30.10.25

"Nhạc sĩ" của Trung đoàn (3/8)

Phạm Huy Thưởng

Tiếp theo phần 2/8

Bây giờ tôi xin kể đến hoạt động nghệ thuật quần chúng ở cấp trung đoàn. Bởi nếu phong trào ở cấp này không mạnh thì đừng nói gì tới cái mạnh ở cấp Binh chủng. Và xét đến cùng, sự chỉ đạo của Bộ mạnh như thế nào cuối cùng thì hiệu quả cũng thể hiện ở cấp trung đoàn.

Phải nói rằng khi ra quyết định thành lập Đội TTVHXK ở 132 thì cả thủ trưởng Trung đoàn và anh em chúng tôi đều tràn đầy bầu "máu liều" trong tim. Khi đó Trung đoàn chỉ có ba người có khả năng sáng tác được ít nhiều. Đó là Phạm Khắc Vinh, Vũ Trọng Ngà và tôi. Ngày anh em từ các đại đội về đến Văn Điển, chúng tôi mới chỉ có trong tay bài "Thông tin lên đường", ca khúc của tôi ở lớp học sáng tác của Bộ. Vũ Trọng Ngà nhận viết một tổ khúc chèo về lính đường dây. Tiếp đó, do mối quen biết từ xưa với Trung đoàn phó Lê Văn Thành, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý viết bài "Hành khúc dây trần" mà sau này anh em trong đơn vị vẫn quen gọi là bài "Từ Việt Bắc năm nào ta ra đi". Ngày ngày anh em chúng tôi luyện thở, luyện thanh, luyện hòa âm và dựng bài hát của tôi và bài của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Chúng tôi lại sưu tầm được bài "Đoàn quân 303", một bài hát truyền thống của đơn vị có từ thời chống Pháp. Bài này do ông Nguyễn Vũ Việt, một cán bộ của Đại đội 303 ngày trước sáng tác. Sau này chúng tôi gặp lại ông ở Bộ Cơ khí Luyện kim. Chúng tôi cũng dựng được một số bài moden chống Mỹ thời đó như "Hoan hô các cụ Thanh Hóa bắn rơi máy bay Mỹ", "Quảng Bình quê ta ơi"... Ít ngày sau Vinh làm thêm được bài hát "Tôi là chiến sĩ đường dây". Kế đó Trọng Ngà xin duyệt tổ khúc chèo "Hát về đường dây". Và phải đến gần hết thời gian tập luyện, Phạm Khắc Vinh mới viết xong vở kịch "Lý Tự Trọng, người chiến sĩ liên lạc của Đảng".

Trong dàn dựng tập luyện chúng tôi gặp rất khó khăn. Cái khó nhất là trong vở kịch Lý Tự Trọng có một vai nữ. Đó là vai một bà bán hàng rong ở cảng Sài Gòn. Sau nhiều lần bàn bạc chưa tìm được người đóng thế chúng tôi phải mượn một cô gái trong xã vào vai này. Thật ra đây chỉ là cách tạm thời để kịp diễn báo cáo cho đúng thời gian quy định. Về lâu dài đi diễn ở các đại đội thì phải có người trong đơn vị. Có một biện pháp rất cổ nhưng tạm sử dụng trong lúc đó là chúng tôi đã chọn người đóng giả nữ. Anh chàng Cao Xuân Thảo, người Hà Nội được chọn đóng vai bà hàng rong. Thảo có giọng nói rất con gái, còn động tác thì hoàn toàn là một anh con trai vụng về. Chúng tôi phải rất công phu trong việc hóa trang cho Cao Xuân Thảo vào vai này. Bản thân Thảo cũng dày công luyện tập để vai kịch có thể được bộ đội chấp nhận.

Cái khó nữa là thiếu nhạc cụ và thiếu người chơi. Nhạc cụ khó sắm vì không đủ tiền, tuy nhiên cuối cùng chúng tôi vẫn kiếm được cách để có những cây đàn. Riêng người chơi đàn thì phải luyện tập mới đủ người chơi. Chúng tôi đã giải quyết khó khăn này bằng hai cách. Một là khi phối âm cho dàn nhạc đệm chúng tôi chọn chủ yếu là nhạc cụ dân gian: sáo, nhị, đàn tam, đàn tứ, thập lục, đàn bầu với ba loại trống là trống chầu, trống đế và trống cái. Anh em chơi nhạc cụ này phải học nhạc lý để biết cách sử dụng phần phối khí. Thậm chí các nhạc công của dàn bát âm này còn phải chơi được một số bản nhạc nước ngoài thịnh hành khi đó như La Paloma (Cánh buồm xa xưa), Bengawan Solo (Dòng sông Solo), Hoa đẹp Chămpa và Cachiusa... Còn cây đàn mandolin, ghi ta, accordion và cả kèn harmonica nữa thì chúng tôi phân công nhau mỗi người tập một thứ để chỉ đệm cho một bài, thậm chí tập để hơi thành thục một đoạn nhạc, để khi biểu diễn anh có thể trình bày đoạn độc diễn đó thật hay. Thanh Phương với cây acccordion 36 phím ngày đêm tập đi tập lại một đoạn nhạc mở đầu của bài "Tiến bước dưới quân kỳ". Huy Thưởng ôm cây mandolin sáng trưa tối chỉ tập một đoạn nhạc dạo của bài "Tiếng đàn ta lư", đoạn nhạc có một chùm tám nốt móc kép. Nguyễn Văn Kha tập đệm với cây đàn ghi ta. Kha nguyên là tay chơi nhị và đàn tam khá tốt, nay tập ghi ta có những cái khó riêng.

Tập để chơi thành thạo một nhạc cụ nào đó người ta phải mất nhiều năm. Nhưng chỉ tập cho thành thục một vài câu nhạc hoặc một hai bài hát với một cây đàn nào đó thì có thể thấy trong thời gian ngắn là làm được. Kết quả là trên sân khấu người xem thấy anh em chúng tôi ai cũng biết chơi đàn. Buông cây nhị ở tiết mục trước, tiết mục sau bà con thấy anh chàng Kha ôm cây ghi ta, mà lại chơi khá chuẩn đoạn nhạc solo dành riêng cho anh ta. Nào ai biết để chơi cho nổi đình đám, anh ta đã mất cả mấy tháng trời tập đi tập lại chỉ một đoạn nhạc chưa đầy 20 nhịp.

Sau hai tháng vừa tập luyện vừa sáng tác dàn dựng chúng tôi đã có một chương trình biểu diễn 105 phút, trong đó phần tự biên chiếm hơn 60 phút. Một thành công ngoài sức tưởng tượng của cả chúng tôi và các thủ trưởng Trung đoàn.

Sau đêm diễn báo cáo Đảng ủy và thủ trưởng Trung đoàn, chúng tôi diễn đêm đầu tiên tại sân kho thôn Cổ Điển B, xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, nơi Trung đoàn sơ tán đóng quân từ tháng 8 năm 1964. Đêm diễn đầu tiên này có một giọng ca khá nổi ở địa phương là Minh Tâm tham gia. Tiết mục đơn nữ hai bài "Tây Nguyên ơn Bác" và "Cô dân quân miền núi" do Minh Tâm trình bày là tiết mục đệm trong khoảng thời gian hóa trang cho vở kịch.

Tiếp đó chúng tôi đi biểu diễn ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Tây, Thanh Hóa, tại những nơi có các đại đội đang làm các công trình đường dây ở đó. Đợt đi diễn này  kéo dài khoảng ba bốn tháng. Đi biểu diễn hết vòng các đại đội, chúng tôi về Trung đoàn bộ. Chúng tôi tổng kết, rút kinh nghiệm xong là giải tán cho anh em về đại đội.

Tại Trung đoàn bộ, chúng tôi lại bắt tay chuẩn bị cho đợt hoạt động tiếp theo. Chúng tôi trình lên thủ trưởng Trung đoàn danh sách mới của Đội TTVHXK đợt tới. Những chiến sĩ có năng khiếu ở đại đội mà chúng tôi tìm được trong suốt đợt biểu diễn vừa qua. Chúng tôi gom lại các tiết mục mới. Những sáng tác của chúng tôi và của anh em trong các đại đội mà chúng tôi sưu tầm được trong chuyến đi khắp miền đất nước. Chúng tôi sáng tác thêm, và tiếp tục tìm kiếm những tiết mục đang nổi trong và ngoài quân đội. Trên dưới hai tháng làm việc như vậy chúng tôi chuẩn bị chu đáo cho đợt tập trung mới của Đội TTVHXK. Đợt hai này Phạm Khắc Vinh có bài "Hoan hô anh nuôi". Bài hát có một đoạn gây ấn tượng mạnh cho người xem là "Giôn xơn Giôn xiếc, Tay lơ Tay liếc, Ma ra Ma riếc tất cả đều thua... Thua cái chôn nồi... nồi anh nuôi". Đợt này tôi viết được bài “Chuyện cái sứ". Mấy tháng sau lại một chương trình mới với một đợt diễn mới. Rút kinh nghiệm từ đợt trước, đợt này chúng tôi tập luyện và dàn dựng một cách có bài bản, nhanh gọn và chất lượng cao hơn.

Có một lần đội chúng tôi lên biểu diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội. Tốp ca nam hát bài đầu tiên chút nữa thì bị hỏng. Lý do là vì ở nhà quen tập trong phòng nhỏ. Ra sân khấu lớn tiếng hát như bị hút đi đâu mất. Sau lần đó chúng tôi không tập hát trong nhà nữa. Chúng tôi tập hát ở ngoài sân, thậm chí tập cả dưới trời mưa phùn. Bởi vì quanh năm suốt tháng chúng tôi đến các đại đội đều diễn ở ngoài trời. Thấy anh em sức khỏe yếu, hát không đủ hơi, chúng tôi tập chạy dài mỗi tuần ba lần, thay vì cho một lần như điều lệnh quân đội quy định.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)

 

28.10.25

"Nhạc sĩ" của Trung đoàn (2/8)

Phạm Huy Thưởng

Tiếp theo phần 1/8

Sau khóa học tôi trở về Trung đoàn công tác với một tinh thần mới. Tôi càng hiểu đầy đủ hơn về một con người được trang bị những kiến thức văn hóa cao hơn. Đại đội tôi nổi tiếng là đơn vị hát tập thể hay. Trung đội tôi ngay khi đi dã ngoại vẫn duy trì đầy đủ những đêm sinh hoạt văn nghệ thứ năm hàng tuần như ở trong doanh trại. Anh em chúng tôi hát nhiều tới mức đòi hỏi phải có cách hát gì mới hơn là vừa hát vừa vỗ tay. Thế là mặc dù là hát tập thể, cả trung đội chúng tôi vẫn tập dựng những lối hát cao hơn. Mở đầu là bài hát "Du kích ca" với lối hát canon. Một tiểu đội được phân công hát bè đuổi ở lần hát thứ hai. Chúng tôi chỉ tập một buổi tối anh em đã vào bè, vào nhịp rất chuẩn. Tiếp đó tôi soạn một bè đơn giản cho bài "Tiến bước dưới quân kỳ", bởi vì bè hai bài này của nhạc sĩ Doãn Nho có mấy chỗ rất khó hát cho tập thể. Một tiểu đội được tôi dành riêng học hát bè hai. Sau mấy tối học hát riêng, cả trung đội tập hát ghép hai bè. Bài "Tiến bước dưới quân kỳ" được cả trung đội của tôi hát khá chuẩn cả hai bè. Những lúc hát tập trung toàn đại đội thì anh em bè hai hát càng lớn. Học hát tập thể như vậy anh em rất thích. Những hiểu biết về hòa âm tuy rất nhỏ ấy đã làm anh em tự hào hơn về đơn vị của mình. Và trung đội tôi là một trung đội luôn luôn được làm những nhiệm vụ độc lập.

Chúng tôi thường đi công tác dã ngoại, đóng quân ở nhà dân nên mỗi lần sinh hoạt đại đội là một lần gây ngạc nhiên hứng thú cho bà con. Bà con nhận xét "Có một số chú trong đơn vị hát sai điệu, nhưng nghe kỹ lại thấy hay". Tiếp đó tôi soạn bè hai cho anh em học tiếp "Bài ca trên đường dây" (Nguyễn Đức Toàn), "Cùng nhau đi hùng binh", "Giải phóng miền Nam"... Bài "Vì nhân dân quên mình" cũng được tôi soạn bè cho anh em hát. Với bài "Vì nhân dân quên mình", ở đoạn cuối cùng chúng tôi còn đưa lên một giọng với cao một bát độ. Vì chúng tôi có Trần Bảy, còn gọi là Bảy lùn, một chàng trai có giọng tenor khá chuẩn. Coi như chúng tôi đã hát tập thể bài này với ba bè.

Cách hát như thế làm cho anh em trong đơn vị rất vui và càng tự hào về đơn vị mình. Có một lần các nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, Huy Du, Văn An và các nhà thơ Chính Hữu, Xuân Miễn đi thâm nhập ở Trung đoàn 132. Trong tối sinh hoạt tại Trung đội 3 của tôi, sau khi nghe anh em chúng tôi hát bốn năm bài tập thể, anh Văn An hỏi Phạm Khắc Vinh:

- Đây là đội tuyển của các cậu phải không?

Vinh nói:

- Đây là trung đội của Huy Thưởng, một trong mấy chục học trò của anh ở lớp sáng tác ca khúc Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc đó. Anh em hát mãi một giọng sinh chán nên Huy Thưởng soạn bè cho trung đội nó hát chơi mà. Anh nghe có lọt lỗ tai không?

- Nếu hát tập thể mà được như thế này thì quá giỏi còn gì. - Anh Văn An khen.

Cả trung đội của tôi sướng mê lên vì lời nhận xét của ông nhạc sĩ gạo cội của quân đội ta.

...

Sau một chuyến đi công tác ba tháng ở vùng lửa Nghệ Tĩnh về đến Trung đoàn, tôi nhận được lệnh về Phòng Chính trị để đi học một khóa học văn nghệ. Về tới cơ quan Phòng Chính trị tôi được biết là đi học lớp chỉ huy đồng ca. Lớp học có gần bốn mươi người, tất cả đều là hạt nhân văn nghệ của các đơn vị trực thuộc Bộ. Lớp học tuy chỉ có hơn hai tháng nhưng chúng tôi được học khá kỹ cả về kỹ thuật cộng minh, ký sướng âm nâng cao và chỉ huy đồng ca nhiều bè. Trong tình hình chiến tranh đã trở nên rất ác liệt trên cả hai miền. Bom Mỹ đã phá nát những đoạn quốc lộ giáp Hà Nội. Máy bay phản lực Mỹ đã nhiều lần bay qua bầu trời Hà Nội. Một lớp học như vậy được mở ra trong tình hình như vậy, phải nói đó là một tư tưởng chỉ đạo rất căn cơ. Rất hiểu điều đó nên chúng tôi học tập hết sức chăm chỉ và đạt kết quả rất cao.

Tôi còn nhớ một lần trong giờ nghe nhạc và ghi âm, thầy đang cho ghi những âm trong gam Đô trưởng và La thứ, bỗng thầy bấm đàn đưa một nốt nhạc rất lạ tai. Mỗi người trong lớp gọi tên nốt nhạc ấy một cách rất khác nhau. Riêng tôi nhẩm lại cả dãy âm và phát hiện đó là nốt Fa#. Chi tiết này cho thấy, tuy chỉ là một lớp quản ca nhưng cả thầy giáo và học trò chúng tôi đều dạy và học rất chí thú. Cũng lạ, giữa buổi học có báo động phòng không, anh chị em phân tán ra hầm. Hết báo động chúng tôi lại phân bè tập những hòa âm rất căn bản và chuẩn xác.

Mệt nhất là giờ luyện thở, luyện thanh mỗi buổi sáng. Sau giờ tập này chúng tôi cảm thấy như toàn bộ năng lượng trong người đã bị dốc ra hết. Suất ăn sáng biến đi đâu mất cả chỉ còn cái bụng rỗng cứ sôi lên ùng ục. Có một buổi tập thở, trong khi tất cả chúng tôi đang lim rim mắt định thần vào việc nén hơi thì bỗng nhiên có tiếng ồn ào nổi lên. Thì ra Đinh Tuyết Lan, một cây văn nghệ của Trung đoàn 134 bị đuối hơi ngã ngất xuống sàn lớp. Ít phút sau tỉnh lại Tuyết Lan kể:

- Em cố tập trung tư tưởng ghìm nén hơi thở nên quên đi không nhả hơi theo khẩu lệnh của thầy. Rồi em cảm thấy mình không còn chút sức nào nữa. Em nghĩ mình chết rồi.

- Thế khi tỉnh lại thì Tuyết Lan thấy thế nào?

- Đầu tiên em cảm thấy mình thoát chết rồi. Lúc tỉnh hẳn thì em thấy chị Thu Hiền đang ngồi trên bụng em.

Cả lớp cười ầm lên về cảm nhớ của Tuyết Lan khi hồi tỉnh.

Trong lớp học này có Sĩ Hùng, một giọng baryton rất khỏe. Lê Ngọ với tôi là giọng bass trụ cột của bè trầm. Lê Ngọ nói với tôi:

- Tôi rất hứng thú khi hai đứa mình đứng bên nhau trong bè trầm. Sự cộng hưởng của giọng hai đứa làm rung cả lồng ngực mình lên. Giọng hát của mình thấy tăng sức mạnh lên rất nhiều.

Tôi và Lê Ngọ có thể hát theo xuống đến dây trầm nhất của đàn ghi ta, tức là nốt mì3.

Giảng viên chia lớp học chúng tôi thành hai bè dựng bài "Tiến bước dưới quân kỳ" và bài "Giải phóng miền Nam". Tại hội nghị toàn quốc sơ kết việc thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác văn hóa văn nghệ thời chiến, lớp học chúng tôi đã trình bày rất thành công hai bản hợp ca này.

Lần đầu tiên trong đời chúng tôi được biểu diễn tại sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội nên tôi nhớ rất rõ buổi biểu diễn ấy. Chúng tôi có một tốp ca nam trình bày bài "Anh vẫn hành quân". Phạm Khắc Vinh đệm đàn accordion cho chúng tôi hát bài này. Giữa hai đoạn của bài hát có một đoạn nhạc đệm. Khi chạy những chùm ba nốt móc kép với hợp âm bốn ngón tay phải, Phạm Khắc Vinh bị lỗi vấp một nốt nhạc. Lỗi này làm nhóm hát bè cao vào chệch khoảng một phần tư nhịp. Nguy cơ đổ vỡ tiết mục này trong không đầy một phút tiếp theo là điều có thể thấy rõ. Để cứu tiết mục này, khi vào đoạn hát đuổi của bè hai, tôi nắm chặt tay Lê Ngọ, tôi với Ngọ giữ vững nhịp hát cho cả bè trầm. Với giọng hát áp đảo của hai đứa chúng tôi trong bè trầm, tốp ca trở lại nhịp chuẩn cho đến hết bài. Tôi với Lê Ngọ trở nên thân nhau từ sau lớp học ấy. Sau này ra quân Lê Ngọ hát trong tốp nam đoàn Văn công Hà Nội.

Rất nhiều học viên của lớp này đã trở thành những hạt nhân nòng cốt trong phong trào văn nghệ Binh chủng Thông tin. Nhiều lần sau đó tôi gặp lại Thanh Trà, Việt Hồng, Lê Ngọ (Trung đoàn 205); Tuyết Lan, Thu Hiền (Trung đoàn 134)... Cũng từ khóa học này, tôi được củng cố và mở rộng thêm kiến thức âm nhạc. Tôi hiểu đầy đủ hơn về rất nhiều điều mà tôi đã học và đã đọc trước đây. Đặc biệt là về thanh nhạc, đây là một kiến thức hoàn toàn mới đối với tôi khi đó. Sau này tôi đã ứng dụng rất thành công những hiểu biết này vào việc luyện thanh và luyện hát bè cho Đội Tuyên truyền Văn hóa xung kích (TTVHXK) Trung đoàn 132.

Tôi rút ra một bài học cho hoạt động văn hóa nghệ thuật cũng như các công tác khác là làm việc gì cũng phải có những ý tưởng táo bạo. Đồng thời cũng phải tìm mọi cách để thực hiện bằng được những ý tưởng táo bạo đó. Tôi càng hiểu rằng không có việc gì là không thể làm được. Là một trợ lý, tôi hiểu rằng chỉ có làm bằng được một phần công việc mới nào đó, rồi sau đó mới đặt ra những điều kiện cho việc thực hiện cả ý tưởng. Chính những kết quả ban đầu làm ra từ hai bàn tay trắng sẽ chứng minh khả năng thực hiện của ý tưởng. Ví dụ như trong hoạt động của Đội TTVHXK thì khó nhất là việc tìm người. Mỗi người về đội phải là người có năng khiếu và phải là người rất tích cực tự giác hoạt động. Những người như thế lại chỉ có thể tìm thấy ở các đại đội, chứ không được tuyển bên ngoài vào. Mỗi đại đội thiếu một hai quân nhân cũng chẳng ảnh hưởng gì mấy đến công việc chung. Nhưng khéo chọn lọc, huấn luyện và sử dụng những quân nhân đó khi tập trung về cơ quan, hóa ra anh em có thể làm được những công việc mà trước đó chính họ cũng không dám tưởng tượng tới.

Khi mà những trái bom Mỹ đã đổ xuống vùng đất ngoại vi Hà Nội là lúc chúng tôi thành lập Đội TTVHXK ở Trung đoàn. Tất cả các đơn vị trực thuộc Bộ đều thành lập đội TTVHXK. Tôi không rõ theo chỉ thị nào nhưng tôi nhớ rõ quy định rất khắt khe của việc thành lập đội. Mỗi đội chỉ được không quá mười lăm người. Một đợt tập trung về Trung đoàn bộ hoạt động chỉ được giữ lại không quá một phần ba số người của đợt trước. Trong chương trình biểu diễn phải có nhiều tiết mục tự biên về đơn vị mình. Những yêu cầu "không quá" trên đây buộc chúng tôi phải có một kế hoạch thường xuyên phát hiện chiến sĩ có năng khiếu ở đại đội, phải có một kế hoạch học tập rất công phu cho những anh em về tập trung và nhất là phải tập hợp được một nhóm sáng tác mạnh. Phải chăng chính vì cách làm như thế mà ta đã có phong trào văn nghệ rất mạnh trong Binh chủng Thông tin. Phải chăng chính từ phong trào ấy mà một trung đoàn "ăn no vác nặng" như Trung đoàn 132 lại sinh ra hàng chục “sĩ cấp quốc gia" các loại. Trung đoàn có đủ cả nhạc sĩ, họa sĩ và văn sĩ... còn hàng sĩ được anh em trong đơn vị vinh phong cho thì nhiều lắm.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

26.10.25

“Nhạc sĩ" của Trung đoàn (1/8)

Phạm Huy Thưởng

Tháng 5 năm 2003, tại cuộc gặp mặt kỷ niệm 50 năm thành lập Trung đoàn 132, tôi đã gặp được gần hai trăm anh em cán bộ chiến sĩ cũ của Trung đoàn. Chúng tôi mừng mừng tủi tủi, tình cảm sâu đậm không biết kể sao cho hết. Có một điều tôi hết sức cảm động là tất cả anh em đều gọi tôi là "nhạc sĩ". Một cách gọi thân quen từ gần ba mươi năm trước. Cũng có một số anh em quên tên tôi, nhưng khi anh em khác nhắc lại: "Huy Thưởng, tác giả cưỡi mây lên gõ cổng trời đó mà", thì không một ai là không nhớ đến tôi.

'Đêm đó tại nhà Đặng Trường Lưu, tôi nằm thao thức không ngủ được. Kỷ niệm cũ một thời làm tôi muốn ngợp thở. Tôi trằn trọc một điều: "Con đường để tôi trở thành nhạc sĩ đã diễn ra như thế nào?".

* * *

Tôi yêu nhạc từ thuở nhỏ. Có điều là nhà tôi nghèo, tôi không được học đàn. Với cây đàn mandolin mượn được từ người anh họ, tôi đã nhanh chóng nắm được cấu tạo của cây đàn bốn dây. Tiếp đó, tôi mượn được của người chú cây ghi ta, một thời gian sau tôi hiểu thêm được cây đàn ghi ta nữa. Tuy nhiên phải đến khi đi làm cán bộ vật giá thương nghiệp tôi mới được học một khóa nhạc lý ở câu lạc bộ Lao động Hải Phòng. Khóa học gần ba năm này cho tôi những kiến thức cơ bản đầu tiên về hòa âm, khúc thức và kỹ năng nghe và ghi nhạc. Toàn bộ kiến thức đó mới chỉ giúp cho tôi viết bài thiếu nhi đầu tiên. Sau khi gửi báo Thiếu niên Tiền phong, anh Phong Nhã trả lời: "Bài hát của em nội dung rất tốt, tuy nhiên bài hát thiếu cái gọi là rhythm nên không sử dụng được". Tiếp đó, nhân dịp tháng 8 sinh nhật cô bạn gái, tôi viết bài hát lấy tên là "Tháng tám hoa sen nở" để tặng cô ta. Bài hát thay cho một số tiền mua quà tặng sinh nhật mà tôi không có. Bài hát này đã được hoan nghênh nhiệt liệt tại buổi lễ sinh nhật. Ông già của cô bạn gái tuyên bố: "Một món quà của cháu Thưởng rất có ý nghĩa vì người ta dù có nhiều tiền cũng khó mà có được cái đó". Được lời đó tôi nở từng khúc ruột. Trong đám bạn của cô gái đó có rất nhiều anh chàng con nhà giàu với những món quà nước ngoài rất đắt giá. Bằng bài hát của mình tôi đã thắng tất cả, tuy nhiên tôi chỉ không thắng được cô bạn gái.

Ngày 12 tháng 4 năm 1962, gần tròn hai mươi tuổi, tôi nhập ngũ. Tôi được điều về Trung đoàn 205. Sau thời gian huấn luyện tân binh tôi nhận quyết định về Trung đoàn 132. Vốn hiểu biết về nhạc của tôi nhanh chóng tạo ấn tượng với đơn vị. Đơn vị giữ vững những đêm sinh hoạt văn nghệ thứ năm hàng tuần. Và những đêm đó tôi đem những bài hát in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội ra dạy cho anh em trong đại đội hát. Trung bình mỗi tháng anh em trong đại đội thuộc và hát tập thể trơn tru thêm một bài hát mới. Chúng tôi có thể hát cả tiếng đồng hồ mà không hết những bài hát tập thể của đại đội.

Tiếp đó tại Đại hội Liên chi đoàn thanh niên Lao động của đại đội, tôi trúng cử Phó bí thư Liên chi đoàn. Một đồng chí trợ lý thanh niên ở Cục Thông tin liên lạc về dự đại hội này đã để ý đến tôi. Đồng chí này nói là bản báo cáo của Liên chi đoàn mang tính chiến đấu rất cao, tất nhiên kể cả trình độ hát tập thể của đại đội. Sau đó, tôi được Phòng Chính trị, Cục Thông tin liên lạc gọi đi học lớp tập huấn về múa hát do Tổng cục Chính trị mở. Cả một tháng trời ở thị xã Bắc Ninh, chúng tôi học các điệu múa đôi, múa vòng. Đây là những điệu múa và bài hát tập thể được quy định thống nhất trong toàn quân. Cuối khóa, cả lớp chúng tôi dựng thêm bản hợp ca không nhạc đệm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Đó là bài "Ngày miền Nam", một bài hát đối đáp - bốn bè, giai điệu Nam Trung Bộ rất hay.

Hàng ngày tại Nhà hát nhân dân thị xã Bắc Ninh, gần ba trăm học viên nam nữ toàn quân về học. Tất cả chia thành ba vòng người, chúng tôi tập bài múa vòng, lúc chạy ngược, lúc chạy xuôi rất nhịp nhàng. Mỗi vòng người có đủ loại sắc phục. Anh bộ binh áo xanh lá cây nhạt. Anh lính biên phòng áo màu lá cây sẫm. Anh lính thủy phất phơ tấm yếm kẻ sọc và hai dải dây mũ. Anh lính không quân màu áo xanh da trời. Mấy anh chị công nhân quốc phòng áo xanh lục. Lại có mấy cô đến ngày cữ mặc thường phục áo trắng, áo nâu... Dưới ánh nắng chiều, ba cái vòng màu sắc ấy vẽ nên những vòng tròn tuyệt đẹp trên nền cỏ xanh của sân Nhà hát nhân dân thị xã. Một tháng học ở vùng đất quan họ ấy cho tôi thêm kỹ năng dàn dựng bài hát. Khóa học ấy bổ sung cho tôi nhiều cảm xúc và tư duy về âm nhạc rất quý báu.

Tôi cứ nghĩ, nếu đất nước không có những biến chuyển dữ dội thì có lẽ tôi cũng chỉ biết làm tốt công việc của một anh quản ca tập thể. Đó là sự kiện Vịnh Bắc Bộ 5 tháng 8 năm 1964, bom đạn giặc Mỹ dội thẳng lên miền Bắc. Chúng đánh phá bằng không quân vô cùng ác liệt. Ác liệt tới mức chính những người lính như chúng tôi sau này có lúc tự hỏi: Làm sao mà một con người nhỏ bé, lúc nặng cân nhất cũng chỉ tới 49kg. Làm sao mà một chàng trai con một ở đất thành thị yếu ớt như tôi có thể leo Trường Sơn suốt nhiều mùa mưa nắng. Chúng tôi lại còn vác dây, gùi sứ, leo dốc cao, vượt thác lũ? Hành quân bộ giữa cơn sốt 39 - 40 độ. Vất vả là thế, đời sống gian khổ là thế mà đêm đêm chúng tôi vẫn thức để viết những tấu hài, làm thơ, viết ca khúc hết bài này đến bài khác? Thậm chí mấy anh chính ủy trẻ ngày nay đã hỏi tôi: "Làm sao hồi đó các bác làm công tác chính trị giỏi như thế?".

Sau 5 tháng 8 năm 1964 có một chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, chỉ thị số bao nhiêu tôi không nhớ rõ nhưng anh em quen gọi là chỉ thị "ngắn, gọn, nhỏ, lẻ". Các anh ở Phòng Chính trị Bộ tư lệnh Thông tin đã tập huấn cho chúng tôi nhiều lần nên ghi nhớ được nội dung chỉ thị này. Chỉ thị của Đảng nói: chuyển sang thời chiến, ta phải tạm ngưng lại những vở diễn vài ba tiếng đồng hồ, các tiết mục văn nghệ chuyển sang làm ngắn gọn, nhỏ, lẻ. Thậm chí chúng tôi đã dựng một vở kịch ngắn 6 phút rưỡi để thử nghiệm tư tưởng chỉ đạo mới.

Những ngày đầu, Hà Nội chưa bị đánh bom, nhưng báo động máy bay Mỹ đã diễn ra ngày ngày càng nhiều hơn. Cuộc sống thời chiến cực kỳ nóng bỏng. Trận địa phòng không đã xuất hiện dày đặc trong và ven đô bày ra ở khắp vùng nông thôn, đặt ngay cả trên các mái nhà cao tầng. Bốn chục năm nay tôi vẫn không quên cái cảm giác khi tiếng còi báo động phòng không vang lên. Tiếng còi cảnh báo thôi thúc ấy làm cho ta đau thắt, tim gan cộn lên khi ta đang ngồi trong rạp, cùng cô bạn gái xem một bộ phim hay. Giữa lúc như thế, từ khu Bốn khói lửa, tôi được lệnh về Hà Nội dự lớp sáng tác ca khúc. Gần hai chục anh em ở các đơn vị đã về dự lớp này. Ngày ngày, chúng tôi nghe các nhạc sĩ Huy Du, Nguyễn Đức Toàn, Vũ Trọng Hối, Văn An giảng về kết cấu câu, đoạn nhạc và bản nhạc. Chúng tôi vỡ ra những hiểu biết về thể ca khúc AB, ABA', ABB', ABC... Mỗi chủ nhật tôi và Phạm Khắc Vinh tới ngôi nhà của anh Huy Du ở phố Cửa Bắc dưới dốc đê Yên Phụ. Tại đây chúng tôi được nghe những bản nhạc cổ điển. Chị Nguyễn Thị Nhung, vợ anh Huy Du là người giảng giải, giới thiệu, phân tích cho chúng tôi hiểu những tác phẩm của Haydn, Moza, Beethoven, Tchaikovsky, Shostakovich...

Lớp học sáng tác ca khúc được mở ngay tại cơ quan Phòng Chính trị. Anh Nguyễn Văn Khoan là người phụ trách lớp.

Lần đầu tiên ở trong hoàn cảnh như vậy, chúng tôi có đủ điều kiện để sáng tác một bài hát nhưng chúng tôi chưa tìm được cách của riêng mình để làm. Khi đó tôi chưa biết đầy đủ thế nào là cảm xúc âm nhạc. Tôi hoàn toàn bị động bởi quy định "Phải có một bài hát". Lớp học dự định mở trong thời gian sáu tuần lễ. Mỗi tuần chúng tôi được nghe từ hai đến ba ngày giảng bài. Những ngày còn lại trong tuần dành cho sáng tác. Đến gần hết tuần thứ ba tôi vẫn chưa ghi được một nốt nhạc nào trên giấy. Tôi chưa tìm ra quy trình của sự sáng tác nhạc. Khi trong ý tưởng của mình, những câu nhạc xuất hiện trước thì đó lại là những giai điệu quen thuộc, nghèo nàn. Còn khi những ý tưởng văn học xuất hiện trước thì đó là những câu hát mà lời thì có ý tứ, nhưng giai điệu thì lại rất "sến sẩm".

Và rồi ý tứ của bài hát cũng hình thành dần dần trong tôi. Tôi nghĩ đến hình tượng đội quân thông tin lên đường. Dấu chân của họ in trên mọi vùng đất của Tổ quốc. Họ lên đường vào miền Nam giải phóng đất nước. Đội quân ấy khi ra đi là quyết lập chiến công. Câu nhạc đầu tiên xuất hiện: "Chúng ta đi dấu chân in ngàn sông núi". Câu nhạc với điệu thức Mi thứ làm tôi thấy phấn chấn. Khi đó cả đất nước cùng ca vang bài hát "Giải phóng miền Nam" của Huỳnh Minh Siêng. Với bài ca chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miềm Nam, có phải đây là lần đầu tiên một bài hát hành khúc mang điệu Mi thứ xuất hiện trong ca khúc Việt Nam hay không tôi không dám khẳng định. Tuy nhiên bài hát này hấp dẫn tôi rất nhiều. Bài hát "Khi chúng ta lên đường" đã theo kịp mô đen thời đó.

Hai tuần sau tôi hoàn thành bài hát. Tôi nộp bài đúng hạn và được nhạc sĩ Huy Du khen ngợi trong buổi tổng kết lớp. Các đồng chí lãnh đạo Phòng Chính trị cũng khen thưởng tôi xứng đáng về kết quả học tập này. Tôi mừng là đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tôi càng mừng hơn vì lần đầu tiên viết được một bài hát trong giới hạn về thời gian và theo một định hướng nội dung. Sau đó bài hát này được in trên trang bìa ba Tạp chí Văn nghệ quân đội tháng 9 năm 1967.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

23.10.25

Ngôi mộ chỉ đường

Lê Văn Vọng

Em gái quân bưu đưa công văn về

Buổi ấy khúc cua đường giặc kích

Mìn clây-mo thổi giập nát chân

Túi công văn máu loang mặt đất...

 

Công văn bay đi em nằm lại ven rừng

Khách qua đây đều biết

Ai về sau ai lên phía trước

Nơi này giao điểm gặp nhau.

 

Đường mòn em đưa công văn hồi nào

Thành đường lớn mấy mùa chiến dịch

Mặt đất dấu giày chen dấu dép

Lưng trời đường dây gọi đường dây.

 

Ô tô cuốn tung bụi đỏ

Xích xe tăng gặm nham nhở mặt đường

Bụi choàng vào ngôi mộ vô danh

 

Đầu mộ: chiến trường

Ngược về: trung tuyến

Cung ngắn dài đoàn xe vận chuyển

Trạm xa trạm gần đơn vị hành quân

Dặn nhau khe khẽ lính thông tin.

 

- Bên này mộ chừng hơn cây số

Chân dốc đá có nguồn suối nhỏ

Lưng dốc trong hang có một tổng đài

Và những cô gái trẻ...

 

Với những người mới qua đây còn lạ

Con đường em quen

Chuyện kể về em đi nhanh vào trí nhớ

Và mộ em thành tấm biển chỉ đường.

Bình Long, tháng 4-1973

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Những dòng sông âm thanh". NXB QĐND 2000)

Nhật ký tổng đài

Lê Hùng

25-11

Ngày đi rừng trắng hoa lau

Đã xa nhau lại nhớ nhau tìm về

Có gì nhắn với bạn bè

Mà mắt em ướt hàng mi đen ngời

Cầm tay nghẹn nói nên lời

Nghe con chim hót giữa trời rộng thênh.

 

27-11

Ngồi đây bè bạn bên mình

Trăm câu hỏi, một niềm tin cuộc đời

Đường dây mơ mộng song đôi

Nên tình thương giữa lòng tôi tràn đầy

Có chi thế tổng đài ơi

Chuông reo mãi những trận cười nghiêng

 

22-12

Ngọt ngào thưa gửi - tiếng em

Ngỡ đang nắng lại mưa lên mái đầu

Dễ gì mà nhận ra nhau

Thoắt áo xanh đã bạc màu thời gian.

Năm 1972

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

21.10.25

Một trong những chiến sĩ giao thông đầu tiên của Đảng

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan – Hội viên Chi hội Phòng KHQS

Nguyễn Công Thu, sinh năm 1894 tại xã Vũ Trung, huyện Vũ Tiên, (nay là huyện Vũ Thư) tỉnh Thái Bình trong một gia đình yêu nước.

Giữa năm 1926, theo kế hoạch của Lê Hữu Lập, Nguyễn Công Thu chuẩn bị "xuất dương". Bỏ ống tiền của người anh ruột được 32 đồng, cộng với số tiền riêng đã góp nhặt được, ba chú cháu Nguyễn Công Thu, Nguyễn Danh Thọ, Nguyễn Danh Tề ra đi. Lê Hữu Lập dẫn đường qua cầu Bắc Luân sang Đông Hưng, tìm đến bến Nà Sáo Tù, nơi đặt trạm giao thông do ông Đỗ Phát Quang phụ trách. Ngay chiều hôm ấy, Lê Quảng Đạt từ Đông Hưng đến đón Thu và Thọ vào khách sạn Đông Hưng Lâu, nhập với đoàn đồng chí Trần Phú đi Quảng Châu, đến cơ quan của Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.

Cùng với các đồng chí khác, Thu được dự lớp huấn luyện tại Quảng Châu. Học xong, đồng chí Vương (Bác Hồ) giữ Thu ở lại mấy ngày nghiên cứu đường sá, địa hình hai tỉnh Quảng Tây, Lạng Sơn "để tìm cho được con đường liên lạc chuyển sách báo về nước và đưa người đi học".

Thu trở về nước cùng với Lê Danh Thọ và hai bạn khác nữa. Nhớ những điều đồng chí Nguyễn Ái Quốc dặn, Thu tìm đến anh Vương Văn Mùi ở ngõ Tân Hưng (nay là ngõ Tức Mạc) gần ga Hàng Cỏ để "đứng chân". Sau một tuần lễ chuẩn bị, sang tuần thứ hai, Thu đã gặp gỡ, chuyện trò với một số anh em tại nhà số 37 ngõ Tân Hưng. Tuần thứ ba, Thu lên đường đi Cống Chạp gặp Hồ Tùng Mậu để báo cáo tình hình.

Báo cáo công việc xong, Nguyễn Công Thu nhận một vali chặt đầy công văn, tài liệu sách báo, trở về.

Mùa thu năm 1926, đưa được một số thanh niên sang Quảng Châu, Thu tiếp tục tuyên truyền cách mạng, lựa chọn người để lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Hà Nội.

Cuối năm, Nguyễn Công Thu đã thành lập được một chi hội tại làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, gồm 11 đồng chí, do Thu làm bí thư. Đây là hạt nhân đầu tiên cho tổ chức Đảng của Hà Nội.

Bước sang năm 1927, Nguyễn Công Thu đưa thêm được nhiều thanh niên qua biên giới nữa như Nguyễn Sơn, Tú Chinh... Có lần nhỡ liên lạc, Thu một mình đi Long Châu tìm Lê Quảng Đạt bàn giao học viên xong mới trở về Hà Nội mang theo nhiều tài liệu, trong đó có cuốn: “Đường Kách mệnh".

Tháng 3 năm ấy, chiến sĩ giao thông Nguyễn Công Thu tham gia Kỳ bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Bắc Kỳ, do Nguyễn Danh Đới làm bí thư. Tuy là ủy viên kỳ bộ, nhưng Thu vẫn làm giao thông, tiếp tục đưa nhiều anh em ở Trung Kỳ theo đường dây của mình sang Quảng Châu. Theo chỉ thị của Tổng bộ, năm ấy Thu đã trực tiếp đưa Nguyễn Đức Cảnh, Lý Hồng Nhật đến Quảng Châu an toàn và bí mật.

Công việc ngày càng nhiều, một mình làm không hết, Thu đã vận động tổ chức thêm được nhiều đồng chí làm giao thông, thuyết phục được cả lính dõng, tuần đinh giúp việc đưa đường, có khi còn bảo vệ cho cả đoàn học sinh vượt biên giới.

Cuối năm 1927, do Tưởng Giới Thạch trở mặt, Tổng bộ không còn ở Quảng Châu nữa, việc đưa thanh niên ra nước ngoài tạm thời dừng, Nguyễn Công Thu về hoạt động ở Hải Dương.

Năm 1928, do bị lộ trong khi phân phát truyền đơn, Nguyễn Công Thu bị bắt giam 9 tháng, sau đó lại bị giam tiếp 27 tháng vì can tội "dụ dỗ người đi xuất dương". Ra tù, cho đến năm 1945, Thu công tác tại huyện Kiến Xương, Thái Bình.

Đồng chí Nguyễn Công Thu là một trong những chiến sĩ giao thông đầu tiên của tổ chức Đảng, người đóng góp tích cực vào sự hình thành cơ sở Đảng đầu tiên của Hà Nội. Đồng chí đã đưa đón nhiều thanh niên đi học ở Quảng Châu không một lần nào bị lộ, không một ai bị bắt. Nhiều người trong số thanh niên này về sau đã trở thành những cán bộ ưu tú của Đảng ta. Nguyễn Công Thu còn có công chuyển nhiều tài liệu sách, báo truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam1.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông-Thông tin-Liên lạc”. NXB Lao động 1997)

--------------------------------------------

1 Tháng 5 năm 1995, hài cốt đồng chí Nguyễn Công Thu đã đưa từ Bất Bạt (Sơn Tây) về an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch (Hà Nội). 

20.10.25

Nối lại đường dây

Võ Văn Trực

Khắp bốn bề bom nổ

Anh lao đầu như bay

Băng mình qua cái chết

Nối lại những đường dây.

 

Đất rùng rùng nổi lửa

Lòng anh cháy căm hờn

Ngực dập dồn hơi thở

Mồ hôi áo ướt đầm.

 

Dây điện đứt rồi chăng

Hay thần kinh bị đứt

Cả thị trấn đợi chờ

Cháy lên nghìn con mắt.

 

Nghĩ gì đâu phút ấy

Chỉ biết giữa chiến trường

Một đường dây nối lại

Trăm huyết mạch thông thương

 

Nắm được hai đầu dây

Nắm trong tay vũ khí

Giữ lấy mảnh đất này

Nâng pháo đài đánh Mỹ.

 

Bão lửa đã tan rồi

Anh đứng nhìn thị trấn

Đường dây mắc ngang trời

Chim xập xòe đôi cánh...

Vĩnh Linh, tháng 2 năm 1965

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

Hoa sứ trắng

Xuân Miễn - mến tặng chiến sĩ dây trần

Hò dô hò hự

Ơi cột ta trồng

Ta trông cho thẳng

Ơi hoa sứ trắng

Căng sợi dây đồng

Nắng vàng nhẹ rung

Chim trời tới đậu

Dù mưa, dù bão

Tay ta không ngừng

Hò dô hò hự

Ta kéo qua sông

Ta giăng qua núi

Quyết tâm không mỏi

Đưa máu về tim

Hò dô hò hự...

***

Trên đồi cao, hoa mua tím nở

Gió chiều bay, sả bốc thơm lừng

Bỗng nhớ làn hương suối tóc ai hong

Nay hương cũng theo người đi giết giặc.

Chiến sĩ dây trần nghe lòng ca hát.

Vui nhìn hoa sứ nở trắng đường dây,

Chiến trường ta chiến đấu là đây!

Ta gửi tâm hồn trên từng đỉnh cột

Thấy dây đứt tưởng như ruột đứt

Nâng niu từng thước dây vàng.

Nhớ những đêm mưa, trơn trượt đường làng

Các mẹ, cha già ghé vai gánh cáp

Ánh lửa bập bùng nghiêng nghiêng tóc bạc

Thương con ra gánh cùng con.

Trồng cột chiều đông, mặt nước sóng dồn

Hun hút đồng chiêm đỉa như lá hẹ

Mải lặn hụp, cả người run rẽ

Gió như kim chích trên da.

Chẳng có núi nào dọa nổi lòng ta

Dù núi đá tai mèo dốc ngược

Ta tắm mồ hôi ta mỗi bước

Áo rách, vai bầm khiêng cột bò lên.

Ta khiêng bằng đầu, bằng cả trái tim

Mỗi cột đưa lên, một xác thù ngã gục

Tay hằn máu in trên vách dốc

Và núi và đèo quy phục

Cúi đầu mang mạng đường dây.

Hoa sứ ta nở trắng đường mây

Chim trời ca hót

Mỗi nòng pháo lao lên phía trước

Đều reo tin thắng lợi hai miền.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh” NXB QĐND 2000) 

16.10.25

Trong hầm báo vụ

Vương Trọng

Em bước vào hầm nắng theo tận cửa

Ngọn gió lạc vào bỡ ngỡ

Tín hiệu vui mừng đón em râm ran

Như tiếng chim rộn rã non ngàn.

 

Hoa rừng nào còn gửi hương trên áo

Đây ghế của em tròn như mâm pháo

Áp "cáp" vào tai, trận chiến đấu bắt đầu

Bỏ quên nắng cửa hầm, đón tín hiệu thưa mau

 

Xa những cánh đồng vui mùa năm tấn

Tay vặn "tuy-ninh" còn nhớ cánh bèo dâu

Nhìn sóng điện1 lại nhớ về sóng lúa

Nghe máy đập2 dồn ngỡ thóc rơi mau

 

Đất mẹ hiền từ mở lòng che chở

Cho em nghe tiếng chiến trận vọng về

Tin chiến thắng reo vui từng dòng chữ

Nhịp máy, nhịp tim hòa tiếng súng trong kia.

 

Em vào hầm là khi em hành quân

Gặp đất nước trên từng làn sóng điện

Em vào hầm là đi ra tiền tuyến

Mà vẫn dựa vào vách đất quê hương

 

Ôi căn hầm lắm mến nhiều thương

Vui cùng em những ngày trời xanh nắng

Biết đăm chiêu khi mưa lòe chớp sáng

Biết dòng tin gián đoạn nửa chừng.

 

Một ngày xa, em đã nhớ căn hầm

Căn hầm nhỏ nhóm nhen nhiều ý nghĩ

Đất nước đó gợi bài sử ký

Cờ nghĩa Bà Trưng đỏ suốt mấy nghìn năm...

 

Hầm đơn sơ như một căn nhà nhỏ

Đứng vững chãi dưới mấy lần bom nổ

Bước vào hầm, em thêm hiểu không gian

Bước vào hầm, thêm gần với miền Nam...

1970

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000)

----------------------------------------------

1 Sóng điện có thể nhìn được trên máy hiện sóng.

2 Máy đập: một bộ phận kết hợp với máy thu để in tín hiệu thành chữ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với giao thông liên lạc, với Bộ đội Thông tin

Đại tá TS Nguyễn Văn Khoan – Hội viên Chi hội Phòng KHQS

Vào năm 1935, thày giáo Võ Nguyên Giáp với tư cách là chiến sĩ giao thông đã chuyển một chỉ thị của Trung ương từ Sài Gòn ra Huế và Hà Nội.

Trong cao trào kháng Nhật, cứu nước, tiến tới Tổng khởi nghĩa, đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) đã tiến hành giảng dạy tại nhiều lớp huấn luyện ngắn ngày mà một nội dung quan trọng của các lớp huấn luyện này là vấn đề giao thông.

Năm 1944, theo chỉ thị của Già Thu (Hồ Chí Minh) đồng chí Văn đã lập các đội Nam Tiến, "đánh thông liên lạc" sang các tỉnh bạn, nối liền với Tân Trào, với Trung ương ở vùng xuôi...

Cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã sớm giao nhiệm vụ tổ chức mạng liên lạc thống nhất trong toàn quốc cho đồng chí Hoàng Đạo Thúy. Mạng liên lạc này đã thông suốt trong ngày 09-9-1945, ngày mà sau đó được coi như Ngày truyền thống của Bộ đội Thông tin liên lạc.

Trong kháng chiến chống Pháp, trên cương vị là Tổng Tư lệnh, Tổng chỉ huy quân đội quốc gia Việt Nam, đồng chí Võ Nguyên Giáp thường xuyên quan tâm đến việc xây dựng lực lượng thông tin, đào tạo cán bộ chỉ huy, khoa học kỹ thuật, coi thông tin như thần kinh, mạch máu của quân đội, là cánh tay phải của người chỉ huy. Đồng chí đã ký quyết định thành lập Cục Thông tin liên lạc, thành lập Tiểu đoàn 303 trong Chiến dịch Biên giới và tặng thưởng Tiểu đoàn Thông tin này Huân chương Quân công hạng Ba. Đó là tấm huân chương đầu tiên của Bộ đội Thông tin liên lạc. Trong Chiến dịch Hòa Bình 1952, đồng chí đã cùng cán bộ thông tin trực tiếp giải quyết khó khăn trong công tác bảo đảm liên lạc cho chỉ huy lãnh đạo. Chính đồng chí đã chỉ định Chủ nhiệm Thông tin cho Chiến dịch Điện Biên Phủ mặc dầu được nghe báo cáo đồng chí Hoàng Đạo Thúy ốm, nhưng đồng chí kiên quyết lệnh "ốm thì khiêng anh Thúy đi".

Khi Hiệp định Geneva được ký kết, Bộ Tổng chỉ huy có nhiệm vụ phải truyền lệnh ngừng bắn cho tất cả các đơn vị chiến đấu cả nước, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã giúp Cục Thông tin nhiều biện pháp tổ chức để lệnh được chuyển đến kịp thời, nghiêm chỉnh chấp hành, khiến đối phương phải kính phục.

Trong phong trào xây dựng quân đội tiến lên chính quy hiện đại, để bảo đảm hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, trên cương vị là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng Quân ủy Trung ương, đã có những chủ trương lớn phát triển Binh chủng Thông tin liên lạc, cử cán bộ đi học ở các nước như: Liên Xô, Trung Quốc, mời chuyên gia cố vấn sang giúp đỡ Cục Thông tin, mở khoa rồi mở Trường Sĩ quan, Trường Kỹ thuật Thông tin, đề nghị các bạn viện trợ cho những khí tài hiện đại, kinh nghiệm chiến đấu.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương, của Hồ Chủ tịch, đồng chí đã dành nhiều tâm sức, tình cảm cho Bộ đội Thông tin, giúp đỡ Binh chủng hoàn thành được nhiệm vụ chi viện miền Nam, đánh thắng trận đầu ngày 05 tháng 8 năm 1964, giữ vững liên lạc Nam - Bắc và các đầu mối thông tin. Đồng chí cũng đồng thời chỉ ra những điều Bộ đội Thông tin cần khắc phục, cố gắng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đến thăm Binh chủng Thông tin liên lạc và Trạm cơ vụ A10 của Trung đoàn Thông tin 134, ngày 12-2-1972. Ảnh tư liệu.

Tháng 2 năm 1972, trong lần đến thăm Bộ đội Thông tin tại A10, Trung đoàn 134 cùng với Chủ tịch Tôn Đức Thắng, đồng chí Bộ trưởng Quốc phòng, sau khi biểu dương thành tích của Binh chủng trong những năm qua, đặc biệt trong bảo đảm thông tin liên lạc trong trận Mậu Thân 1968, đồng chí nói:

"Vừa qua, khi chiến trường phát triển vào sâu, đường liên lạc cũng phát triển theo, càng ngày càng dài, rộng thêm. Đó là một điều đáng mừng. Nhưng khi Tổng Tư lệnh cần nói chuyện với các chiến trường thì liên lạc lúc có, lúc không, lúc nhiễu không làm việc được. Tôi có hỏi lý do thì các đồng chí nói là "vì dài quá nên không bảo đảm...". Như vậy là không được. Nếu nay mai, chiến dịch mở ở Nam bộ, đánh vào Sài Gòn thì còn xa bao nhiêu. Bấy giờ các đồng chí tính sao, lại bảo vì dài quá nên không có liên lạc à? Chủ tịch nước phong tôi làm Đại tướng từ 1948, chưa hề cách chức tôi. Nhưng có khi chính các đồng chí thông tin cách chức tôi. Vì người chỉ huy mà không có liên lạc, thì ngồi chơi, đánh bài tú lơ khơ thôi. Thế là coi như mất chỉ huy, mất chức rồi..."1.

Quán triệt lời nhắc nhở của đồng chí Bộ trưởng, Binh chủng Thông tin đã khắc phục nhiều khó khăn, thi đua "đâu cần thông tin có, đâu khó, có thông tin, chủ động hiệp đồng, lập công tập thể" đã có nhiều bước tiến bộ vượt bậc về tư tưởng, tổ chức, trang bị khí tài, đảm bảo thông tin liên lạc cho các chiến dịch, chiến trường và kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tháng 9 năm 1985, nhân kỷ niệm 40 năm Ngày truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc, nhân dịp Triển lãm sáng kiến kỹ thuật và khánh thành Bảo tàng Thông tin, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đến thăm và nói chuyện với cán bộ của Binh chủng. Đồng chí hy vọng và mong mỏi Binh chủng Thông tin liên lạc có bước tiến nhảy vọt mọi mặt để xây dựng một Binh chủng Thông tin liên lạc, đáp ứng với tình hình chỉ huy, chiến đấu ngày càng cao.

Một trong những đóng góp to lớn của đồng chí Võ Nguyên Giáp với Bộ đội Thông tin là năm 1946 đồng chí là người đầu tiên dẫn ra câu nói của Hồ Chủ tịch về giao thông liên lạc trong sách "Khu giải phóng" do Cứu quốc xuất bản: "Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi...". Tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giao thông liên lạc ấy là bó đuốc soi đường cho tất cả các hoạt động cách mạng giải phóng dân tộc, trước hết là cho Bộ đội Thông tin liên lạc. Đồng chí Võ Nguyên Giáp vẫn thường xuyên nhắc nhở Bộ đội Thông tin phải ghi nhớ những lời dạy của Bác Hồ" phải coi giao thông liên lạc như "thần kinh, mạch máu", "giữ được giao thông là thắng lợi", "Không được để vi trùng thâm nhập vào mạch máu thông tin". v.v...

Ngày 22 tháng 12 năm 1949, trong thư gửi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích nhân ngày kỷ niệm thành lập Quân giải phóng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết "Quân đội ta quen gọi Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp là anh Cả. Cách gọi thân mật ấy đúng với tinh thần và lịch sử của quân đội ta, vì từ ngày thành lập đội Nam tiến đến nay, Đảng và Chính phủ đã ủy quyền cho đồng chí Giáp và một số cán bộ phụ trách tổ chức, huấn luyện và lãnh đạo quân đội ta"2.

Bộ đội Thông tin, một thành phần, một binh chủng kỹ thuật của quân đội cũng xin được gọi đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp như thế.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Nguyễn Văn Khoan: Giao thông-Thông tin-Liên lạc”. NXB Lao động 1997)

----------------------------------------------

1 Băng ghi âm lời đồng chí Võ Nguyên Giáp đã được lưu giữ trong Bảo mật Quân đội.

2 Hồ Chí Minh: Với các lực lượng vũ trang nhân dân, NXB QĐND, 1975, tr. 123. 

15.10.25

Nối những chiến công

Nguyễn Duy Nhuệ - tặng các chiến sĩ gái thông tin

Khi cả nước hành quân chiến đấu

Em lên đường nối bước cha anh

Yêu sóng điện, yêu ánh sao đầu mũ

Như đã yêu mái rạ hiền lành.

 

Trận địa là trạm máy dưới hầm sâu

Em đánh Mỹ không phải bằng gươm súng

Mà bằng cả con tim trào máu nóng

Bằng những phút giây lặng thức đêm thâu.

 

Giữa lòng đất nghe bom rùng xé đất

Nghe lửa na-pan đốt cháy em thơ,

Nghe cuồn cuộn máu tim dậy sóng

Sóng điện dâng chở sóng căm thù.

 

Ngày tháng truyền đi, nhận về từng bức điện

Em say sưa đưa, đón niềm tin

Chiến trường gọi đài đổ hàng cửa báo

Gấp gấp rộn ràng trong mỗi nhịp tim.

 

Giữa mưa bom khói bụi vàng mái tóc

Em nối đường dây, bỏng rát bàn chân

Ngồi bên máy càng nghe lòng rạo rực

Nghe miền Nam mỗi phút nhích thêm gần.

 

Đôi bàn tay bữa nào còn ôm sách

Đứng máy chuyền thoi, vui việc ruộng đồng

Nay thoăn thoắt chuyển nối dòng liên lạc

Bắc vạn nhịp cầu nối những chiến công.


Theo tiếng súng ta gầm nổ gần xa

Em gọi, em thưa - phải chăng em hát

Tin chiến thắng vang thành khúc nhạc

Mỗi tiếng gọi đài, em góp một lời ca.

1967

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000)