điều động về làm Giám đốc Trường Quân chính Mỹ Tho thì gặp lại anh Tám đang làm Tham mưu trưởng của Tỉnh đội Mỹ Tho và chúng tôi lại gần gũi nhau trong công tác.

Lúc ở Mỹ Tho, tôi nhớ mãi ngày anh Tám gặp nạn. Anh Tám cất nhà ở kinh Bùi, còn tôi cũng cất nhà ở và làm việc cách xa nhà anh Tám độ 200m. Một hôm, có lẽ bọn thám báo chỉ đích xác nhà "ông Lớn" (nhà anh Tám), địch dùng 2 máy bay "Kyreydo" đến bắn phá xung quanh và thả 4 quả bom, nhà anh Tám tan tành. Nhưng nhờ kinh nghiệm sống ở đồng bằng, vả lại trước khi ném bom, máy bay lượn nhiều vòng, đủ thời gian cho anh Tám thoát chết.

Tôi và anh Tám sống, chiến đấu ở Đồng Tháp Mười đến năm 1954 tập kết ra Bắc. Anh phụ trách Phó ban thông tin Phân liên khu miền Đông. Năm 1958, anh phụ trách Tiểu đoàn 5, Trường Lục quân đào tạo bổ túc sĩ quan thông tin. Tháng 5 năm 1961, anh về Nam (cùng Đoàn Phương Đông 1). Sau khi tốt nghiệp Học viện thông tin Trung Quốc, tôi về làm Chủ nhiệm thông tin Lữ đoàn 305. Được lệnh về Nam chiến đấu, bất ngờ lại gặp nhau trong ngành thông tin liên lạc. Cấp trên giao anh Tám làm Trưởng ban thông tin, tôi làm Phó ban thông tin của B2.

Thời gian chuẩn bị vượt Trường Sơn rất ngắn, chúng tôi nỗ lực làm mọi thứ cho thông tin miền Nam, thực hiện lệnh cấp trên nghe qua tưởng giản đơn song hết sức khó khăn phức tạp: các anh về phải lập cho được cầu nối thông tin liên lạc quân sự địa phương đến Trung ương và ngược lại.

Tháng 5 năm 1961, cuộc hành quân vượt Trường Sơn bắt đầu. Lúc hành quân anh Tám tách ra chỉ huy một đơn vị thực binh còn tôi chỉ huy Phân đội Thông tin trực thuộc. Tôi còn có nhiệm vụ mang một điện đài đi theo sát đồng chí Trần Văn Quang (sau này là Thượng tướng) người chỉ huy Đoàn Phương Đông. Sau 3 tháng hành quân, chúng tôi gặp lại nhau ở đồi Cối Xay - Mã Đà (Chiến khu Đ).

Ngày 14 tháng 8 năm 1961, anh Tám triệu tập hội nghị Thông tin đầu tiên, cũng là ngày thành lập Thông tin liên lạc B2. Hội nghị công bố danh sách các đồng chí đứng đầu thông tin các quân khu; thành lập đội thông tin trực thuộc đầu tiên B18; giao nhiệm vụ cho từng sĩ quan tham mưu thông tin.

Anh Tám chỉ định tôi báo cáo tình hình và nhiệm vụ sắp tới của Thông tin liên lạc miền Nam.

Trên đây là những nét lớn ban đầu, về sau nhiều năm xây dựng lực lượng thông tin lớn mạnh, tổ chức mạng lưới thông tin rộng khắp phát triển và chặt chẽ. Anh Tám là Trưởng ban Thông tin của một chiến dịch đầu tiên ở miền Nam (chiến dịch Bình Giã năm 1963). Trong quá trình công tác, anh Tám có những điểm nổi bật:

- Thái độ tác phong hoà nhã nhưng rất kiên quyết được anh em mến phục.

- Xây dựng tinh thần chiến đấu dũng cảm vừa đánh giặc vừa bảo đảm thông tin liên lạc. Nhờ vậy mà thành tích của đơn vị giết giặc lập công, thật đáng khen thưởng.

Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1967, anh là Huyện đội trưởng tham gia chiến dịch phản công đánh bại cuộc càn Gian-xơn Xi-ty, loại khỏi vòng chiến đấu 911 tên địch, phá hủy 73 xe tăng, bắn rơi 16 máy bay, thu 12 khẩu AR-15, 7 PRC-25.

Rất tiếc anh Tám không đi cùng thông tin đến ngày giải phóng, anh chuyển ra làm Cục trưởng Cục Xây dựng kinh tế, sau đó làm Phó Tư lệnh Quân khu 8 và mất khi về hưu.

Ngày 1-12-2008

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Mưa rừng

Nguyễn Văn Khôi

Mùa thu bảy tám dưới mưa ngâu

Tiếp sức trường ta ra tuyến đầu

Bảo vệ bà con vùng giới tuyến

Đánh quân Pôn Pốt cút về mau.

 

Ích bốn ba (X43) tên gọi của đài

Học viên, thầy giáo bảy chàng trai

Ăngten mò mẫm treo đêm tối

Liên lạc an toàn với ép hai (F2)

 

Có lúc đường đi gặp khúc lầy

Ô tô bị thụt tít vòng quay

Anh em lo sợ thông tin tắc

Báo cáo, trên điều chuyến máy bay.

 

Chiến dịch đã xong thắng lợi rồi

Nhớ canh lá sắn với vừng hôi

Chia nhau điếu thuốc rừng ma tối

Trên tặng Bằng khen nhớ một thời.

Tháng 8-1978

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)